Xuất phát từ những vấn đề nêu trên đã hướng cho người viết một ý tưởng về nghiên cứu đề tài: “Chính sách an sinh xã hội đối với nông dân trong quá trình đô thị hóa” nghiên cứu trường hợp
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
PHÙNG THỊ MINH DƯƠNG
CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI ĐỐI VỚI NÔNG DÂN
TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA (NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP HUYỆN BA VÌ,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI)
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH KHOA HỌC QUẢN LÝ
Hà Nội, 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
PHÙNG THỊ MINH DƯƠNG
CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI ĐỐI VỚI NÔNG DÂN
TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA (NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP HUYỆN BA VÌ,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI)
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH KHOA HỌC QUẢN LÝ CHUYÊN NGÀNH ĐÀO TẠO THÍ ĐIỂM
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đoàn Thế Hanh
Hà Nội, 2014
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trước hết, tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS TS
Đoàn Thế Hanh đã tận tình hướng dẫn và tạo điều kiện tốt nhất giúp đỡ tôi
từ những bước đầu nghiên cứu cho đến khi hoàn thành luận văn này
Tôi xin được trân trọng gửi lời cảm ơn tới các Thầy, Cô trong tổ Bộ môn Quản Lý Xã Hội khoa Khoa học quản lý trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội đã tận tình giảng dạy tôi trong suốt quá trình học tập chuyên ngành Khoa học quản lý cho đến khi hoàn thành luận văn này
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Phòng Sau Đại Học và các phòng ban trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội đã tạo điều kiện, giúp đỡ tôi trong thời gian học tập tại quý trường
Nhân đây, tôi cũng chân thành cảm ơn các thành viên trong gia đình tôi, bạn bè, đồng nghiệp đã nhiệt tình giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi cả về thời gian, vật chất và tinh thần để tôi hoàn thành luận văn
Hà Nội, tháng 03 năm 2014
Tác giả
Phùng Thị Minh Dương
Trang 4BẢNG CHỮ VIẾT TẮT
Trang 5
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 9
1 Lý do chọn đề tài 9
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 10
3 Mục tiêu nghiên cứu……… 11
4 Phạm vi nghiên cứu 12
5 Mẫu khảo sát 12
6 Câu hỏi nghiên cứu 13
7 Giả thuyết nghiên cứu 13
8 Phương pháp nghiên cứu 13
9 Kết cấu của Luận văn 13
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ AN SINH XÃ HỘI VÀ HỆ THỐNG CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI 15
1.1 Khái quát chung về an sinh xã hội 15
1.1.1 Tính tất yếu của hệ thống chính sách an sinh xã hội 15
1.1.2 Quá trình hình thành và một số quan niệm về chính sách an sinh xã hội 18
1.1.3 Pháp luật an sinh xã hội 24
1.2 Hệ thống chính sách an sinh xã hội và nông dân trong quá trình đô thị hóa 26
1.2.1 Đô thị hóa, công nghiệp hóa và yêu cầu của an sinh xã hội đối với nông dân 26
1.2.2 Bản chất của chính sách an sinh xã hội đối với nông dân trong quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa 28
1.2.3 Vai trò của chính sách an sinh xã hội đối với nông dân trong quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa 29
1.2.4 Cấu trúc của hệ thống an sinh xã hội đối với nông dân trong quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa 31
Trang 61.2.5 Điều kiện để xây dựng và hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội
đối với nông dân trong quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa 40
1.3 Tiêu chí đánh giá hệ thống chính sách an sinh xã hội đối với nông dân 42
1.3.1 Tác động của hệ thống chính sách an sinh xã hội đối với nông dân 42
1.3.2 Mức độ bao phủ của hệ thống chính sách an sinh xã hội đối với nông dân hiện nay 44
1.3.3 Phương pháp đánh giá hệ thống an sinh xã hội đối với nông dân 47
Kết luận chương 1 49
CHƯƠNG 2 HỆ THỐNG AN SINH XÃ HỘI ĐỐI VỚI NÔNG DÂN HIỆN NAY VÀ THỰC TRẠNG TẠI HUYỆN BA VÌ,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI 51
2.1 Việc thực hiện chính sách an sinh xã hội đối với nông dân trên địa bàn huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội 51
2.1.1 Khái quát về huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội 51
2.1.2 Chính sách an sinh xã hội trên địa bàn huyện Ba Vì 55
2.2 Nguyên nhân hạn chế của việc thực hiện chính sách an sinh xã hội đối với nông dân hiện nay 70
2.2.1 Sự nhận thức xã hội về hệ thống an sinh xã hội chưa đầy đủ 70 2.2.2 Điều kiện kinh tế, tài chính để tham gia các chương trình an sinh xã hội đối với nông dân còn hạn hẹp 71
2.2.3 Hệ thống chính sách còn chưa hoàn chỉnh 73
2.2.4 Năng lực quản lý thực hiện còn hạn chế 76
2.2.5 Các điều kiện khác 77
Trang 72.3 Những vấn đề đặt ra đối với việc hoàn thiện hệ thống chính
sách an sinh xã hội đối với nông dân trong thời gian tới 79
2.3.1.Quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước 79
2.3.2 Những thuận lợi và khó khăn để phát triển hệ thống chính 80 sách an sinh xã hội trong những năm tiếp theo 80
2.3.3 Công tác đào tạo cán bộ thực hiện chính sách an sinh xã hội 82 2.3.4 Chính sách tài chính trong việc thực hiện các chương trình an sinh xã hội đối với nông dân 84
Kết luận chương 2 85
CHƯƠNG 3 HOÀN THIỆN HỆ THỐNG CHÍNH SÁCH 88
AN SINH XÃ HỘI ĐỐI VỚI NÔNG DÂN 88
TRONG THỜI GIAN TỚI 88
3.1 Phương hướng hoàn thiện hệ thống chính sách an sinh xã hội đối với nông dân trong thời gian tới 88
3.1.1 Quan điểm xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách an sinh xã hội đối với nông dân 88
3.1.2 Phương hướng xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách an sinh xã hội đối với nông dân 91
3.1.3 Các yêu cầu cơ bản của việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách an sinh xã hội đối với nông dân ở Việt Nam 95
3.1.4 Các điều kiện cơ bản để xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách ASXH đối với nông dân 99
3.1.5 Vận động nông dân tích cực tham gia vào hệ thống an sinh xã hội đối với nông dân 100
3.2 Giải pháp hoàn thiện hệ thống chính sách an sinh xã hội đối với nông dân trong thời gian tới 102
3.2.1 Đối với công tác đào tạo cán bộ 102
Trang 83.2.2 Vấn đề tài chính để thực hiện chương trình an sinh xã hội đối
với nông dân 104
3.2.3 Về hệ thống pháp luật 106
3.2.4 Đối với công tác quản lý, tổ chức thực hiện 107
3.2.5 Đối với công tác tuyên truyền 108
3.2.6 Một số giải pháp khác 109
Kết luận chương 3 111
KHUYẾN NGHỊ 114
DANH SÁCH TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 9PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Sự nghiệp đổi mới do Đảng ta khởi sướng và lãnh đạo ( được đánh dấu
từ Đại Hội trung ương Đảng lần thứ VI năm 1986) hướng tới mục tiêu: Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh Đó là một quá trình hết sức khó khăn và lâu dài Trong quá trình thực hiện sự nghiệp đó những thành tựu
về tăng trưởng kinh tế đã đưa hàng triệu người thoát khỏi đói nghèo Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ một nước nông nghiệp đang dần chuyển thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại, thu nhập bình quân đầu người tăng, đời sống người dân được cải thiện rõ rệt
Tuy nhiên, chúng ta vẫn còn một số mặt hạn chế chưa khắc phục được
Là một nước với phần lớn dân số (khoảng 70%) thuộc lĩnh vực nông nghiệp sống ở khu vực nông thôn hiện nay vẫn còn nhiều cảnh nghèo khổ, nền nông nghiệp còn chưa phát triển vẫn phụ thuộc nhiều vào sức lao động của con người, máy móc chưa trở thành lực lượng chủ yếu và còn chịu sự chi phối bởi các điều kiện tự nhiên
Bên cạnh đó đà tăng trưởng và hành trình phát triển của chúng ta đang ngày càng có những dấu hiệu khó khăn: phân hóa xã hội gia tăng, khoảng cách thu nhập và điều kiện sống giữa các vùng miền còn chênh lệch nhiều, khoảng cách giữa thành thị và nông thôn, nông dân và các ngành nghề khác; thất nghiệp vẫn ở tỷ lệ cao; môi trường bị phá hủy trầm trọng; tình trạng nghèo và tái nghèo vẫn chưa được giải quyết triệt để, sự phân hóa xã hội ngày càng rõ rệt và phức tạp
Nông dân là những người ít được hưởng lợi từ sự đổi mới và quá trình
đô thị hóa Họ là đối tượng còn chịu nhiều thiệt thòi và gặp nhiều rủi ro trong
