1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thực trạng giao kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế của các doanh nghiệp việt nam

108 98 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 1,59 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do vậy, để hạn chế những rủi ro và tranh chấp phát sinh trong quátrình giao kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế thì các bên cần phảihiểu rõ các quy định của hệ thống pháp

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ

THỰC TRẠNG GIAO KẾT VÀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ CỦA CÁC DOANH

NGHIỆP VIỆT NAM

Ngành: Luật Kinh tế

PHẠM TRUNG ĐỨC

HÀ NỘI - 2019

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ

THỰC TRẠNG GIAO KẾT VÀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ CỦA

CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM

Ngành: Luật kinh tế

Mã số: 8380107

Họ và tên: Phạm Trung Đức Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Ngọc Hà

Hà Nội - 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn “Thực trạng giao kết và thực hiện hợp đồng muabán hàng hóa quốc tế của các doanh nghiệp Việt Nam” là công trình nghiên cứu củariêng tôi Các số liệu trong luận văn được sử dụng trung thực, được trích dẫn và cótính kế thừa, phát triển từ các tài liệu, tạp chí, các công trình nghiên cứu đã đượccông bố, các website…Các giải pháp nêu trong luận văn được rút ra từ những cơ sở

lý luận và quá trình nghiên cứu thực tiễn

Hà Nội, ngày 27 tháng 11 năm 2019

Tác giả luận văn

Phạm Trung Đức

Trang 4

Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đối với gia đình đã động viên, khích lệtôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này.

Hà Nội, ngày 27 tháng 11 năm 2019

Tác giả luận văn

Phạm Trung Đức

Trang 5

MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN I

LỜI CẢM ƠN II

MỤC LỤC III

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT V

DANH MỤC BẢNG BIỂU VI

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU LUẬN VĂN VII

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu 2

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5

5 Phương pháp nghiên cứu 5

6 Cấu trúc luận văn 6

CHƯƠNG I: 7

TỔNG QUAN VỀ GIAO KẾT VÀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ 7

1.1 KHÁI QUÁT VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ 7

1.1.1 Khái niệm về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 7

1.1.2 Các đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 10

1.2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ GIAO KẾT VÀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ 14

1.2.1 Giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 14

1.2.2 Vấn đề thực hiện hợp đồng 19

CHƯƠNG 2: 29

THỰC TRẠNG GIAO KẾT VÀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG TẠI CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM 29

Trang 6

2.1 THỰC TRẠNG VỀ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA

QUỐC TẾ CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM 29

2.1.1 Khảo sát về vấn đề giao kết hợp đồng tại một số doanh nghiệp Việt Nam 30

2.3 ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ GIAO KẾT VÀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG

GIAO KẾT VÀ THỰC HIỆN MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ 68

3.2.1 Các giải pháp đối với Nhà nước 68

3.2.2 Các giải pháp đối với doanh nghiệp 78

3.2.3 Những lưu ý của doanh nghiệp Việt Nam về áp dụng điều khoản Công ước Viên 82

KẾT LUẬN 86 PHỤ LỤC 1 1

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1

Trang 7

UNCITRAL United Nations Commission on Ủy ban về Luật thương mại

International Trade Law quốc tế của Liên Hợp Quốc

UNIDROIT Iinternational Institute for the Viện Quốc tế về Thống nhất

Unification of Private Law Luật tư

Vietnam International Trung tâm Trọng tài Quốc tếVIAC Arbitration Centre at the Việt Nam bên cạnh Phòng

Vietnam Chamber of Commerce Thương mại và Công nghiệp

WTO World Trade Organization Tổ chức Thương mại Thế giới

Trang 8

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1 Danh sách các đối tác của doanh nghiệp Việt Nam 30

Bảng 2 Danh sách các cơ quan giải quyết tranh chấp được lựa chọn 31

trong hợp đồng

Bảng 3 Thống kê về lựa chọn luật áp dụng trong hợp đồng 33

Trang 9

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU LUẬN VĂN

1.1 Tên luận văn: Thực trạng giao kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế của các doanh nghiệp Việt Nam

1.2 Tác giả: Phạm Trung Đức

1.3 Chuyên ngành: Luật kinh tế

1.4 Bảo vệ năm: 2019

1.5 Giáo viên hướng dẫn: TS Nguyễn Ngọc Hà

Luận văn đưa ra các khuyến nghị nhằm nâng cao tính hiệu quả trong vấn đề soạn thảo các hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và thực hiện hợp đồng

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận cơ bản về soạn thảo hợp đồng thương mại, các nguồn luật áp dụng và giải quyết tranh chấp phát sinh

- Phân tích, đánh giá thực trạng về vấn đề soạn thảo hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế tại Việt Nam, và thực tiễn thực hiện hợp đồng

- Đề xuất giải pháp tăng cường hiệu quả hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế, soạn thảo hợp đồng, nhằm giảm thiểu rủi ro cho các doanh nghiệp tại Việt Nam

- Thứ nhất, luận văn hệ thống hóa và làm sáng tỏ những cơ sở lý luận cơ bản vềhợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, về đặc tính, lưu ý khi tham gia ký kết và thựchiện hợp đồng

- Thứ hai, luận văn phân tích tình hình giao kết và thực hiện hợp đồng mua bánhàng hóa quốc tế, những vấn đề vướng mắc, và phân tích những tranh chấp điểnhình

- Thứ ba, luận văn đề xuất các giải pháp và kiến nghị đối với nhà nước và doanhnghiệp Việt Nam nhằm nâng cao hiệu quả giao kết và thực hiện hợp đồng mua bánhàng hóa quốc tế

Trang 10

PHẦN MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài

Trong bối cảnh phát triển của nền thương mại và toàn cầu hóa, sự giao lưukinh tế giữa các quốc gia trên thế giới tạo nên bước tiến quan trọng trong lịch sửphát triển của nền kinh tế thế giới Các quốc gia không chỉ đơn thuần hoạt động muabán hàng hóa trong phạm vi quốc gia mà còn mở rộng tham gia vào hoạt động muabán hàng hóa vượt qua khỏi biên giới quốc gia với các nước Để tạo khuôn khổpháp lý cho hoạt động mua bán hàng hóa nói chung và việc giao kết hợp đồng muabán hàng hóa quốc tế nói riêng, Việt Nam đã ban hành các văn bản quy phạm phápluật điều chỉnh có liên quan Đó là Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 1995, BLDS năm

2005, BLDS năm 2015, Luật Thương mại năm 1997, Luật Thương mại năm 2005.Bên cạnh đó, Việt Nam còn tham gia Công ước Viên 1980 về hợp đồng mua bánhàng hóa quốc tế1 để các thương nhân trong và ngoài nước lựa chọn và áp dụng khitiến hành giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa với nhau

Có thể thấy, trải qua nhiều thế kỷ, trao đổi hàng hóa là hoạt động chính tronghoạt động thương mại, là cầu nối giữa sản xuất và tiêu dùng, không chỉ giới hạn ởphạm vi mỗi quốc gia mà còn mở rộng ra các quốc gia khác nhau trên toàn thế giới.Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là một loại hợp đồng phức tạp với nhiều yếu

tố, yêu cầu liên quan do các chủ thể tham gia thường không cùng quốc tịch, sự xacách về địa lý, khác biệt về hệ thống pháp luật giữa các bên… dẫn tới hợp đồng muabán hàng hóa quốc tế thường tiềm ẩn nhiều rủi ro pháp lý cho các bên tham gia giaokết hợp đồng Đây cũng chính là một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn tớitranh chấp giữa các bên trong quá trình giao kết và thực hiện hợp đồng mua bánhàng hóa quốc tế Do vậy, để hạn chế những rủi ro và tranh chấp phát sinh trong quátrình giao kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế thì các bên cần phảihiểu rõ các quy định của hệ thống pháp luật có liên quan điều chỉnh hợp đồng màmình lựa chọn, cùng với đó là việc phải quy định cụ thể, chi tiết và nắm rõ quyền vànghĩa vụ của các bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, nhất là

1Công ước Viên năm 1980 đã chính thức có hiệu lực đối với Việt Nam từ ngày 01/01/2017.

