1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Pháp luật về chế độ bảo hiểm thai sản và thực tiễn thực hiện tại thành phố uông bí, tỉnh quảng ninh

96 34 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 0,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

hiểm thai sản là tập hợp các quy định của pháp luật về việc thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cũng như đảm bảo sức khỏe cho người lao động khi phải nghỉ việc trong thời gian mang

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

Họ và tên học viên: NGUYỄN PHI HÙNG

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS NGUYỄN THỊ MƠ

Hà Nội – 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan bản Luận văn này do chính tôi nghiên cứu và thực hiện.Các nội dung nghiên cứu và kết quả, các số liệu nêu trong Luận văn là trung thực cónguồn gốc rõ ràng Nếu phát hiện có bất kỳ sự gian lận nào bản thân tôi xin hoàntoàn chịu trách nhiệm trước Hội đồng cũng như kết quả Luận văn của mình

Hà Nội, ngày 15 tháng 01 năm 2020

Tác giả

Nguyễn Phi Hùng

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tác giả xin trân trọng cảm ơn các thầy cô giáo Trường Đại học NgoạiThương, nhất là các cán bộ, giảng viên khoa sau đại học đã giúp đỡ và tạo điều kiệncho tác giả hoàn thành bản Luận văn này Đặc biệt, tác giả xin gửi lòng biết ơn sâusắc tới cô giáo hướng dẫn, GS.TS Nguyễn Thị Mơ đã tận tình hướng dẫn và cho tácgiả những ý kiến định hướng quý báu giúp tác giả hoàn thành luận văn này

Tác giả xin gửi lời cảm ơn tới BHXH tỉnh Quảng Ninh, BHXH thành phốUông Bí đã tạo điều kiện cho tôi được đi học để nâng cao trình độ, động viên khíchlệ và cung cấp cho tôi những số liệu quý báu để hoàn thiện luận văn này

Tác giả cũng xin trân trọng cảm ơn Bảo hiểm xã hội Việt Nam, Ủy ban nhândân thành phố Uông Bí, Phòng Lao động thương binh và Xã hội, Chi Cục Thống kêthành phố, Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí, Thư viện Trường Đại Học NgoạiThương đã quan tâm giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi hỗ trợ, giúp đỡ tôi trong việcthu thập thông tin, tài liệu trong quá trình thực hiện luận văn

Xin cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã giúp đỡ, chia sẻ khó khăn vàđộng viên tác giả trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu để hoàn thành luận vănnày

Xin trân trọng cảm ơn!

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

DANH MỤC BẢNG vii

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN PHÁP LUẬT VỀ CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM THAI SẢN 6

1.1 Khái niệm, nguyên tắc và bản chất của chế độ bảo hiểm thai sản 6

1.1.1 Khái niệm và vai trò của chế độ bảo hiểm thai sản 6

1.1.2 Các nguyên tắc của chế độ bảo hiểm thai sản 9

1.1.3 Bản chất của chế độ bảo hiểm thai sản 10

1.2 Khái niệm, đặc điểm và nội dung của pháp luật về chế độ bảo hiểm thai sản 11

1.2.1 Khái niệm pháp luật về chế độ bảo hiểm thai sản 11

1.2.2 Đặc điểm của pháp luật về chế độ bảo hiểm thai sản 12

1.2.3 Nội dung của pháp luật về chế độ bảo hiểm thai sản 13

1.3 Nghiên cứu kinh nghiệm của một số nước về chế độ bảo hiểm thai sản và 14 1.3.1 Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới và bài học cho Việt Nam 14 1.3.2 Quy định của Tổ chức Lao động quốc tế về bảo hiểm thai sản và bài học 18

Kết luận chương 1 21

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM THAI SẢN TẠI THÀNH PHỐ UÔNG BÍ, TỈNH QUẢNG NINH 23

2.1 Giới thiệu tình hình kinh tế-xã hội, lao động việc làm tại thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh 23

2.1.1 Tình hình kinh tế - xã hội 23

2.1.2 Tình hình lao động nữ làm việc tại thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh 24

Trang 6

2.2 Thực trạng pháp luật về chế độ bảo hiểm thai sản 26

2.2.1 Về đối tượng hưởng chế độ bảo hiểm thai sản 26

2.2.2 Điều kiện hưởng chế độ bảo hiểm thai sản 27

2.2.3 Thời gian nghỉ được hưởng bảo hiểm thai sản 29

2.2.4 Các mức hưởng chế độ bảo hiểm thai sản 40

2.2.5 Giải quyết tranh chấp về chế độ bảo hiểm thai sản 46

2.3 Thực tiễn thực hiện pháp luật về chế độ bảo hiểm thai sản tại thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh .54

2.3.1 Kết quả đạt được 54

2.3.2 Tồn tại và nguyên nhân 60

Kết luận chương 2 63

3.1 Phương hướng hoàn thiện pháp luật về chế độ bảo hiểm thai sản 66

3.1.1 Hoàn thiện pháp luật về chế độ bảo hiểm thai sản phù hợp với chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về chính sách pháp luật về bảo hiểm xã hội 66

3.1.2 Hoàn thiện pháp luật về chế độ bảo hiểm thai sản phù hợp với pháp luật về bảo hiểm nói chung 67

3.1.3 Hoàn thiện pháp luật về chế độ bảo hiểm thai sản phải dựa trên sự phát triển kinh tế và xã hội của đất nước 67

3.1.4 Hoàn thiện pháp luật về chế độ bảo hiểm thai sản cần có sự tương thích với quy định của Tổ chức lao động quốc tế về bảo hiểm thai sản 68

