1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

LIÊN KẾT PHÁT TRIỂN CÂY DƢỢC LIỆU CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN TRAPHACO. LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ

93 21 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 1,23 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều này được thể hiện qua Quyết định số 80/2002/QĐ-TTg về “Chính sách khuyến khích tiêu thụ hàng hóa nông sản thông qua hợp đồng” hay trong Nghị quyết số 26 NQ/TƯ cũng nêu rõ: “Có chính

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là do chính tôi nghiên cứu và thực hiện Các thông tin và số liệu sử dụng trong luận văn đƣợc trích dẫn từ các nguồn tài liệu đầy

đủ Kết quả phân tích trong luận văn này là trung thực Luận văn không trùng với bất kì đề tài nghiên cứu khoa học nào

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc tới GS.TS Đỗ Kim Chung người đã hết sức tận tình chỉ bảo, hướng dẫn và định hướng cho tôi chọn đề tài nghiên cứu, cơ sở lý luận cũng như khảo sát thực tế trong quá trình thực hiện viết luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn các Thầy, Cô giáo tại Khoa Kinh tế chính trị - Trường Đại học Kinh tế - ĐHQGHN đã dạy dỗ tôi, cung cấp cho tôi những kiến thức trong suốt quá trình học tập để tôi có thể hoàn thành luận văn này

Tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn tới các bạn đồng nghiệp tại Công ty Cổ phần Traphaco, Lãnh đạo và nhân dân hai huyện Văn Lâm - Hưng Yên, Hải Hậu - Nam Định đã cho tôi nhiều lời khuyên quý báu, đã cung cấp cho tôi những tài liệu, thông tin, tạo điều kiện cho tôi nghiên cứu, tham khảo các tài liệu phục vụ cho bản luận văn cũng như đã giúp đỡ và giành thời gian trả lời phỏng vấn, khảo sát để tôi

có số liệu cho việc phân tích luận văn này

Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn với gia đình tôi, đã động viên, khuyến khích, tạo điều kiện tốt nhất về thời gian, vật chất và tinh thần để tôi có thể hoàn thành tốt bài luận văn này

Hà Nội, ngày tháng năm 2017

Tác giả luận văn

Lê Quân

Trang 5

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT i

DANH MỤC BẢNG ii

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ iii

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 8

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 8

1.2 Cơ sở lý luận về liên kết trong phát triển cây dược liệu 16

1.2.1 Một số khái niệm về liên kết 16

1.2.2 Tính tất yếu của liên kết 19

1.2.3 Đặc trưng của liên kết 20

1.2.4 Các nguyên tắc cơ bản của liên kết 21

1.2.5 Các hình thức, phương thức và mô hình liên kết 23

1.2.6 Các nội dung liên kết 30

1.2.7 Tác động của liên kết 33

1.2.8 Nhu cầu liên kết 35

1.3 Cơ sở thực tiễn 35

1.3.1 Liên kết trong sản xuất - kinh doanh cây dược liệu trên thế giới 35

1.3.2 Liên kết trong sản xuất - kinh doanh cây dược liệu tại Việt Nam 37

1.3.3 Bài học rút ra từ thực tiễn liên kết trong sản xuất - kinh doanh cây dược liệu trên thế giới và tại Việt Nam 38

CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 40

2.1 Qui trinh thực hiện nghiên cứu 40

2.2 Phương pháp thu thập thông tin 40

2.2.1 Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp 40

2.2.2 Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp 41

2.3 Phương pháp xử lý số liệu 42

2.3.1 Phương pháp thống kê kinh tế 42

2.3.2 Phương pháp phân tích lợi ích, chi phí 42

Trang 6

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG LIÊN KẾT TRONG PHÁT TRIỂN CÂY DƯỢC

LIỆU CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN TRAPHACO 43

3.1 Giới thiệu chung về Công ty cổ phần TRAPHACO 43

3.1.1 Lịch sử ra đời và phát triển 43

3.1.2 Mục tiêu và tầm nhìn 44

3.1.3 Chức năng, nhiệm vụ 45

3.1.4 Cơ cấu tổ chức bộ máy 45

3.1.5 Một số kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh 46

3.1.6 Chiến lược Con đường sức khỏe xanh 46

3.2 Thực trạng liên kết trong phát triển dược liệu Cúc hoa vàng và dược liệu Đinh lăng cung cấp cho công ty Traphaco tại Hưng Yên và Nam Định 49

3.2.1 Chuỗi liên kết trong phát triển chuỗi dược liệu Cúc hoa vàng và Đinh lăng 49

3.2.2 Kết quả sản xuất 53

3.2.3 Thực trạng trong cung ứng đầu vào 55

3.3.3 Chuyển giao khoa học kỹ thuật 57

3.3.4 Thực trạng trong tiêu thụ sản phẩm đầu ra 58

CHƯƠNG 4: MỘT SỐ GIẢI PHÁP GIÚP THÚC ĐẨY LIÊN KẾT TRONG PHÁT TRIỂN CÂY DƯỢC LIỆU CHO CÔNG TY CỔ PHẦN TRAPHACO 62

4.1 Bối cảnh trong nước và quốc tế về liên kết phát triển dược liệu 62

4.1.1 Bối cảnh quốc tế 62

4.1.2 Bối cảnh trong nước 63

4.2 Quan điểm và định hướng về liên kết phát triển dược liệu 64

4.2.1 Quan điểm 64

4.2.2 Định hướng 65

4.3 Một số giải pháp chung nhằm thúc đẩy liên kết trong phát triển cây dược liệu cho công ty cổ phần traphaco 66

4.3.1 Hoàn thiện các quy tắc ràng buộc phù hợp với từng trường hợp liên kết trong phát triển cây dược liệu tại Công ty 66

4.3.2 Nâng cao hiệu quả công tác quản trị thực hiện hợp đồng trong phát triển cây dược liệu tại Công ty 68

Trang 7

4.3.3 Nhóm giải pháp mang tính chiến lƣợc 72

4.4 Nhóm giải pháp cụ thể đối với các vùng trồng dƣợc liệu của công ty Traphaco 75

4.4.1 Đối với dƣợc liệu Đinh Lăng tại Hải Hậu, Nam Định 75

4.4.2 Đối với dƣợc liệu Cúc hoa vàng tại Văn Lâm, Hƣng Yên 78

KẾT LUẬN 81

TÀI LIỆU THAM KHẢO 82

Trang 8

i

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

1 EU Liên minh Châu Âu

2 GACP - WHO Thực hành tốt trồng trọt và thu hái cây thuốc

theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế Thế giới

3 PTNT Phát triển nông thôn

4 QĐ Quyết định

Trang 9

ii

DANH MỤC BẢNG

1 Bảng 2.1 Nguồn thu thập thông tin thứ cấp 41

2 Bảng 2.2 Số lƣợng đối tƣợng tham gia phỏng vấn PRA 42

3 Bảng 3.1 Thực trạng sản xuất dƣợc liệu Cúc hoa tại thôn Nghĩa Trai 53

4 Bảng 3.2 Thực trạng sản xuất dƣợc liệu Đinh lăng tại thôn Nghĩa Trai 54

5 Bảng 3.3 Đặc điểm các yếu tố đầu vào trong sản xuất dƣợc liệu Cúc

6 Bảng 3.4 Đặc điểm các yếu tố đầu vào trong sản xuất dƣợc liệu Đinh

7 Bảng 3.5 Giá bán dƣợc liệu Cúc hoa qua các năm 59

8 Bảng 3.6 Giá bán dƣợc liệu Đinh lăng qua các năm 60

Trang 10

iii

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ

1 Sơ đồ 3.1 Sơ đồ liên kết trong sản xuất dƣợc liệu Cúc 49

2 Sơ đồ 3.2 Sơ đồ liên kết trong sản xuất dƣợc liệu Đinh lăng 52

3 Sơ đồ 4.1 Mô hình liên kết và quản lý chất lƣợng dƣợc liệu 74

Trang 11

1

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hiện nay, Đảng, Chính phủ và Nhà nước rất chú trọng đến việc tăng cường liên kết trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp Điều này được thể hiện qua Quyết định số 80/2002/QĐ-TTg về “Chính sách khuyến khích tiêu thụ hàng hóa nông sản thông qua hợp đồng” hay trong Nghị quyết số 26 NQ/TƯ cũng nêu rõ: “Có chính sách khuyến khích phát triển các mối liên kết giữa hộ nông dân với các doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ chức khoa học, hiệp hội ngành hàng và thị trường tiêu thụ sản phẩm để hỗ trợ kinh tế hộ phát triển theo hướng gia trại, trang trại có quy mô phù hợp, sản xuất hàng hoá lớn”…

Tuy nhiên, thực tiễn quá trình triển khai mặc dù có những thành công nhưng cũng có nhiều hạn chế tồn tại Tỷ lệ nông sản tiêu thụ qua hợp đồng còn thấp, chưa

tương xứng với tiềm năng (Minh Hoài, 2006); chưa có liết kết thực sự giữa nhà

nông, nhà doanh nghiệp và nhà khoa học mà chỉ là các liên kết đôi, trong đó vai trò

của nhà khoa học còn mờ nhạt (Phạm Thu Hồng, 2009); chưa thống nhất được lợi

ích giữa các bên tham gia liên kết dẫn đến tình trạng không tuân thủ hợp đồng của

cả người sản xuất và doanh nghiệp (Lê Xuân Đình, 2009)…

Dược liệu là một loại “nông sản” đặc biệt với những đặc thù riêng phục vụ trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe Hiện nay, nhu cầu của thị trường dược liệu và thuốc có nguồn gốc từ dược liệu, có xu hướng ngày càng tăng Chỉ tính riêng các loại thuốc có nguồn gốc từ dược liệu của tất cả các hãng dược phẩm, đã có doanh số bán ra đạt khoảng 30% tổng doanh số bán thuốc ở các quốc gia Bên cạnh đó, các sản phẩm cũng có nguồn gốc từ thảo dược, như “thực phẩm chức năng”, “chất bổ sung dinh dưỡng” hoặc “thuốc thay thế hoặc bổ sung”… đang phát triển với một tốc độ đáng kinh ngạc Sự bùng nổ này được các chuyên gia đánh giá là một “xu thế dinh dưỡng” của thế kỷ 2 Đối với các loại mỹ phẩm sử dụng nguyên liệu có nguồn gốc tự nhiên thay thế nguyên liệu tổng hợp, hiện cũng đã chiếm tới 90% trong tổng số các loại mỹ phẩm được sản xuất ra, cùng với mức độ tăng trưởng cao tới 11,7% /năm