xã hội Vì họ có thu nhập thấp và không ổn định, đời sống kinh tế khó khăn, nông dân còn quá nghèo, việc giảm nghèo vẫn chưa đạt kết quả như mong đợi Nông dân là đối tượng ít được hưởng phúc lợi xã hội hơn cả Những vấn
đề xã hội ở nông thôn chưa được giải quyết một cách triệt để Nông dân thiếu
Trang 10việc làm và phải di cư ra thành thị để tìm việc với giá lao động thấp Bên cạnh
đó là khả năng cạnh tranh của lao động này còn thấp vì chưa qua đào tạo nên khó đáp ứng được yêu cầu của thị trường lao động Như vậy có thể nói nông dân là đối tượng dễ gặp rủi ro nhất trong xã hội, hậu quả là vẫn còn rất nhiều người đang trong tình trạng nghèo đói
Trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước từ trước tới nay, Đảng
và Nhà nước ta đã có nhiều chính sách quan tâm nhằm giải quyết vấn đề của nông dân Trong đó phải kể tới hệ thống chính sách về ASXH đối với nông dân, tuy nhiên vẫn chưa giải quyết được vấn đề một cách triệt để
Trước tình hình đó, một nhu cầu cấp thiết được đặt ra là bên cạnh việc xây dựng, phải phát triển và hoàn thiện hệ thống ASXH hiện tại đối với nông dân để những nông dân Việt Nam hoàn toàn thoát khỏi cảnh nghèo đói, nâng cao đời sống kinh tế và các điều kiện sống khác
Xuất phát từ những vấn đề nêu trên đã hướng cho người viết một ý
tưởng về nghiên cứu đề tài: “Chính sách an sinh xã hội đối với nông dân trong quá trình đô thị hóa” (nghiên cứu trường hợp huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội ) với mong muốn sẽ góp phần lý giải nhiều vấn đề cả về lý luận
và thực tiễn trong việc phát triển và hoàn thiện hệ thống chính sách an sinh xã hội đối với nông dân
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
ASXH là nhu cầu tất yếu của nền kinh tế thị trường, trên thế giới đã có nhiều quốc gia và nhiều nhà nghiên cứu quan tâm về vấn đề này Có nhiều cuốn sách, công trình nghiên cứu, tạp chí nghiên cứu về ASXH như ở Liên
Xô, Đức, Mỹ, Nhật Bản
Ở nước ta, ngay từ những năm đầu thực hiện sự nghiệp đổi mới đã có
một số nghiên cứu về vấn đề ASXH như “Luận cứ khoa học cho việc đổi mới
và hoàn thiện các chính sách bảo đảm xã hội trong điều kiện nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam” do Viện
Khoa học lao động và các vấn đề xã hội thuộc Bộ Lao động thương binh và
xã hội chủ trì Đề tài đã làm rõ các vấn đề về bảo đảm xã hội, mối quan hệ
Trang 11giữa bảo đảm xã hội với các chính sách xã hội, vị trí và vai trò cũng như sự cần thiết của bảo đảm xã hội Ngoài ra nó còn chỉ ra được những thành tựu, hạn chế, thực trạng và đưa ra các phương hướng, giải pháp để phát triển và hoàn thiện hệ thống bảo đảm xã hội ở nước ta
Trong những năm gần đây, ngày càng có nhiều công trình, nhiều nhà nghiên cứu quan tâm tới vấn đề ASXH Có một số nghiên cứu như: PGS.TS
Mai Ngọc Cường, “Chính sách xã hội nông thôn: kinh nghiệm của Cộng hòa
Liên bang Đức và thực tiễn ở Việt nam”; Nguyễn Hữu Hải, “Phát triển hệ thống ASXH phù hợp với bối cảnh nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”; Nguyễn Tiệp, “Các giải pháp nhằm thực hiện xã hội hóa công tác trợ giúp xã hội”; Đặng Cảnh Khanh, “Vấn đề trợ giúp xã hội trong chính sách bảo đảm xã hội ở Việt Nam” và còn rất nhiều các công trình khác nghiên
cứu về vấn đề bảo đảm xã hội, an sinh xã hội khác nữa Có thể nói, các công trình nghiên cứu đó chính là cơ sở để chúng ta xây dựng và thực hiện chính sách an sinh xã hội tại Việt Nam từ trước tới nay Tuy nhiên, thực tế cho tới nay, hệ thống chính sách ASXH của Nhà nước ta vẫn chưa đạt hiệu quả như mong muốn, có đôi chỗ còn thể hiện sự bất cập và trong quá trình thực hiện còn nhiều vấn đề chưa lường trước được, bên cạnh đó việc nghiên cứu hệ thống chính sách ASXH đối với nông dân vẫn chưa đuợc giải quyết một cách triệt để
3 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu chung: Góp phần hoàn thiện hệ thống chính sách an sinh xã
hội đối với nông dân nhằm nâng cao đời sống cho người dân trong thời kỳ đô
thị hóa đang diễn ra mạnh mẽ tại khắp các vùng, miền trên cả nước
Trang 12o Thực tiễn về hệ thống chính sách an sinh xã hội đối với nông dân tại huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội
o Đề xuất định hướng xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách an sinh xã hội đối với nông dân trong thời gian tới
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Đề tài đã chỉ ra được tình hình thực hiện các chính sách an sinh xã hội đối với nông dân hiện nay, các thành tựu đạt được cũng như những hạn chế, yếu kém còn tồn tại, các chương trình an sinh xã hội đối với nông dân và tác động của nó đối với đời sống của người dân trên địa bàn nghiên cứu
Qua đó, cũng chỉ ra vai trò của các chính sách an sinh xã hội và đội ngũ những người làm công tác an sinh xã hội trong việc triển khai thực hiện các chính sách, những khó khăn, vướng mắc khi đưa chính sách vào đời sống Trên cơ sở đó, nghiên cứu đưa ra một số khuyến nghị để những chính sách an sinh xã hội đối với nông dân đạt hiệu quả cao và bền vững, đồng thời phát huy được tối đa các nguồn lực của nhà nước và nhân dân trong quá trình thực hiện mục tiêu an sinh đối với nông dân nói riêng và đối với nhân dân cả nước nói chung
Luận văn có thể làm tư liệu tham khảo cho sinh viên chuyên ngành chính sách xã hội và những nghiên cứu liên quan đến các chính sách an sinh
xã hội đối với nông dân
4 Phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là hệ thống chính sách an sinh xã hội đối với nông dân Tuy nhiên đây là một lĩnh vực khá rộng, trong phạm vi của luận văn này, tác giả chủ yếu muốn đề cập tới các điều kiện, yếu tố ảnh hưởng tới việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách an sinh xã hội đối với nông dân trong thời kỳ đô thị hóa đang diễn ra mạnh mẽ tại khắp các vùng, miền trên
cả nước
5 Mẫu khảo sát
Trang 13Luận văn nghiên cứu thực trạng việc thực hiện chính sách ASXH đối với nông dân qua số liệu thống kê trên địa bàn huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội
6 Câu hỏi nghiên cứu
Làm thế nào để hoàn thiện hệ thống chính sách an sinh xã hội nâng cao đời sống đối với nông dân trong những năm tới?
7 Giả thuyết nghiên cứu
Để hệ thống chính sách an sinh xã hội có hiệu quả hơn thì cần quan tâm tới việc đào tạo đội ngũ cán bộ làm công tác an sinh xã hội một cách có hệ thống từ trung ương đến cơ sở, đặc biệt là tại khu vực nông thôn, hiện đại hóa trong quá trình thực hiện các dịch vụ về an sinh xã hội
Thu hút sự tham gia của các thành phần kinh tế trong xã hội, thực hiện
xã hội hóa, hiện đại hóa trong quá trình thực hiện các dịch vụ về ASXH
Tiếp tục có sự hỗ trợ tài chính từ ngân sách nhà nước, thu hút đóng góp
từ các nguồn khác và phát triển công tác tuyên truyền về lợi ích mang lại cho người dân khi tham gia vào các chính sách do nhà nước ban hành Nhằm thiết lập nguồn tài chính ổn định và vững chắc là cơ sở bảo đảm thực hiện các chương trình ASXH của Nhà nước
8 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện luận văn này có sử dụng một số phương pháp nghiên cứu khoa hoc như: phương pháp phân tích và tổng hợp để làm rõ đối tượng nghiên cứu
Ngoài ra có thu thập số liệu điều tra, khảo sát, thống kê của một số công trình nghiên cứu về lĩnh vực ASXH để từ đó đề xuất một số giải pháp phát triển và hoàn thiện hệ thống ASXH đối với nông dân trong thời gian tới
9 Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo luận văn
dự kiến được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về hệ thống chính sách an sinh xã hội đối với nông dân trong quá trình đô thị hóa
Trang 14Chương 2: Nghiên cứu thực trạng tại huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội Chương 3: Hoàn thiện hệ thống chính sách an sinh xã hội đối với nông dân trong thời gian tới
Trang 15CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ AN SINH XÃ HỘI
VÀ HỆ THỐNG CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI
1.1 Khái quát chung về an sinh xã hội
1.1.1 Tính tất yếu của hệ thống chính sách an sinh xã hội
Thế giới đang phải đối mặt với nguy cơ biến đổi khí hậu Môi trường sống ngày càng bị ô nhiễm trầm trọng hơn Những trận thiên tai với sức tàn phá khủng khiếp Dịch bệnh diễn biến ngày càng phức tạp và khó lường, không chỉ dừng lại ở một địa phương, một khu vực mà nó lan tràn khắp thế giới giống như đại dịch SARS, dịch cúm Nguy cơ xảy ra chiến tranh, những rủi ro về kinh tế toàn cầu