3.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về chế độ thai sản 69

3.2.1 Sửa đổi, bổ sung Luật Bảo hiểm xã hội về chế độ thai sản 69

3.2.2 Nhóm giải pháp vận dụng kinh nghiệm của các nước 71

3.2.3 Xây dựng, hoàn thiện các hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thực hiện các quy định của Luật BHXH 2014 73

3.2.4 Nâng cao tính đồng bộ và khả thi của hệ thống luật pháp 74

3.3 Kiến nghị tăng cường thực thi đúng pháp luật về chế độ bảo hiểm thai sản tại thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh 74

3.3.1 Kiến nghị đối với Nhà nước 74

Trang 7

3.3.2 Kiến nghị đối với Bảo hiểm xã hội Việt Nam trong việc nâng cao nhận thức cho người dân về BHXH trong đó có chế độ bảo hiểm thai sản 75 3.3.3 Kiến nghị đối với Bảo hiểm xã hội tỉnh Quảng Ninh 76 3.3.4 Kiến nghị đối với tổ chức Công đoàn tỉnh Quảng Ninh trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chức công đoàn đối với việc bảo vệ người lao động đặc biệt là lao động nữ 77 3.3.5 Kiến nghị đối với Bảo hiểm xã hội thành phố Uông bí 77

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 82

Trang 8

Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ

ASXH An sinh xã hội

BHXH Bảo hiểm xã hội

BHTS Bảo hiểm thai sản

BHYT Bảo hiểm y tế

BLLĐ Bộ luật lao động

CĐBHTS Chế độ bảo hiểm thai sản

TNLĐ&BNN Tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp NSNN Ngân sách nhà nước

NSDLĐ Người sử dụng lao động

ILO Tổ chức Lao động quốc tế

WHO Tổ chức Y tế thế giới

Luật BHXH 2014 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1: Điều kiện về thời gian đóng góp tối thiểu trước khi sinh tại 10 nước trên

thế giới 14

Bảng 1.2: Thời gian và mức hưởng trợ cấp thai sản ở một số nước trên thế giới 16

Bảng 2.1 Tình hình lao động nữ làm việc tại TP Uông Bí giai đoạn 2014-2018 25

Bảng 2.3 Lao động nữ hưởng chế độ thai sản (năm 2016 - 2018) 45

Bảng 2.4: Số ngày nghỉ chế độ thai sản tại TP Uông Bí (Từ năm 2014-2018) 57

Bảng 2.5: Số lao động nữ tham gia, hưởng BHXH; số ngày nghỉ chế độ thai sản tại TP Uông Bí (Từ năm 2014-2018) 58

Bảng 2.6: Bảng tình hình nợ đọng BHXH của các tổ chức, doanh nghiệp tham gia BHXH tại thành phố Uông Bí (Từ năm 2016-2018) 62

Trang 10

TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Luận văn thạc sĩ với đề tài “Pháp luật về chế độ bảo hiểm thai sản và thực tiễn thực hiện tại thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh”, thuộc ngành Luật học,

chuyên ngành Luật kinh tế được thực hiện đúng tiến độ nhà trường đã qui định,Luận văn đã đạt được một số kết quả về lý luận và thực tiễn, đồng thời cũng có khảnăng ứng dụng trong thực tiễn, cụ thể:

1 Kết quả đạt được của Luận văn

Về lý luận, Luận văn đã làm rõ được khái niệm, các nguyên tắc, bản chất,đặc điểm, nội dung về chế độ thai sản tại Việt Nam và kinh nghiệm của một số nướctrên thế giới và của tổ chức quốc tế về chế độ thai sản Luận văn cũng đã phân tích

để làm rõ khái niệm pháp luật chế độ thai sản; đặc điểm và nội dung của pháp luật

về chế độ thai sản Đặc biệt, luận văn đã chỉ ra được các nội dung cơ bản của phápluật về chế độ thai sản, trong đó nhấn mạnh về đối tượng, điều kiện, chế độ vàquyền lợi, giải quyết tranh chấp về bảo hiểm thai sản

Về thực tiễn, Luận văn đã đánh giá thực trạng pháp luật về chế độ bảo hiểmthai sản theo 4 vấn đề là: Đối tượng hưởng, điều kiện hưởng, chế độ và quyền lợi,giải quyết tranh chấp về bảo hiểm thai sản Trên cơ sở đó đánh giá thực trạng chế độbảo hiểm thai sản theo quy định tại Luật BHXH năm 2014 và thực tiễn áp dụng tạithành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh kể từ khi ban hành Luật BHXH 2014 cho đếnnay

Trên cơ sở phân tích thực trạng pháp luật về chế độ bảo hiểm thai sản tại ViệtNam nhằm chỉ ra những bất cập và nguyên nhân của những bất cập đó theo 5 vấn đềlà: (1) Điều kiện hưởng chế độ thai sản; (2) Đối tượng hưởng chế độ thai sản; (3)Thời gian hưởng; (4) Mức hưởng chế độ thai sản; (5) Giải quyết tranh chấp về chế

độ bảo hiểm thai sản và thực tế áp dụng pháp luật tại thành phố Uông Bí, tỉnhQuảng Ninh nhằm chỉ ra những điểm tích cực và những khó khăn, hạn chế trongthực thi pháp luật về chế độ bảo hiểm thai sản, luận văn đã xác định rõ Phươnghướng hoàn thiện pháp luật về chế độ bảo hiểm thai sản và đề xuất các giải pháphoàn thiện pháp luật về chế độ thai sản với riêng thành phố Uông Bí, luận văn

Trang 11

đưa ra một số kiến nghị tăng cường thực thi đúng pháp luật về chế độ bảo hiểm thai sản tại thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh trong thời gian tới.