Việt Nam là nước được thiên nhiên ưu đãi có nguồn dược liệu phong phú

Trang 12

2

đứng thứ 4 thế giới Những năm 80 của thế kỷ XX, Việt Nam là nước xuất khẩu dược liệu và thu được nhiều ngoại tệ nhưng giờ đây đến 90% dược liệu sử dụng

trong nước phải phụ thuộc vào nhập khẩu (Bộ Y tế, 2007) Một trong những nguyên

nhân đó là liên kết trong sản xuất cây dược liệu còn lỏng lẻo dẫn đến sự thiếu bền vững của các chuỗi giá trị ngành hàng cây dược liệu

Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng và ẩm Đông Nam Á, Việt Nam có nguồn tài nguyên thực vật hết sức phong phú và đa dạng, trong đó có hàng ngàn loài có công dụng làm thuốc Theo kết quả điều tra của Viện Dược liệu, tính đến năm 2005 đã ghi nhận được ở nước ta từ 3.948 loài thực vật và nấm lớn được

dùng làm thuốc (Nguyễn Tập, 2007) đến 4.745 loài (Võ Văn Chi, 2012)

Trong nguồn cây thuốc đã biết ở Việt Nam hiện nay, có tới trên 85% tổng số loài là những cây mọc tự nhiên; số còn lại là cây thuốc trồng (trồng để làm thuốc và thuộc nhóm cây trồng khác nhưng có bộ phận được dùng làm thuốc) Nguyên bản, nguồn cây thuốc mọc tự nhiên ở Việt Nam không chỉ phong phú về thành phần loài

mà còn phong phú về trữ lượng và số lượng các loài có giá trị sử dụng và kinh tế cao Bên cạnh đó, với tiềm năng đất đai và các vùng tiểu khí hậu đa dạng, nước ta

còn có thể trồng được nhiều loại cây thuốc có xuất xứ khác nhau (Nguyễn Tập,

2007) Khẳng định rằng, trong nhiều thập kỷ qua, từ nguồn cây thuốc mọc tự nhiên

và cây thuốc trồng, đã góp phần quan trọng trong việc cung cấp thuốc chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe cho toàn dân và dược liệu được xuất khẩu

Trong thời kỳ bao cấp trước kia, toàn bộ các khâu tổ chức khai thác, trồng trọt cây thuốc, thu mua và lưu thông phân phối dược liệu…đều do các doanh nghiệp Dược nhà nước và hợp tác xã nông nghiệp đảm nhiệm Cách làm này, bị gò bó trong một khuôn mẫu tập trung, kìm hãm năng lực sản xuất, song dưới góc độ quản

lý nhà nước và quản lý tài nguyên, thì lại có những ưu điểm nhất định Từ khi nền kinh tế nước ta chuyển đổi sang cơ chế thị trường, công tác dược liệu không còn là nhiệm vụ riêng của ngành Y tế, mà do nhiều thành phần kinh tế khác tham gia Ưu điểm nổi bật của cơ chế hiện hành là sự năng động, luôn tìm cách đáp ứng thỏa mãn giữa cung và cầu

Trang 13

3

Tuy nhiên, do khai thác liên tục nhiều năm, ít chú ý bảo vệ tái sinh, cùng với nhiều nguyên nhân khác và công tác quản lý tài nguyên không đồng bộ, đã làm cho nguồn cây thuốc mọc tự nhiên ở Việt Nam bị giảm sút nghiêm trọng Hầu hết các loài có giá trị sử dụng và kinh tế cao đang mất nhanh khả năng khai thác lớn, hay đã trở nên hiếm gặp Một số loài cây thuốc được coi là quý hiếm đều đang đứng trước

nguy cơ bị tuyệt chủng (Nguyễn Tập, 2009) Đối với cây thuốc trồng, hiện cũng

đang vấp phải nhiều khó khăn, bất cập Nổi cộm lên đó là sự tràn ngập các loại dược liệu nhập khẩu giá rẻ, đã triệt tiêu từng phần việc phát triển trồng cây thuốc ở

trong nước, dẫn đến nguy cơ tái phụ thuộc vào dược liệu từ Trung Quốc (Vụ KH &

Đào tạo Bộ Y tế, 2009) (Nguyễn Tập, et al., 2009) Bảo tồn đi đôi với khai thác hợp

lý nguồn cây thuốc mọc tự nhiên và phát triển trồng cây thuốc ở nước ta, hiện đang

là vấn đề cần được quan tâm

Để thực hiện được định hướng trên, bên cạnh sự chỉ đạo của Nhà nước và của

Bộ chủ quản, nhiều Doanh nghiệp Dược trong nước đã chủ động, xây dựng được các vùng trồng - vùng cung cấp dược liệu ổn định cho sản xuất Tuy nhiên, trước yêu cầu hội nhập và nâng cao chất lượng dược liệu, việc khai thác và trồng trọt cây thuốc hiện nay, cần tiếp cận với các tiêu chí Quốc gia và Quốc tế (VietGAP; GACP-WHO, Organic, FairWild)

Công ty CP Traphaco là công ty dược hàng đầu trong nước về phát triển dược liệu và thuốc từ dược liệu với lượng dược liệu công ty sử dụng hàng năm trên

bảy nghìn tấn trong đó 90% là dược liệu trong nước (Traphaco, Báo cáo thường

niên, 2015) Hiện nay, có rất nhiều vùng trồng dược liệu trong cả nước cung cấp

dược liệu cho công ty như huyện Sa Pa, huyện Bắc Hà (tỉnh Lào Cai), huyện Văn Lâm (tỉnh Hưng Yên); huyện Nghĩa Hưng, huyện Hải Hậu, huyện Giao Thủy (tỉnh Nam Định); huyện Đông Triều (tỉnh Quảng Ninh)… Để đảm bảo hiệu quả chữa bệnh của sản phẩm thuốc cũng như đảm bảo quá trình sản xuất, kinh doanh, việc ổn định các vùng trồng dược liệu cung cấp đầu vào của công ty chiếm vị trí quan trọng hàng đầu

Huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên và huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định là 2

Trang 14

Để góp phần ổn định nguồn dược liệu Cúc hoa và Đinh lăng đầu vào cho công

ty tại huyện Văn Lâm và huyện Hải Hậu, việc nghiên cứu, đánh giá, so sánh các liên kết trong chuỗi giá trị cây Cúc hoa và cây Đinh lăng tại hai huyện Văn Lâm và Hải Hậu từ đó đưa ra một số giải pháp tăng cường liên kết là cần thiết Do đó, chúng tôi thực hiện đề tài “Liên kết trong phát triển cây dược liệu cho công ty cp Traphaco: trường hợp nghiên cứu tại huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên và huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định”

Câu hỏi nghiên cứu của luận văn: Đâu là giải pháp giúp hoàn thiện liên kết

trong phát triển cây dược liệu cho công ty Cổ phần Traphaco trên địa bàn huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên và huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định?

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về thực trạng liên kết trong phát triển cây dược liệu cho Công ty cổ phần TRAPHACO đối với sản phẩm dược liệu Cúc hoa vàng trên địa bàn thôn Nghĩa Trai, xã Tân Quang, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên và dược liệu Đinh lăng trên địa bàn tổ 9, xã Hải Toàn, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định Qua đó đề xuất một số giải pháp giúp thúc đẩy nhanh và bền vững mối liên kết trong phát triển cây dược liệu giữa các nông hộ và Công ty cổ phần TRAPHACO, từng bước nâng cao đời sống người dân, phát triển ngành nông nghiệp trong nước, đặc biệt trong ngành dược liệu

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện mục đích nghiên cứu đề ra, luận văn thực hiện các nhiệm vụ chính sau:

- Nghiên cứu cơ sở lý luận về liên kết trong sản xuất nông nghiệp, trong đó đặc

Trang 15

5

biệt tập trung vào hai loại dược liệu chính là Cúc hoa vàng và cây Đinh lăng

- Phân tích thực trạng liên kết trong phát triển cây dược liệu cho công ty cổ phần TRAPHACO đối với phát triển cây dược liệu Cúc hoa vàng và cây Đinh lăng trên địa bàn huyện Văn Lâm tỉnh Hưng Yên và huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định Những thành tựu đạt được trong liên kết và những tồn tại khó khăn, nguyên nhân

- Đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy liên kết trong phát triển cây dược liệu giữa công ty và các nông hộ trên địa bàn hai huyện, từ đó giúp nâng cao hiệu quả liên kết, phát triển kinh tế, đời sống người dân ngày càng được cải thiện

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là tập trung vào các chủ thể tham gia

liên kết trong phát triển cây dược liệu bao gồm Công ty cổ phần TRAPHACO và các hộ dân thuộc hai huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên và huyện Hải Hậu tỉnh Nam Định, trong đó chủ thể quản lý là công ty cổ phần Traphaco Ngoài ra, luận văn cũng tập trung đánh giá mức độ liên kết nhằm đề xuất những giải pháp tăng cường liên kết trong thời gian tới

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về thời gian: Số liệu được thu thập trong vòng 3 năm từ năm 2011 - 2015

- Về không gian: Nghiên cứu về liên kết trong phát triển cây dược liệu cho Công ty cổ phần TRAPHACO được tác giả lựa chọn là hai cây dược liệu chủ yếu của TRAPHACO hiện nay là Cúc hoa vàng và Đinh lăng Trong đó, cây dược liệu Cúc hoa vàng hiện đang được trồng chủ yếu trên địa bàn làng Nghĩa Trai, xã Tân Quang, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên và dược liệu Đinh Lăng trên địa bàn tổ 9,

xã Hải Toàn, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định

3.2.1 Dược liệu Cúc hoa vàng tại Huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên

Dược liệu Cúc hoa vàng được phân bố, tập trung chủ yếu tại thôn Nghĩa Trai, xã Tân Quang (Văn Lâm) Hoa Cúc có thể được sử dụng trực tiếp như trà thảo dược hoặc trở thành một vị trong các bài thuốc nam, thuốc bắc Hoa Cúc có vị đắng, hơi ngọt, có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, có thể sử dụng để chữa các bệnh hoa