Trang 11

quy định nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng để hạn chế những tranh chấp xảy ra

và các hành vi vi phạm của các bên Đồng thời việc nắm vững, hiểu rõ các quy địnhcủa pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa sẽ giúp các chủ thể kinh doanh ký kết

và thực hiện hợp đồng được thuận lợi và hiệu quả

Tuy nhiên, thực tế cho thấy còn khá nhiều thương nhân trong nước tỏ ra lúngtúng khi thực hiện các hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế, từ đó dẫn đến nhữngtranh chấp xảy ra giữa họ với các đối tác nước ngoài Nguyên nhân này một phần dolỗi chủ quan của các bên khi giao kết và thực hiện hợp đồng, bên cạnh đó có nguyênnhân khách quan đó là các quy định của Việt Nam hiện nay về quyền nghĩa vụ củacác bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế còn rất chung chung, thiếu sự rõràng và chưa đảm bảo thực thi trên thực tế, từ đó chưa thực sự bảo vệ được quyềnlợi các bên khi tham gia giao kết hợp đồng

Vậy hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là gì? Khi giao kết và thực hiện hợpđồng mua bán hàng hóa quốc tế, những vấn đề pháp lý nào mà thương nhân cần lưuý? Thực tiễn giao kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế hiện này củathương nhân ở Việt Nam như thế nào? Giải pháp nào để giúp họ hoàn thiện công tácgiao kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế? Để trả lời cho các câu

hỏi này, người viết đã chọn đề tài “Thực trạng giao kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế của các doanh nghiệp Việt Nam” làm đề tài luận văn

tốt nghiệp của mình

2 Tình hình nghiên cứu

Trên thế giới và ở Việt Nam, đã có một số công trình nghiên cứu về hợp đồngmua bán hàng hóa quốc tế và về các vấn đề pháp lý liên quan đến loại hợp đồngnày Cụ thể:

Ở nước ngoài, có thể kể đến các công trình nghiên cứu tiêu biểu như: Petar

Sarcevie & Paul Volken (eds.), The International Sale of Goods Revisited, Kluwer Law International, The Hague, 2001, 256 p.; Peter Schlechtriem, Commentary on the UN Convention on the International Sale of Goods, second edition, Oxford

University Press, 2005, 1149 p.; Ingeborg Schwenzen, Pascal Hachem &

Trang 12

Christopher Kee, Global Sale and contract law, Oxford University Press, Oxford,

2012, 873 p.; Peter Huber & Alastair Mullis, The CISG: A new textbook for students and practionners, Sellier, 2007, 408 p.; Peter Schlentriem & Petra Butler, UN Law

on international sales: The UN Convention on the International Sale of Goods,

Springer, New York, 2008, 351 p

Có thể thấy đây là một số các cuốn sách viết về mua bán hàng hóa quốc tế vàCông ước Viên năm 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa Các cuốn sách nêu trênđều trình bày khá cụ thể về các vấn đề pháp lý liên quan đến hợp đồng mua bánhàng hóa quốc tế như về giao kết hợp đồng, thực hiện hợp đồng, xử lý các hành vi

David W Hills, “Understanding the International Sale of Goods Convention”, Ohio Lawyer, 1988, vol 2, no 27-30; Richard M Lavers, “Contracts for the International

Sale of Goods”, Wisconsin Bar Bulletin, 1987, vol 60, no 11, pp 11-50; Urs PeterGruber, “Convention on the International Sale of Goods (CISG) in Arbitration”,

International Business Law Journal, 2009, no 1, pp 15-34; Louis F Del Duca,

“Selected Topics under the Convention on International Sale of Goods”, Dickinson Law Review, 2001, pp 205-254…

Ở trong nước, cũng đã có một số công trình nghiên cứu về hợp đồng mua bánhàng hóa quốc tế, về luật áp dụng cho hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và về viphạm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Có thể kể đến các công trình như:

- Nguyễn Thu Hương, “Một số vấn đề cần lưu ý khi thực thi Công ước Viên

năm 1980 về mua bán hàng hóa quốc tế (CISG) tại Việt Nam”, Tạp chí Nghề luật,

2019, no 1, tr 61-66;

Trang 13

- Đặng Thế Hùng, “Hủy bỏ hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo Công

ước Viên năm 1980 trong quá trình thực thi tại Việt Nam”, Tạp chí Kiểm sát, 2018,

đó, luận văn tốt nghiệp này sẽ hướng tới góp phần bù đắp khoảng trống nghiên cứunêu trên

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Luận văn tập trung phân tích và làm sáng tỏ những vấn đề về việc giao kết vàthực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Đồng thời, bình luận và đánh giáthực tiễn việc thực hiện hợp đồng loại này, để từ đó đề ra các giải pháp nhằm nângcao hiệu quả việc giao kết và thực hiện hợp đồng cũng như hoàn thiện cơ chế phápluật nhằm tạo thuận lợi cho doanh nghiệp Việt Nam dễ dàng tham gia thị trườngmua bán hàng hóa quốc tế

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Mục tiêu cụ thể:

- Tìm hiểu và phân tích khái niệm, đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hóaquốc tế, từ đó làm rõ các vấn đề pháp lý cần lưu ý về giao kết và thực hiện hợp đồngmua bán hàng hóa quốc tế

Trang 14

- Nêu và phân tích thực trạng giao kết và thực thi hợp đồng mua bán hàng hóaquốc tế tại Việt Nam, từ đó đưa ra các đánh giá về thành công và hạn chế của việcnày

- Kiến nghị một vài giải pháp để nâng cao hiệu quả giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế cũng như thực hiện từ phía doanh nghiệp Việt Nam và Nhà nước

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là thực trạng giao kết và thực hiện hợp đồngmua bán hàng hóa quốc tế của các doanh nghiệp Việt Nam

4.2 Phạm vi nghiên cứu:

Về nội dung: luận văn tập trung phân tích một số vấn đề pháp lý và thực tiễn

về giao kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

Về không gian: tại Việt Nam, chủ yếu là các thương nhân Việt Nam dựa trên

cơ sở lý luận pháp lý của hệ thống pháp luật Việt Nam và pháp luật trên thế giới vềmua bán hàng hóa quốc tế

Về thời gian: Giai đoạn Việt Nam hội nhập vào nền kinh tế thế giới, đặc biệt

tính từ thời điểm gia nhập công ước Viên 1980 vào ngày 01/01/2017

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vậtbiện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử kết hợp với nhiều phương pháp nghiên cứukhoa học khác như phương pháp phân tích, tổng hợp, quy nạp, diễn dịch, đối chiếu,

so sánh thống kê…

Trong đó phương pháp phân tích được sử dụng để làm các quy định của phápluật thực định xung quanh hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo luật quốc tế,cũng như luật Việt Nam từ đó tìm ra những điểm chưa phù hợp

Phương pháp so sánh được sử dụng để so sánh các quy định về hợp đồng muabán hàng hóa quốc tế được quy định trong luật quốc tế và pháp luật Việt Nam từ đótìm những điểm tương đồng và khác biệt

Trang 15

Phương pháp tổng hợp, thống kế được sử dụng để thống kê nội dung hợp đồng

và vụ việc việc tranh chấp, xung đột thực tiễn giữa các bên trong quá trình giaokết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế liên quan đến thực hiện nghĩa

vụ trong thời gian qua

Thông qua các phương pháp nghiên cứu trên, các quy định của pháp luật ViệtNam và các quy định trong Công ước Viên năm 1980 về hợp đồng mua bán hànghóa quốc tế về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, cũng như thực tiễn thực hiện tạiViệt Nam Từ đó rút ra những hạn chế và có những kiến nghị giải pháp phù hợp

6 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần lời mở đầu và kết luận, đề tài được kết cấu gồm 3 chương:

Chương 1: Tổng quan về giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Chương 2: Thực trạng giao kết, thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế của thương nhân Việt Nam

Chương 3: Kiến nghị giải pháp nhằm hoàn thiện công tác giao kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

Trang 16

CHƯƠNG I:

TỔNG QUAN VỀ GIAO KẾT VÀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG MUA BÁN

HÀNG HÓA QUỐC TẾ 1.1 KHÁI QUÁT VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ

1.1.1 Khái niệm về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

Hoạt động thương mại quốc tế được thực hiện trong nhiều lĩnh vực khác nhaunhư mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, thương mại liên quan đến quyền

sở hữu trí tuệ… Trong đó, hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế diễn ra sôi nổi nhất

và giữ vị trí trung tâm trong các giao dịch thương mại quốc tế và được thể hiện chủyếu thông qua các hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

Thực tế hiện nay chưa có một khái niệm thống nhất về hợp đồng mua bánhàng hóa quốc tế Thay vào đó là các khái niệm cấu thành thuật ngữ “hợp đồng muabán hàng hóa quốc tế”, đó là “hợp đồng”, “mua bán”, “hàng hóa”, “mua bán hànghóa” Nói cách khác chưa có một các xác định thống nhất tính quốc tế của hợp đồngmua bán hàng hóa quốc tế, mà chỉ nêu lên một số khái niệm hay một số cách xácđịnh yếu tố quốc tế của loại hợp đồng này

Ở Mỹ, Bộ luật Thương mại Thống nhất Hoa Kỳ năm 1952 không trực tiếp đưa

ra khái niệm về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế nhưng đưa ra định nghĩa vềgiao dịch quốc tế tại Điều 1-301, theo đó giao dịch quốc tế là giao dịch có mối quan

hệ hợp lý với quốc gia khác với Mỹ Mua bán chính là việc chuyển giao quyền sởhữu từ người bán sang người mua để nhận tiền Bộ luật Thương mại Thống nhất củaHoa Kỳ, tuy không trực tiếp đưa ra tiêu chí để xác định hợp đồng mua bán hàng hóaquốc tế nhưng việc định nghĩa giao dịch quốc tế đã thể hiện của tiêu chí “trụ sởthương mại” của các bên ở các nước khác nhau

Tại Việt Nam, Luật Thương mại Việt Nam năm 2005 không đưa ra tiêu chíxác định tính chất quốc tế của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế mà liệt kê nhữnghoạt động được coi là mua bán hàng hóa quốc tế Điều 27 nêu rõ mua bán quốc tếđược thực hiện dưới các hình thức xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập tái xuất, tạmxuất tái nhập và chuyển khẩu, theo đó:

Trang 17

“Xuất khẩu hàng hoá là việc hàng hoá được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật”2.