2 Khả năng ứng dụng thực tiễn của Luận văn

- Luận văn là tài liệu tham khảo hữu ích cho các cơ quan, đơn vị, tổ chứctrong quá trình nghiên cứu, xây dựng và hoàn thiện chính sách và pháp luật về chế

độ bảo hiểm thai sản của các tổ chức xã hội Một số phương hướng, giải pháp vàkiến nghị trong luận văn có giá trị tham khảo đối với các cơ quan lập pháp khi sửađổi các quy định của pháp luật về Luật BHXH nói chung và chế độ thai sản nóiriêng

- Luận văn là tài liệu có khả năng nghiên cứu để ứng dụng trong thực tiễnthực hiện chế độ bảo hiểm thai sản nói chung và tại thành phố Uông Bí tỉnh Quảng

- Luận văn này cũng là tài liệu tham khảo cho sinh viên, học viên cao học cónghiên cứu hoặc học tập môn học pháp luật về chế độ bảo hiểm thai sản nói chungvà các môn học khác có liên quan đến bảo hiểm thai sản

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Bảo hiểm xã hội (BHXH) ở Việt Nam là một trong những chính sách quantrọng của Đảng và Nhà nước đối với NLĐ Lịch sử phát triển ngành BHXH đượcđánh dấu như một bước phát triển mới khi Luật BHXH số 71/2006/QH11 đượcQuốc Hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 29/6/2006 và

có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2007 và Luật BHXH số 58/2014/QH13 đượcQuốc Hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 20/11/2014 và

có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2016 BHXH là chính sách an sinh xã hộiquan trọng trong hệ thống chính sách xã hội được Đảng và Nhà nước đặc biệt quantâm Cải cách chính sách bảo hiểm xã hội đã đặt ra mục tiêu để BHXH thực sự là trụcột chính của hệ thống an sinh xã hội, từng bước mở rộng vững chắc diện bao phủBHXH, hướng tới mục tiêu BHXH toàn dân (Nghị quyết số 28-NQ/TW của BanChấp hành Trung ương khóa XII, 2018) Trong những điều kiện khác nhau của đấtnước, chính sách BHXH cũng có sự thay đổi góp phần to lớn đảm bảo cuộc sốngcho người tham gia khi họ bị mất hoặc gặp phải rủi ro trong cuộc sống

Việc chiếm hơn 50% tỷ lệ dân số của đất nước, phụ nữ là nguồn nhân lựcquan trọng trên mọi lĩnh vực của đời sống về chính trị, kinh tế và xã hội Ngoàiđóng góp cho xã hội, phụ nữ còn phải đảm đương công việc gia đình với thiên chứclà người vợ, người mẹ Bởi vậy, ngay từ khi thành lập nước Việt Nam Dân ChủCộng Hòa, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến lao động nữ bằng việc đưa rachế độ bảo hiểm thai sản Ngay từ năm 1995, khi BHXH Việt Nam được thành lậpvà đi vào hoạt động thì chế độ trợ cấp thai sản là một trong số ít chế độ được triểnkhai thực hiện ngay Chế độ thai sản đã góp phần giảm bớt những gánh nặng cholao động nữ trong xã hội

Chế độ bảo hiểm thai sản có vị trí quan trọng trong hệ thống chính sáchBHXH và là một chế độ không thể thiếu đối với người lao động bởi tính nhân văn,nhân đạo sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta Trong những năm qua, chế độ bảo hiểmthai sản đã bảo vệ cho hàng vạn lao động nữ Tuy nhiên, với sự phát triển của nềnkinh tế thị trường cũng như sự phát triển và tiến bộ xã hội thì hiện tại chế độ thaisản cũng còn một số điểm chưa phù hợp Sự chưa phù hợp này còn có nguyên nhânlà do những bất cập trong qui định của pháp luật Do đó, việc nghiên cứu để chỉ ra

Trang 13

những bất cập để từ đó đưa ra giải pháp cho việc áp dụng đúng pháp luật là rất quantrọng.

Với lý do nêu trên tác giả đã chọn đề tài: “Pháp luật về chế độ bảo hiểm thai sản và thực tiễn thực hiện tại thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh” làm đề

tài nghiên cứu cho luận văn cao học của mình

2 Tình hình nghiên cứu

Tính đến thời điểm này, đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học, một sốluận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ luật học đã nghiên cứu về chế độ bảo hiểm thai sản,

cụ thể:

Luận văn “ Pháp luật về lao động nữ - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”

(Đại học Luật Hà Nội, 2001) của tác giả Lý Thị Thúy Hoa đã nghiên cứu một số

vấn đề lý luận và thực tiễn về lao động nữ nhưng chưa nghiên cứu về chế độ bảo

hiểm thai sản Luận văn “Chế độ bảo hiểm thai sản ở Việt Nam” (Khoa Luật – Đại

học Quốc gia Hà Nội) của tác giả Đặng Thị Thơm (năm 2007) đã phân tích một sốvấn đề lý luận và thực tiễn về chế độ thai sản ở Việt Nam Tuy nhiên, với việc banhành Luật BHXH 2014 nhiều qui định về chế độ thai sản đã thay đổi Luận văn