Cuộc sống của con người đang và ngày phải đối mặt với những thách thức, bất an Mỗi con người trên hành tinh này, không ai dám chắc chắn rằng mình sẽ không gặp rủi ro gì trong cuộc sống Bất cứ ai, dù ở đâu và bất cứ khi nào đều có thể gặp rủi ro khiến cho cuộc sống bị xáo trộn Chúng ta chỉ có thể
dự đoán và phòng ngừa mà đôi khi không thể ngăn chặn nó, thành ra con người phải sống chung với những rủi ro, những nguy cơ rủi ro Chính vì thế
mà chúng ta cần có một nền tảng để bảo đảm khi những rủi ro ấy xảy ra
Để đề phòng, hạn chế các rủi ro đó, trước đây đã có những biện pháp tương trợ truyền thống, nhưng giờ không còn phù hợp nữa, thực tế cuộc sống đòi hỏi phải có sự quản lý thống nhất của Nhà nước nhằm hỗ trợ những trường hợp không may gặp rủi ro trong cuộc sống
ASXH là sự bảo đảm thực hiện các quyền để con người được an bình, bảo đảm an ninh, an toàn trong xã hội Cụ thể hơn thì, ASXH là sự bảo đảm thu nhập và một số điều kiện thiết yếu khác cho cá nhân, gia đình và cộng đồng trong trường hợp bị giảm hoặc mất thu nhập vì lý do bị giảm hoặc mất khả năng lao động hay mất việc làm; cho những người già cô đơn, trẻ em mồ côi, người tàn tật, những người yếu thế, người bị ảnh hưởng bởi thiên tai địch họa Bản chất của ASXH là tạo ra lưới an toàn gồm nhiều tầng, nhiều lớp cho tất cả các thành viên xã hội trong trường hợp bị giảm, bị mất thu nhập hay gặp phải những rủi ro khác
Trang 16Chính sách ASXH là một chính sách xã hội cơ bản của Nhà nước nhằm thực hiện chức năng phòng ngừa, hạn chế và khắc phục rủi ro, bảo đảm an
toàn thu nhập và cuộc sống cho các thành viên trong xã hội
Hệ thống chính sách ASXH là hệ thống các chính sách can thiệp của Nhà nước và sự hỗ trợ của tổ chức hay cá nhân nhằm giảm mức độ nghèo đói
và tổn thương, nâng cao năng lực tự bảo vệ của người dân và cộng đồng trước những rủi ro hay nguy cơ giảm hoặc mất thu nhập, bảo đảm ổn định, phát triển và công bằng xã hội
Trên thế giới
Lần đầu tiên hình thức BHXH ra đời ở Đức năm 1850 với mục đích bảo vệ người lao động trong khi mất thu nhập vì ốm đau, bệnh tật, sau đó mở rộng dần việc bảo hiểm với các trường hợp khác Với lợi ích hiện hữu của mô hình này, nó đã được lan tỏa một cách nhanh chóng tới nhiều quốc gia như ở Pháp ra đời hình thức BHTN năm 1905, bảo hiểm tuổi già và ốm đau năm 1928; ở Anh bảo hiểm ốm đau, BHTN, bảo hiểm tuổi già năm 1911… Cho tới nay, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều áp dụng các hình thức này, tùy vào điều kiện kinh tế, đặc điểm riêng của mỗi quốc gia mà các mô hình về ASXH được xây dựng và thực hiện khác nhau
Ở Việt Nam
Sự đùm bọc, che chở lẫn nhau trong hoạn nạn, rủi ro, trong tai biến bất thường, hoặc các biến cố chính trị xã hội… đã trở thành một nền tảng truyền thống của cộng đồng dân tộc Việt, được chứng minh trong thực tiễn lịch sử dựng
nước và giữ nước của dân tộc ta Với tinh thần “đại đoàn kết dân tộc”, “lá lành
đùm lá rách” nhân dân Việt Nam đã cùng nhau vượt qua muôn vàn khó khăn, để
tới hôm nay, chúng ta đang cùng nhau chung tay xây dựng một đất nước Việt
Nam phát triển với mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ
và văn minh” Để làm được điều đó thì cần hơn nữa sự gắn kết giúp đỡ lẫn nhau,
sự chia sẻ cùng nhau vượt qua rủi ro giữa mỗi cá nhân trong xã hội
Trước tình hình đó, hệ thống ASXH của Việt Nam ra đời nhằm đáp ứng những nhu cầu trên Tuy nhiên, trên thực tế không phải tất cả các thành viên của
Trang 17xã hội đều tiếp cận được với cơ chế của hệ thống ASXH, mà chỉ một bộ phận người dân trong xã hội có điều kiện được hưởng những chế độ đó Những người nghèo khổ, không có thu nhập ổn định, không tham gia vào các quan hệ lao động
và không có đủ khả năng tiếp cận với cơ chế cùng đóng góp cùng chia sẻ rủi ro của hệ thống ASXH Họ mới là những người cần thiết hơn sự hỗ trợ, sự chia sẻ để vượt qua khó khăn, tuy nhiên nếu chỉ trông chờ vào tương trợ theo cách truyền thống thì hiệu quả đạt được sẽ không như mong muốn Do đó cần hơn hết là sự điều chỉnh, sự quản lý thống nhất của Nhà nước
Nhà nước đứng ra quản lý hệ thống chính sách ASXH nhằm các mục tiêu sau:
o Thứ nhất là bảo vệ các thành viên trong xã hội
o Thứ hai là duy trì trật tự xã hội
o Thứ ba là củng cố địa vị của giai cấp thống trị
Do đó, Nhà nước thiết lập nên hệ thống các chế độ bảo vệ với tất cả nhân dân, không có sự phân biệt nào và trước hết là những người “yếu thế” trong xã hội Dần dần hình thành một mạng lưới bảo vệ an toàn cho cuộc sống của các thành viên trong xã hội được gọi là ASXH Đó chính là sự tất yếu ra đời của hệ thống ASXH, nó xuất phát từ nhu cầu tự nhiên của con người luôn tìm kiếm một điều kiện sống an toàn để tồn tại và phát triển
Theo báo cáo thống kê của tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) hiện nay ASXH được thực hiện ở trên 170 quốc gia trên thế giới, được các nước thừa nhận như một trong những quyền con người và có ý nghĩa đặc biệt trong việc bình ổn và phát triển đất nước
ASXH đang đặt ra và được hầu hết các quốc gia quan tâm hoàn thiện không ngừng, nhất là trong một xã hội phát triển với xu thế toàn cầu hóa mạnh mẽ như hiện nay Vì vậy, ASXH không chỉ là vấn đề riêng của một quốc gia mà là vấn đề chung của cộng đồng quốc tế Đất nước càng phát triển, nhà nước càng phải chú trọng đến nền ASXH cho mỗi nhóm nói riêng và toàn dân nói chung, làm cho an dân bảo đảm sự trường tồn của đất nước
Trang 181.1.2 Quá trình hình thành và một số quan niệm về chính sách an sinh xã hội
Quá trình hình thành
Từ xa xưa, trước những khó khăn, rủi ro trong cuộc sống, con người đã
tự khắc phục, như câu phương ngôn “tích cốc phòng cơ, tích y phòng hàn”; đồng thời, còn được sự san sẻ, đùm bọc, cưu mang của cộng đồng Sự tương trợ dần dần được mở rộng và phát triển dưới nhiều hình thức khác nhau Những yếu tố đoàn kết, hướng thiện đó đã tác động tích cực đến ý thức và công việc xã hội của các nhà nước dưới các chế độ xã hội khác nhau Trong quá trình phát triển xã hội, đặc biệt là từ sau cuộc cách mạng công nghiệp, hệ thống ASXH đã có những cơ sở để hình thành và phát triển Quá trình công nghiệp hoá làm cho đội ngũ người làm công ăn lương tăng lên, cuộc sống của
họ phụ thuộc chủ yếu vào thu nhập do lao động đem lại Sự hẫng hụt về tiền lương trong các trường hợp bị ốm đau, tai nạn, rủi ro, bị mất việc làm hoặc khi về già…, đã trở thành mối đe doạ đối với cuộc sống bình thường của những người không có nguồn thu nhập nào khác ngoài tiền lương Sự bắt buộc phải đối mặt với những nhu cầu thiết yếu hàng ngày đã buộc những người làm công ăn lương tìm cách khắc phục bằng những hành động tương thân, tương ái (lập các quỹ tương tế, các hội đoàn…); đồng thời, đòi hỏi giới chủ và Nhà nước phải có trợ giúp bảo đảm cuộc sống cho họ
Hệ thống ASXH được hình thành và phát triển rất đa dạng dưới nhiều hình thức khác nhau ở từng quốc gia, trong từng giai đoạn lịch sử, trong đó BHXH là trụ cột chính Đạo luật đầu tiên về ASXH (Social Security) trên thế giới là Đạo luật năm 1935 ở Mỹ
Đạo luật này quy định thực hiện chế độ bảo vệ tuổi già, chế độ tử tuất, tàn tật và trợ cấp thất nghiệp Thuật ngữ ASXH được chính thức sử dụng Đến năm 1941, trong Hiến chương Đại Tây Dương và sau đó là ILO đã chính thức dùng thuật ngữ này trong các công ước quốc tế ASXH đã được tất cả các nước thừa nhận là một trong những quyền con người Nội dung của ASXH đã được ghi nhận trong Tuyên ngôn nhân quyền do Đại hội đồng Liên hợp quốc
Trang 19thông qua ngày 10/12/1948 Trong bản Tuyên ngôn có viết: “Ai cũng có quyền được hưởng một mức sống khả quan về phương diện sức khỏe và an lạc cho bản thân và gia đình kể cả thức ăn, quần áo, nhà ở, y tế và những dịch
vụ cần thiết; ai cũng có quyền được hưởng an sinh xã hội trong trường hợp thất nghiệp, đau ốm, tật nguyền, góa bụa, già yếu, hay thiếu phương kế sinh nhai do những hoàn cảnh ngoài ý muốn” [ 79, điều 25 ] Ngày 25/6/1952, Hội nghị toàn thể của ILO đã thông qua Công ước số 102, được gọi là Công ước
về ASXH (tiêu chuẩn tối thiểu) trên cơ sở tập hợp các chế độ về ASXH đã có trên toàn thế giới thành 9 bộ phận
Ở Việt Nam, dưới ách thống trị của thực dân Pháp, quyền dân tộc, quyền dân sinh và dân chủ của người Việt Nam không được công nhận Khi đó chỉ có một số nhà tế bần, trại trẻ mồ côi được thành lập nhưng còn rất hạn chế
Từ năm 1945 đến 1960, ngay khi Nhà nước Dân Chủ Cộng hòa ra đời, Chính phủ đã quan tâm đến vấn đề ASXH Để khắc phục nạn đói Chính phủ