Trang 16

6

mắt, chóng mặt, đau đầu, cao huyết áp…

Thu hoạch và chăm sóc Cúc hoa vàng

Huyện Văn Lâm có khoảng 20 ha trồng Cúc hoa vàng; trong đó tập chung chủ yếu tại thôn Nghĩa Trai, xã Tân Quang, huyện Văn Lâm (8 - 10 ha) chiếm khoảng 50% diện tích và sản lượng (8 - 10 tấn dược liệu/năm)

Cúc hoa vàng là một dược liệu được sử dụng với sản lượng lớn bởi công ty

CP Traphaco (5 - 6 tấn dược liệu/năm) trong sản phẩm Sáng mắt với doanh thu 20 -

30 tỷ/năm Công ty cũng đã xây dựng nhà máy công nghệ cao Traphaco trên địa bàn huyện để thu mua và sản xuất các sản phẩm đông dược

3.2.2 Dược liệu Đinh Lăng tại Huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định

Cây dược liệu Đinh lăng đã được trồng rất nhiều năm trên đồng đất của huyện Hải Hậu và trong mười năm gần đây diện tích trồng đinh lăng ngày càng được mở rộng Trước năm 2013, tổng diện tích trồng Đinh lăng toàn huyện có khoảng 36,12 ha và duy trì ổn định với quy mô điện tích này Từ năm 2013 đến nay, Công ty cổ phần Traphaco đã đẩy mạnh việc tiêu thụ sản phẩm, do đó diện tích không ngừng tăng lên Đến năm 2015, tổng diện tích trồng Đinh lăng tại các xã Hải Ninh, Hải Quang, Hải Châu, Hải Giang, Hải Lộc, Hải Đông, Hải Hà lên đến 46,30 ha

Trang 17

7

Thu hoạch và chăm sóc Đinh lăng

Xóm 9, xã Hải Toàn, huyện Hải Hậu là địa phương có diện tích và sản lượng Đinh lăng lớn nhất toàn huyện (với diện tích năm 2015 lên tới 16ha) và cung cấp sản lượng lên tới 160 tấn dược liệu/năm

Công ty Traphaco với các sản phẩm Hoạt huyết dưỡng não và Cebraton mỗi năm tiêu thụ từ 800 - 1000 tấn dược liệu Đinh lăng Công ty đã tập trung phát triển vùng dược liệu tại huyện Hải Hậu và huyện Nghĩa Hưng tỉnh Nam Định Trong đó xóm 9, xã Hải Toàn là đơn vị điển hình trong phát triển dược liệu Đinh lăng cung

ứng cho công ty

3.2 Phạm vi nghiên cứu

4 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 4 chương:

Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn về vấn đề nghiên cứu

Chương 2 Đặc điểm địa bàn và phương pháp nghiên cứu

Chương 3 Thực trạng liên kết trong phát triển cây dược liệu cho Công ty cổ

phần Traphaco tại huyện Văn Lâm tỉnh Hưng Yên và huyện Hải Hậu tỉnh Nam

Định

Chương 4 Một số giải pháp giúp thúc đẩy liên kết trong phát triển cây dược liệu cho Công ty cổ phần Traphaco

Trang 18

Nông dân ngày nay, đặc biệt là nông dân các vùng có tiềm năng lợi thế về phát triển dược liệu không phải chỉ sản xuất dược liệu phục vụ tiêu dùng của hộ mà chủ yếu là hàng hóa Đặc điểm sản xuất hàng hóa nảy sinh một số yêu cầu lớn:

- Sản xuất hàng hóa đòi hỏi tính chuyên nghiệp cao hơn để giảm chi phí sản xuất, do vậy họ bắt buộc phải có các liên kết với các tổ chức cung cấp dịch vụ đầu vào cũng như đầu ra trong sản xuất (các tổ chức cung cấp vốn; các đơn vị cung ứng vật tư sản xuất; các đơn vị chịu trách nhiệm xây dựng chỉ dẫn địa lý, xuất xứ hàng hóa cho sản phẩm và kiểm soát chất lượng dược liệu; các hệ thống kho chứa điều tiết hàng hóa, các đơn vị vận chuyển, giao hàng ) đặc biệt là các tổ chức giúp giải quyết các mối quan hệ với bên ngoài như tiếp xúc với thị trường, tiếp thị, quảng bá… Tổ chức nông dân sẽ giúp các hộ dễ dàng tiếp cận với các nguồn vốn vay

- Nhu cầu về sử dụng các sản phẩm được chế biến từ dược liệu tự nhiên của người dân ở trong nước và phục vụ xuất khẩu đang là vấn đề cấp bách, “cung không

đủ cầu” đây chính là thị trường tiêu thụ rộng lớn và đều đặn trong tương lai Tuy nhiên, để tiếp cận được thị trường này, người dân phải liên kết với các doanh

Trang 19

sử dụng các sản phẩm thảo dược dưới các tiêu đề “thực phẩm bổ sung”, “sản phẩm thay thế” hay “sản phẩm không thông thường” Điều này dẫn đến các đơn vị quản

lý, sản xuất - kinh doanh phải tăng cường các hoạt động nghiên cứu, kiểm soát, kinh doanh, tiếp thị các sản phẩm thuốc y học cổ truyền ở cấp quốc tế WHO đã công bố nhiều văn bản về nhận thức vai trò của thuốc YHCT và phát triển thuốc từ thảo dược như:

+ WHO và UNICEF đã thông qua Tuyên bố Alma-Ata năm 1978;

+ Đã đưa ra bản hướng dẫn thực hành thu hái và trồng trọt cây thuốc tốt (GACP) năm 2003;

+ Đã thông qua bản “Chiến lược toàn cầu và kế hoạch hành động vì sức khoẻ cộng đồng, phát minh và sở hữu trí tuệ” (24/05/2008);

+ Đã đưa ra Tuyên bố Bắc Kinh (08/11/2008);

+ Đã mở nhiều hội thảo về Thuốc dân tộc (2009)

Rõ ràng, chính sách phát triển thuốc Y học cổ truyền của WHO, trong đó có dược liệu, đòi hỏi sự tham gia đầy đủ của nhiều ban ngành, đơn vị từ Nhà quản lý đến người dân, từ Nhà khoa học đến Doanh nghiệp WHO không đưa ra mô hình nhất định để phát triển dược liệu ở các quốc gia khác nhau Tuy nhiên, một số văn phòng của WHO tại địa phương ở Châu Phi, Trung Đông và Đông Nam Á cũng đã đưa ra các hướng dẫn phù hợp với địa phương về qui định, đăng ký thuốc cổ truyền cũng như các đề xuất về tiêu chuẩn tiếp thị (WHO, 2011)

Tại Châu Á, có những mô hình phát triển các sản phẩm trong đó Nhà nước là người đóng vai trò chủ chốt Kinh nghiệm của các nước lân cận như Trung Quốc, Thái Lan, Hàn Quốc cho thấy việc xây dựng chiến lược quy hoạch phát triển dược

Trang 20

10

liệu tại các vùng có tiềm năng lợi thế trên vùng lãnh thổ được triển khai mạnh mẽ Việc này được triển khai cụ thể từ khâu tuyên truyền, quảng bá đến đầu tư về khoa học - kỹ thuật và tài chính cho phát triển Vấn đề này được thực hiện đồng bộ giữa các cấp các ngành ở các địa phương, nhất là trong việc phối hợp xây dựng các phương án phát triển mang tính đặc thù của mỗi địa phương dựa trên chiến lược, quy hoạch tổng thể chung của vùng lãnh thổ (WHO, 2011) Do vậy, việc xây dựng

mô hình liên kết phát triển phù hợp với từng địa phương, từng vùng của mỗi quốc gia là vấn đề được các nước trên thế giới trong đó có Việt Nam được quan tâm và nghiên cứu

Tại Việt Nam, nhận thức được tầm quan trọng của việc bảo tồn, phát triển dược liệu đối với công tác chăm sóc sức khỏe và chữa trị bệnh tật cũng như phát triển kinh tế đất nước, ngay từ thời kỳ chiến tranh, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản về phát triển dược liệu

Trước yêu cầu hội nhập và phát triển của đất nước ngày nay, đồng thời đáp ứng yêu cầu ngày càng tăng về số lượng và chất lượng của nguồn nguyên liệu làm thuốc ở Việt Nam, Trong giai đoạn từ 2000 đến nay, Nhà nước nhận thấy rõ vai trò của y dược học cổ truyền và công tác phát triển dược liệu đối với phát triển kinh tế

Từ đó, Nhà nước và các Bộ ngành đã đưa ra các Nghị quyết, quyết định chú trọng đến công tác dược liệu như: Quyết định 108/2002/QĐ-TTg về phê duyệt chiến lược phát triển ngành Dược giai đoạn đến năm 2010, Quyết định 222/2003/QĐ-TTg về phê duyệt chính sách quốc gia về Y dược học cổ truyền, Quyết định 765/2005/QĐ-BYT về phê duyệt kế hoạch thực hiện chính sách quốc gia về Y dược học cổ truyền; Quyết định số 153/2006/QĐ-TTg ngày 30/6/2006 về việc phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển Y tế Việt Nam giai đoạn đến năm 2015 và tầm nhìn đến năm

2020

Tuy nhiên, thực tế việc hợp tác, liên kết giữa nghiên cứu còn rời rạc, phát triển, sản xuất, thị trường tiêu thụ dược liệu, thiếu tổ chức Mặt khác, những kết quả đạt được trong khảo sát, nghiên cứu về dược liệu của các cấp, các ngành từ trung ương đến địa phương trong những năm qua còn khiêm tốn, các giải pháp đưa ra

Trang 21

11

chưa phù hợp với thực tế dẫn tới khi tiến hành ứng dụng, dụng triển khai trong thực

tế chưa đem lại hiệu quả, còn nhiều thiếu sót hạn chế Gần đây, để khắc phục những tồn tại này, trong công trình nghiên cứu của (Trần Ngọc Ca, cùng các cộng sự, 2013) thuộc Hội đồng Chính sách khoa học và công nghệ quốc gia với đề tài “phân tích và đề xuất một số giải pháp chính sách về liên kết 4 nhà (nhà nước, nhà khoa học, nhà nông và nhà doanh nghiệp) trong phát triển dược liệu ở Việt Nam” đã đề cập cụ thể hơn về cơ chế, chính sách dành cho “các nhà” khi tham gia liên kết, trong