“Nhập khẩu hàng hoá là việc hàng hoá được đưa vào lãnh thổ Việt Nam từ nước ngoài hoặc từ khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật”3

“Tạm nhập, tái xuất hàng hoá là việc hàng hoá được đưa từ lãnh thổ nước ngoài hoặc từ các khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật Việt Nam, có làm thủ tục nhập khẩu vào Việt Nam và làm thủ tục xuất khẩu chính hàng hoá đó ra khỏi Việt Nam”4

“Tạm xuất, tái nhập hàng hoá là việc hàng hoá được đưa ra nước ngoài hoặc đưa vào các khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật, có làm thủ tục xuất khẩu ra khỏi Việt Nam

và làm thủ tục nhập khẩu lại chính hàng hoá đó vào Việt Nam”5

“Chuyển khẩu hàng hoá là việc mua hàng từ một nước, vùng lãnh thổ để bán sang một nước, vùng lãnh thổ ngoài lãnh thổ Việt Nam mà không làm thủ tục nhập khẩu vào Việt Nam và không làm thủ tục xuất khẩu ra khỏi Việt Nam”6

Thông qua khái niệm về xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập tái xuất, tạm xuất táinhập và chuyển khẩu nêu trên, Luật Thương mại năm 2005 đã sử dụng tiêu chí hànghóa phải là động sản, hàng có thể được di chuyển qua biên giới của Việt Nam hoặc quabiên giới của một nước (vùng lãnh thổ), hoặc di chuyển qua khu chế xuất, khu vực hảiquan riêng để xác định tính quốc tế của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

Có một số tác giả đã đưa ra khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế vàxác định tính quốc tế trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế dựa trên nhiều yếu

tố khác nhau Theo đó: “hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế mang đầy đủ các đặc trưng cơ bản hợp đồng thương mại quốc tế (hợp đồng thương mại có yếu tố nước

2Điều 28 khoản 1 Luật Thương mại năm 2005.

3Điều 28 khoản 2 Luật Thương mại năm 2005.

4Điều 29 khoản 1 Luật Thương mại năm 2005.

5Điều 29 khoản 2 Luật Thương mại năm 2005.

6Điều 30 khoản 1 Luật Thương mại năm 2005.

Trang 18

ngoài) Tính quốc tế hay đặc điểm có yếu tố nước ngoài của quan hệ chính là điểm khác biệt của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế với hợp đồng mua bán hàng hóa thông thường Yếu tố nước ngoài có thể được quy định khác nhau trong pháp luật của các quốc gia cũng như trong pháp luật quốc tế, đó là các yếu tố liên quan đến quốc tịch, nơi cư trú hoặc trụ sở của các chủ thể liên quan đến nơi xác lập hợp đồng, nơi thực hiện hợp đồng hoặc nơi có tài sản là đối tượng của hợp đồng.”7

thể thấy, theo quan điểm này, thì tính quốc tế của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc

tế được xác định dựa trên 3 yếu tố:

(i) chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng là các bên có quốc tịch, nơi cư trú haytrụ sở ở các quốc gia khác nhau

(ii) khách thể của hợp đồng (hàng hóa) ở nước ngoài

(iii) căn cứ xác lập, thay đổi, chấm dứt hợp đồng xảy ra ở nước ngoài

Thực chất, các tác giả trên đây đã đồng nhất khái niệm hợp đồng mua bánhàng hóa quốc tế với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài thuộc đối tượng điềuchỉnh của tư pháp quốc tế Thừa nhận rằng hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế làhợp đồng mua bán hàng hóa có yếu tố nước ngoài nhưng không phải mọi hợp đồngmua bán hàng hóa có yếu tố nước ngoài đều là hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

Ví dụ: thương nhân A và thương nhân B đều là thương nhân Việt Nam Trongmột lần đi du lịch tại Singapore họ đã gặp nhau và kí kết với nhau một hợp đồng muabán hàng hóa, sau đó việc thực hiện hợp đồng được thực hiện tại Việt Nam, hàng hóađược mua bán cũng tại Việt Nam Như vậy nếu theo quan điểm trên đây và chỉ dựa vàoyếu tố là thương nhân A và thương nhân B kí kết hợp đồng tại Singapore mà coi đây làhợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế thì không thật sự hợp lí

Theo Công ước Viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (sau đâygọi tắt là Công ước Viên năm 1980), mặc dù không quy định về khái niệm hợp đồngmua bán hàng hóa quốc tế nhưng Điều 1 của Công ước đã gián tiếp xác định phạm

vi của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế như sau: “1 Công ước này áp dụng cho các hợp đồng mua bán hàng hóa giữa các bên có địa điểm kinh doanh tại

7Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật thương mại quốc tế, NXB CAND, Hà Nội, 2007, tr 207.

Trang 19

các quốc gia khác nhau… 2 Sự kiện các bên có trụ sở thương mại tại các quốc gia khác nhau không tính đến nếu sự kiện này không xuất phát từ hợp đồng, từ các mối quan hệ đã hình thành hoặc vào thời điểm ký hợp đồng giữa các bên hoặc là từ việc trao đổi thông tin giữa các bên…”.8 Có thể thấy cơ sở duy nhất để xác định hợp

đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo Công ước Viên 1980 là địa điểm kinh doanhcủa các bên phải đặt tại các quốc gia khác nhau mà không phụ thuộc vào địa điểm

ký kết hợp đồng và cũng không xét đến việc hàng hóa có được dịch chuyển qua biêngiới hay không

Hiện nay, đã có nhiều quốc gia tham gia Công ước Viên 1980 về mua bánhàng hóa quốc tế, vì vậy có thể nói rằng pháp luật của hầu hết các quốc gia trên thếgiới xác định tính quốc tế của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế dựa trên dấu hiệulãnh thổ của các bên kí kết hợp đồng Việt Nam là thành viên của Công ước Viên

1980 nên việc tiếp thu quan điểm này một phần phù hợp với thông lệ quốc tế đồngthời còn tạo điều kiện trong việc xác định và áp dụng trong thực tiễn

1.1.2 Các đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế trước hết đó phải là một hợp đồng, mangđầy đủ bản chất và đặc trưng của tất cả các loại hợp đồng nói chung Ngoài ra, dohợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là hợp đồng được kí kết giữa các bên có địađiểm kinh doanh tại các quốc gia khác nhau, tức là có yếu tố nước ngoài tham gia,

vì vậy nó sẽ có những điểm khác biệt nhất định so với hợp đồng mua bán hàng hóathông thường (trong nước) Vấn đề đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc

tế rất ít khi được bàn đến trong các tài liệu nghiên cứu Điều đó không có nghĩa làviệc luận giải các đặc điểm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là không quantrọng, mà ngược lại việc phân tích kĩ vấn đề này sẽ cho phép chúng ta có cái nhìnthật cụ thể về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, trên cơ sở đó sẽ tạo điều kiệncho việc phân tích những vấn đề khác Bản chất của hợp đồng mua bán hàng hóaquốc tế là hợp đồng thương mại có tính quốc tế hay có yếu tố nước ngoài

8Điều 1 Công ước Viên 1980.

Trang 20

Chính tính chất quốc tế hay yếu tố nước ngoài của hợp đồng mua bán hànghóa quốc tế đã tạo ra điểm khác biệt của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế so vớihợp đồng thương mại trong nước, cụ thể như sau:

Thứ nhất, về chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

Chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế chủ yếu là các “thươngnhân” “Thương nhân” thường được hiểu là những người trực tiếp thực hiện hoạtđộng kinh doanh thương mại, bao gồm các cá nhân, pháp nhân có đủ các điều kiện

do pháp luật quốc gia quy định để tham gia vào các hoạt động thương mại và trongmột số trường hợp cả chính phủ (khi từ bỏ quyền miễn trừ quốc gia) Tùy theo từngquốc gia có những quy định khác nhau về điều kiện trở thành thương nhân chonhững đối tượng cụ thể Chẳng hạn, đối với cá nhân những điều kiện hưởng tư cáchthương nhân trong pháp luật thương mại quốc gia thường bao gồm điều kiện nhânthân (độ tuổi, năng lực hành vi, điều kiện tư pháp) và nghề nghiệp

Thứ hai, về đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

Hàng hóa là đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế phải thỏa mãncác quy định về quy chế hàng hóa được phép mua bán, trao đổi theo pháp luật củanước bên mua và bên bán