đã ban hành sắc lệnh số 67 thành lập Ủy ban tối cao tiếp tế và cứu tế vào ngày 28/11/1945 Tiếp theo đến năm 1946, Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Công hòa được ra đời, trong điều 14 có nêu: “những người công dân già cả hay tàn tật không làm được việc thì được giúp đỡ”.[51, tr 3]
Tiếp theo đó là một loạt các chính sách ưu tiên đối với một số đối tượng như cấp ruộng đất, miễn giảm thuế nông nghiệp, miễn nghĩa vụ công dân…
Ngoài ra còn một số sắc lệnh, nghị định do Chính phủ hoặc các bộ ban hành, các quy phạm về ASXH cũng đã được đề cập Bên cạnh đó, do hoàn cảnh đất nước còn chiến tranh nên việc thực hiện các chế độ về ASXH còn rất hạn chế
Từ năm 1960 đến 1985: Điều 32 Hiến pháp 1959 ghi nhận: “người lao động có quyền được giúp đỡ vật chất khi già yếu, bệnh tật hoặc mất sức lao động Nhà nước mở rộng dần các tổ chức BHXH, cứu tế và y tế để bảo đảm cho người lao động được hưởng quyền đó” [52 , tr 6]
Hiến pháp quy định được giúp đỡ vật chất khi gặp rủi ro, tuy nhiên đối tượng ở đây là người lao động nên cũng chỉ mới giới hạn ở các chế độ về BHXH
Trang 20Trong kháng chiến chống Mỹ, chính sách với người có công được mở rộng đối với mọi đối tượng trực tiếp tham gia chiến đấu hoặc phục vụ chiến đấu mà hy sinh hay bị thương tật
Nghị định số 161/CP ngày 30/10/1964 ban hành kèm theo điều lệ tạm thời chế độ đãi ngộ đối với quân nhân, thanh niên xung phong, du kích, tự vệ
Thông tư số 157/CP tháng 8/1965 về cứu trợ đột xuất, thông tư số 202/CP ngày 26/11/1966 về cứu trợ xã hội
Sau ngày giải phóng đất nước, có nhiều văn bản về xác nhận thương binh, liệt sỹ, tìm và cất bốc, quy tập mồ mả, xây dựng nghĩa trang liệt sỹ, chính sách đối với người có công và gia đình có công với cách mạng được ban hành như: Quyết định số 60/CP ngày 05/04/1976 của Chính phủ về việc
bổ sung một số điều về chính sách đối với liệt sỹ và gia đình liệt sỹ
Điều 59 trong Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 1980 cũng khẳng định quyền được hưởng BHXH của công nhân, viên chức, bên cạnh đó Nhà nước mở rộng dần sự nghiệp BHXH theo trình độ phát triển của nền kinh tế quốc dân để người lao động nói chung được hưởng quyền lợi đó, kể cả xã viên các hợp tác xã
Ngày 18/9/1985 Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính Phủ) có ban hành Nghị định số 236/HĐBT về bổ sung và sửa đổi một số chế độ, chính sách về BHXH, trong đó có bổ sung và sửa đổi về chế độ ưu đãi đối với người có công, quy định lại chế độ cứu trợ thường xuyên và chế độ nuôi dưỡng các đối tượng xã hội ở cơ sở tập trung
Từ năm 1986 tới nay: ngày 30/6/1989 Quốc Hội thông qua luật Bảo vệ sức khỏe của nhân dân Hiến pháp 1992 được Quốc hội thông qua ngày 15/4/1992 đã quy định một cách cụ thể hơn về những quyền thuộc ASXH của nhân dân như về chế độ bảo hộ lao động, BHXH ở điều 56, chế độ bảo vệ sức khỏe ở điều 61, chế độ ưu đãi xã hội, cứu tế xã hội ở điều 67…
Ngoài ra, Nghị định số 299/ HĐBT ngày 15/8/1992 của Hội đồng Bộ trưởng ban hành điều lệ về BHYT
Trang 21Nghị định số 43/CP ngày 22/6/1993 của Chính Phủ quy định tạm thời
về chế độ BHXH
Về cơ bản, hệ thống pháp luật ASXH đã được hình thành Hiến pháp ngày càng mở rộng hơn cả về chế độ hưởng và đối tượng được hưởng ASXH ASXH cơ bản có 3 hợp phần chính đó là: BHXH, ƯĐXH, và CTXH Ngày 23/6/1994 Quốc hội thông qua Bộ Luật Lao động, trong đó có chương về BHXH, thể hiện các quy định về BHXH đã được luật hóa Bên cạnh BHXHBB đã có quy định về loại hình, BHXHTN được áp dụng với một số đối tượng Ngoài ra, ngày 26/01/1995 Chính Phủ đã ra Nghị định số 12/CP ban hành điều lệ BHXH đối với công nhân viên chức và người lao động, có quy định năm chế độ trợ cấp mà người lao động được hưởng
Ngày 13/8/1998, Chính Phủ ban hành Nghị định số 58/1998/NĐ – CP
về sửa đổi điều lệ BHYT
Ngày 09/03/2000 Nghị định số 07/2000/ NĐ – CP về chính sách CTXH được Chính Phủ chính thức ban hành, đánh dấu sự phát triển trong pháp luật
về CTXH và ƯĐXH
Đặc biệt ngày 29/6/2006, Quốc Hội đã thông qua Luật BHXH đầu tiên của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong đó có quy định cụ thể
về các chế độ BHTN, đáp ứng các yêu cầu của nền kinh tế thị trường
Việc thể chế hóa ASXH trong giai đoạn này đã có sự thay đổi vượt bậc, hầu như các lĩnh vực thuộc hệ thống ASXH đã được nâng lên ở cấp độ luật, pháp lệnh, có hiệu lực pháp lý cao Đó là một dấu hiệu cho thấy hệ thống pháp luật ASXH của nước ta đang trong giai đoạn phát triển và hoàn thiện để dần trở thành một hệ thống riêng nằm trong hệ thống pháp luật Việt Nam
Theo đó, các chế độ về BHXH được quy định rộng hơn cả về đối tượng
và đầy đủ hơn về loại hình Các chế độ về CTXH, ƯĐXH cũng ngày càng đa dạng hơn, các hoạt động trợ giúp và nguồn trợ giúp ngày càng phong phú hơn Hoạt động thuộc lĩnh vực BHXH đã dần được cân đối giữa thu và chi, giảm dần sự bao cấp của ngân sách nhà nước, các chế độ trợ cấp khác cũng
Trang 22từng bước được xã hội hóa và mức trợ cấp đang được tăng dần theo sự phát triển của kinh tế xã hội đất nước
Tuy nhiên, cho đến nay, do tính chất phức tạp và đa dạng của ASXH nên vẫn còn nhiều nhận thức khác nhau về vấn đề này Khái niệm về ASXH cũng còn khá khác biệt giữa các quốc gia Nhưng tất cả đều có sự thống nhất
về mặt bản chất rằng ASXH là góp phần bảo đảm thu nhập và đời sống cho các công dân trong xã hội Phương thức hoạt động là thông qua các biện pháp công cộng Mục đích là tạo ra sự “an sinh” cho mọi thành viên trong xã hội nó vừa mang tính xã hội và tính nhân văn sâu sắc
Một số quan niệm về chính sách ASXH
Hiện tại trên thế giới có hai cách hiểu về ASXH khác nhau, một bên theo quan điểm mang tính chất kinh tế còn bên kia mang tính chất xã hội
Quan điểm với tính chất kinh tế: ASXH được hiểu là cơ chế phân phối lại thu nhập xã hội nhằm điều hòa lợi ích, thu hẹp chênh lệch mức sống giữa các tầng lớp dân cư, giảm bớt sự nghèo đói, cải thiện điều kiện sống của mọi thành viên trong xã hội đặc biệt là các đối tượng gặp biến cố, rủi ro trong cuộc sống gây mất thu nhập hoặc dẫn tới nghèo đói, được thực hiện bằng các biện pháp kinh tế nhằm bảo vệ cuộc sống của những người gặp rủi ro
Theo Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) định nghĩa ASXH “là tập hợp các chính sách và chương trình nhằm giảm nghèo đói, lệ thuộc bằng việc thúc đẩy thị trường lao động tích cực, giảm thiểu rủi ro và tăng cường năng lực tự bảo vệ của người lao động chống lại sự giảm hoặc mất thu nhập”
Theo Ngân hàng Thế giới (WB), ASXH: “là những biện pháp công cộng nhằm giúp cho các cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng đương đầu và kiềm chế được nguy cơ tác động đến thu nhập nhằm giảm tính dễ bị tổn thương và những bấp bênh về thu nhập”
Có thể nói, mỗi người, mỗi gia đình hay mỗi cộng đồng đều chịu những rủi ro nhất định do nhiều nguyên nhân gây ra Do đó cần có sự thiết lập một
cơ chế phòng chống nhằm hạn chế và khắc phục các rủi ro có thể xảy ra ASXH chính là hệ thống các biện pháp quản lý rủi ro được thực hiện bởi vai
Trang 23trò quan trọng của Nhà nước, gia đình, cộng đồng, các tổ chức quốc tế, tổ chức phi chính phủ và cả những thiết chế của thị trường như các ngân hàng, công ty bảo hiểm Với mục đích làm giảm sự dễ bị tổn thương của con người
và những biến động xấu về thu nhập
Quan điểm mang tính chất xã hội lại hiểu ASXH là sự tương trợ cộng đồng giữa các thành viên trong xã hội nhằm bảo vệ cuộc sống của họ trước những rủi ro, biến cố trong cuộc sống ASXH xuất phát từ sự chia sẻ, tương trợ lẫn nhau mà không nhằm mục đích kinh doanh hay lợi nhuận, nó hướng tới một mục tiêu xã hội cao cả là tinh thần xã hội, sự đoàn kết, tương thân tương ái giữa con người với nhau
Theo ILO có nêu: “ASXH là sự bảo vệ phổ cập và đồng nhất giữa mọi thành viên trong xã hội vì vấn đề công bằng xã hội và dựa trên nguyên tắc liên kết.” [77]
ASXH là sự bảo đảm thực hiện quyền con người được sống trong hòa bình, tự do làm ăn, cư trú và được bảo vệ trước pháp luật, được làm việc và nghỉ ngơi, được chăm sóc y tế và bảo đảm về thu nhập
Chúng ta có thể hiểu một cách đơn giản hơn ASXH là sự bảo vệ của xã hội đối với các thành viên của mình thông qua hàng loạt các biện pháp công cộng nhằm chống lại tình cảnh khốn khổ về kinh tế và xã hội gây ra bởi tình trạng bị ngừng hoặc giảm sút đáng kể về thu nhập do ốm đau, thai sản, thương tật trong lao động, thất nghiệp, tàn tật sự cung cấp về chăm sóc y tế và cả các khoản tiền trợ giúp cho các gia đình đông con