đó nhấn mạnh việc Nhà nước phải đứng vai trò chủ đạo trong liên kết này, đồng thời đưa ra các chính sách cho “các nhà” phù hợp với thực tế ở từng địa phương

Tiếp theo, ngày 30/10/2013, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định

số 1976/QĐ-TTg về việc “Phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển dược liệu đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030”

Mặc dù các chính phủ của các nước trên thế giới trong đó có Việt Nam đã có nhiều chủ trương trong việc phát triển dược liệu, nhưng trong những năm qua những công trình nghiên cứu về chủ đề này trên thế giới và Việt Nam cũng còn ít, chưa được quan tâm nghiên cứu một cách bài bản và có hệ thống Tuy nhiên, có thể thấy trong những năm qua, đã có một số công trình tiêu biểu nghiên cứu về chủ đề này như:

Nghiên cứu của Chengzi (2013), Tăng cường mối quan hệ nông dân và doanh nghiệp trong phát triển dược liệu ở Trung Quốc hiện nay, Tạp chí cây thuốc

số 121 Tác giả đã chỉ ra được tiềm năng, lợi thế của Trung Quốc trong phát triển dược liệu ở tất cả các vùng trên đất nước, đặc biệt là nếu tăng cường sự liên kết chặt chẽ giữa các bên tham gia thì tiềm năng dược liệu của Trung Quốc có thể trở thành mặt hàng xuất khẩu chính đứng sau các sản phẩm rau, quả trong hệ thống các sản phẩm nông nghiệp chủ đạo Bên cạnh đó, tác giả cũng đã khái quát thực trạng phát triển dược liệu tại Trung Quốc từ những năm 80 của thế kỷ 20 cho đến nay và mối quan hệ hợp tác giữa người nông dân với doanh nghiệp trong phát triển dược liệu tại Trung Quốc Tác giả chỉ ra những khó khăn thách thức của quá trình hợp tác giữa nông dân và doanh nghiệp trong từng giai đoạn là những cam kết về cung cấp giống

Trang 22

12

và tiêu thụ dược liệu giữa người dân và doanh nghiệp chưa chặt chẽ Mặt khác, do yêu cầu của doanh nghiệp đối với chất lượng dược liệu đòi hỏi cao hơn so với thực tiễn khiến cho mối quan hệ giữa nông dân và doanh nghiệp bị rạn nứt Tác giả cũng đưa ra kiến nghị cần có Nhà nước tham gia sâu vào quá trình này vừa có thể đáp ứng được yêu cầu phát triển dược liệu theo quy hoạch vừa làm trọng tài để mối quan hệ này được cải thiện hơn

Trong nghiên cứu của Trần Văn Ơn (2015) về “phát triển dược liệu Quảng Ninh trong bối cảnh nền kinh tế thị trường và hội nhập” đưa ra quan điểm: Việc phát triển được liệu ở Quảng Ninh - Việt Nam cần được triển khai một cách có hệ thống, đồng bộ và đột phá Nghĩa là việc phát triển dược liệu không đơn thuần là chỉ

là mời gọi một số doanh nghiệp lập dự án đầu tư, giãn dân lấy đất,… để trồng một

số cây thuốc như cách làm bấy lâu nay mà cần phát triển hệ thống các chủ thể kinh

tế tham gia, được gắn kết với nhau theo chuỗi giá trị, từ hệ thống cung ứng đầu vào đến chủ thể sản xuất sơ cấp, thứ cấp, đến thị trường mục tiêu; các hệ thống hỗ trợ và chính sách của tỉnh, trong đó các chủ thể kinh tế được đặt ở vị trí trung tâm Đặt cộng đồng vào trung tâm của sự phát triển, trong đó các doanh nghiệp cộng đồng (bao gồm các HTX theo luật HTX năm 2012 và các công ty cổ phần) là động lực phát triển Có như vậy mới huy động được sự tham gia của người dân, nhằm tạo ra bước chuyển lớn

Cùng với quan điểm này, (năm 2014) UBND tỉnh Hà Giang thực hiện dự án phát triển cây dược liệu gắn với xóa đói giảm nghèo trên địa bàn tỉnh Hà Giang Dự

án đã đưa ra quan điểm phát triển một cách có hệ thống, đồng bộ và đột phá Hệ thống các chủ thể kinh tế tham gia phát triển được gắn kết với nhau theo chuỗi giá trị, từ hệ thống cung ứng đầu vào đến chủ thể sản xuất sơ cấp, thứ cấp, đến thị trường mục tiêu; các hệ thống hỗ trợ và chính sách của Nhà nước cũng như của tỉnh

Hà Giang - Việt Nam (theo hướng hỗ trợ), trong đó các chủ thể kinh tế được đặt ở

vị trí trung tâm

Cũng trong (năm 2014) này, trong “Mô hình triển khai gắn lợi ích, trách nhiệm 4 nhà trong chuỗi giá trị phát triển dược liệu tại 6 huyện 30A- Hà Giang - An

Trang 23

bộ sản phẩm đạt chất lượng theo tiêu chuẩn xác nhận 2 bên với giá thị trường

- Nhà nước: Tạo ra các hành lang để 3 nhà trên hợp tác, đảm bảo quyền lợi

và nghĩa vụ, tạo ra sự hấp dẫn cho doanh nghiệp đầu tư vào ngành chứa đựng rủi ro, đầu tư vào vùng khó khăn, lựa chọn đúng doanh nghiệp có tâm, có tầm, có hướng đi

và chiến lược phát triển khả thi để hỗ trợ khuyến khích, chia sẻ những rủi ro do các điều kiện tự nhiên gây ra, mong muốn 3 nhà trên hài lòng với công việc, cuộc sống

và thành quả đầu tư, ổn định đời sống xã hội, góp phần bảo vệ vững chắc an ninh quốc gia, từng bước cân đối ngân sách

- Nhà khoa học: Đối tượng nghiên cứu, lựa chọn, ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển giao công nghệ, kỹ thuật để tạo ra các sản phẩm vượt trội về chất lượng, năng suất - Mong muốn được có các đơn đặt hàng nghiên cứu từ doanh nghiệp (Anvy) một cách rõ ràng, có tính chất cam kết, được ghi nhận, tôn vinh, được nhận lương xứng đáng và có thu nhập gia tăng từ các công trình đề tài chuyển giao thành công cho Anvy)

- Nhà nông (Hộ dân): Đầu tư đất, công cụ, công lao động, phân bón, chi phí cải tạo đồng ruộng, trồng gia công theo đơn đặt hàng cho Anvy (chủng loại, số lượng, chất lượng) Đội liên kết: gồm 2-3 hộ có diện tích đất tập trung thành khoảng 3-5 ha liên kết cùng Anvy, ký biên bản cam kết tham gia có chứng kiến của chính quyền thôn, xã Cánh đồng xa những cánh đồng tập trung của HTX Anvy, nhưng có thể ứng dụng được máy nông cụ vào sản xuất, đội sẽ gồm đại diện của Anvy và các đội viên (cứ góp 3000 - 5000 m2 đất được 1 người tham gia vào đội), bầu đội trưởng, đội sản xuất sẽ trở thành vệ tinh cho HTX Anvy trong vùng, sẽ trồng theo

kế hoạch chung của Anvy và bán 100 % sản phẩm cho Anvy Đội viên sẽ tự nguyện góp đất, một số công cụ sản xuất, một phần chi phí cải tạo đồng ruộng tương ứng

Trang 24

14

với đất vào đội, làm việc có tổ chức, chấm công làm việc, ứng trả lương tháng mức tối thiểu, cuối kỳ thu hoạch bán theo giá thị trường cho Anvy, sẽ hạch toán, trừ chi phí của Anvy, chi phí đất…hiệu quả, rủi ro sẽ phân chia theo tỷ lệ góp đất của từng đội viên và vốn ứng ra của Anvy

Gần đây, trong nghiên cứu của (Trần Văn Ơn, 2016) với chủ đề “Xây dựng chuỗi cung ứng dược liệu Việt Nam” đã chỉ ra thực trạng phát triển và cung ứng dược liệu ở Việt Nam còn nhiều bất cập Phần lớn dược liệu trong nước không có tiêu chuẩn, xuất xứ rõ ràng và khó kiểm soát chất lượng; Lúng túng trong xác định chủ thể sản xuất và cung ứng; Chưa có liên kết theo chuỗi; Vai trò của nhà nước còn mờ nhạt, chủ yếu mới dừng ở văn bản Từ những vấn đề này, tác giả đề xuất mô hình cung ứng dược liệu của Việt Nam, trong đó các doanh nghiệp dược giữ vai trò chủ chốt Theo đó, mô hình tổ chức như sau:

Thành lập các HTX và công ty cổ phần, trong đó cổ đông là các hộ gia đình trong khu vực từ 1-3 xã góp vốn dưới hình thức đa dạng từ đất đai đến nguyên vật liệu và sức lao động để xây dựng cơ bản ban đầu, tiền mặt…các phần góp này được quy thành cổ phần

Các doanh nghiệp giữ vai trò chủ chốt từ nghiên cứu chuyển giao tiến bộ kỹ thuật đến tiêu thụ sản phẩm, biến các dược liệu thô thành sản phẩm cao cấp hơn, bao gồm: dược liệu đóng gói, cao định chuẩn, thuốc phiến yêu cầu chế biến phức tạp, các chế phẩm hoàn thiện (viên nén, viên nang, trà tan…) cung cấp cho thị trường thuốc YHCT và thị trường bán lẻ

- Cải thiện hệ thống cơ sở hạ tầng chung cho các vùng quy hoạch:

+ Cải tạo hệ thống tưới tiêu tại các khu trồng cây dược liệu hàng năm để đáp ứng được yêu cầu sản xuất, nâng cao năng suất và chất lượng dược liệu

+ Cải tạo và nâng cấp đường giao thông kết nối vùng sản xuất dược liệu với tuyến đường quốc lộ, đường giao thông trục chính để đảm bảo vận chuyển sản phẩm được thuận lợi

+ Hoàn thiện hệ thống lưới điện đến khu sản xuất, tập kết vật tư, sản phẩm đảm bảo đáp ứng được yêu cầu sản xuất

Trang 25

15

- Xây dựng hệ thống nhà thu gom, sơ chế, đóng gói và bảo quản sản phẩm tại các vùng quy hoạch để tạo ra sản phẩm dược liệu có chất lượng tốt, đáp ứng nhu cầu của thị trường trong nước và hướng tới xuất khẩu