“Bảo vệ quyền lợi lao động nữ trong pháp luật lao động Việt Nam” (Khoa Luật –

Đại học Quốc gia Hà Nội) của tác giả Bùi Quang Hiệp (năm 2007) Luận văn

“Pháp luật về bảo hiểm xã hội đối với lao động nữ ở Việt Nam hiện nay” (Khoa

Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội) năm 2009 của tác giả Nguyễn Thị Lan

Các luận văn nói trên nghiên cứu về bảo hiểm xã hội, bảo vệ lao động nữtrong thời điểm các văn bản pháp luật hiện nay đều đã hết hiệu lực Năm 2012,

Luận văn: “Bảo vệ lao động nữ theo pháp luật lao động Việt Nam” (Đại học Luật

Hà Nội) của tác giả Vũ Thị Thảo nghiên cứu về lao động nữ dưới góc độ bảo vệ củaPLLĐ hiện nay Tuy nhiên, luận văn này cũng chưa đặt trọng tâm nghiên cứu vềchế độ thai sản theo quy định của pháp luật Như vậy, cho đến nay, chưa có đề tàiluận văn thạc sĩ nào nghiên cứu về thực tiễn thực hiện chế độ bảo hiểm thai sản tạithành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh Tuy nhiên, các công trình nói trên là nguồn tưliệu quan trọng để tác giả tham khảo, kế thừa lý luận và phát triển về thực tiễn thựcthi nhằm nâng cao tính thực tiễn của pháp luật về chế độ bảo hiểm thai sản ở nước

ta hiện nay

Trang 14

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu đề tài là trên cơ sở phân tích để làm rõ những vấn đề lýluận liên quan đến pháp luật về chế độ bảo hiểm thai sản ở Việt Nam và phân tíchthực trạng pháp luật cũng như thực tiễn thực thi tại thành phố Uông Bí, tỉnh QuảngNinh, đề tài đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật và tăng cường thực thi đúngpháp luật về chế độ bảo hiểm thai sản tại thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh trongthời gian tới

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích trên, nhiệm vụ đặt ra trong quá trình nghiên cứu là:

- Nghiên cứu các vấn đề lý luận chung về bảo hiểm thai sản gồm làm rõ cáckhái niệm về chế độ thai sản, nguyên tắc về chế độ bảo hiểm thai sản và khái niệm, đặc điểm và nội dung của pháp luật Việt Nam về chế độ bảo hiểm thai sản

- Đánh giá thực trạng pháp luật và phân tích thực tiễn thực thi pháp luật vềchế độ bảo hiểm thai sản tại thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh, chỉ ra kết quả đạtđược, những bất cập và các tồn tại, hạn chế cần khắc phục

- Nghiên cứu kinh nghiệm một số nước về chế độ bảo hiểm thai sản

- Đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về chế độ bảo hiểm thai sản vàkiến nghị tăng cường thực thi pháp luật về chế độ thai sản tại thành phố Uông Bí,tỉnh Quảng Ninh trong thời gian tới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là các nhóm quan hệ hình thành trong lĩnh vực thaisản Đối tượng của c h ế đ ộ t h a i s ả n có tính chất đặc thù chủ yếu là lao động nữtrong độ tuổi sinh đẻ khi khám thai, bị sẩy thai, nạo, hút thai hoặc thai chết lưu,sinh con, nuôi con nuôi sơ sinh hoặc thực hiện các biện pháp tránh thai Thông quaviệc bù đắp một phần chi phí tăng lên trong quá trình thai nghén, sinh con, nuôicon nuôi sơ sinh, thực hiện các biện pháp tránh thai, c h ế đ ộ t h a i

s ả n nhằm mục đích giúp cân bằng về thu nhập, góp phần tạo sự bình ổn về mặtvật chất, bảo vệ sức khoẻ cho lao động nữ nói riêng, NLĐ nói chung Đối tượngnghiên cứu của đề tài còn bao gồm cả quy định của pháp luật một số nước

Trang 15

về bảo hiểm thai sản cũng như thực tiễn thực thi tại thành phố Uông Bí, tỉnh

Quảng Ninh

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung: Phạm vi nghiên cứu giới hạn ở 05 vấn đề là: (i) Đối tượngđược hưởng chế độ bảo hiểm thai sản; (ii) Các điều kiện được hưởng chế độ bảohiểm thai sản; (iii) Thời gian nghỉ hưởng chế độ bảo hiểm thai sản; (iv) Các loại vàmức hưởng chế độ bảo hiểm thai sản; (v) Giải quyết tranh chấp về bảo hiểm thaisản

- Về không gian: Luận văn nghiên cứu chế độ bảo hiểm thai sản của một sốquốc gia có chế độ bảo hiểm thai sản tốt nhất trên thế giới, đặc biệt là tốt hơn ViệtNam

- Về thời gian: Luận văn nghiên cứu thực trạng áp dụng pháp luật về chế độthai sản tại thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh từ 2014, năm Luật BHXH mới banhành cho đến nay Đề xuất giải pháp và kiến nghị từ nay đến 2024

5 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện Luận văn tác giả đã áp dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau đây:

- Phương pháp hệ thống hóa và phương pháp phân tích được áp dụng tạiChương 1 nhằm làm rõ những vấn đề lý luận về chế độ bảo hiểm thai sản và phápluật chế độ bảo hiểm thai sản như khái niệm, đặc điểm và nội dung của pháp luật vềchế độ bảo hiểm thai sản và kinh nghiệm của một số nước về vấn đề này

- Phương pháp thống kê và phương pháp so sánh luật học được áp dụng tạiChương 2 nhằm những chỉ ra ưu điểm và bất cập của pháp luật về chế độ bảo hiểmthai sản tại Việt Nam qua các giai đoạn

- Phương pháp phân tích và phương pháp tổng hợp được áp dụng tại Chương

3 nhằm luận giải cho phương hướng, những giải pháp về hoàn thiện pháp luật vàcác giải pháp tăng cường thực thi đúng pháp luật về chế độ bảo hiểm thai sản tạithành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh

6 Kết cấu của Đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của

đề tài có 3 chương:

Trang 16

Chương 1: Những vấn đề lý luận liên quan đến pháp luật về chế độ bảo hiểmthai sản

Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thực thi pháp luật về chế độ bảohiểm thai sản tại thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh

Chương 3: Phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật và kiến nghị tăngcường áp dụng pháp luật về chế độ bảo hiểm thai sản tại thành phố Uông Bí, tỉnhQuảng Ninh

Trang 17

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN PHÁP LUẬT

VỀ CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM THAI SẢN 1.1 Khái niệm, nguyên tắc và bản chất của chế độ bảo hiểm thai sản

1.1.1 Khái niệm và vai trò của chế độ bảo hiểm thai sản

1.1.1.1 Khái niệm về chế độ bảo hiểm thai sản

Xem xét về yếu tố lịch sử thì BHXH được cho là bắt đầu xuất hiện từ nhữngnăm 50 của thế kỷ 19 – giai đoạn đầu của nền công nghiệp khi nền kinh tế hàng hóaphát triển, mối quan hệ giữa người lao động làm thuê và giới chủ dần trở nên phứctạp Người lao động làm thuê không chỉ cần có sự đảm bảo về mặt thu nhập từ việclàm mà còn cần có một khoản thu nhập nhất định để họ trang trải những nhu cầuthiết yếu khi không may bị ốm đau, tai nạn, mất việc hoặc thai sản Nguồn tài chínhchung hình thành từ sự đóng góp của cả người lao động làm thuê và giới chủ để hỗtrợ cho người lao động khi họ gặp phải các rủi ro trong đời sống chính là cơ sở banđầu hình thành nên bảo hiểm xã hội Sự xuất hiện của bảo hiểm xã hội là một tất yếukhách quan, đã và đang trở thành nhu cầu và quyền lợi quan trọng nhất của ngườilao động Trải qua quá trình hình thành và phát triển, BHX H đã được pháp luậtnhiều quốc gia trên thế giới ghi nhận và trở thành một trong những quyền con ngườimà Đại hội đồng Liên Hợp quốc thừa nhận trong Tuyên ngôn Nhân quyền ngày10/12/1948 “Tất cả mọi người với tư cách là một thành viên của xã hội có quyềnhưởng BHXH, quyền đó được đặt cơ sở trên sự thỏa mãn các quyền về kinh tế, xãhội và văn hóa cần cho nhân cách và tự do phát triển của con người” (Nguyễn VănĐịnh, 2008, tr.30) Tuy nhiên, xoay quanh vấn đề định nghĩa chuẩn mực về BHXH,cho đến thời điểm hiện nay vẫn còn nhiều sự tranh luận do chưa có sự thồng nhất vìcác quan điểm được đưa ra dưới nhiều góc độ khác nhau

Dưới góc độ kinh tế, các nhà kinh tế học cho rằng BHXH là sản phẩm tấtyếu của nền kinh tế hàng hoá Khi trình độ phát triển kinh tế của một quốc gia đạtđến một mức độ nào đó thì hệ thống bảo hiểm xã hội có điều kiện ra đời và pháttriển Ở góc độ này, bảo hiểm xã hội có thể được hiểu là một biện pháp phân phốilại thu nhập của các cá nhân trong xã hội thông qua một quỹ tiền tệ tập trung đónggóp từ các nguồn thu nhập của cá nhân, tổ chức, Nhà nước (Nguyễn Văn Định,

2008, tr.32)

Trang 18

Ở góc độ xã hội, BHXH có thể được hiểu là một chính sách xã hội màtrong đó, các rủi ro về thu nhập của cá nhân tham gia bảo hiểm sẽ được bù đắp hoặcthay thế bằng nguồn kinh phí tài chính có được từ sự đóng góp của các thành viên,nhằm đảm bảo an toàn xã hội (Nguyễn Văn Định, 2008, tr.28)

Ở góc độ khoa học pháp lý, thuật ngữ bảo hiểm xã hội lần đầu tiên đượcchính thức sử dụng như một danh từ pháp lý vào năm 1935, trong Luật Bảo hiểm xãhội năm 1935 của Hoa Kỳ (Nguyễn Văn Định, 2008, tr.29) Trải qua thời giandài sau đó, cùng với sự phát triển mở rộng của nền kinh tế, thuật ngữ bảo hiểm xãhội dần được chấp nhận và sử dụng trong các văn bản pháp luật của các quốc gia vàvăn bản pháp luật quốc tế