Như vậy, chúng ta có thể thấy được nội dung của ASXH không chỉ bao hàm mặt kinh tế hay mặt xã hội, mà nó đồng thời mang cả hai yếu tố đó và không thể thiếu một trong hai ASXH vừa mang tính chất kinh tế lại vừa mang tính xã hội, tùy vào từng quốc gia cụ thể, điều kiện kinh tế xã hội cũng như những truyền thống văn hóa đặc trưng mà mỗi quốc gia xây dựng cho mình một hệ thống ASXH với những đặc trưng khác nhau Tuy nhiên, chúng đều thống nhất ở một điểm rằng đó là sự bảo vệ của xã hội đối với toàn bộ các thành viên trong xã hội đó Nó được thực hiện thông qua các biện pháp công
Trang 24cộng khác nhau và được tiến hành bởi các Nhà nước, các tổ chức và các cá nhân với mục đích chống lại sự rủi ro về kinh tế, xã hội mà các thành viên xã hội gặp phải nhằm góp phần bảo đảm cuộc sống ổn định cho mỗi cá nhân trong xã hội và hơn thế nữa là sự bảo đảm an toàn chung cho toàn xã hội
Quan niệm về ASXH ở Việt Nam: Với đặc thù là một quốc gia có nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đi lên từ nền kinh tế hàng hóa tập trung còn khá nhiều yếu kém và hạn chế, đời sống của người dân còn thấp và gặp nhiều khó khăn Từ đó chúng ta có quan điểm về ASXH chủ yếu tiếp cận với vai trò của Nhà nước với truyền thống tương thân tương
ái, tinh thần đoàn kết dân tộc, “lá lành đùm lá rách, lá rách ít đùm lá rách nhiều” đó chính là nền tảng để chúng ta xây dựng và hoàn thiện cho mình một
hệ thống ASXH thực sự hiệu quả
ASXH là sự tập hợp có tổ chức của các thành viên xã hội nhằm chống lại những rủi ro, bất hạnh của mỗi cá nhân Nhờ đó mà những rủi ro, biến cố, khó khăn của mỗi người được chia sẻ và khắc phục một cách nhanh chóng ASXH không nhằm mục tiêu kinh doanh lợi nhuận mà đơn giản nó là sự bảo đảm an toàn về đời sống của cộng đồng xã hội theo cơ chế chia sẻ rủi ro mang tính xã hội và nhân văn sâu sắc
1.1.3 Pháp luật an sinh xã hội
Khái niệm về pháp luật ASXH
Mỗi chính sách xã hội của một quốc gia muốn được thực hiện trong thực tiễn cuộc sống đòi hỏi các Nhà nước phải ban hành pháp luật Vì thông qua pháp luật thì các chính sách xã hội nói chung và chính sách ASXH nói riêng mới được thể chế hóa thành các quy định bắt buộc Pháp luật chính là phương thức quan trọng nhất để thực hiện chính sách ASXH ở mỗi quốc gia
Hiểu theo nghĩa rộng: Pháp luật ASXH là hệ thống các quy tắc xử sự chung do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong việc bảo vệ cuộc sống của các thành viên xã hội thông qua các biện pháp công cộng nhằm chống lại những khó khăn về kinh tế, xã hội gây
ra bởi những biến cố, rủi ro, bất hạnh nhằm bảo đảm thu nhập, sức khỏe và các
Trang 25điều kiện sinh sống thiết yếu khác cho các thành viên xã hội nâng cao chất lượng cuộc sống, góp phần bảo đảm an toàn, ổn định và phát triển bền vững
Còn theo nghĩa hẹp: Pháp luật ASXH là tổng hợp các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong việc bảo vệ các thành viên của xã hội nhằm bảo đảm thu nhập, sức khỏe và các điều kiện sinh sống thiết yếu khác thông qua các biện pháp như: BHYT, BHXH, TGXH, ƯĐXH…
Vai trò của pháp luật ASXH
Luật ASXH là một trong những biện pháp thuộc chính sách xã hội của Nhà nước, một mặt chịu sự tác động tổng thể của các nhân tố kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, truyền thống… mặt khác bằng cách thức đặc trưng của mình mà các chính sách ASXH cũng có tác động tích cực trở lại đối với các nhân tố trên
Pháp luật ASXH có 5 vai trò cơ bản sau:
o Thứ nhất: Pháp luật ASXH là sự cụ thể hóa rõ nét quyền con người trong xã hội, được quy định trong các văn bản pháp lý như: Hiến pháp, Luật, Nghị định… quy định các nguyên tắc, chế độ trợ cấp, nguồn tài chính thực hiện, nguyên tắc giải quyết các tranh chấp, khiếu nại liên quan …
o Thứ hai: Pháp luật ASXH là sự thể chế hóa các chính sách ASXH quốc gia Thông qua pháp luật ASXH các chính sách ASXH được xác lập cả
về mặt pháp lý để được bảo đảm thực hiện
o Thứ ba: Pháp luật ASXH là công cụ góp phần thực hiện công bằng
xã hội, ổn định xã hội Trước thực tế sự phân hóa giàu nghèo ngày càng gia tăng, pháp luật ASXH thực hiện chức năng điều tiết của cải và phân phối lại thu nhập xã hội giảm khoảng cách giàu nghèo, bất bình đẳng giữa các bộ phận dân cư thông qua chế độ trợ cấp từ thu nhập chung quốc gia hoặc từ sự đóng góp trên cơ sở tương trợ cộng đồng
o Thứ tư: Pháp luật ASXH với vai trò bảo đảm sự phát triển bền vững của xã hội, sự bền vững của quốc gia xây dựng trên cơ sở bền vững của từng
cá nhân, gia đình trong xã hội
Trang 26o Thứ năm là vai trò quốc gia và quốc tế: Pháp luật ASXH là sự phản ánh thái độ của Nhà nước đối với mỗi thành viên trong xã hội
1.2 Hệ thống chính sách an sinh xã hội và nông dân trong quá trình đô thị hóa
1.2.1 Đô thị hóa, công nghiệp hóa và yêu cầu của an sinh xã hội đối với nông dân
Ở Việt Nam, kể từ khi thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, việc thu hồi đất nông nghiệp chuyển đổi mục đích sử dụng diễn ra ngày càng nhiều và với quy mô lớn, đa số diện tích đất bị thu hồi để xây dựng các công trình kinh
tế xã hội, các khu công nghiệp, khu chế xuất…
Một điều tất yếu là: muốn phát triển kinh tế thì phải xây dựng các khu công nghiệp, khu chế xuất, các công trình phát triển kinh tế, công trình giao thông hiện đại… Vì vậy, việc thu hồi đất cũng là một tất yếu của quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa của đất nước, diện tích đất bị thu hồi chủ yếu là đất nông nghiệp
Theo số liệu thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn bình quân mỗi năm có khoảng 73.000 ha đất nông nghiệp bị thu hồi để phục vụ cho công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước Điều đó làm ảnh hưởng tới đời sống và việc làm của khoảng 3 triệu nông dân tương đương với khoảng 700.000 hộ gia đình
Cũng theo thống kê chưa đầy đủ, do không có trình độ chuyên môn nên chỉ khoảng 80% số nông dân có việc làm, còn khoảng 20% chưa có việc làm hoặc không ổn định Do đó có khoảng 50% số hộ nông dân có thu nhập bị suy giảm, đời sống gia đình gặp nhiều khó khăn
Quá trình đô thị hóa đã dẫn đến nguy cơ mất việc làm của nhiều nông dân, diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi để phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, đô thị hóa ngày càng nhiều Trong khi đó, các chính sách đền bù, giải tỏa không bảo đảm cho người dân nông thôn ổn định cuộc sống mới Họ là những người trước giờ chỉ biết đến làm nông nghiệp, nếu họ không được đào tạo chuyên môn thì họ khó có thể chuyển đổi ngành nghề để làm kinh tế và chưa
Trang 27đáp ứng khả năng làm việc tại các doanh nghiệp trong và ngoài nước Điều đó dẫn đến một tất yếu là tỷ lệ thất nghiệp ở nông thôn có xu hướng tăng (từ 1,06% năm 2000 tăng lên 2,74% năm 2010) Tỷ lệ lao động thiếu việc làm ở nông thôn khá cao và đã tăng lên do tác động của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu Tỷ lệ thiếu việc làm ở nông thôn năm 2011 gần 8% Các khu vực thu hồi đất nông nghiệp thì xuất hiện ngày càng nhiều các tệ nạn xã hội Bên cạnh đó, hoạt động hỗ trợ cho vay vốn chưa gắn chặt với các hoạt động dạy nghề, khuyến nông và hướng dẫn sản xuất kinh doanh
Khả năng chống đỡ của nông dân trước những biến cố về thiên tai, dịch bệnh, ốm đau và những rủi ro trong cuộc sống còn hạn chế, dễ bị tổn thương, dễ rơi xuống nghèo đói Những nguy cơ này có xu hướng gia tăng
do tính chất và tác động của toàn cầu hóa, biến đổi khí hậu (có khoảng 4%-5% dân số bị tổn thương do thiên tai) và môi trường sống bị hủy hoại
và các tác động của cải cách kinh tế trong đó cụ thể và gần gũi nhất chính
là quá trình đô thị hóa
Nguồn thu nhập chính của nông dân là từ sản xuất nông nghiệp với năng suất lao động thấp, không ổn định, hơn thế, trong những năm gần đây, biến đổi khí hậu và sự thay đổi môi trường sống dẫn đến thiên tai, dịch bệnh diễn ra với tần suất cao hơn, biến đổi bất thường hơn, gây hậu quả nghiêm trọng hơn ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống và sản xuất của nông dân Đặc biệt, một bộ phận dân cư bị mất việc làm, phải thay đổi tình trạng sản xuất và sinh hoạt Lao động nông thôn di cư ra đô thị thường làm việc trong khu vực phi chính thức, điều kiện làm việc thiếu thốn, thu nhập thấp, không có hợp đồng lao động, không được tham gia BHXH Một bộ phận nông dân ít được hưởng thụ thành quả của tăng trưởng, khó tiếp cận với các dịch vụ xã hội cơ bản