- Xây dựng các mô hình ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất cây dược liệu

- Xây dựng và hoàn thiện hệ thống tiêu thụ sản phẩm, tạo môi trường thuận lợi cho các hoạt động sản xuất, kinh doanh cây dược liệu phát triển

- Xây dựng các mô hình ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất cây dược liệu; Xây dựng các mô hình ứng dụng các công nghệ mới tiên tiến trong sản xuất và tiêu thụ cây dược liệu

- Hỗ trợ thành lập các mô hình điểm về kinh tế hợp tác, liên kết 4 nhà theo các hình thức khác nhau để tạo mối liên kết chặt chẽ giữa người sản xuất và người tiêu thụ, tạo đầu ra ổn định cho cây dược liệu trên địa vùng quy hoạch

Như vậy, có thể thấy điểm chung của các nghiên cứu này đều cho rằng: cần

có Nhà nước tham gia sâu vào quá trình này vừa có thể đáp ứng được yêu cầu phát triển dược liệu theo quy hoạch vừa làm trọng tài để mối quan hệ này được cải thiện hơn Tuy nhiên, nghiên cứu sâu về liên kết phát triển dược liệu như thế nào, theo hình thức, phương thức nào? vẫn là vấn đề mà các nghiên cứu còn chưa đề cập đến Chính vì lẽ đó, trong thời gian qua ở Việt Nam đã bên cạnh một số mô hình liên kết phát triển dược liệu thành công đã đem lại hiệu quả, còn có các mô hình liên kết phát triển dược liệu theo hình thức tự phát hoặc đã có sự liên kết nhưng mô hình liên kết còn lỏng lẻo chưa đem lại hiệu quả cao dẫn đến những thất bại

Từ kinh nghiệm của các nước trên thế giới và trong trong quá trình liên kết phát triển dược liệu trong những năm qua có thể nhận thấy: người nông dân và nhà doanh nghiệp liên kết với nhau thông qua hệ thống hợp đồng Hệ thống hợp đồng đem lại các tác dụng to lớn như sau:

- Chuyển một phần lợi nhuận của người mua bán trung gian cho người dân sản xuất, trực tiếp đầu tư phát triển vùng nguyên liệu

- Chia một phần rủi ro về tiếp thị và tiêu thụ trong quá trình sản xuất - chế

Trang 26

16

biến nông nghiệp cho công ty chế biến tham gia gánh chịu, nông dân chỉ còn lo rủi

ro về nguyên liệu sản xuất Đặc biệt với ngành dược liệu, nhiều dược liệu phải sơ chế, chế biến đòi hỏi công nghệ cao mà người nông dân không thể đáp ứng được

- Nối kết thông tin hai chiều giữa thị trường tiêu dùng và người sản xuất, nhờ

đó mà sản phẩm đáp ứng đúng yêu cầu về tiêu chuẩn chất lượng do thị trường đòi hỏi, từ đó tăng khả năng canh tranh và giá trị của sản phẩm

- Tập trung nhiều hộ sản xuất tiểu nông nhỏ lẻ thành các vùng sản xuất hàng hóa với chất lượng đồng đều và khối lượng tập trung

Tóm lại, các liên kết phát triển dược liệu giữa doanh nghiệp và các hộ dân tại Việt Nam trong những năm qua còn nhiều bất cập, hạn chế Sự phát triển tự phát thiếu sự quy hoạch, kỹ thuật và sự cam kết đầu ra đều dẫn tới sự thiếu bền vững của các mô hình phát triển dược liệu Đây cũng chính là những điểm mà luận văn sẽ tập trung làm rõ cả về cơ sở lý luận và thực tiễn

1.2 Cơ sở lý luận về liên kết trong phát triển cây dược liệu

1.2.1 Một số khái niệm về liên kết

Liên kết

Khái niệm liên kết xuất phát từ tiếng Anh “integration” mà trong hệ thống

thuật ngữ kinh tế có nghĩa là sự hợp nhất, sự phối hợp hay sát nhập của nhiều bộ phận thành một chỉnh thể Trước đây khái niệm này được biết đến với tên gọi là

nhất thể hóa và gần đây mới gọi là liên kết

Liên kết là kết lại với nhau từ nhiều thành phần hoặc tổ chức riêng rẽ nhằm

mục đích nào đó (Đại từ điển tiếng Việt, 1999)

Liên kết kinh tế

Theo Từ điển thuật ngữ kinh tế học của Viện nghiên cứu và phổ biến tri thức

bách khoa (2001): “liên kết kinh tế là hình thức hợp tác, phối hợp hoạt động do các

đơn vị kinh tế tự nguyện tiến hành nhằm thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển theo hướng có lợi nhất trong khuôn khổ pháp luật của Nhà nước Mục tiêu là tạo ra mối liên kết kinh tế ổn định thông qua các hoạt động kinh tế hoặc các quy chế hoạt động để tiến hành phân công sản xuất, khai thác tốt tiềm năng của các đơn vị tham

Trang 27

17

gia liên kết để tạo ra thị trường tiêu thụ chung, bảo vệ lợi ích cho nhau”

Theo Từ điển bách khoa Việt Nam (2011) và Từ điển bách khoa nông nghiệp

Việt Nam (Đường Hồng Dật, 2011) đều cho rằng: “Liên kết kinh tế là hình thức

phối hợp, hợp tác thường xuyên các hoạt động do các đơn vị kinh tế tự nguyện tiến hành để cùng nhau đề ra và thực hiện các chủ trương, biện pháp có liên quan đến công việc sản xuất kinh doanh của các bên tham gia nhằm thúc đẩy sản xuất, kinh doanh phát triển theo hướng có lợi nhất” Liên kết kinh tế được xây dựng trên

nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, cùng có lợi thông qua hợp đồng kinh tế ký kết giữa các bên tham gia và trong khuôn khổ pháp luật của Nhà nước Mục tiêu của liên kết kinh tế là tạo ra mối quan hệ kinh tế ổn định thông qua hợp đồng kinh tế, hoặc các quy chế hoạt động để tiến hành phân công sản xuất chuyên môn hóa, hợp tác hóa, nhằm khai thác tốt tiềm năng của mỗi đơn vị tham gia liên kết, hoặc để cùng nhau tạo ra thị trường chung, phân định hạn mức sản lượng cho từng đợn vị thành viên, giá cả cho từng loại sản phẩm, nhằm bảo vệ lợi ích của nhau Liên kết kinh tế có nhiều hình thức và quy mô tổ chức khác nhau tương ứng với nhu cầu sản xuất, kinh doanh của các đơn vị thành viên tham gia liên kết Những hình thức phổ biến là: Hiệp hội sản xuất và tiêu thụ; nhóm sản xuất; nhóm vệ tinh; hội đồng sản xuất và tiêu thụ theo ngành hoặc theo vùng; liên kết xuất nhập khẩu… Trong liên kết các đơn vị thành viên có tư cách pháp nhân đầy đủ, không phân biệt hình thức

sở hữu, quan hệ trực thuộc về mặt quản lý Nhà nước, ngành kinh tế - kỹ thuật hay lãnh thổ Trong khi tham gia liên kết, không một đơn vị thành viên nào bị mất quyền tự chủ của mình, không được miễn giảm bất cứu nghĩa vụ nào đối với Nhà nước theo pháp luật hoặc nghĩa vụ hợp đồng đã ký với các đơn vị khác

Liên kết trong sản xuất - kinh doanh nông nghiệp

Sản xuất - kinh doanh nông nghiệp có những đặc thù riêng do có đặc điểm riêng của ngành nông nghiệp, chẳng hạn như: các sản phẩm nông nghiệp có chu kỳ sản xuất kinh doanh rất khác nhau (kể cả trong cùng một sản phẩm cũng có những điểm đặc thù như: có cây trồng chu kỳ thay giống mới kéo dài vài năm mới thay giống một lần…, khác với các khâu khác như kỹ thuật, chăm sóc, tiêu thụ… lại diễn ra

Trang 28

18

thường xuyên); các tác nhân (tổ chức, cá nhân) tham gia sản xuất - kinh doanh cũng rất

đa dạng, đặc biệt là các hộ cá thể… Do vậy, liên kết trong sản xuất - kinh doanh nông nghiệp cũng có những điểm khác biệt, và có thể được định nghĩa như sau:

“ Liên kết trong sản xuất - kinh doanh nông nghiệp là hình thức phối hợp, hợp tác thường xuyên các hoạt động do các đơn vị kinh tế tự nguyện tiến hành để cùng nhau đề ra và thực hiện các công việc sản xuất kinh doanh của các bên tham gia nhằm thúc đẩy sản xuất, kinh doanh phát triển theo hướng có lợi nhất Liên kết kinh tế được xây dựng trên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, cùng có lợi thông qua hợp đồng kinh tế ký kết giữa các bên tham gia dưới hai hình thức chủ yếu là hợp đồng bằng văn bản (hợp đồng chính thống) trong khuôn khổ pháp luật của Nhà nước và hợp đồng phi chính thống (thỏa thuận miệng) Mục tiêu của liên kết kinh tế

là tạo ra mối quan hệ kinh tế ổn định, hoặc các quy chế hoạt động để tiến hành phân công sản xuất chuyên môn hóa, hợp tác hóa, nhằm khai thác tốt tiềm năng của mỗi đơn vị tham gia liên kết, hoặc để cùng nhau tạo ra thị trường chung, phân định hạn mức sản lượng cho từng đợn vị thành viên, giá cả cho từng loại sản phẩm, nhằm bảo vệ lợi ích của nhau và cùng có lợi Trong liên kết các đơn vị thành viên

có tư cách pháp nhân đầy đủ và không đầy đủ, không phân biệt hình thức sở hữu, quan hệ trực thuộc về mặt quản lý Nhà nước, ngành kinh tế - kỹ thuật hay lãnh thổ Trong khi tham gia liên kết, không một đơn vị thành viên nào bị mất quyền tự chủ của mình, không được miễn giảm bất cứ nghĩa vụ nào đối với Nhà nước theo pháp luật hoặc nghĩa vụ hợp đồng đã ký với các đơn vị khác

Liên kết trong sản xuất - kinh doanh cây dược liệu

Dược liệu được khai thác từ hai nguồn: nguồn khai thác tự nhiên và trồng trọt.Với khai thác tự nhiên, dược liệu được xếp vào “lâm sản ngoài gỗ” Với trồng trọt, cây dược liệu là một loại “nông sản” đặc biệt

