Nghệ nhân chỉnh chiêng Nghệ nhân chỉnh chiêng hay người điều khiển giàn chiêng là nhạc công giỏi, có khả năng thẩm âm, biết phát hiện và chỉnh sửa thanh âm lạc điệu của từng chiêng để đạ
Trang 1C HÀO MỪNG QUÍ THẦY CÔ Đ Ế N DỰ GIỜ
THĂM LỚP 8A1
Trang 2ÔN TẬP BÀI HÁT :
ÂM NHẠC THƯỜNG THỨC:
ÔN TẬP ĐỌC NHẠC:
Trang 4I/ Ôn tập bài hát:
- Ôn tập bài hát: HÒ BA LÍ
- Ôn tập Tập đọc nhạc: TĐN số 4
- Âm nhạc thường thức: MỘT SỐ NHẠC CỤ DÂN TỘC
Dân ca Quảng Nam
Trang 11- Ôn tập bài hát: HÒ BA LÍ
- Ôn tập Tập đọc nhạc: TĐN SỐ 4
- Âm nhạc thường thức: MỘT SỐ NHẠC CỤ DÂN TỘC
Trang 12GAM ĐÔ TRƯỞNG
ÂM TRỤ GAM ĐÔ TRƯỞNG
- Ôn tập bài hát: HÒ BA LÍ
- Ôn tập Tập đọc nhạc: TĐN số 4
- Âm nhạc thường thức: MỘT SỐ NHẠC CỤ DÂN TỘC
Đồ rê mi pha son la si đô
Đồ mi son đô
Trang 14III/ Âm nhạc thường thức
Trang 17Cồng, chiêng thuộc bộ gõ, được làm bằng đồng thau, hình tròn, ở giữa có hoặc không có núm Người ta dùng Em hãy mô tả cấu tạo
Âm thanh của cồng,chiêng vang như tiếng sấm rền.
Cồng,chiêng dùng để tế lễ thần linh, dùng trong các lễ
1.Cồng,
chiêng
Trang 18CỒNG
Trang 19Không gian văn hóa Cồng Chiêng Tây
Nguyên được UNESCO công nhận là
Kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại
vào ngày 15 tháng 11 năm 2005 Sau Nhã nhạc cung đình Huế, đây là di sản thứ hai của Việt Nam
được nhận danh hiệu này.
Trang 20III/ Âm nhạc thường thức
Trang 222 ĐÀN
T’RƯNG
Đàn t’rưng thuộc bộ gõ,làm bằng ống nứa to, nhỏ, dài, ngắn khác nhau Một đầu bịt kín bằng đầu mấu, đầu kia vót nhọn Dùng dùi gõ vào các ống, âm thanh cao thấp khác nhau tuỳ độ to, nhỏ,dài,ngắn của ống.
Em hãy mô tả đàn t’rưng
Trang 24III/ Âm nhạc thường thức
Trang 26Em hãy mô tả đàn đá và cách sử dụng?
Thuộc bộ gõ cổ nhất Việt Nam Làm bằng các thanh đá
dài, ngắn, dày, mỏng khác nhau
Âm thanh đàn đá như thế nào?
- Âm vực cao thánh thót,xa xăm -Âm vực trầm như tiếng dội
của vách đá.
Người xưa quan niệm âm thanh đàn đá như một phương tiện để nối liền cõi âm với cõi dương,giữa con người với trời đất, thần linh, giữa hiện tại với quá khứ.
3 ĐÀN ĐÁ
Trang 27Ở Việt Nam, lần đầu tiên một bộ đàn đá hoàn chỉnh được tìm thấy ở Khánh Sơn (Cam Ranh, Khánh Hòa) vào năm 1979.
Sau đó :ở Bình Đa, Bác Ái Gần đây nhất là đàn đá Tuy An (Phú Yên - 1992).
Việt Nam đã tìm thấy trên dưới 10 bộ đàn đá, tập
trung ở khu vực Nam Trung bộ
-Nhạc sĩ Thế Viên đã “xuất xưởng” được 12 bộ
-Nghệ sĩ Nhân dân Đỗ Lộc đã chế tác một bộ đàn đá rất hiện đại, có thể diễn tấu bất cứ bản nhạc nào.Trong vòng
3 năm (1994 - 1996), Đỗ Lộc đã “mang đá đi đánh xứ người”
Trang 28III/ Âm nhạc thường thức: MỘT SỐ NHẠC
Trang 29CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP
1.Hình ảnh nào dưới đây không có trong bài Hò ba lí?
A Trèo lên trên rẫy khoai lang
B Chẻ tre đan sịa
Trang 30CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP
3 Loại nhạc cụ nào dưới đây được làm bằng tre,
Trang 31CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP
5 Loại nhạc cụ nào dưới đây là nhạc cụ phương Tây ?
Trang 33Cồng chiêng
khoảng từ 20 cm đến 60 cm, ở giữa có hoặc không có núm.