Theo ILO thì “Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một

phần thu nhập từ nghề nghiệp do bị mất hoặc giảm khả năng lao động hoặc bị mất việc làm do những rủi ro xã hội thông qua việc hình thành, sử dụng một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia bảo hiểm xã hội, nhằm đóng góp phần đảm bảo an toàn đời sống của người lao động và gia đình họ, đồng thời góp phần đảm bảo an toàn xã hội” (Công ước số 102, 1952) Với cách hiểu này, mục tiêu,

bản chất và chức năng của BHXH đã được thể hiện một cách khá rõ nét và có thểkhái quát bao hàm chung các cách hiểu dưới cả góc độ kinh tế và xã hội

Tại Việt Nam, BHXH được định nghĩa là “sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp

một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội” (Khoản 1 Điều 3 Luật BHXH

2014) Chế độ bảo hiểm xã hội được hiểu là tập hợp những quy định của mỗi quốcgia về bảo hiểm thu nhập, bảo đảm sức khoẻ do những rủi ro xã hội cho người laođộng thông qua một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia bảo hiểm xãhội Tuỳ từng trường hợp đặc thù mà rủi ro đó có thể là do người lao động ốm đau,thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, mất khả năng lao động,…Chế độ bảohiểm xã hội nhằm mục đích từng bước mở rộng và nâng cao việc bảo đảm vật chất,chăm sóc sức khỏe, phục hồi sức khỏe, góp phần ổn định đời sống cho người laođộng và gia đình trong các trường hợp người lao động gặp rủi ro trong đời sống.Là một trong những chế độ của BHXH, trên cơ sở các quan điểm, định nghĩa

về BHXH như trên, có thể đưa ra khái niệm về chế độ BHTS như sau: Chế độ bảo

Trang 19

hiểm thai sản là tập hợp các quy định của pháp luật về việc thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cũng như đảm bảo sức khỏe cho người lao động khi phải nghỉ việc trong thời gian mang thai, sinh con, nuôi con sơ sinh hoặc có các sự kiện thai sản khác trên cơ sở sự đóng góp vào quỹ tài chính chung của người lao động, người sử dụng lao động và sự hỗ trợ của Nhà nước.

Khái niệm về chế độ BHTS này cho thấy rõ hai từ chế độ liên quan đến tậphợp các quy định của pháp luật về bảo hiểm nói chung và BHTS nói riêng Chế độvới ý nghĩa là tập hợp các quy định của pháp luật thường do Nhà nước ban hành vàcác bên có liên quan (như các cơ quan BHXH từ Trung ương đến địa phương, các tổchức xã hội, các cơ quan, đoàn thể, các doanh nghiệp sử dụng lao động và bản thânngười mang thai) phải tuân thủ Về nội dung, chế độ BHTS khác với các chế độBHXH khác (như bảo hiểm hưu trí, bảo hiểm thất nghiệp …) vì đối tượng hưởngchế độ BHTS là người phụ nữ mang thai, sinh con, nuôi con sơ sinh hoặc các sựkiện thai sản khác theo quy định của pháp luật Vì vậy có thể thấy chế độ BHTS cóvai trò đặc biệt trong xã hội vì nó liên quan đến đối tượng là bên yếu thế: Ngườimang thai sinh con, nuôi con hoặc nuôi con sơ sinh

1.1.1.2 Vai trò của chế độ bảo hiểm thai sản

Chế độ BHTS được xây dựng nhằm đảm bảo quyền lợi cho phụ nữ Lý do làbởi vì sự khác biệt về giới tính làm cho lao động nữ có những đặc thù riêng nhất là

về tâm sinh lí và thể lực cho nên cần có các quy định riêng phù hợp bảo đảm quyềnlợi cho phụ nữ trong thời kỳ thai sản BHTS giúp lao động nữ thực hiện tốt khảnăng lao động và thực hiện được chức năng xã hội về giới của mình Đây chính làsự bình đẳng giới xuất phát từ sự khác biệt tự nhiên giữa giới lao động nam và nữ.Trong cơ chế thị trường, nhịp sống và tính chất công việc đòi hỏi cao, có những lúcngười phụ nữ đành phải chấp nhận từ bỏ quyền làm vợ, làm mẹ của mình, đó là sựthiệt hòi về giới không mong muốn Chính BHTS đã khắc phục phần nào khó khăncủa lao động nữ, trả lại cho lao động nữ thiên chức tự nhiên của mình đó là quyềntrở thành người vợ, người mẹ

Chế độ BHTS đảm bảo sức khỏe sinh sản cho lao động nữ, quyền được chămsóc của trẻ sơ sinh Trong thời gian mang thai sẽ có rất nhiều sự biến động về tâm lýcủa mẹ và con Thời kỳ này phát sinh nhu cầu chăm sóc sức khỏe của bà mẹ và thainhi Để thỏa mãn yêu cầu đó, BHTS đã ưu tiên cho lao động nữ được nghỉ làm để

Trang 20

khám thai và vẫn có thu nhập sau khi đứa trẻ ra đời để bảo vệ quyền được chăm sóccủa trẻ sơ sinh Điều này đã phát huy được bản chất tốt đẹp của chế độ BHTS nóichung và ở Việt Nam nói riêng, bởi vì BHTS đặt mục tiêu con người lên trên hết,góp phần quan trọng trong chiến lược chăm sóc sức khỏe của bà mẹ và trẻ em củaĐảng và Nhà nước chuẩn bị những điều kiện tốt đẹp cho thế hệ tương lai đất nước.