Do đó, nông dân là đối tượng rất cần tới sự hỗ trợ của Nhà nước để bảo đảm cuộc sống ổn định và tạo điều kiện phát triển kinh tế Bằng hệ thống ASXH đối với nông dân, nước ta đang bảo đảm ngày càng tốt hơn an sinh xã hội và phúc lợi xã hội Đó luôn là một chủ trương, nhiệm vụ lớn của Đảng và Nhà
Trang 28nước, thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ và có ý nghĩa rất quan trọng đối với
sự ổn định chính trị - xã hội và phát triển bền vững của đất nước Trong nhiều thập kỷ qua, trên cơ sở phát triển kinh tế - xã hội, cùng với việc không ngừng cải tiến chế độ tiền lương, tiền công và nâng cao thu nhập cho người lao động, Đảng
và Nhà nước rất quan tâm chăm lo đến an sinh xã hội và phúc lợi xã hội cho nhân dân nói chung và cho nông dân nói riêng
1.2.2 Bản chất của chính sách an sinh xã hội đối với nông dân trong quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa
Bản chất của ASXH là tạo ra lưới an toàn gồm nhiều tầng, nhiều lớp cho tất cả các thành viên xã hội trong trường hợp bị giảm, mất thu nhập hay gặp phải những rủi ro khác Hệ thống chính sách ASXH là những chính sách
xã hội cơ bản của nhà nước nhằm thực hiện chức năng phòng ngừa, hạn chế
và khắc phục rủi ro, bảo đảm an toàn thu nhập và cuộc sống ổn định cho mỗi thành viên trong xã hội
o ASXH trước hết đó là sự bảo vệ của xã hội đối với các thành viên của mình
o Sự bảo vệ này được thực hiện thông qua các biện pháp công cộng
o Mục đích của sự bảo vệ này nhằm giúp đỡ các thành viên của xã hội trước những biến cố, những “rủi ro xã hội” dẫn đến bị giảm hoặc mất thu nhập…
ASXH thực hiện một phần công bằng và tiến bộ xã hội Trên bình diện
xã hội, ASXH là một công cụ để cải thiện các điều kiện sống của các tầng lớp dân cư, đặc biệt là đối với những người nghèo khó, những nhóm dân cư “yếu thế” trong xã hội
Xét về bản chất kinh tế, thì ASXH là một bộ phận thu nhập quốc dân, thực hiện chức năng phân phối lại thu nhập xã hội, điều hòa lợi ích, góp sức vào tiết kiệm để đầu tư và phát triển kinh tế đất nước
Để thấy rõ bản chất của ASXH, cần hiểu rõ mục tiêu của nó Mục tiêu của ASXH là tạo ra một lưới an toàn gồm nhiều tầng, nhiều lớp bảo vệ cho tất
cả mọi thành viên của cộng đồng trong những trường hợp bị giảm hoặc bị mất
Trang 29thu nhập hoặc phải tăng chi phí đột xuất trong chi tiêu của gia đình do nhiều nguyên nhân khác nhau, như ốm đau, thương tật, già cả… gọi chung là những biến cố và những rủi ro xã hội Để tạo ra lưới an toàn đó, ASXH dựa trên nguyên tắc san sẻ trách nhiệm và thực hiện công bằng xã hội, được thực hiện bằng nhiều hình thức, phương thức và các biện pháp khác nhau
ASXH tạo cho những người bất hạnh, những người kém may mắn hơn những người bình thường khác có thêm những điều kiện, những động lực cần thiết để khắc phục những biến cố, những rủi ro xã hội, có cơ hội để phát triển, hoà nhập vào cộng đồng ASXH kích thích tính tích cực xã hội trong mỗi con người, kể cả những người giàu và người nghèo; người may mắn và người kém may mắn ASXH là yếu tố tạo nên sự hòa đồng mọi người không phân biệt chính kiến, tôn giáo, chủng tộc, vị trí xã hội… Đồng thời, giúp mọi người hướng tới một xã hội nhân ái, góp phần tạo nên một cuộc sống công bằng, nhân văn
Mục đích của hệ thống ASXH ở Việt Nam nhằm bảo đảm thu nhập, sức khỏe, các điều kiện sống thiết yếu cho nông dân trong xã hội khi gặp rủi
ro Đặc điểm này cũng xuất phát từ điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước ta còn đang trong giai đoạn phát triển Các chính sách kinh tế, xã hội đều được chú trọng phát triển một cách hài hòa, bảo đảm sự phát triển chung ổn định và bền vững
1.2.3 Vai trò của chính sách an sinh xã hội đối với nông dân trong quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa
ASXH được hiểu là sự bảo đảm thu nhập và một số điều kiện sinh sống thiết yếu cho người lao động và gia đình họ khi bị giảm hoặc mất thu nhập, do
bị giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việc làm Xét theo quan điểm trên thì hệ thống chính sách ASXH có một số vai trò cơ bản sau:
Vai trò bảo đảm, luôn duy trì và hướng tới sự an toàn của các thành
viên trong xã hội nói chung và nông dân nói riêng Đây là vai trò nhằm phát huy hết mọi tiềm năng và nguồn lực để tạo cơ hội cho sự phát triển tốt nhất đối với mỗi cá nhân trong xã hội Nó được cụ thể hóa bằng các chính sách y
Trang 30tế, chính sách văn hóa, giáo dục, chính sách lao động việc làm và các phúc lợi
xã hội đối với cư dân khu vực nông thôn
Vai trò bảo hiểm, BHXH là một chế định xã hội nhằm huy động
nguồn lực tài chính từ người lao động, người sử dụng lao động, những nông dân, lao động tự do, sự hỗ trợ của nhà nước và các tổ chức xã hội, các nguồn khác về tài chính góp phần cho người lao động, nông dân, các đối tượng chính sách khi ốm đau, bệnh tật, già yếu hay tai nạn, tử vong với mong muốn làm giảm sự rủi ro bất ngờ về mặt tài chính cho người tham gia bảo hiểm
Vai trò hỗ trợ, là vai trò cần thiết tất yếu của ASXH Nó nhằm bảo
vệ cho những người thiệt thòi không đủ khả năng vật chất để bảo đảm nhu cầu tối thiểu trong cuộc sống nên họ thường dễ bị tổn thương và rơi vào hoàn cảnh khó khăn Hỗ trợ như: trợ cấp, cứu trợ thường xuyên hoặc có thể là đột xuất Hoạt động hỗ trợ mang tính linh hoạt và ngày càng có yêu cầu cao hơn Các đối tượng của hoạt động này ngày càng được mở rộng từ những người
ốm đau, bệnh tật, bệnh xã hội tới những người gặp rủi ro thiên tai, dịch bệnh hoặc phòng vệ các nguy cơ có thể mang lại cho cộng đồng
Vai trò cứu trợ, là một hình thức được thực hiện thường xuyên và
đột xuất cho nhóm người chưa hoặc không có khả năng vượt qua các hoàn cảnh của họ như tàn tật, mồ côi, nạn nhân chiến tranh, người khuyết tật vĩnh viễn, nạn nhân chất độc màu da cam, những người chịu thiên tai bão lũ rơi vào tình cảnh không có nơi ăn chốn ở với nhiều hình thức và sự đa dạng về huy động nguồn tài chính trong xã hội
Vai trò ưu đãi, trong hệ thống ASXH của Việt Nam vai trò này
nhằm bảo đảm cho nhóm người có công trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước và nhóm người hoạt động cống hiến vì lợi ích cộng đồng mà những tai nạn rủi ro khiến họ mất các khả năng cạnh tranh sinh tồn và phát triển bình thường Trong số đó có rất nhiều người hiện đang sống với công việc đồng ruộng hàng ngày Ngoài ra còn có sự ưu đãi đối với những vùng miền khác
Trang 31nhau như khu vực miền núi, hải đảo Không những họ mà con em của họ cũng được hưởng những sự ưu đãi từ chính sách ASXH của nhà nước
1.2.4 Cấu trúc của hệ thống an sinh xã hội đối với nông dân trong quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa
Theo các chuyên gia nghiên cứu về các vấn đề liên quan tới ASXH thì hình thành nên hai quan điểm cơ bản về ASXH ở nước ta:
Quan điểm thứ nhất cho rằng: hệ thống chính sách ASXH được thết kế theo nguyên tắc:
o Phòng ngừa rủi ro
o Giảm thiểu rủi ro
o Trợ giúp những người gặp rủi ro
o Bảo vệ những người gặp rủi ro
Cũng theo quan điểm này thì hệ thống ASXH gồm 3 hợp phần cơ bản:
o Hệ thống chính sách BHXH là xương sống của toàn bộ hệ thống ASXH quốc gia
o Hệ thống các chính sách và chương trình TGXH mang tính chất bảo trợ và cứu trợ những người gặp rủi ro
o Hệ thống các chính sách, các chương trình về thị trường lao động Giúp đỡ các đối tượng yếu thế trong thị trường lao động như trong đào tạo nghề, hỗ trợ tìm việc làm…
Quan điểm thứ hai: ASXH là một hệ thống các cơ chế, chính sách và giải pháp được áp dụng rộng rãi để trợ giúp các thành viên trong xã hội đối phó với những khó khăn gặp phải trong cuộc sống dẫn tới bị mất hoặc giảm nghiêm trọng về thu nhập và cung cấp các dịch vụ chăm sóc y tế
Các nguyên tắc thiết kế hệ thống ASXH:
Trang 32Hệ thống ASXH có ba chức năng cơ bản:
o Chức năng phòng ngừa rủi ro
o Chính sách BHXH (chế độ hưu trí, chế độ mất sức, chế độ tai nan lao động…)
o Chính sách BHYT (BHYTBB, BHYTTN, BHYT cho người nghèo, BHYT cho các đối tượng BTXH, BHYT cho trẻ em dưới 6 tuổi)
o Chính sách trợ giúp đặc biệt (chính sách ưu đãi đối với những người
có công với Nhà nước, với cách mạng, ưu đãi với những người là thương binh liệt sĩ)