Pháp luật của các quốc gia khác nhau có những quy định không giống nhau vềnhững hàng hóa được phép trao đổi mua bán, từ đó sẽ dẫn đến việc có những hànghóa theo quy định của nước này thì được phép trao đổi mua bán nhưng theo quyđịnh của pháp luật nước khác thì lại cấm trao đổi mua bán Như vậy chỉ những hànghóa nào đều được pháp luật quốc gia của các bên kí kết hợp đồng quy định là đượcphép trao đổi mua bán thì mới có thể trở thành đối tượng của hợp đồng mua bánhàng hóa quốc tế Khái niệm hàng hóa được ghi nhận trong pháp luật các quốc giatrên thế giới hiện nay, mặc dù có những khác biệt nhất định song đều có xu hướng

mở rộng các đối tượng là hàng hóa được phép lưu thông thương mại

Theo pháp luật thương mại của đa số các nước và trong nhiều điều ước quốc tếchẳng hạn như Công ước Viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, hàng hóa

là đối tượng của mua bán thương mại được hiểu bao gồm những loại tài sản có

Trang 21

hai thuộc tính cơ bản: có thể đưa vào lưu thông và có tính chất thương mại Côngước Viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa (tại điều 2) chỉ loại trừ (không ápdụng) đối với việc mua bán một số loại hàng hóa như chứng khoán, giấy đảm bảochứng từ và tiền lưu thông, điện năng, phương tiện vận tải đường thủy, đường hàngkhông, phương tiện vận tải bằng khinh khí cầu…

Tại Việt Nam, Khoản 2 điều 3 LTM năm 2005 quy định “hàng hóa bao gồm:

i) Tất cả các loại động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai;

ii)Những vật gắn liền với đất đai.” 9

Đây là một khái niệm rộng, cho phép nhiều loại hàng hóa có thể là đối tượngcủa hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

Thứ ba, về hình thức của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

Hình thức của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế cũng được quy định rấtkhác nhau trong pháp luật của các quốc gia và pháp luật quốc tế Pháp luật của một

số nước yêu cầu bắt buộc hình thức của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế phảiđược lập thành văn bản như Điều 27 khoản 2 Luật Thương mại Việt Nam 200510,nhưng pháp luật của một số nước khác lại không có bất kì một yêu cầu nào về hìnhthức hợp đồng

Mặt khác, ngay cả khái niệm “văn bản” giữa các quốc gia cũng có các quanniệm rộng hẹp khác nhau về những dạng vật chất nhất định chứa đựng thông tin nàođược coi là văn bản Trong khi đó, theo quy định của Công ước Viên 1980 thì hợpđồng mua bán hàng hóa quốc tế có thể được thể hiện dưới bất kì hình thức nào cũng

được coi là hợp pháp Điều 11 Công ước quy định: “hợp đồng mua bán không cần phải được kí kết hoặc xác lập bằng văn bản hay phải tuân thủ một yêu cầu nào khác

về hình thức hợp đồng Hợp đồng có thể được chứng minh bằng mọi cách, kể cả những lời khai của nhân chứng.”11

9Khoản 2 Điều 3 Luật Thương Mại 2005

10 Theo quy định của điều 27 khoản 2, mua bán hàng hóa quốc tế phải được thể hiện trên cơ sở hợp đồng bằng văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lí tương đương.

11 Điều 11 Công Ước Viên

Trang 22

Vấn đề này cũng được quy định tương tự trong Bộ nguyên tắc của UNIDROIT

2004 về hợp đồng thương mại quốc tế Theo quy định tại điều 1.2 của Bộ nguyêntắc, không một chi tiết nào của Bộ nguyên tắc yêu cầu một hợp đồng phải được kíkết bằng văn bản hoặc phải được chứng minh có sự thỏa thuận bằng văn bản Sự tồntại của một hợp đồng có thể được chứng minh bằng bất kì hình thức nào kể cả bằngnhân chứng

Tuy nhiên, để giảm bớt sự “tùy nghi” của điều 11 Công ước Viên 1980 và cótính đến quy định trong pháp luật quốc gia của một số nước thành viên yêu cầu hìnhthức của hợp đồng phải là văn bản, tại điều 12 Công ước quy định nước thành viêncủa công ước có pháp luật quốc gia yêu cầu hợp đồng phải có hình thức bằng vănbản có thể tuyên bố bảo lưu vấn đề này bất cứ lúc nào Và điều 96 của Công ướccũng quy định nếu luật của một quốc gia thành viên nào đó quy định hợp đồng phảiđược kí kết dưới hình thức văn bản mới có giá trị thì quy định này phải được tôntrọng, kể cả trong trường hợp chỉ cần một trong các bên có trụ sở thương mại tạiquốc gia có luật quy định hợp đồng phải được thể hiện dưới hình thức văn bản

Thứ tư, về luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

Hợp đồng là “luật cao nhất” của hai bên (bên mua và bên bán), nếu trong hợpđồng quy định đầy đủ quyền và nghĩa vụ, dự kiến hết các tình huống có thể phátsinh thì không cần bất kỳ luật nào điều chỉnh Tuy nhiên, do nhiều lý do khác nhau,hợp đồng không thể điều chỉnh toàn bộ các mối quan hệ, quyền và nghĩa vụ giữacác bên, cho bên cần có luật để điều chỉnh những quyền và nghĩa vụ chưa được quyđịnh trong hợp đồng

Luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế có thể là điều ước quốc

tế, luật quốc gia hoặc tập quán thương mại quốc tế Xuất phát từ quyền tự do ý chítrong quan hệ hợp đồng, các bên kí kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế có thểchọn hệ thống pháp luật để điều chỉnh hợp đồng của mình Tất nhiên việc chọn luậtphải thỏa mãn các điều kiện chọn luật, và trong một số trường hợp quyền chọn luật

bị hạn chế bởi quy định của pháp luật quốc gia khi nó liên quan đến các vấn đềchẳng hạn như bảo lưu trật tự công cộng… Trong trường hợp các bên không chọn

Trang 23

luật áp dụng cho hợp đồng thì các quy tắc của tư pháp quốc tế được áp dụng đểchọn ra hệ thống pháp luật điều chỉnh hợp đồng khi cần thiết.

1.2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ GIAO KẾT VÀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ

1.2.1 Giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

1.2.1.1 Khái niệm về giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

Giao kết hợp đồng được hiểu là các bên bày tỏ với nhau ý chí về việc xác lập,thay đổi hay chấm dứt các quyền và nghĩa vụ trong hợp đồng trên cơ sở tuân theonguyên tắc do pháp luật quy định Hình thức giao kết hợp đồng dân sự có thể bằnglời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể Trong trường hợp pháp luật có quyđịnh bắt buộc thì các bên giao kết phải tuân theo một hình thức nhất định theo quyđịnh của pháp luật và nội dung chủ yếu của giao kết hợp đồng do pháp luật quyđịnh Việc thiện chí, hợp tác, trung thực, ngay thẳng là những đòi hỏi không thểthiếu trong giao kết, thực hiện những hợp đồng vì khi thiếu đi một dấu hiệu, mộtyếu tố nào đó, thi quan hệ hợp đồng sẽ bị đặt vào tình trạng khập khiễng

Theo điều 2.1.2 UNIDROIT, “một đề nghị được coi là đề nghị giao kết hợp đồng nếu nó đủ rõ ràng và thể hiện ý chí của bên đưa ra đề nghị ràng buộc khi đề nghị giao kết được chấp nhận” 12

1.2.1.2 Một số vấn đề cơ bản về giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

Thứ nhất, về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

Công ước Viên không quy định điều kiện hiệu lực của hợp đồng, cũng nhưLuật Thương mại Việt Nam 2005 Việc xác định điều kiện hiệu lực của hợp đồng sẽdựa trên cơ sở khái niệm, đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế cũngnhư các quy định theo điều 117 Bộ luật Dân sự 2015 về điều kiện có hiệu lực củagiao dịch dân sự và các văn bản khác có liên quan để làm căn cứ Theo đó, hợpđồng mua bán hàng hóa sẽ có hiệu lực khi đáp ứng đủ các điều kiện sau đây:

12 Điều 2.1.2 Unidroit

Trang 24

- Thứ nhất, các chủ thể tham gia hợp đồng mua bán phải có năng lực chủ thể

để thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng Trong thực tiễn hoạt động mua bán, chủ thểtham gia hợp đồng mua bán chủ yếu là các thương nhân Khi tham gia hợp đồngmua bán nhằm mục đích lợi nhuận, các thương nhân phải đáp ứng điều kiện có đăng

ký kinh doanh hợp pháp đối với hàng hoá được mua bán Đại diện của các bên giaokết hợp đồng mua bán phải đúng thẩm quyền Đại diện hợp pháp của chủ thể hợpđồng có thể là đại diện theo pháp luật hoặc đại diện theo ủy quyền

- Thứ hai, các chủ thể tham gia hợp đồng hoàn toàn dựa trên tinh thần tựnguyện Việc giao kết hợp đồng nói chung và hợp đồng mua bán nói riêng cần phảituân theo các nguyên tắc: tự do giao kết nhưng không trái pháp luật và đạo đức xãhội, tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác, trung thực và ngay thẳng Những hành

vi cưỡng ép, đe dọa, lừa dối để giao kết hợp đồng là nguyên nhân dẫn đến hợp đồng mua bán không có hiệu lực