Chế độ BHTS góp phần ổn định tinh thần cho lao động nữ trong trường hợpsẩy thai hoặc con chết sau khi sinh tạo điều kiện cho người lao động nghỉ lấy sứckhỏe, cân bằng tinh thần, ổn định tâm sinh lí để chuẩn bị tốt hơn cho công việc mới

Thực hiện tốt chính sách thai sản sẽ góp phần đảm bảo sự ổn định xã hội,đảm bảo thực hiện thắng lợi các chính sách xã hội khác của quốc gia Thực hiện tốtchính sách đối với người nghỉ thai sản sẽ góp phần tạo ra động lực mới để thực hiệncác chính sách kinh tế; khuyến khích người lao động hăng hái sản xuất, nâng caonăng suất và chất lượng lao động Thực tế cho thấy, ở các nước thực hiện tốt chínhsách thai sản đối với người lao động đã tạo ra một cơ sở xã hội bền vững Ngượclại, ở những nước chưa thực hiện tốt chính sách này thì xã hội luôn ở vào trạng tháibất ổn định, người lao động luôn luôn phải đối mặt trước những khó khăn khi phảinghỉ việc mà không có những đảm bảo trong cuộc sống ở phía trước Điều này luôndẫn đến những nguy cơ bất ổn định về chính trị ở các quốc gia này Chính vì vậy,các nước trong đó có Việt Nam luôn chú trọng xây dựng và hoàn thiện chế độBHTS đối với người lao động, nhằm đảm bảo sự ổn định về chính trị và phát triển

xã hội

1.1.2 Các nguyên tắc của chế độ bảo hiểm thai sản

Tại Việt Nam, chế độ BHTS phải tuân theo các nguyên tắc do pháp luật quyđịnh Cụ thể, Điều 5 Luật BHXH năm 2014 quy định về các nguyên tắc chế độ

BHXH: Mức hưởng BHXH được tính trên cơ sở mức đóng, thời gian đóng BHXH

và có chia sẻ giữa những người tham gia BHXH Điều 5 cho thấy ba nguyên tắc cơ

bản điều chỉnh các quan hệ trong chế độ BHXH Đó là nguyên tắc: (1) Mức hưởngBHXH được tính trên cơ sở mức đóng; (2) Mức hưởng BHXH theo thời gian đóngBHXH; (3) Nguyên tắc chia sẻ giữa những người tham gia BHXH

Luật BHXH cũng quy định rõ ràng, mức đóng BHXH bắt buộc được tínhtrên cơ sở tiền lương tháng của người lao động Mức đóng BHXH tự nguyện đượctính trên cơ sở mức thu nhập tháng do người lao động lựa chọn

Trang 21

Người lao động vừa có thời gian đóng BHXH bắt buộc vừa có thời gianđóng BHXH tự nguyện được hưởng chế độ hưu trí và chế độ tử tuất trên cơ sở thờigian đã đóng BHXH Thời gian đóng BHXH đã được tính hưởng BHXH một lần thìkhông tính vào thời gian làm cơ sở tính hưởng các chế độ BHXH.

Quỹ BHXH được quản lý tập trung, thống nhất, công khai, minh bạch; đượcsử dụng đúng mục đích và được hạch toán độc lập theo các quỹ thành phần, cácnhóm đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định và chế độ tiềnlương do người sử dụng lao động quyết định

Việc thực hiện BHXH phải đơn giản, dễ dàng, thuận tiện, bảo đảm kịp thời vàđầy đủ quyền lợi của người tham gia BHXH

Nằm trong chế độ BHXH nói chung, chế độ BHTS phải tuân theo các nguyêntắc chung nêu trên của BHXH Tuy nhiên, do BHTS là chế độ đặc thù nên BHTS cómột nguyên tắc đặc biệt Đó là người hưởng BHTS được quỹ BHXH đóng thay phíbảo hiểm trong thời gian hưởng BHTS

Tại Điều 39 khoản 2 Luật BHXH quy định: “Thời gian nghỉ việc hưởng chế

độ thai sản từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng được tính là thời gian đóng BHXH, người lao động và người sử dụng lao động không phải đóng BHXH”.

Quy định này là sự ưu đãi đặc biệt của Quỹ BHXH dành cho đối tượng hưởngchế độ BHTS Thông thường ở các chế độ BHXH khác (trừ Bảo hiểm hưu trí) trongthời gian hưởng BHXH, người tham gia BHXH vẫn phải đóng phí bình thường.Điều này có thể lý giải do xuất phát từ vai trò quan trọng của vấn đề thai sản, ngườilao động rất cần được sự quan tâm để vượt qua những khó khăn vất vả trong quátrình sinh nở Sự ưu đãi đó thể hiện bản chất của chế độ tốt đẹp xây dựng một xãhội nhân quyền luôn quan tâm đến con người và phù hợp với luật pháp quốc tế

1.1.3 Bản chất của chế độ bảo hiểm thai sản

Trong hệ thống BHXH, chế độ BHTS là được áp dụng chủ yếu là đối với laođộng nữ, đối tượng chủ yếu là lao động nữ trong độ tuổi sinh đẻ khi khám thai, bịsảy thai, nạo, hút thai hoặc thai chết lưu, sinh con, nuôi con nuôi sơ sinh hoặc thựchiện các biện pháp tránh thai