Tại Việt Nam Người Gia Rai, Ê Đê và Hrê gọi cả cồng lẫn chiêng là "chinh", còn người Triêng gọi cồng là "chênh goong" (loại có núm), gọi chiêng là "chênh hân" (không núm) Nhìn chung, còn khá nhiều cách gọi và phân biệt giữa
hai nhạc cụ có núm và không núm này.
Người ta dùng dùi gỗ có quấn vải mềm (hoặc dùng tay) để đánh cồng, chiêng Cồng, chiêng càng to thì tiếng càng trầm, càng nhỏ thì tiếng càng cao.Âm thanh của cồng, chiêng vang như tiếng sấm rền Đối với các dân tộc ở Việt Nam, cồng, chiêng được coi là nhạc cụ thiêng Lúc đầu, cồng, chiêng chỉ dùng để tế lễ
thần linh, sau này mới được dùng trong các lễ hội dân gian.
Nghệ nhân chỉnh chiêng Nghệ nhân chỉnh chiêng hay người điều khiển giàn chiêng là nhạc công giỏi, có khả năng thẩm âm, biết phát hiện và chỉnh sửa thanh âm lạc điệu của từng chiêng để đạt được âm thanh chuẩn của cả giàn chiêng Nghệ nhân chỉnh chiêng không chỉ chỉnh âm cho các chiếc chiêng sai âm, mà còn chỉnh âm cho các giàn chiêng mới Nghệ nhân chỉnh chiêng được coi là báu vật dân gian sống, bao hàm tính truyền thống và tính khoa
học, không chỉ đơn thuần là một kĩ thuật viên.
Không gian văn hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên được UNESCO công nhận là Kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại vào ngày 15 tháng 11 năm 2005 Sau Nhã nhạc cung đình Huế,
đây là di sản thứ hai của Việt Nam được nhận danh hiệu này.
Không gian văn hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên trải dài trên 5 tỉnh Tây Nguyên: Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông và Lâm Đồng Chủ thể của không gian văn hóa này gồm nhiều dân tộc khác nhau: Ê đê, Ba Na, Mạ,
Lặc
Không gian văn hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên bao gồm các yếu tố bộ phận sau: cồng chiêng, các bản nhạc
Tư liệu về Cồng, chiêng
Trang 34Tư liệu về đàn t’rưng
T'rưng
người Đàn t'rưng làm bằng một số ống tre lồ ô hay nứa ngộ có kích cỡ khác nhau Đàn t'rưng chuyên nghiệp có khoảng 12 đến 16 ống xếp thành hàng trên giá đàn theo thứ tự đi dần lên từ ống lớn đến ống nhỏ, từ ống dài đến ống ngắn (loại đàn t'rưng dân gian chỉ có 5 ống với cách xếp ngược lại, ống trên cao lớn rồi đi dần xuống là những ống nhỏ hơn) Nhìn chung, ống có đường kính từ 3 đến 4cm, dài từ 40 đến 70cm Mỗi đầu ống đều bịt kín do còn nguyên các đầu mấu, đầu kia được gọt vát một phần ống để tạo âm theo chuỗi hàng âm của người dân tộc Khi dùng dùi gõ vào các ống sẽ tạp thành âm thanh cao thấp khác nhau tùy
độ to, nhỏ, dài, ngắn của ống Những ống to và dài phát ra âm trầm, còn những ống nhỏ và ngắn có âm cao Âm sắc của đàn t'rưng hơi đục, tiếng không vang to, vang xa nhưng khá đặc biệt Nghe tiếng đàn t'rưng ta có cảm giác như tiếng suối róc rách, tiếng thác đổ, tiếng
xào xạc của rừng tre nứa khi gió thổi.
Đàn t'rưng có âm vực rộng gần 3 quãng tám Kỹ thuật diễn tấu nhạc cụ này khá đơn giản, dùng dùi (bằng tre hoặc gỗ) gõ vào ống để tạo ra âm thanh; có thể đánh ngón vê, ngón á giống như chơi đàn tam thập lục, gõ nhanh chậm đều tốt; có thể đánh chồng âm hoặc đồng
âm nhưng 2 nốt cách nhau 1 quãng tám.
Theo truyền thống, t'rưng là nhạc cụ do nam giới sử dụng, chỉ được chơi trên nương rẫy, kiêng cữ đánh trong nhà và trong làng Vì người dân tộc tin rằng trong mỗi ống đàn có một
vị thần cư trú, giúp con người bảo vệ cây trồng trên rẫy Ngày xưa, người ta dùng tiếng đàn t'rưng để xua đuổi chim, thú trong lúc canh lúa, nếu đánh trong nhà thì t'rưng sẽ đuổi hồn gia súc, gia cầm khiến chúng sợ mà không lớn lên hoặc không sinh sản được Song hiện nay, ta thấy trên các sân khấu chuyên nghiệp, người chơi đàn t'rưng thường là nữ giới.