- Thứ ba, mục đích và nội dung của hợp đồng mua bán không vi phạm điềucấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội Hàng hoá là đối tượng của hợpđồng không bị cấm kinh doanh theo quy định của pháp luật

Ngoài ra, hình thức hợp đồng phù hợp với các quy định của pháp luật Để hợpđồng mua bán có hiệu lực, nội dung hợp đồng phải xác lập theo những hình thứcđược pháp luật thừa nhận Hợp đồng mua bán hàng hoá có thể được thể hiện bằnglời nói, bằng văn bản hoặc hành vi cụ thể Đối với các loại hợp đồng mua bán hànghoá mà pháp luật quy định phải được lập thành văn bản thì phải tuân theo các quyđịnh đó

Thứ hai, về trình tự giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

Trình tự giao kết hợp đồng dân sự là một quá trình mà trong đó các bên chủthể bày tỏ ý chí với nhau bằng cách trao đổi ý kiến rồi đi đến thỏa thuận trong việccùng nhau xác lập các quyền và nghĩa vụ dân sự đối với nhau, xác định từng nộidung cụ thể của hợp đồng Trình tự giao kết hợp đồng được chia làm 2 giai đoạn: đềnghị giao kết hợp đồng và chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng

- Đề nghị giao kết hợp đồng:

Trang 25

Khi một người muốn thiết lập một hợp đồng thì ý muốn đó phải thể hiện rabên ngoài thông qua một hành vi nhất định để đối tác có thể biết được ý muốn của

họ và mới có thể đi đến việc giao kết một hợp đồng Đây là giai đoạn mà một bênbiểu hiện ý chí, muốn bày tỏ cho bên kia ý muốn tham gia giao kết với họ một hợpđồng dân sự Một lời đề nghị được coi là đề nghị giao kết hợp đồng thì phải chứađựng một số yếu tố cơ bản sau:

 Thể hiện rõ được nguyện vọng muốn đi đến giao kết hợp đồng của bên

đề nghị

 Phải có chứa toàn bộ mọi điều kiện cơ bản của hợp đồng

 Yêu cầu về thời hạn trả lời là không bắt buộc

Việc đề nghị giao kết hợp đồng có thể được thực hiện bằng nhiều cách khácnhau: người đề nghị có thể trực tiếp (đối mặt) với người được đề nghị để trao đổi,thỏa thuận hoặc có thể thông qua điện thoại…Ngoài ra, lời đề nghị còn được chuyểngiao bằng công văn, giấy tờ…

- Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng:

Đây là việc bên được đề nghị chấp nhận lời đề nghị và tiến hành việc giao kếthợp đồng với bên đã đề nghị Câu trả lời của bên được đề nghị không phải trongmọi trường hợp đều được coi là chấp nhận giao kết hợp đồng Câu trả lời được coi

là chấp nhận giao kết hợp đồng khi bên được đề nghị chấp nhận toàn bộ và vô điềukiện các nội dung đề nghị mà bên đề nghị đã nêu Nếu câu trả lời của bên được đềnghị không đáp ứng được một trong hai yêu cầu đó thì sẽ được coi là lời đề nghịmới và cần có câu trả lời của bên đề nghị Quá trình này có thể lặp đi lặp lại nhiềulần cho đến khi có được chấp nhận giao kết hợp đồng đúng yêu cầu thì hợp đồng sẽđược coi là giao kết

Điều 2.1.6 Bộ Nguyên tắc của UNIDROIT có quy định về phương thức chấpnhận đề nghị giao kết hợp đồng như sau:

“1 Chấp nhận giao kết hợp đồng có thể là một tuyên bố hoặc cách xử sự khác của bên được đề nghị cho thấy họ chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng Bản thân

Trang 26

sự im lặng hay bất tác vi không có giá trị như một chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng.

2 Việc chấp nhận một đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu lực khi dấu hiệu của việc chấp nhận giao kết hợp đồng đến bên đề nghị.

3 Tuy nhiên, nếu theo đề nghị giao kết hợp đồng, các thói quen đã được xác lập giữa các bên hoặc theo tập quán, bên được đề nghị có thể chỉ ra là mình đã chấp nhận giao kết hợp đồng bằng việc thực hiện một hành vi mà không cần thông báo cho bên đề nghị biết, việc chấp nhận có hiệu lực khi hành vi đó được hoàn thành.” 13

Thứ ba, về các điều khoản cần lưu ý khi giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

Nội dung của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là sự thể hiện thỏa thuậnbiểu hiện ý chí tự nguyện của các chủ thể, nhằm ấn định các quyền và nghĩa vụ cụthể của các bên đối với nhau được ghi nhận tại các điều khoản trong hợp đồng màcác bên kí kết

Tuy nhiên, không phải bất cứ nội dung nào do các bên thỏa thuận đưa vào hợpđồng cũng được coi là hợp pháp Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế chỉ hợp pháp

về mặt nội dung khi nó chứa đựng những những điều khoản phù hợp với quy địnhcủa pháp luật Trên cơ sở các điều khoản mà các bên tham gia kí kết hợp đồng muabán hàng hóa quốc tế thỏa thuận trong hợp đồng sẽ cho phép xác định quyền vànghĩa vụ của mỗi bên Tuy nhiên trong các quy định pháp lí quốc tế cũng như phápluật của một số quốc gia (trong đó có Việt Nam) không hề có quy định nào ràngbuộc các điều khoản tối thiểu phải có trong hợp đồng

Trước đây, theo quy định của Luật Thương mại Việt Nam năm 1997, hợpđồng mua bán hàng hóa quốc tế phải có các điều khoản về tên hàng; số lượng; quycách chất lượng; giá cả; phương thức thanh toán; địa điểm và thời hạn giao nhậnhàng14 Tuy nhiên, hiện nay , theo quy định của Luật Thương mại năm 2005, không

13 Điều 2.1.6 UNIDROIT

14 Xem các điều 50 và 81 Luật Thương Mại 1997.

Trang 27

có quy định về các điều khoản tối thiểu phải có trong hợp đồng mua bán hàng hóaquốc tế Công ước Viên 1980 không có quy định nào về các điều khoản tối thiểu củahợp đồng Dù vậy, theo quy định tại điều 14 của Công ước Viên 1980, có thể ngầmhiểu các điều khoản cơ bản phải có trong hợp đồng là: tên hàng; số lượng, và giá cả.Ngay cả khi không có quy định, tuy nhiên từ thực tiễn kí kết và thực hiện cáchợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và cũng để tránh các tranh chấp có thể phátsinh, thiết nghĩ rằng, khi các bên kí kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế cầnthiết phải thỏa thuận và ghi nhận trong hợp đồng các điều khoản cơ bản và quantrọng, vì đó chính là cơ sở pháp lí để ràng buộc quyền và nghĩa vụ của các bên.Các điều khoản đó bao gồm nhưng không chỉ bao gồm: i)Tên hàng hóa(commodity); ii) Số lượng hoặc khối lượng hàng hóa (Quantity); iii) Phẩm chấthàng hóa (Quality); iv) Điều khoản về giá cả; v) Thời hạn giao hàng; vi) Phươngthức giao hàng; vii) Địa điểm giao hàng; viii) Thông báo giao hàng; ix) Điều khoảnthanh toán; x) Điều khoản về bao bì, mã ký hiệu; xi) Điều khoản về trách nhiệm hợpđồng; xii) Điều khoản về bảo hành (Warranty); xiii) Điều khoản về bảo hiểm(Insurance); xiv) Bất khả kháng (Force majeure); xv) Điều khoản về luật áp dụng;xvi) Điều khoản về giải quyết tranh chấp; xvii) Điều khoản về phạt và bồi thường thiệt hại (Penalty)

Thứ tư, về sửa đổi, chấm dứt hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

Trong quá trình thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, các bên cóquyền thỏa thuận với nhau về việc sửa đổi, chấm dứt hợp đồng Hợp đồng mua bánhàng hóa đã được giao kết và có hiệu lực nhưng do điều kiện, hoàn cảnh cụ thể củamỗi bên mà các bên có thể thỏa thuận sửa đổi hợp đồng, trừ trường hợp pháp luật cóquy định khác Khi tiến hành sửa đổi hợp đồng phải giải quyết hậu quả của việc sửađổi đó Nó có thể là chi phí đã bỏ ra để thực hiện một phần công việc trước khi sửađổi mà bên thực hiện không thể thu hồi được, chi phí để chuẩn bị cho việc thực hiệnnghĩa vụ của hợp đồng, mặc dù đã tận dụng, thanh lý chưa đủ bù đắp giá trị ban đầucủa nó, tiền bồi thường thiệt hại đã phải trả do sửa đổi hợp đồng