- Thứ nhất, mục đích sử dụng của cây dược liệu là để điều trị và hỗ trợ điều trị bệnh

- Thứ hai, chỉ tiêu đánh giá chất lượng của cây dược liệu là thông qua các hàm lượng hoạt chất là những thành phần hóa học thường có tỷ lệ rất nhỏ trong

Trang 29

19

dược liệu nhưng lại quyết định tác dụng của dược liệu

- Thứ ba, diện tích trồng dược liệu thường rất nhỏ so với các cây nông sản khác cũng đủ đáp ứng nhu cầu sử dụng cho ngành Dược

- Thứ tư, dược liệu là hàng hóa đặc biệt, khi thiếu thì giá bao nhiêu cũng phải mua; khi thừa thì rất khó chuyển đổi mục đích sử dụng và tiêu hủy cũng rất khó khăn do ảnh hưởng đến môi trường

1.2.2 Tính tất yếu của liên kết

Liên kết kinh tế như đã phân tích ở phần trên, đó là sự hợp tác cùng phát triển của hai hay nhiều bên không kể quy mô hay loại hình sở hữu Mối quan hệ liên kết chính là bảo đảm về lợi ích của các bên tham gia liên kết kinh tế Do đó các bên tất yếu

sẽ liên kết với nhau nhằm đảm bảo, nâng cao lợi ích của mình Điều đó được thể hiện:

Chủ thể sản xuất (các doanh nghiệp, các nhà sản xuất của các ngành, lĩnh vực) có quy mô nhỏ và vừa thường bị các doanh nghiệp lớn cạnh tranh và mang lại bất lợi về lợi ích cho các chủ thể (doanh nghiệp) vừa và nhỏ Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, mỗi chủ thể, doanh nghiệp đều có một hoặc vài lĩnh vực chủ đạo, mang tính đặc thù, chuyên biệt, hoặc có những sản phẩm đặc thù riêng; bên cạnh

đó, là một loạt các hoạt động phụ mà bản thân chủ thể, doanh nghiệp không thể tự mình sản xuất ra thành phẩm, hoặc tự thực hiện tiêu thụ được mà phải nhờ đến các

chủ thể khác mới đảm bảo sản xuất và tiêu thụ được sản phẩm ấy Muốn vậy, phải

có sự hợp tác giữa các chủ thể với doanh nghiệp khác để tạo ra sản phẩm với quy mô lớn hơn và tiêu thụ được trên thị trường; giảm thiểu được bất lợi trong hoạt động kinh

tế theo cơ chế thị trường, tiết kiệm chi phí sản xuất, tăng khả năng cạnh tranh

- Liên kết kinh tế còn giúp cho các chủ thể và doanh nghiệp phản ứng nhanh

với những thay đổi của thị trường, tạo cơ hội đứng vững khi thị trường có những biến đổi bất lợi Điều đó thể hiện trong những trường hợp sau:

+ Nhu cầu của thị trường là luôn thay đổi, điều đó buộc các chủ thể sản xuất

vừa phải luôn thay đổi các mẫu mã của các sản phẩm hiện có, vừa phải tìm cách đa dạng hóa sản phẩm Chính sự liên kết kinh tế mới có thể giúp cho các chủ thể đạt

được điều mong muốn là thích ứng với thị trường

Trang 30

20

+ Liên kết kinh tế giúp cho các chủ thể sản xuất và doanh nghiệp tiêu thụ sản

phẩm của mình được nhanh hơn Trong xu thế toàn cầu hóa các hình thức liên kết

được thực hiện với quy mô “xuyên quốc gia”; những sản phẩm hàng hóa do bản thân từng doanh nghiệp khó tiêu thụ, nhưng nếu đặt trong vị trí liên kết thì dễ tiêu thụ được, từ đó thúc sản xuất phát triển

+ Liên kết kinh tế còn giúp các nhà sản xuất, doanh nghiệp có thể tiếp cận

nhanh chóng với các công nghệ, kỹ thuật mới vào sản xuất nhờ có sự phối hợp với

các nhà nghiên cứu ở các trường đại học hay cơ sở nghiên cứu trong và ngoài nước

+ Liên kết kinh tế còn thúc đẩy liên kết, hỗ trợ nhau về vốn trước những thay

đổi của thị trường mà vượt ra ngoài khả năng đáp ứng của doanhh nghiệp, buộc các

chủ thể ấy phải tìm cách liên kết, hỗ trợ về vốn và công nghệ để hoàn thành ra sản phẩm hoàn chỉnh cung cấp cho thị trường

- Liên kết kinh tế giúp các chủ thể giảm thiểu rủi ro trong sản xuất, kinh

doanh sản phẩm Để tránh được rủi ro, nhiều nhà sản xuất đã biết phân tán sự rủi ro

bằng cách mời gọi các chủ thể khác cùng tham gia thực hiện và triển khai dự án Thậm chí mỗi doanh nghiệp phải đảm bảo một phần công việc tùy theo năng lực của từng chủ thể Như vậy mỗi chủ thể tham gia dự án sẽ chịu một phần rủi ro (nếu

có xảy ra)

1.2.3 Đặc trưng của liên kết

- Liên kết kinh tế là một phạm trù khách quan phản ánh những quan hệ xuất phát từ những lợi ích kinh tế khác nhau của những chủ thể kinh tế cũng như quá trình

vận động phát triển tự nhiên của lực lượng sản xuất, xuất phát từ trình độ và phạm vi của phân công lao động xã hội và chuyên môn hóa sản xuất kinh doanh

- Liên kết kinh tế là những quan hệ kinh tế tới trình độ gắn bó chặt chẽ, ổn định, thường xuyên, lâu dài thông qua những thỏa thuận, hợp đồng từ trước giữa các bên tham gia liên kết Không phải tất cả những quan hệ kinh tế nào cũng là liên

kết kinh tế Những quan hệ kinh tế nhất thời, những trao đổi ngẫu nhiên không thường xuyên giữa các chủ thể kinh tế không phải là liên kết kinh tế

- Liên kết kinh tế là một quá trình làm xích lại gần nhau và ngày càng cố kết

Trang 31

21

với nhau trên tinh thần tự nguyện giữa các bên tham gia liên kết Quá trình này vận

động, phát triển qua những nấc thang từ quan hệ hợp tác, liên doanh đến liên hợp, liên minh, hợp nhất lại Như vậy phân công lao động và chuyên môn hóa sản xuất kinh doanh là điều kiện hình thành các liên kết kinh tế; còn hợp tác hóa, liên hợp hóa là những hình thức biểu hiện của những nấc thang, những bước phát triển của liên kết kinh tế

- Liên kết kinh tế là những hình thức hoặc biểu hiện của sự hành động giữa các chủ thể liên kết thông qua những thỏa thuận, những giao kèo, hợp đồng, hiệp định, điều lệ…nhằm thực hiện những mục tiêu nhất định trong tất cả những lĩnh vực

khác nhau của hoạt động kinh tế (đầu tư, sản xuất, kinh doanh) Tùy theo góc độ xem xét, quá trình liên kết có thể diễn ra liên kết theo ngành, liên kết giữa các thành phần kinh tế, liên kết theo vùng lãnh thổ

- Kết quả, hiệu quả liên kết trong sản xuất kinh doanh nông nghiệp chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố chủ yếu, bên cạnh đó còn phải kể đến đó là yếu tố rủi ro từ

thời tiết, khí hậu

- Cũng như liên kết đối với các ngành sản xuất kinh doanh khác, liên kết

trong sản xuất kinh doanh nông nghiệp có sự xuất hiện của các tác nhân tham gia Tuy nhiên, điểm khác biệt đáng quan tâm là các tác nhân đó có sự khác biệt rõ nét

về trình độ, nhận thức, năng lực của họ

1.2.4 Các nguyên tắc cơ bản của liên kết

Để các chủ thể tham gia liên kết đạt được mục tiêu phát triển bền vững, các liên kết phải đảm bảo một số nguyên tắc sau:

Thứ nhất, liên kết kinh tế phải đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh

của các chủ thể tham gia không ngừng phát triển và đạt hiệu quả ngày càng cao

Đây vừa là nguyên tắc, vừa là mục tiêu xuyên suốt của mọi liên kết kinh tế Dù được tiến hành dưới hình thức và mức độ nào thì các quan hệ kinh tế cũng phải đáp ứng được yêu cầu phát triển bền vững của các bên tham gia

Thứ hai, liên kết kinh tế phải được hình thành trên tinh thần tự nguyện tham

gia của các bên Các liên kết chỉ thành công và hiệu quả khi được xây dựng dựa

Trang 32

22

trên cơ sở tự nguyện của các bên tham gia để giải quyết những khó khăn hoặc tìm kiếm lợi ích cao hơn thông qua liên kết Chỉ khi tự nguyện tham gia các chủ thể liên kết mới phát huy hết năng lực nội tại của mình, xây dựng nên mối quan hệ hiệu quả, bền chặt, vì lợi ích chung, đồng thời đem hết khả năng cùng chịu trách nhiệm về những thất bại hay rủi ro trong liên kết Mọi liên kết kinh tế được thiết lập mang tính hình thức hay là kết quả của những quyết định mang tính chủ quan, áp đặt sẽ không thể tồn tại và không thể đem lại lợi ích cho các bên tham gia

Thứ ba, các bên tham gia được dân chủ, bình đẳng trong các quyết định của

liên kết Do các nguồn lực của liên kết được hình thành dựa trên sự đóng góp của

các chủ thể tham gia, mặt khác các liên kết có liên quan chặt chẽ đến lợi ích của các chủ thể tham gia nên hoạt động quản lý, điều hành, giám sát và phân phối lợi ích trong liên kết phải đảm bảo dân chủ, bình đẳng Dân chủ và bình đẳng trong liên kết không có nghĩa là cào bằng quyền lợi và trách nhiệm mà trên cơ sở những đóng góp của mỗi bên Để có sự bình đẳng và dân chủ, các quyết định liên kết phải đảm bảo tính công khai, minh bạch và được thực hiện thông qua một cơ chế điều phối chung được thống nhất giữa các bên ngay từ đầu