Trang 35Tư liệu về đàn đá
Một dàn đàn đá Tây Nguyên được trưng bày tại Bảo tàng các dân tộc Việt Nam,
Buôn Ma Thuột, Đăk Lăk Đàn đá (các dân tộc Tây Nguyên Việt Nam gọi là goong lu, đọc là goòng lú, tức "đá
với kích thước dài, ngắn, dày, mỏng khác nhau Thanh đá dài, to, dày có âm vực
Lịch sử phát hiện
kích thước từ to đến nhỏ trong đó thanh dài nhất 101,7 cm nặng 11,210 kg; thanh
ngắn nhất 65,5 cm nặng 5,820 kg Phát hiện này được báo cho Georges Condominas, một nhà khảo cổ người Pháp làm việc tại
những thanh đá này về Paris và chúng được nghiên cứu bởi giáo sư âm nhạc André Schaeffner Sau đó, Georges Condominas công bố kết quả nghiên cứu trên tạp chí Âm nhạc học (năm thứ 33 – bộ mới) số 97-98 tháng 7 năm 1951, khẳng định
Trang 36Năm 1956, trong Chiến tranh Việt Nam bộ đàn đá thứ hai được phát hiện và một đại úy Mỹ
thuộc xã Lộc Bắc, huyện Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng Đây là bộ đàn do dòng họ Ksiêng (người
Từ những năm 1979 vấn đề nghiên cứu, sưu tầm về đàn đá được giới khoa học Việt Nam khơi dậy và cho đến những năm đầu thập niên 1990, người ta tìm được khoảng 200 thanh
Sơn, đàn đá Bắc Ái, đàn đá Tuy An, đàn đá Bình Đa (gọi theo địa danh phát hiện) Căn cứ vào loại đàn đá tìm được ở di chỉ khảo cổ Bình Đa, các nhà khoa học cho biết những thanh
đá để làm đàn này có tuổi đời khoảng 3.000 năm.
Các nhà nghiên cứu sau khi khai quật và khảo sát tại đỉnh núi Dốc Gạo, thuộc địa phận thôn
Tô Hạp, xã Trung Hạp, Khánh Sơn đã tìm ra nhiều dấu tích chứng tỏ người xưa đã chế tác đàn đá tại đây với nhiều khối đá và mảnh tước thuộc loại đá phún trào có nhiều ở Khánh Sơn, cũng là loại đá để chế tác đàn đá Khánh Sơn Những dấu hiệu chế tác đàn đá tại chỗ chứng tỏ những cư dân từ xưa ở nơi này, dân tộc Raglai, là những người chủ thực sự của
Đặc điểm
của vách đá Người xưa quan niệm âm thanh của đàn đá như một phương tiện để nối liền
đá đã được giới thiệu ở trong và ngoài nước.
Thanh âm của đàn đá được GS.TS.Trần Văn Khê ca ngợi là "biểu hiện tâm tư hệt như con
người".
Tư liệu về đàn đá
Trang 37+Một số bộ đàn đá lớn
hiện bộ đàn đá 20 thanh Hai thanh dài nhất rộng bản 22 cm và dài 151 cm và 127
cm Thanh ngắn nhất rộng bản khoảng 10 cm, chiều dài 43 cm Số còn lại có độ dài từ 71 đến 75 cm và độ rộng bản trên dưới 15cm Đây là bộ đàn đá cổ nhiều
thanh nhất từng được phát hiện[7]
Tháng 7 năm 2006 một bộ đàn đá được phát hiện ở Bình Thuận, gồm 8 thanh trong đó thanh dài nhất là 95 cm rộng 17 cm và nặng 12,5 kg; các thanh khác có chiều dài thấp dần đến thanh cuối cùng là 52,5 cm nặng 4,5 kg Cả 8 thanh đều được ghè đẽo tinh xảo, có hình dạng giống nhau với hai đầu dày và hơi phình to,
ở giữa có eo nhỏ lại và là nơi mỏng nhất Giới khảo cổ học xôn xao vì khu vực phát hiện bộ đàn đá này nằm gần biển, tại vùng ảnh hưởng đậm của văn hóa Sa Huỳnh, trong khi từ trước tới nay tất cả các bộ đàn đá được phát hiện đều tại các
vùng rừng, núi cao[8]
Bộ đàn đá hiện đại 100 thanh do hai anh em nghệ sĩ Nguyễn Chí Trung và Nguyễn Đức Lộc sáng tạo, gồm 2 giàn đàn mỗi giàn 50 thanh Hiện bộ đàn đá này giữ kỷ
lục là bộ đàn đá nhiều thanh nhất Việt Nam[9]
Chú thích:Theo nghệ sĩ nhân dân Đỗ Lộc thì cho đến nay ngoài Việt Nam ra, thế giới chưa có đàn đá đúng nghĩa Ở một số tộc người châu Phi, Ấn Độ, Trung Hoa
Tư liệu về đàn đá
Trang 38Học thuộc hai bài hát : Tuổi Hồng và Hò Ba Lí
Ôn tập hai bài Tập đọc nhạc: TĐN số 3 và TĐN số 4 Xem phần nhạc lí tiết 10 và tiết 13
Tiết sau ôn tập và kiểm tra 15’
Đọc thêm bài Hát Ru trong SGK trang 33