Trang 28

Ngoài ra, hợp đồng mua bán hàng hóa đã có hiệu lực nhưng khi tiến hành thựchiện nghĩa vụ thì các bên mới nhận thức được rằng họ cần phải chấm dứt hợp đồng

vì việc tiếp tục thực hiện hợp đồng không mang lại lợi ích hợp lý cho một bên hoặc

cả hai bên như họ kỳ vọng khi giao kết hợp đồng

Như vậy, có thể nói rằng, trong thực tiễn kinh doanh, việc các bên gặp gỡ trựctiếp để tiến hành đàm phán và kí hợp đồng, không phải lúc nào cũng thực hiệnđược Để kí kết một hợp đồng hoặc thực hiện một thương vụ, các bên tham giathường chỉ trao đổi rất nhanh thông tin dưới hình thức văn bản (đơn chào hàng, đơnđặt hàng, hợp đồng, tài liệu kỉ thuật…) qua Telex, Fax, thư tín, hoặc thậm chí cótrường hợp không có văn bản đầy đủ

Nếu mọi việc diễn ra suôn sẻ thì không có vấn đề gì đáng nêu ra, tuy nhiên nếu

có bất cứ một khó khăn nào phát sinh thì những thiếu sót, lỗi lầm hoặc sơ hở dù nhỏmấy cũng có hậu quả nghiêm trọng khó lường Chính vì vậy trước khi tiến hành kíkết bất kì hợp đồng nào, việc soạn thảo chặt chẻ các văn bản hoặc hợp đồng muabán, phụ lục kèm theo như tài liệu kĩ thuật hay miêu tả về hàng hóa…phải được đặcbiệt coi trọng Mọi chi tiết chưa rõ ràng cần được làm sáng tỏ ngay để tránh nhữngthiệt hại đáng tiếc không nên có

1.2.2 Vấn đề thực hiện hợp đồng

1.2.2.1 Khái niệm về thực hiện hợp đồng

Bản thân hợp đồng không phải là luật pháp, nhưng hợp đồng được thành lậptheo luật pháp thì nó sẽ phát sinh hiệu lực pháp lý giữa các bên đương sự Miễn saocho hợp đồng được hợp pháp và có hiệu lực, nó ắt sẽ có sức ràng buộc giữa các bênđương sự Do đó, thực hiện hợp đồng một cách chính xác là điều rất quan trọng đốivới các bên đương sự, nếu không sẽ dẫn đến hành động vi phạm hợp đồng và người

vi phạm sẽ phải gánh chi u trách nhiệm pháp lý

Hiện tại, pháp luật Việt Nam không có định nghĩa về thực hiện hợp đồngnhưng có thể xem xét về khái niệm này một cách gián tiếp thông qua suy luận

Khoản 12 Điều 3, Luật Thương mại năm 2005 định nghĩa “Vi phạm hợp đồng là

Trang 29

việc một bên không thực hiện, thực hiện không đầy đủ hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ theo thoả thuận giữa các bên hoặc theo quy định của Luật này”15.

Do đó, có thể mặc nhiên hiểu rằng thực hiện hợp đồng là việc các bên phảithực hiện đúng và đầy đủ những nghĩa vụ được cam kết trong hợp đồng (contractualobligations) để từ đó làm cho bên kia được hưởng quyền lợi trong hợp đồng(contractual rights) Nếu một bên không thể thực hiện toàn bộ hoặc một phần nghĩa

vụ hợp đồng của mình, tất nhiên sẽ làm tổn hại quyền lợi của đương sự bên kia Nếuxảy ra tình trạng như thế thì luật pháp gọi là vi phạm hợp đồng Miễn là hợp đồngnày hợp pháp và có hiệu lực, phía bị thiệt hại sẽ tùy theo mỗi tình huống mà đòi hỏibên kia phải tôn trọng quyền lợi của mình

Do đó, thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là một đòi hỏi pháp lýbắt buộc mà các bên phải tuân thủ

1.2.2.2 Một số vấn đề cần lưu ý khi thực hiện hợp đồng

a) Các nguyên tắc thực hiện hợp đồng

Hợp đồng được giao kết hợp pháp trở thành “luật” đối với các bên, làm phátsinh các nghĩa vụ cụ thể cho mỗi bên và họ phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ đóthì mới Trên thực tế, hợp đồng không được thực hiện không những ảnh hưởng đếnquyền lợi của các bên trong hợp đồng mà còn gây ra những hậu quả xấu trong quan

hệ giữa các quốc gia hữu quan Có thể thấy rằng, việc thỏa thuận và ký kết hợpđồng mới chỉ là công việc khởi đầu còn thực hiện hợp đồng mới là giai đoạn quantrọng, then chốt đem lại quyền lợi hợp pháp cho các bên trên thực tế

Cũng chính vì vậy mà pháp luật đã quy định các nguyên tắc thực hiện hợpđồng như sau:

- Nguyên tắc thực hiện đúng đối tượng của hợp đồng;

- Nguyên tắc thực hiện hợp đồng một cách trung thực, thiện chí theo tinh thần hợp tác và cùng có lợi nhất cho các bên, bảo đảm tin cậy lẫn nhau;

15 Khoản 12 Điều 3 Luật Thương Mại 2005

Trang 30

- Nguyên tắc thực hiện hợp đồng không vi phạm pháp luật, không xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác.

b) Thực hiện quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng

Những điều khoản về quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng mua bánhàng hóa quốc tế được quy định từ Điều 34 đến Điều 62 LTM 2005 và từ Điều 30đến Điều 65 trong Công ước Viên 1980 Nhìn chung, các quy định về quyền vànghĩa cụ các bên trong luật VN và Công ước Viên 1980 có nội dung tương tự nhau

Thứ nhất, đối với bên bán

Theo quy định của Công ước Viên năm 1980 hay theo pháp luật Việt Nam,trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế bên bán có hai nghĩa vụ cơ bản cần thựchiện tốt trong quá trình thực hiện hợp đồng:

Theo quy định của Luật Thương mại năm 2005, bên bán phải giao hàng,chứng từ theo thỏa thuận trong hợp đồng về số lượng, chất lượng, cách thức đónggói, bảo quản và các quy định khác trong hợp đồng Trường hợp không có thoảthuận cụ thể, bên bán có nghĩa vụ giao hàng và chứng từ liên quan theo quy địnhcủa pháp luật Người bán phải đảm bảo: i) Giao hàng đúng địa điểm; ii) Giao hàngđúng thời hạn; iii) Giao hàng đúng đối tượng và chất lượng; iv) Giao chứng từ kèmtheo hàng hóa:

Trang 31

Ngoài ra, các bên khi giao hàng, cũng có thể tiến hành kiểm tra hàng hóa Việckiểm tra hàng hoá trước khi giao hàng là yêu cầu cần thiết đối với giao dịch muabán trong thương mại, ngăn ngừa những sai sót trong việc giao hàng, tăng khả năngthực hiện hiệu quả việc mua bán Bên bán phải kiểm tra hàng hoá trước khi giaohàng nếu các bên không có thoả thuận khác.

Về đảm bảo quyền sở hữu đối với hàng hoá mua bán:

Bên bán phải đảm bảo quyền sở hữu đối với hàng hoá giao cho bên mua Bênbán phải đảm bảo tính hợp pháp về quyền sở hữu và việc chuyển giao quyền sở hữuđối với hàng hoá giao cho bên mua; đảm bảo quyền sở hữu của bên mua đối vớihàng hoá đã bán không bị tranh chấp bởi bên thứ 3 Trường hợp hàng hoá bị ngườithứ 3 tranh chấp thì bên bán phải đứng về phía bên mua để bảo vệ quyền lợi của bênmua đề bên mua không bị bên thứ ba tranh chấp, cũng như bảo đảm hàng không bịràng buộc bởi bất kì quyền hạn nào của người thứ ba trên cơ sở sở hữu công nghiệphoặc sở hữu trí tuệ khác.; nếu người thứ 3 có quyền sở hữu 1 phần hoặc toàn bộ tàisản mua bán thì bên mua có quyền hủy bỏ hợp đồng và yêu cầu bên bán bồi thườngthiệt hại

Về chuyển giao các giấy tờ liên quan đến hàng hóa và quyền sở hữu hàng hóa:

Theo quy định tại điều 34 Công ước Viên 1980 thì bên bán có nghĩa vụ giaogiấy tờ liên quan đến hàng hóa cho người mua đúng thời gian và thời điểm đã quyđịnh trong hợp đồng Tuy nhiên bên bán có thể giao giấy tờ liên quan đến hàng hóatrước thời gian quy định nếu việc giao giấy tờ đó không bất tiện hoặc chi phí chongười mua; trong trường hợp người bán giao giấy tờ cho người mua đã gây thiệt hạicho người mua thì người bán phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại

Về nghĩa vụ bảo hành hàng hóa

Trong trường hợp hàng hoá mua bán có bảo hành thì bên bán phải chịu tráchnhiệm bảo hành hàng hoá đó theo nội dung và thời hạn đã thỏa thuận Bên bán phảithực hiện nghĩa vụ bảo hành trong thời gian ngắn nhất mà hoàn cảnh thực tế chophép Bên bán phải chịu các chi phí về việc bảo hành, trừ trường hợp có thoả thuậnkhác

Trang 32

Thứ hai, đối với bên mua

Người mua có một số nghĩa vụ cơ bản là:

Về nhận hàng:

Theo quy định tại điều 50 Công ước Viên 1980 thì nghĩa vụ nhận hàng củabên mua được thể hiện ở hai hành vi, bao gồm: sẵn sàng tiếp nhận hàng và tiếp nhậnhàng Để thực hiện được việc sẵn sàng tiếp nhận hàng, người mua phải tiến hànhchuẩn bị mọi cơ sở vật chất như phương tiện bốc dỡ, kho bãi… nhằm tạo điều kiệnthuận lợi cho việc nhận hàng

Việc người mua phải thực hiện hành vi sẵn sàng tiếp nhận hàng không nhữngthể hiện sự tận tâm mẫn cán của người mua đối với nghĩa vụ của mình mà còn tạođiều kiện thuận lợi cho người bán thực hiện việc giao hàng của mình Khi bên bánđưa hàng đến địa điểm quy định và đặt hàng dưới sự định đoạt của người mua thìngười mua phải thực hiện nghĩa vụ của mình là tiếp nhận hàng

Về thanh toán:

Khi thanh toán, người mua phải đảm bảo thực hiện tốt một số nghĩa vụ củamình như:

- Nghĩa vụ thanh toán theo đúng giá cả của hàng hóa:

Theo quy định tại điều 55 Công ước Viên 1980 thì: người mua có nghĩa vụthanh toán tiền hàng cho người bán theo giá cả mà các bên đã thỏa thuận ghi tronghợp đồng Nếu hợp đồng không quy định cụ thể về giá của hàng hóa thì giá củahàng hóa sẽ được xác định bằng cách suy đoán rằng các bên đã dựa vào giá đã được

ấn định cho mặt hàng như vậy khi nó được đem bán trong những điều kiện tương tựcủa ngành thương mại tương tự

Vấn đề cũng được quy định tương tự tại khoản 1 điều 5.1.7 của Bộ nguyên tắc

UNIDROIT 2004, theo đó: “khi hợp đồng không ấn định giá hoặc không đưa ra phương thức xác định giá, các bên trong hợp đồng được coi như, trừ chỉ dẫn ngược lại, đã hướng tới mức giá thông thường được áp dụng vào thời điểm giao kết hợp đồng tại cùng ngành hàng, cho cùng công việc thực hiện trong hoàn cảnh tương tự,

Trang 33

hoặc nếu không có mức giá này thì hướng tới mức giá hợp lý”16 Tuy nhiên Bộ

nguyên tắc UNIDROIT 2004 thực sự đã đi xa hơn Công ước Viên 1980 khi quy

định rằng: “khi mức giá do một bên ấn định rõ ràng là phi lí thì một mức giá hợp lí

sẽ thay thế, dù cho hợp đồng có quy định ngược lại17”

- Nghĩa vụ thanh toán đúng địa điểm quy định:

Theo quy định tại điều 57 Công ước Viên 1980 thì người mua có nghĩa vụthanh toán tiền hàng theo đúng địa điểm đã thỏa thuận trong hợp đồng, nếu hợpđồng không quy định cụ thể về địa điểm thanh toán thì người mua có nghĩa vụthanh toán tiền hàng cho người bán tại trụ sở của người bán hoặc tại nơi giao hàng,hoặc tại nơi giao chứng từ nếu việc trả tiền phải được làm cùng lúc với việc giaohàng hoặc giao chứng từ

- Nghĩa vụ thanh toán đúng thời hạn:

Theo quy định tại điều 58 Công ước Viên 1980 thì bên mua phải thanh toántiền hàng theo đúng thời gian quy định trong hợp đồng Nếu hợp đồng không quyđịnh cụ thể về thời gian giao hàng thì người mua phải có nghĩa vụ thanh toán tiềnhàng khi người bán chuyển giao hàng hoặc các giấy tờ liên quan đến hàng hóa theoquy định của hợp đồng Nếu hợp đồng có quy định về việc vận chuyển hàng thìngười bán có thể gửi hàng đi và với điều kiện là hàng hoặc giấy tờ liên quan đếnhàng hóa chưa giao cho người mua nếu người mua chưa thanh toán tiền

Như vậy trong trường hợp này người mua có nghĩa vụ thanh toán trong thờigian hợp lí để nhận được hàng Nói chung về nghĩa vụ thanh toán của người mua thì

Bộ nguyên tắc UNIDROIT 2004 có nhiều quy định cụ thể, ngoài các quy địnhtương tự như Công ước Viên 1980, Bộ nguyên tắc còn quy định thêm các vấn đềnhư: công cụ thanh toán, đồng tiền thanh toán, khấu trừ từ các khoản thanh toán,đây thật sự là những quy định rất quan trọng vì thực tiễn thanh toán quốc tế là mộtvấn đề khá rắc rối, tuy nhiên do không nằm trong phạm vi nghiên cứu của đề tài nêntác giả sẽ không đi sâu vào phân tích vấn đề này

16 Khoản 1 Điều 5.1.7 Unidroit

17 Khoản 2 Điều 5.1.7 Unidroit

Trang 34

c) Vi phạm hợp đồng và chế tài khi vi phạm hợp đồng

Trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng là hậu quả pháp lý bất lợi mà bên

vi phạm hợp đồng phải gánh chịu khi có hành vi vi phạm hợp đồng đã cam kết

Theo Khoản 12 và 13 Điều 3 Luật Thương mại năm 2005: “Vi phạm hợp đồng là việc một bên không thực hiện, thực hiện không đầy đủ hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ theo thỏa thuận giữa các hoặc theo quy định của luật này” 18 Vi phạm hợp đồng bao gồm vi phạm cơ bản và vi phạm không cơ bản “Vi phạm cơ bản là

sự vi phạm hợp đồng của một bên gây thiệt hại cho bên kia đến mức làm cho bên kia không đạt được mục đích của việc giao kết hợp đồng”19 Việc áp dụng các chế tài là cần thiết bởi lẽ nó không chỉ tạo ra sự công bằng cho các bên mà còn có tính

răn đe, giúp các chủ thể có ý thức tuân thủ pháp luật hơn Các hình thức chế tàithương mại theo quy định tại Điều 292 Luật Thương Mại Việt Nam 2005 bao gồm:

- Buộc thực hiện đúng hợp đồng

Khi một bên trong hợp đồng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủnghĩa vụ quy định trong hợp đồng thì bên có quyền lợi bị vi phạm có quyền yêu cầubên vi phạm thực hiện đúng hợp đồng hoặc áp dụng biện pháp khác để hợp đồngđược thực hiện và bên vi phạm phải chịu phí tổn phát sinh (Điều 297 Luật ThươngMại 2005) Bên vi phạm có thể gia hạn một thời gian hợp lý để bên vi phạm thựchiện nghĩa vụ hợp đồng

- Phạt vi phạm

Đối với vấn đề phạt vi phạm hợp đồng, Công ước Viên 1980 không có quyđịnh gì về vấn đề này Vì vậy, hiện nay có rất nhiều quan điểm khác nhau về chế tàinày giữa các nước theo hệ thống luật Civil Law và các nước theo hệ thống luậtCommon Law LTM năm 2005 có quy định khá rõ ràng về chế tài này tại Điều 300

và Điều 301, theo đó, “phạt vi phạm là việc bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm trả một khoản tiền phạt do vi phạm hợp đồng nếu trong hợp đồng có thoả thuận, trừ các trường hợp miễn trách nhiệm quy định tại Điều 294 của Luật này”20

18 Khoản 12 điều 3 Luật Thương Mại 2005

19 Khoản 13 điều 3 Luật Thương Mại 2005

20 Điều 300 Luật Thương Mại 2005

Trang 35

Như vậy phạt vi phạm chỉ xảy ra nếu có thỏa thuận về vấn đề này trong hợp

đồng Kèm theo đó, “mức phạt đối với vi phạm nghĩa vụ hợp đồng hoặc tổng mức phạt đối với nhiều vi phạm do các bên thoả thuận trong hợp đồng, nhưng không quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm, trừ trường hợp quy định tại Điều 266 của Luật này” 21

- Buộc bồi thường thiệt hại

Các căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại bao gồm: i) Có hành vi

vi phạm hợp đồng; ii) Có thiệt hại thực tế; iii) Mối quan hệ trực tiếp giữa hành vi vi phạm hợp đồng của một bên và thiệt hại vật chất của bên kia

Bên yêu cầu bồi thường thiệt hại phải chứng minh tổn thất, mức độ tổn thất dohành vi vi phạm gây ra và khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ đượchưởng nếu không có hành vi vi phạm Bên bị vi phạm có quyền áp dụng cả chế tàibuộc bồi thường thiệt hại và chế tài phạt vi phạm nếu các bên có thỏa thuận trước

đó về phạt vi phạm

Về nguyên tắc hạn chế tổn thất, cả Công ước Viên 1980 và luật của VN đều cóquy định tại Điều 77 Công ước Viên 1980 và Điều 305 LTM 2005 Trong đó, cả haiđều thống nhất rằng bên yêu cầu bồi thường thiệt hại phải áp dụng các biện pháphợp lý để ngăn chặn các tổn thất do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra Nếu họ khônglàm như vậy thì bên vi phạm có thể yêu cầu giảm bớt tiền bồi thường thiệt hại