o Chính sách trợ giúp cho các đối tượng yếu thế (trợ cấp hàng tháng, trợ cấp về các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, đào tạo dạy nghề…), cứu trợ xã hội
Theo quan điểm phổ biến thì hệ thống chính sách ASXH có 3 hợp phần cơ bản tương ứng với 3 chức năng chính là: phòng ngừa rủi ro, giảm thiểu rủi ro và khắc phục rủi ro
Việc thực hiện tốt các chính sách ASXH đối với nông dân chính là bảo đảm cho họ có việc làm, thu nhập ổn định, xóa đói giảm nghèo và có tích lũy tài chính đủ lớn để có điều kiện chủ động và tích cực tham gia vào hệ thống ASXH quốc gia
Hệ thống ASXH đối với nông dân gồm có các hợp phần cơ bản sau:
o BHYTTN cho nông dân
o BHXHTN cho nông dân
o TGXH cho nông dân
Trang 33o Xóa đói giảm nghèo
o Cung ứng dịch vụ xã hội cơ bản
o BHYTTN cho nông dân
BHYTTN là hình thức bảo hiểm do Nhà nước thực hiện không vì mục đích lợi nhuận Người dân tự nguyện tham gia để được chăm sóc sức khỏe khi đau ốm, bệnh tật từ quỹ bảo hiểm y tế Với hình thức này, người tham gia mua BHYT tự chi trả kinh phí mà không có sự trợ giúp từ bên ngoài Mức đóng bằng 4,5% mức lương tối thiểu và được nhà nước hỗ trợ tối thiểu 50%, được hưởng đầy đủ quyền lợi như người tham gia BHYTBB
Về quyền lợi: người tham gia BHYT được khám chữa bệnh ngay tại các cơ sở y tế công lập và ngoài công lập Được sử dụng các dịch vụ y tế kỹ thuật cao trong khám chữa bệnh, một số nhóm đối tượng còn được hỗ trợ chi phí chuyển viện khi cần thiết Trong trường hợp khám chữa bệnh theo yêu cầu, không theo tuyến điều trị tiếp tục được thanh toán với mức phí điều chỉnh cao hơn
Được khám bệnh, chữa bệnh, phục hồi chức năng, khám thai định kỳ,
sinh con Khám bệnh để sàng lọc, chẩn đoán sớm một số bệnh Với mức
hưởng: Quỹ BHYT thanh toán 80% chi phí khám chữa bệnh nội trú và ngoại
trú với các danh mục thuốc và dịch vụ kỹ thuật chẩn đoán và điều trị do Bộ y
tế quy định (thanh toán 100% chi phí KCB nếu tổng chi phí một lần KCB thấp hơn 15% mức lương tối thiểu; khám chữa bệnh ở tuyến xã được thanh
toán 100%) Thanh toán 80% chi phí kỹ thuật cao chi phí lớn cho một lần sử
dụng dịch vụ nhưng không quá 40 lần lương tối thiểu chung (nếu tham gia liên tục sau 180 ngày, kể từ ngày đóng BHYT cho cơ quan BHXH) Tham gia
36 tháng liên tục trở lên, được quỹ BHYT thanh toán 80% của 50% thuốc chống ung thư và chống thải ghép ngoài danh mục, đã được phép lưu hành [64, điều 13]
Chuyển đổi cơ chế cùng chi trả 20% một cách đồng loạt và khống chế mức trần trong điều trị nội trú sang hình thức thanh toán tối đa và cùng chi trả với một kỹ thuật có chi phí lớn
Trang 34Giống như BHYTBB thì hình thức BHYTTN loại trừ thanh toán cho các trường hợp tự tử, chết do say rượu, dùng chất ma túy, vi phạm pháp luật, các bệnh lây qua đường sinh dục, bệnh xã hội mà Nhà nước đã có ngân sách chữa bệnh riêng như bệnh tâm thần, bệnh phong, bệnh lao, HIV Chương trình kế hoạch hóa gia đình, tai nạn lao động, thiên tai và nhiều hình thức khác
Ngoài việc được hưởng các chế độ giống như BHYTBB thì người tham gia BHYTTN còn được hưởng thêm các dịch vụ y tế đặc biệt như: phục hồi chức năng, tạo hình thẩm mỹ
o BHXHTN cho nông dân
Đối tượng tham gia BHXHTN là công dân Việt Nam, không thuộc diện
áp dụng của pháp luật về BHXHBB, bao gồm:
o Người từ đủ 15 tuổi đến đủ 60 tuổi đối với nam và đủ 55 đối với nữ
o Người đã đủ 60 tuổi đối với nam, đủ 55 tuổi đối với nữ, đã có 15 năm đóng BHXH trở lên có nhu cần đóng BHXH tự nguyện cho đến khi đủ
20 năm đóng BHXH để hưởng chế độ hưu trí và tuất [63, điều 69]
Mức đóng BHXH hàng tháng của người tham gia BHXHTN bằng tỷ lệ phần trăm đóng BHXHTN với mức thu nhập tháng làm căn cứ đóng BHXH của người tham gia BHXHTN lựa chọn (mức thu nhập tháng làm căn cứ đóng
BHXH của người tham gia BHXHTN dựa vào mức thấp nhất bằng lương tối
thiểu chung, cao nhất bằng 20 lần lương tối thiểu chung – mức lương tối thiểu chung hiện nay là 1.150.000 đồng) [ 63, điều 70]
Nông dân Việt Nam có điều kiện tham gia vào hệ thống BHXHTN và
sẽ được hưởng hai chế độ trợ cấp:
o Trợ cấp hưu trí cho nông dân
o Trợ cấp tử tuất cho nông dân
TGXH cho nông dân
TGXH là: sự bảo đảm của Nhà nước, hỗ trợ của cộng đồng Đối tượng của hoạt động này là những người rơi vào hoàn cảnh khó khăn, rủi ro không
tự khắc phục được và họ cần trợ giúp có thể là về thu nhập hoặc về các điều kiện sống thiết yếu như nơi ở, thức ăn, nước uống…
Trang 35Là sự bảm đảm và giúp đỡ của Nhà nước và cộng đồng trong nước và quốc tế về thu nhập và các điều kiện sinh sống bằng các hình thức, biện pháp khác nhau đối với các đối tượng lâm vào hoàn cảnh rủi ro, bất hạnh, nghèo đói hoặc nhiều thiếu hụt trong cuộc sống khi họ không đủ khả năng tự lo được cuộc sống tối thiểu cho bản thân và gia đình
Có nhiều hình thức như trợ cấp hàng tháng, cứu trợ khẩn cấp một lần, trợ giúp học nghề, tạo việc làm, khám chữa bệnh…
Người được hưởng không phải trực tiếp đóng góp mà nguồn chi chủ yếu do Nhà nước và một phần từ sự đóng góp của các tổ chức, cá nhân, các nhà hảo tâm…
Mức trợ cấp dựa trên nhu cầu thực sự thiết yếu của các đối tượng trong từng trường hợp cụ thể khác nhau và đồng thời cũng dựa trên điều kiện kinh
tế xã hội của đất nước cũng như của từng địa phương
Nước ta là một nước nhiệt đới gió mùa, hàng năm phải gánh chịu những hậu quả về thiên tai là rất lớn như lũ lụt, bão, hạn hán, sạt lở đất… Do
đó mà có rất nhiều người và gia đình bị rơi vào hoàn cảnh khó khăn, mất nhà cửa, tài sản và không có lương thực… và họ không có khả năng để khắc phục những khó khăn đó
Không những thế, chúng ta cũng thường phải đối mặt với nhiều loại dịch bệnh không chỉ đối với cây trồng, vật nuôi mà ngay cả đối với con người, ảnh hưởng trực tiếp đến vấn đề kinh tế và sức khỏe
Hoạt động TGXH là truyền thống nhân đạo của dân tộc Việt Nam Sự cưu mang, đùm bọc giúp đỡ lẫn nhau giữa mọi người khi rơi vào hoàn cảnh khó khăn, rủi ro, thiên tai, địch họa… nó được bắt đầu từ trong các gia đình, dòng họ rồi tới cộng đồng dân cư
Hình thức đó được Nhà nước nâng lên thành những hoạt động mang tính xã hội, khuyến khích sự tham gia của các cá nhân, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị -xã hội và cộng đồng dân cư và các hoạt động TGXH
TGXH bao gồm hai hình thức:
o Trợ giúp thường xuyên
Trang 36Là hình thức TGXH đối với những người hoàn toàn không thể tự lo được cho cuộc sống của họ trong một thời gian dài, có thể là một năm hoặc có thể là nhiều năm hoặc suốt cả cuộc đời
Đối tượng của hình thức trợ giúp thường xuyên là những người không may gặp rủi ro, bất hạnh, gặp khó khăn trong cuộc sống mà người ta thường gọi là nhóm người thiệt thòi, người yếu thế trong xã hội như: những người già
cô đơn không có nơi nương tựa, trẻ em mồ côi, người tàn tật, người lang thang cơ nhỡ Đối tượng của TGXH là những người đặc biệt khó khăn, cần
sự trợ giúp vật chất và tinh thần từ Nhà nước, cộng đồng và toàn xã hội để bảo đảm cuộc sống, do đó không có sự phân biệt vị thế và thành phần xã hội
o Trợ giúp đột xuất
Là hình thức TGXH do Nhà nước và cộng đồng giúp đỡ những người không may gặp thiên tai, mất mùa hoặc các biến cố khác mà đời sống của họ
bị đe dọa về lương thực, nhà ở bệnh tật, mai táng và phục hồi sản xuất
Đối tượng của trợ giúp đột xuất là những người hoặc hộ gia đình gặp khó khăn do thiên tai hoặc những rủi ro khác gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới khả năng lao động và thu nhập
Những rủi ro bất thường xảy ra ngày càng nhiều và trên diện rộng Công tác cứu trợ đột xuất đã được triển khai tương đối kịp thời do có sự chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ Đã huy động được phong trào tương thân, tương ái của mọi tầng lớp nhân dân, của các tổ chức quần chúng, các doanh nghiệp, các
tổ chức quốc tế và cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, nhờ đó đã đóng góp được một phần đáng kể cho những thiếu hụt từ ngân sách Nhà nước
Để công tác thực hiện TGXH được hiệu quả và ổn định thì cần phải quan tâm tới quỹ dự phòng TGXH
Ở nước ta thực tế chưa có quỹ dự phòng TGXH theo đúng nghĩa mà nó chỉ thực hiện cấp phát từ ngân sách trung ương và địa phương, chủ yếu là từ địa phương trên cơ sở thực thi cho các đối tượng Vì vậy số người được hưởng chính sách trợ giúp chiếm một tỷ lệ nhỏ so với tổng số người cần tới TGXH Do đó
Trang 37chúng ta cần phát triển công tác TGXH để thỏa mãn nhu cầu hiện tại bằng những quy định thống nhất về việc xây dựng và sử dụng quỹ TGXH