Thứ tư, kết hợp hài hòa lợi ích kinh tế giữa các bên tham gia Trong liên kết

kinh tế thì lợi ích kinh tế là động lực thúc đẩy, là chất keo gắn kết lâu dài các bên tham gia Việc chia sẻ hài hòa lợi ích có tầm quan trọng đặc biệt quyết định sự bền vững của các liên kết nên đòi hòi phải tìm ra một cơ chế giải quyết thích hợp Cơ chế đó phải tập trung vào các yêu cầu cơ bản và cấp thiết nhất Trong từng mối liên kết, từng mặt hàng mà có hình thức và phương pháp giải quyết lợi ích khác nhau Ngoài ra cơ chế đó cần đảm bảo cho các bên tham gia được bình đẳng với nhau cả

về quyền lợi cũng như trách nhiệm

Thứ năm, các mối liên kết phải được pháp lý hóa Trong cơ chế thị trường

hiện nay nhiều quan hệ kinh tế được phát triển dựa trên cơ sở tin cậy lẫn nhau của các bên tham gia Liên kết giữa họ thường xuyên và bền chặt vì các bên đều đạt được lợi ích của mình khi than gia Tuy nhiên với mục tiêu hướng đến một nền sản xuất hiện đại thì mọi quan hệ kinh tế cần phải được thể chế hóa bằng luật pháp dưới

Trang 33

Tóm lại, các nguyên tắc của liên kết kinh tế có quan hệ chặt chẽ với nhau

nên khi vận dụng vào thực tiễn cần phải được coi trọng và kết hợp hài hòa, bất cứ nguyên tắc nào nếu bị vi phạm đều có thể làm cho liên kết không đạt hiệu quả mong muốn Tuy nhiên, không phải liên kết kinh tế nào cũng đều phải thực hiện đầy đủ các nguyên tắc trên

1.2.5 Các hình thức, phương thức và mô hình liên kết

1.2.5.1 Các hình thức liên kết

Các hình thức liên kết trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh giữa các tác nhân là những pháp nhân độc lập rất đa dạng, chủ yếu bao gồm các hình thức với các nội dung cơ bản sau:

 Hợp đồng bằng văn bản (Hợp đồng chính thống)

Liên kết theo hợp đồng là quan hệ mua bán chính thức được thiết lập giữa các tác nhân trong việc mua nguyên liệu hoặc bán sản phẩm Hợp đồng là “sự thỏa thuận giữa nông dân và các cơ sở chế biến hoặc tiêu thụ sản phẩm nông sản về việc tiêu thụ sản phẩm trong tương lai và thường với giá đặt trước” Đây là hình thức kinh tế hợp tác trực tiếp, quan hệ giữa hai bên bị ràng buộc bởi hợp đồng, do đó nó

có tính ổn định hơn Quan hệ hợp tác trên cơ sở hợp đồng được thực hiện dưới hai hình thức:

- Hợp đồng trên cơ sở cá nhân

Là quan hệ trực tiếp giữa người sản xuất (như nông hộ, trang trại) với cơ sở chế biến được thực hiện thông qua hợp đồng ký kết với hai bên Các chủ thể có trách nhiệm giao nộp sản phẩm đúng thời hạn, địa điểm, số và chất lượng cho cơ sở chế biến Ngược lại cơ sở chế biến có trách nhiệm nhận sản phẩm (nông sản) và tranh toán hợp đồng cho bên kia Bên nào vi phạm sẽ chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo thỏa thuận

Trang 34

24

- Hợp đồng trên cơ sở nhóm: Có hai dạng

Dạng thứ nhất: Hợp tác thông qua hiệp hội Hiệp hội là tập hợp các nhà sản

xuất có cùng nhu cầu tiêu thụ sản phẩm của quá trình sản xuất trên thị trường Hiệp hội thay mặt các nhà sản xuất ký hợp đồng chung với cơ sở chế biến về thời gian giao nộp sản phẩm, địa điểm, số và chất lượng, giá cả cũng như phương thức thanh toán

Dạng thứ hai: Hợp tác thông qua hợp tác xã dịch vụ Người sản xuất có quan

hệ gián tiếp với cơ sở chế biến và quan hệ trực tiếp với hợp tác xã dịch vụ Hợp tác

xã thay mặt người sản xuất đứng ra ký hợp đồng với cơ sở chế biến, trực tiếp thanh toán, nhận, trả với cơ sở chế biến sau đó thanh toán cho từng cơ sở sản xuất (hoặc từng hộ nông dân)

Đối với mối liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp chế biến với người sản xuất (nông dân) thì chịu sự tác động của nhiều nhân tố kinh tế, kỹ thuật, chính trị, xã hội khác nhau Về mặt kinh tế, nhân tố quy định mạnh mẽ nhất là chế độ kinh tế - xã hội, tức chế độ sở hữu và cơ chế vận hành nền kinh tế, bởi trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đặc điểm nghành nghề, sản phẩm nguyên liệu cụ thể, nhân tố chính trị - xã hội cũng có tác động nhất định đến liên kết

 Hợp đồng miệng (Thỏa thuận miệng)

Hợp đồng miệng là các thỏa thuận không được thể hiện bằng văn bản giữa các tác nhân cam kết cùng nhau thực hiện một số hoạt động, công việc nào đó Hợp đồng miệng cũng được các bên thống nhất về số lượng, chất lượng, giá cả, thời hạn

và địa điểm giao nhận hàng Cơ sở của hợp đồng miệng là niềm tin, độ tín nhiệm, trách nhiệm cam kết thực hiện giữa các tác nhân tham gia hợp đồng Hợp đồng miệng thường được thực hiện giữa các tác nhân có quan hệ thân thiết (họ hàng, bàn

bè, anh em ruột, ) hoặc giữa các tác nhân đã có quá trình hợp tác, liên kết sản xuất

- kinh doanh với nhau mà trong suốt thời gian hợp tác luôn thể hiện được nguồn lực tài chính, khả năng tổ chức và trách nhiệm giữ chữ tín với các đối tác Tuy nhiên, hợp đồng miệng trong thực tế thường chỉ là các thỏa thuận trên nguyên tắc về số lượng, giá cả, điều kiện giao nhận hàng hóa

Trang 35

25

2.1.5.2 Phương thức liên kết

Liên kết kinh tế có thể tiến hành theo các phương thức chiều dọc (liên kết dọc) hoặc chiều ngang (liên kết ngang), trong nội bộ ngành hoặc giữa các ngành, trong một quốc gia hay nhiều quốc gia, trên phạm vi khu vực và quốc tế Cụ thể:

- Liên kết dọc

Là liên kết được thực hiện theo trật tự các khâu của quá trình sản xuất kinh doanh (theo dòng vận động của sản phẩm) Kiểu liên kết theo chiều dọc là toàn diện nhất bao gồm từ sản xuất, chế biến nguyên liệu đến phân phối thành phẩm Trong mối liên kết này thông thường mỗi tác nhân tham gia vừa có vai trò là khách hàng của tác nhân trước đó đồng thời bán sản phẩm cho tác nhân tiếp theo của quá trình sản xuất kinh doanh Kết quả của liên kết dọc là hình thành nên chuỗi giá trị của một ngành hàng và có thể làm giảm đáng kể chi phí vận chuyển, chi phí cho khâu trung gian

- Liên kết ngang

Là hình thức liên kết mà trong đó mỗi tổ chức hay cá nhân tham gia là một đơn

vị hoạt động độc lập nhưng có quan hệ với nhau thông qua một bộ máy kiểm soát chung Trong liên kết này, mỗi thành viên tham gia có sản phẩm hoặc dịch vụ cạnh tranh nhau nhưng họ liên kết lại để nâng cao khả năng cạnh tranh cho từng thành viên nhờ phát huy tính lợi ích kinh tế theo quy mô của tổ chức liên kết Kết quả của liên kết theo chiều ngang hình thành nên những tổ chức liên kết như Hợp tác xã, liên minh, hiệp hội và có thể dẫn đến độc quyền trong một thị trường nhất định

1.2.5.3 Mô hình liên kết trong sản xuất - kinh doanh nông nghiệp

Mô hình liên kết có thể chia thành năm mô hình và được tóm tắt thành bảng sau:

Mô hình phi chính thống

Mô hình liên kết giữa các chủ thể với nhau thông qua những thỏa thuận, cam kết hợp tác không chính thống (thường là thỏa thuận miệng) trong sản xuất - kinh doanh được gọi là liên kết phi chính thống

Đặc điểm của liên kết phi chính thống là liên kết thường diễn ra trong điều

Trang 36

26

kiện trình độ, môi trường phát triển còn chưa cao, trong đó một bên tham gia là hộ nông dân (trình độ nhận thức thấp) Các nội dung liên kết có giá trị kinh tế không lớn, và thường là liên kết như giữa các hộ sản xuất với nhau, giữa hộ sản xuất với đối tác trung gian cung ứng hay tiêu thụ… Các bên liên kết thường có sự quen biết với nhau, do vậy các nội dung trong liên kết như quyền và trách nhiệm rất ít khi được đề cập, cam kết rõ ràng, không có sự ràng buộc bằng văn bản Sự liên kết giữa

họ chủ yếu là dựa vào sự tin tưởng vào sự quen biết với nhau

Chính do đặc điểm liên kết đó chỉ dựa trên nền tảng của sự quen biết, tin tưởng nên tính bền vững của liên kết không cao Tính kém bền vững đó do một trong các bên tìm thấy lợi ích tăng thêm cho mình nên phá bỏ liên kết, lợi ích của đối tác phần nào sẽ bị ảnh hưởng Bên cạnh nhược điểm đó của loại hình liên kết này, thì lợi ích của nó là chi phí liên kết được giảm thiểu, hiệu quả về kinh tế tăng thêm (nếu không có rủi ro, việc phá bỏ liên kết)

Mô hình đa chủ thể

Mô hình đa chủ thể tham gia hợp đồng sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam thường gọi là mô hình “liên kết bốn nhà” Tham gia mô hình này bao gồm nhiều chủ thể khác nhau như Nhà nước, nhà khoa học, doanh nghiệp, hợp tác xã, các trang trại Đặc điểm của mô hình này là các chủ thể khác nhau sẽ có trách nhiệm và vai trò khác nhau Trong đó, doanh nghiệp đóng vai trò hạt nhân gắn kết nhà khoa học với nông dân, gắn kết nhà tài chính với nông dân và tiêu thụ sản phẩm cho nông dân Doanh nghiệp là người quyết định việc tiêu thụ sản phẩm của nông dân nên họ biết được thị trường cần gì để đặt hàng cho nông dân sản xuất Ngoài ra doanh nghiệp cũng chính là người đặt hàng cho các nhà khoa học, ngân hàng, cung cấp các dịch vụ cho mình và cho nông dân Vai trò của Nhà nước là xử lý mối quan hệ giữa các bên ký kết hợp đồng, quy hoạch vùng sản xuất, đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, giải quyết những vấn đề khó khăn nảy sinh do thị trường, thiên tai gây ra, đồng thời vận động, giáo dục, tuyên truyền nâng cao nhận thức, kỹ năng cho các bên tham gia sản xuất theo hợp đồng