21 Điều 301 Luật Thương Mại 2005

Trang 36

- Đình chỉ thực hiện hợp đồng

Là một chế tài mới quy định tại LTM, “đình chỉ thực hiện hợp đồng là việc một bên chấm dứt thực hiện nghĩa vụ hợp đồng thuộc một trong các trường hợp sau:

- Xảy ra hành vi vi phạm mà các bên đã thỏa thuận là điều kiện để đình chỉ hợp đồng;

- Một bên vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng” 22

Trong trường hợp một hợp đồng bị đình chỉ thực hiện thì hợp đồng chấm dứt

từ thời điểm một bên nhận được thông báo đình chỉ Các bên không phải tiếp tụcthực hiện nghĩa vụ hợp đồng nữa Bên đã thực hiện nghĩa vụ có quyền yêu cầu bênkia thanh toán hoặc thực hiện nghĩa vụ đối ứng Bên bị vi phạm vẫn có quyền yêucầu bồi thường thiệt hại theo quy định của LTM

- Hủy bỏ hợp đồng

Khi có hành vi vi phạm hợp đồng, người mua hoặc người bán có quyền ápdụng chế tài nào phụ thuộc vào từng trường hợp cụ thể và các quy tắc của Công ướcViên Tất nhiên, khi đã sử dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng thì các bên sẽkhông được dùng chế tài huỷ hợp đồng, nhưng quyền yêu cầu thực hiện đúng hợpđồng hoặc huỷ hợp đồng sẽ không loại trừ quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại.Trong các chế tài nói trên, vi phạm cơ bản hợp đồng là căn cứ quan trọng đểbên bị vi phạm áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng bằng cách yêu cầugiao hàng thay thế hoặc áp dụng chế tài hủy hợp đồng Vì hậu quả của hủy hợpđồng là giải phóng các bên khỏi những nghĩa vụ của họ theo hợp đồng, nên Côngước đã đặt ra giới hạn cho chế tài có hậu quả pháp lý nặng nhất này bằng cách chỉ

áp dụng hủy hợp đồng chỉ khi không thực hiện nghĩa vụ hợp đồng cấu thành viphạm cơ bản, và nới rộng quyền của người bán được “khắc phục” hàng hóa đã giao

có khiếm khuyết

22 Điều 310 Luật Thương Mại 2005

Trang 37

Hủy hợp đồng là hệ quả pháp lý nặng nhất mà bên vi phạm phải gánh chịu khi

có vi phạm hợp đồng MBHHQT, thể hiện ở việc hợp đồng sẽ chấm dứt hiệu lực kể

từ thời điểm giao kết

Trang 38

CHƯƠNG 2:

THỰC TRẠNG GIAO KẾT VÀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG TẠI

CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM 2.1 THỰC TRẠNG VỀ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM

Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, nhằm mục tiêu xây dựng một thị trườnghàng hóa (bao gồm hàng hóa hữu hình và vô hình) thống nhất toàn cầu, xóa bỏ mọirào cản thương mại tạo điều kiện dễ dàng cho sự thông thương hàng hóa trên toàncầu tiến tới “không biên giới về hoạt động thương mại giữa các quốc gia”, ViệtNam đã và đang xây dựng đường lối chủ trương, chính sách kinh tế đúng đắn cũngnhư cố gắng hoàn thiện hệ thống pháp luật nhằm thúc đẩy nền kinh tế phát triển, mởrộng hợp tác giao lưu kinh tế với các nước trên thế giới BLDS 2015 và LTM 2005

đã có những điểm mới phù hợp với pháp luật của các nước về hợp đồng thương mạicũng như tập quán mua bán hàng hóa quốc tế, điều này phần nào giúp cho cácthương nhân Việt Nam hoạt động thương mại một cách có hiệu quả

Việc Việt Nam đang trong tiến trình hội nhập kinh tế toàn cầu đòi hỏi cácdoanh nghiệp phải năng động và có vốn hiểu biết pháp luật vững vàng nhằm cóđược ưu thế trong cuộc cạnh tranh khốc liệt của thương trường qua đó đạt hiệu quảcao trong kinh doanh không chỉ đối với thị trường trong nước mà còn phải đứngvững trên thị trường thế giới Tranh chấp trong kinh doanh là không thể tránh khỏi,nhất là đối với cơ chế mở và một nền kinh tế thị trường đang theo xu hướng khu vựchóa, toàn cầu hóa như hiện nay

Tuy nhiên, trong quá trình ký kết và thực hiện hợp đồng thương mại, cácdoanh nghiệp vẫn còn gặp khá nhiều lúng túng đối với chế độ pháp lý về hợp đồngthương mại, do đó thường gặp phải những tổn thất không đáng có dẫn tới sự thuathiệt, tổn thất rất lớn trong kinh doanh và thậm chí là phá sản

Cũng chính vì thế mà xảy ra rất nhiều trường hợp vi phạm hợp đồng mua bánhàng hóa quốc tế và các tranh chấp diễn ra do các bên không thống nhất được nội

Trang 39

dung của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế trong quá thực hiện hợp đồng đã kýkết giữa các bên.

2.1.1 Khảo sát về vấn đề giao kết hợp đồng tại một số doanh nghiệp Việt Nam

Qua rà soát một vài hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế của doanh nghiệpViệt Nam (xem danh sách các hợp đồng tại phụ lục 1) có thể nhận thấy thực trạngchung về việc giao kết hợp đồng hiện nay

Hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam khi ký kết hợp đồng mua bán hàng hóaquốc tế vẫn vướng mắc nhiều vấn đề dẫn tới việc ký kết có những điều khoản không

có lợi cho bên Việt Nam Về tình hình chung, đa số các hợp đồng ký kết doanhnghiệp Việt Nam thường đứng trên phương diện bên mua hàng phản ánh đúng tìnhhình xu thế phát triển của Việt Nam tại thời điểm các hợp đồng khảo sát được kýkết, đang là quốc gia nhập siêu

Kết quả khảo sát cho thấy một số nội dung cơ bản sau:

Về chủ thể, chủ thể tham gia ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

thường là các thương nhân, đó là các công ty có tên địa chỉ, tên người đại diện vàchức danh rõ ràng Tuy nhiên thực trạng chung cho thấy đa số bên mua và bên bánhoặc thiếu hoặc chưa nêu tên của người đại diện theo pháp luật của các công ty kèmtheo chức danh, hoặc một vài trường hợp có nếu tên chức danh nhưng thiếu chữ kýhoặc con dấu, ít nhất đối với phía doanh nghiệp Việt Nam, việc ký tên và đóng dấuphải tuân theo quy định của nhà nước bao gồm chữ ký, con dấu công ty, dấu tên vàchức danh rõ ràng, đồng thời kèm theo giấy ủy quyền nếu cần thiết để xác định rõràng thẩm quyền ký kết hợp đồng của người ký kết đại diện cho doanh nghiệp ViệtNam Đối với doanh nghiệp nước ngoài, việc một người giữ chức vụ như C.E.O haySales manager, Area manager, Vice director… liệu có đủ thẩm quyền ký kết haykhông là một việc khó xác định vì liên quan tới pháp luật về doanh nghiệp của quốcgia mà đối tác ký kết

Trang 40

Bảng 1 Danh sách các đối tác của doanh nghiệp Việt Nam

Nguồn: Tổng hợp của tác giả

Qua khảo sát, các doanh nghiệp Việt Nam chọn đối tác có trụ sở tại TrungQuốc chiếm tỷ trọng lớn (25%) Do vị trí địa lý của Việt Nam giáp biên giới vớiTrung Quốc nên việc giao thương giữa 2 quốc gia diễn ra thường xuyên và thuậnlợi, ngoài ra thực tế cho thấy việc giao dịch hàng hóa với đối tác Trung Quốc giá cảhợp lý và số lượng lớn, và không mất nhiều các khoản phí vận chuyển, dịch vụ đikèm theo hàng hóa Các đối tác giao dịch thường xuyên tiếp theo lần lượt ở các vịtrí như: Singapore, Malaysia… Có thể thấy doanh nghiệp Việt Nam cũng đã có lựađối tác giao dịch dựa theo khoảng cách vị trí địa lý và tính toán chi phí kinh doanhhàng hóa để tối đa hóa lợi nhuận của doanh nghiệp

Thứ hai, về các điều khoản của hợp đồng, tên hàng, chủng loại hàng hóa, chất

lượng và số lượng hàng hóa được quy định rất rõ ràng, một số hợp đồng có bảng kêchi tiết các mặt hàng hóa cần giao dịch, qua đó thể hiện doanh nghiệp Việt Nam đãnghiên cứu khá kỹ lưỡng các mặt hàng phù hợp với tiêu chuẩn của Việt Nam và đápứng nhu cầu của doanh nghiệp trong nước

- Phương thức giao hàng khá đa dạng từ đường biển tới đường hàng không, phùhợp điều kiện hoàn cảnh, nhiều hợp đồng cho phép giao hàng từng phần và chuyểnhàng để thích ứng với tính chất của hàng hóa, như Công ty cổ phần kính nổi Chu

Ngày đăng: 01/08/2020, 19:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w