o Xóa đói giảm nghèo
Có nhiều quan niệm khác nhau về đói và nghèo, tuy nhiên chúng ta có thể hiểu một cách đơn giản nghèo đói là một phạm trù chỉ mức sống của một cộng đồng, hay một nhóm dân cư là thấp, không bảo đảm cho những nhu cầu tối thiểu của con người mà những nhu cầu này đều theo tiêu chuẩn của một
xã, hộ đã định
Theo Nguyễn Hải Hữu : “đói là tình trạng một bộ phận dân cư nghèo
có mức sống dưới mức sống tối thiểu, cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, thu nhập không đủ bảo đảm duy trì cuộc sống Hộ thuộc diện nghèo, là những
hộ, những người nghèo mà không thể lo được lương thực để ăn, là những người thường xuyên thiếu ăn”.[86]
Nghèo đói là một vấn đề mang tính toàn cầu, là một hiện tượng xã hội tồn tại ở mọi quốc gia trên thế giới Nếu vấn đề nghèo đói không giải quyết được thì không mục tiêu nào mà một quốc gia đặt ra như hòa bình, ổn định, công bằng xã hội… có thể giải quyết được Việt Nam cũng không ngoại lệ, là một đất nước trải qua hàng ngàn năm bị xâm lược, đi lên từ một nền kinh tế yếu kém, lạc hậu lại bị cấm vận bởi các thế lực thù địch nhưng bằng sự nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân, ý chí quật cường của dân tộc ta và sự hỗ trợ của bạn bè quốc tế Việt Nam đã có những bước phát triển, đạt được những thành tựu đáng kể Những năm gần đây, nhờ chính sách đổi mới nền kinh tế nước ta phát triển nhanh, đời sống của đại bộ phận dân cư được nâng lên một cách rõ rệt
Xóa đói giảm nghèo là chủ trương thể hiện sự nhất quán của Đảng và Nhà Nước ta nhằm cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho người nghèo, thu hẹp khoảng cách về trình độ phát triển giữa các vùng, địa bàn và các dân tộc, các nhóm dân tộc
Ngày 23/7/1998 Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói, giảm nghèo giai đoạn 1998-2000 (gọi là chương trình 133) và xác định đây là một trong mười Chương trình
Trang 38mục tiêu quốc gia, coi đây là một chủ trương lớn, một quyết sách lớn của Đảng và Nhà nước Đến 9/2001 tiếp tục phê duyệt Chương trình xóa đói, giảm nghèo và việc làm giai đoạn 2001-2005 (gọi là Chương trình 143) Đảng
ta cũng đã khẳng định: xóa đói, giảm nghèo là một trong những giải pháp cơ bản để kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội
Để phát huy các kết quả đạt được của xóa đói, giảm nghèo, Thủ Tướng Chính Phủ đã phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc Gia giảm nghèo giai đoạn
2006 – 2010 và Chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi (chương trình 135 giai đoạn II)
Kết quả của công cuộc thực hiện các chương trình giảm nghèo trong những năm qua là tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh trong cả nước cũng như ở các địa phương, bộ mặt nông thôn có nhiều thay đổi, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt Những thành tựu đó đã góp phần tăng trưởng kinh tế và ổn định
xã hội, được cộng đồng quốc tế công nhận và đánh giá cao
Tuy vậy, công tác giảm nghèo vẫn đang đứng trước những khó khăn, thách thức, kết quả giảm nghèo chưa bền vững, tỷ lệ tái nghèo vẫn còn cao, đặc biệt là trên địa bàn khu vực miền núi Nguyên nhân chủ yếu là do thiên tai (lũ lụt, hạn hán, dịch bệnh) diễn ra ngày càng phức tạp Trong khi đó khả năng tự ứng cứu và tự phục hồi của người dân còn kém, tốc độ giảm nghèo không đồng đều, quan trọng nhất là nhận thức và tổ chức thực hiện giảm nghèo ở các địa phương là rất khác nhau Mặc dù đã tiếp cận nghèo đói theo các chính sách và dự án theo hướng dẫn cụ thể song việc thực hiện vẫn chưa hoàn toàn thống nhất Một bộ phận người nghèo vẫn còn lúng túng trong vòng luẩn quẩn của việc thoát nghèo và tái nghèo…
Để khắc phục những hạn chế, tồn tại trên đồng thời tiếp tục đẩy mạnh thực hiện các chính sách, giải pháp giảm nghèo, phấn đấu hoàn thành mục tiêu về giảm tỷ lệ hộ nghèo, đòi hỏi có sự phối hợp hài hòa, đồng bộ của các ngành từ trung ương tới địa phương trong công tác giảm nghèo, đặc biệt là đội ngũ làm công tác xóa đói, giảm nghèo ở cở sở Bên cạnh đó, công tác truyền thông phải làm tốt hơn nữa bằng cách nhân rộng các mô hình điển hình phát
Trang 39triển kinh tế hộ gia đình để người dân được tiếp cận học hỏi, từ đó rút ra kinh nghiệm cho bản thân mình Nhưng điều quan trọng là các mô hình đó phải phù hợp với điều kiện tại chính địa phương thực hiện giảm nghèo
o Cung ứng dịch vụ xã hội cơ bản
Hệ thống dịch vụ xã hội công của chúng ta đã góp phần nâng cao tiếp cận của người dân tới các dịch vụ y tế, giáo dục, nhà ở, đường xá, điện sinh hoạt, nước sinh hoạt, vệ sinh môi trường, thông tin và tư vấn, trợ giúp pháp lý
o Về y tế: song song với phát triển dịch vụ khám chữa bệnh, các dịch
vụ chăm sóc sức khỏe tại các vùng nghèo, đối với hộ nghèo ngày càng phát triển dưới nhiều hình thức như việc thiết lập các tổ, đội y tế lưu động đi khám, chữa bệnh, thực hiện các hoạt động phòng bệnh theo định kỳ ở các thôn, bản
o Về giáo dục: các mô hình giáo dục tập trung, trường bán trú dân nuôi, giáo dục từ xa, từng bước được mở rộng dưới nhiều hình thức với sự tham gia của nhiều đối tác xã hội, tạo điều kiện thuận lợi cho sự tham gia của người dân ở cả khu vực thành thị và nông thôn, vùng sâu, vùng xa
o Về điện sinh hoạt: hệ thống cung cấp điện sinh hoạt cho người dân các vùng sâu, vùng xa đã từng bước được đầu tư nâng cao hiệu quả và mở rộng phạm vi bao phủ của điện lưới quốc gia
o Về nước sạch và vệ sinh môi trường: Hệ thống cung cấp nước sinh hoạt cho người dân, nhất là người dân nông thôn vùng sâu, vùng xa được cải thiện thông qua các chương trình nước sạch quốc gia, chương trình nước sạch của UNICEF và các tổ chức phi chính phủ hỗ trợ
o Tình hình vệ sinh môi trường ngày càng được cải thiện Tỷ lệ người dân mắc các bệnh truyền nhiễm, dịch bệnh… giảm nhanh
o Về nhà ở và đất sản xuất: Chương trình 134 (Quyết định 134/2004)
về hỗ trợ nhà ở và đất sản xuất cho đồng bào dân tộc và Quyết định 167 về hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo đã giải quyết được cơ bản nhu cầu về nhà ở và đất sản xuất cho hộ nghèo nhất
o Về giao thông, đường sá: thông qua Chương trình 135 hỗ trợ các xã đặc biệt khó khăn, Chương trình hỗ trợ 62 huyện nghèo, Chương trình cho
Trang 40các xã bãi ngang, tình hình giao thông trong các xã được hưởng thụ nói riêng
và nông thôn nói chung được cải thiện đáng kể, góp phần làm giảm chi phí sản xuất, giảm cách biệt về địa l ý của các vùng nghèo, xã nghèo
o Về tư vấn và trợ giúp pháp lý: Chính sách tư vấn và hỗ trợ pháp lý cho người nghèo đã tăng cường tiếp cận thông tin và thực hiện quyền tiếp cận tới các dịch vụ của Nhà nước
Các tổ chức xã hội, cộng đồng ngày càng đóng vai trò quan trọng và tham gia tốt hơn trong các hoạt động hỗ trợ và cung cấp các dịch xã hội cho
hộ nghèo Nhiều mô hình dịch vụ hỗ trợ người nghèo, nhóm đối tượng dễ bị tổn thương (người già, người khuyết tật, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn) dựa vào cộng đồng được hình thành phát triển có hiệu quả, có khả năng nhân rộng
1.2.5 Điều kiện để xây dựng và hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội đối với nông dân trong quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa
Đảng và Nhà nước chủ trương lấy việc phát triển nhân tố con người là nhân tố cơ bản cho sự phát triển bền vững về kinh tế - xã hội, con người vừa
là mục tiêu vừa là động lực của sự nghiệp phát triển Đặt con người vào vị trí trung tâm, khơi dậy tiềm năng cá nhân và cả cộng đồng dân tộc trong sự hợp tác, chia sẻ trách nhiệm, cũng như rủi ro, đồng thời kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế với phát triển văn hóa xã hội, coi phát triển kinh tế là cơ sở và là tiền để để phát triển xã hội và ngược lại Những thành tựu phát triển về văn hóa xã hội và con người là động lực thôi thúc quá trình phát triển kinh tế xã hội đất nước và nó cũng là điều kiện cơ bản để ổn định chính trị, tạo ra sức mạnh tổng thể cho quốc gia
o Hoạt động ASXH phải xuất phát từ những nhu cầu khách quan của thực tiễn kinh tế xã hội Nền kinh tế thị trường với những nguyên tắc tất yếu cạnh tranh về lợi ích bao giờ cũng dẫn tới sự phát triển không đồng đều ở các
bộ phận người dân Dù muốn hay không thì nền kinh tế thị trường cũng gắn với sự phân cực trong đó, sự gia tăng khoảng cách giữa nhóm giàu và nhóm nghèo nếu không được kiểm soát và điều tiết một cách có hiệu quả