Đặc trưng của mô hình này là mối quan hệ đa chiều Cơ chế của mô hình này

Trang 37

27

là sự liên kết và phối hợp nhiều chủ thể khác nhau cùng chia sẻ lợi ích, rủi ro và quyền quyết định Doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ là hạt nhân ký hợp đồng trực tiếp với các trang trại để thu mua nông sản Ngân hàng căn cứ vào hợp đồng giữa doanh nghiệp và các trang trại để cho vay đầu tư phát triển sản xuất, phát triển thị trường Doanh nghiệp đặt hàng nhà khoa học để giải quyết các vấn đề kỹ thuật sản xuất nảy sinh Các tổ chức dân sự xã hội như hiệp hội ngành hàng sẽ vận động, theo dõi, giám sát các hợp đồng giữa doanh nghiệp và trang trại Nhà nước căn cứ vào hợp đồng để xử lý các mẫu thuẫn phát sinh

Trong điều kiện sản xuất nông nghiệp manh mún, lạc hậu, bản thân nông dân không thể tự giải quyết ba vấn đề của nền nông nghiệp hàng hóa là: thị trường, công nghệ và vốn do quy mô kinh doanh quá nhỏ thì mô hình đa chủ thể có thể làm được

Mô hình đa chủ thể được phát triển mạnh ở những quốc gia đang phát triển như Mexico, Kenya, Trung Quốc

Mô hình này có ý nghĩa và tác dụng trong việc chuyển giao khoa học kỹ thuật hiện đại, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp Sản xuất theo mô hình này

sẽ tạo ra vùng chuyên canh sản xuất hàng hóa lớn theo tiêu chuẩn quốc tế, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng

Mô hình trung gian

Đây là mô hình doanh nghiệp ký hợp mua sản phẩm của nông dân thông qua các đầu mối trung gian như hợp tác xã, tổ hợp tác xã, nhóm nông dân hoặc một số

hộ đại diện cho các hộ nông dân Đặc điểm của mô hình này là doanh nghiệp không

ký kết hợp đồng trực tiếp với nông dân mà thay vào đó doanh nghiệp thuê các tổ chức trung gian thực hiện vai trò của mình Mỗi cá nhân hay tổ chức trung gian này

có trách nhiệm kiểm soát và giám sát hoạt động sản xuất của nông dân và chịu trách nhiệm toàn bộ hoạt động trong trang trại từ gieo hạt đến thu hoạch theo quy định của doanh nghiệp và họ được hưởng hoa hồng cho việc kiểm soát và giám sát

Mô hình này tồn tại khi nền sản xuất nông nghiệp còn manh mún và phân tán Doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ nông sản khó thực hiện việc ký hợp đồng cung cấp vật tư, hướng dẫn kỹ thuật cho nông dân vì để thực hiện ký hợp đồng cho từng

Trang 38

Mô hình tập trung

Mô hình tập trung là mô hình các doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ trực tiếp ký hợp đồng với các trang trại Hợp đồng này chỉ có hai bên tham gia trực tiếp là doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ và các trang trại Các doanh nghiệp đặt hàng cho các trang trại sản xuất nông sản để doanh nghiệp chế biến, đóng gói và tiêu thụ sản phẩm Trong những hợp đồng kiểu này, lượng sản phẩm doanh nghiệp đặt hàng các trang trại được phân bổ ngay từ đầu mùa vụ và chất lượng được giám sát một cách chặt chẽ

Doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ nông sản cung cấp các loại vật tư đầu vào, hướng dẫn kỹ thuật, giám sát việc sản xuất của nông dân và mua lại toàn bộ sản phẩm Nông dân cung cấp đất đai, công lao động, sản xuất theo đúng quy trình do doanh nghiệp đưa ra và bán lại toàn bộ sản phẩm cho doanh nghiệp Trong loại hợp đồng này, nông dân có ít quyền quyết định vấn đề sản xuất mặc dù họ vẫn là người trực tiếp sản xuất Người ký kết hợp đồng với nông dân sẽ quy định cụ thể về các yếu tố đầu vào cần sử dụng và phương thức sản xuất Người mua chịu trách nhiệm

về cả công tác hướng dẫn kỹ thuật sản xuất, thường xuyên kiểm tra trên đồng ruộng Đây chính là hình thức “sản xuất gia công” hay sản xuất theo “đơn đặt hàng” của doanh nghiệp

Mô hình này thường áp dụng với doanh nghiệp có nhà máy chế biến đủ khả năng mua hết sản phẩm của trang trại trong vùng hoặc các trang trại có diện tích đất lớn cần sản xuất theo hợp đồng để đảm bảo nông sản tiêu thụ hết Ngoài ra, mô hình này còn áp dụng cho trường hợp có tính chuyên biệt về tài sản như con người, vật chất, địa điểm…

Trang 39

29

Mô hình tập trung đảm bảo nông dân tiêu thụ được nông sản, doanh nghiệp

có nguyên liệu phục vụ cho chế biến Ngoài ra mô hình này hình thành sự liên kết giữa doanh nghiệp và các trang trại, tạo ra vùng sản xuất tập trung với chất lượng cao, an toàn theo quy trình sản xuất nông nghiệp an toàn, đạt tiêu chuẩn quốc tế về

an toàn vệ sinh thực phẩm, nhằm góp phần nâng cao sức cạnh tranh cho doanh nghiệp và tạo sự phát triển bền vững cho các trang trại

Mô hình trang trại hạt nhân

Mô hình trang trại hạt nhân tương tự như mô hình tập trung nhưng bên mua sản phẩm là doanh nghiệp nắm quyền sở hữu đất đai, chuồng trại, vườn cây Bên bán sản phẩm chỉ thực hiện hoạt động sản xuất tạo ra sản phẩm và bán lại sản phẩm cho doanh nghiệp Chủ thể tham gia trực tiếp vào mô hình này cũng chỉ bao gồm doanh nghiệp và các trang trại Trong đó các trang trại do nông dân sản xuất thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp, các hộ nông dân trực tiếp sản xuất nông sản trên đất của doanh nghiệp (có thể xem là người lao động trong doanh nghiệp)

Ở Việt Nam, hình thức khoán trong các nông, lâm trường quốc doanh cũng là

mô hình trang trại hạt nhân Các hình thức khoán này được hình thành theo Nghị định của Chính phủ số 01/CP ngày 04 tháng 01 năm 1995 Trước đây và hiện nay là giao khoán đất nông nghiệp, đất rừng sản xuất và đất có mặt bằng nước nuôi trồng thủy sản trong các nông trường quốc doanh, lâm trường quốc doanh theo Nghị định của Chính phủ số 135/2005/NĐ-CP ngày 08 tháng 11 năm 2005

Nông dân sản xuất nông sản trên đất của doanh nghiệp Doanh nghiệp giao đất và cả cây trồng, vật nuôi cho hộ nông dân, nông dân chăm sóc cây trồng vật nuôi theo đúng quy trình của doanh nghiệp và giao lại toàn bộ sản phẩm cho doanh nghiệp Đây chính là mô hình “khoán liên doanh”, người sản xuất và người mua ký một hợp đồng gọi là hợp đồng giao khoán Trong hợp đồng quy định: Doanh nghiệp kinh doanh nông nghiệp giữ vai trò định hướng sản xuất, hướng dẫn kỹ thuật (khuyến nông), cung ứng dịch vụ đầu vào, đầu ra, giám sát các hoạt động sản xuất kinh doanh trên vườn cây, đàn gia súc giao khoán Quan hệ giữa doanh nghiệp giao khoán và bên nhận khoán được thiết lập theo nguyên tắc thị trường, thuận mua, vừa

Trang 40

Mô hình này cũng có ý nghĩa và tác dụng như mô hình tập trung, ngoài ra nó còn góp phần nâng cao hiệu quả của các trang trại có quy mô lớn với nhiều cấp quản lý như trang trại nhà nước (nông trường quốc doanh, doanh nghiệp nông nghiệp Nhà nước)

1.2.6 Các nội dung liên kết

Nội dung liên kết trong sản xuất nông nghiệp chủ yếu gồm ba nội dung sau:

Liên kết trong việc cung ứng nguyên liệu đầu vào cho quá trình sản xuất (giống, vốn, thức ăn, phân bón, thuốc trừ sâu bệnh)

Đây là hình thức liên kết thường được tiến hành giữa các cửa hàng, đại lý, công ty, doanh nghiệp, nhà khoa học với người sản xuất (nông dân), bên cạnh đó còn có hình thức liên kết giữa các doanh nghiệp, giữa các nhà khoa học hay giữa các người sản xuất với nhau chủ yếu là cung ứng nguyên liệu đầu vào mà họ cùng sản xuất Người sản xuất có tư liệu sản xuất (đất đai, sức lao động ), họ cần các nguyên liệu đầu vào là giống, phân bón, thức ăn Khi thực hiện mối liên kết này, các cửa hàng, đại lý, công ty, doanh nghiệp, nhà khoa học sẽ đứng ra ký kết các hợp đồng hoặc thỏa thuận trực tiếp với người sản xuất hoặc thông qua địa phương Qua hình thức này các nhà cung ứng đầu vào sẽ cung cấp các đầu vào để người sản xuất có vật tư đầu vào và họ sản xuất Như vậy, thông qua mối liên kết này, các nhà cung ứng nguyên liệu đầu vào sẽ bán được sản phẩm mình sản xuất ra và thu lại lợi nhuận cho cơ sở, tổ chức, đơn vị mình Đồng thời người sản xuất lại có đầu vào để sản xuất với cam kết đảm bảo số lượng, chất lượng vật tư đầu vào Khi liên kết này được thực hiện đều mang lại lợi ích cho các bên tham gia Từ đó người sản xuất

sẽ chủ động về các nguồn nguyên liệu đầu vào và sẽ yên tâm sản xuất hơn Có các dạng chủ yếu sau:

Ngày đăng: 02/08/2020, 11:59

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w