Chế độ BHTS thể hiện trách nhiệm của Nhà nước và của cộng đồng xã hộiđối với thế hệ tương lai, thông qua việc bù đắp một phần chi phí tăng lên trong quátrình thai nghén, sinh con, nuôi con nuôi sơ sinh, thực hiện các biện pháp tránh thai,

Trang 22

đồng thời chế độ BHTS cũng nhằm mục đích trợ giúp, giữ cân bằng thu nhập, gópphần tạo sự bình ổn về mặt vật chất, bảo vệ sức khỏe cho lao động nữ nói riêng vàngười lao động nói chung Nó có vị trí quan trọng đối với người lao động nữ, nhằmđộng viên, khuyến khích và hỗ trợ cho người mẹ khi họ mang thai, sinh đẻ và nuôicon sơ sinh Bên cạnh đó, nó còn thể hiện rõ rệt sự ưu đãi của Nhà nước đối vớingười lao động khi thực hiện chức năng làm mẹ của họ.

Người phụ nữ ngày nay đã tự lao động để đảm bảo cho cuộc sống và cốnghiến cho xã hội Qua đó, họ ngày càng khẳng định được vị trí quan trọng của bảnthân trong xã hội, họ đã có mặt trong hầu hết các ngành nghề và đã thể hiện mộtcách xuất sắc năng lực của mình Khác với nam giới họ còn có nhiệm vụ quan trọnglà tái sản xuất con người, do đó khi mang thai và sinh con là giai đoạn khó khănnhất của họ nên họ cần được sự quan tâm ngược lại từ phía xã hội Đó chính làkhoản tiền trợ cấp phù hợp với công sức mà họ đã đóng góp trong suốt quá trình laođộng

Như vậy, bản chất của chế độ BHTS nói chung và ở Việt Nam nói riêng làmột chế độ mang tính xã hội hoá cao Nó được thực hiện thường xuyên và đều đặn,

kế tiếp từ thế hệ này sang thế hệ khác Nói cách khác, nó diễn ra một cách liên tục

vì sự sống luôn phát triển Vì vậy, nó tạo ra sự ràng buộc và đoàn kết giữa các thếhệ, làm cho mọi người trong xã hội quan tâm và gắn bó với nhau hơn, thể hiện mốiquan tâm sâu sắc giữa người với người

1.2 Khái niệm, đặc điểm và nội dung của pháp luật về chế độ bảo hiểm thai sản

1.2.1 Khái niệm pháp luật về chế độ bảo hiểm thai sản

Pháp luật về chế độ BHTS trước hết cũng là pháp luật Pháp luật, như trongTuyên ngôn của Đảng Cộng Sản do C.Mác và Angghen sáng lập, được hiểu là “Ýchí của giai cấp thống trị được đề lên thành luật, ý chí đó do những điều kiện sinhhoạt vật chất và đời sống xã hội quyết định” (C.Mác, Ph.Angghen 2002, tr.619).Như vậy thì pháp luật về chế độ BHTS cũng là ý chí của giai cấp thống trị được quyđịnh trong các văn bản quy phạm pháp luật nhằm ghi nhận các chế định, các nguyêntắc nền tảng điều chỉnh các quan hệ phát sinh liên quan đến chế độ thai sản Ở mỗinước khác nhau, chế độ thai sản nói chung và pháp luật về chế độ BHTS nói riêngđược quy định không giống nhau Điều này cho thấy cơ sở kinh tế, sự phát triển của

Trang 23

xã hội, trình độ dân trí và mức sống của người dân ảnh hưởng rất lớn đến chế độBHTS và pháp luật về chế độ BHTS Từ đây có thể thấy pháp luật về chế độ BHTSlà hệ thống các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh cácquan hệ phát sinh liên quan đến BHTS.

Cụ thể hơn, có thể hiểu pháp luật về chế độ BHTS của Việt Nam là tập hợpcác quy định của pháp luật do Nhà nước Việt Nam ban hành về việc thay thế hoặc

bù đắp một phần thu nhập cũng như đảm bảo sức khỏe cho người lao động khi phảinghỉ việc trong thời gian mang thai, sinh con, nuôi con sơ sinh hoặc có các sự kiệnthai sản khác trên cơ sở sự đóng góp vào quỹ tài chính chung của người lao động,người sử dụng lao động và sự hỗ trợ của Nhà nước

1.2.2 Đặc điểm của pháp luật về chế độ bảo hiểm thai sản

So với các lĩnh vực pháp luật khác, pháp luật về chế độ BHTS có 3 đặc điểmchủ yếu sau đây:

- Đặc điểm về chủ thể: Theo Luật BHXH hiện hành thì người lao động tham

gia BHXH bắt buộc là đối tượng được hưởng trợ cấp thai sản (được quy định tạiĐiều 2, Điều 30 Luật BHXH 2014) Người lao động tham gia BHXH bắt buộc đượchưởng phụ cấp thai sản chính là người phụ nữ mang thai, sinh con, nuôi con, namđóng bảo hiểm xã hội khi vợ sinh con Như vậy, chủ thể về quyền lợi trong phápluật về BHTS là người phụ nữ mang thai, sinh con, nuôi con sơ sinh và nam đóngbảo hiểm xã hội vợ sinh con Chủ thể về nghĩa vụ là người sử dụng lao động đang

có chủ thể quyền lợi nêu trên làm việc

- Đặc điểm về nguồn luật: Nguồn của pháp luật về chế độ BHTS là các văn

bản quy phạm pháp luật trong đó có chứa các quy phạm pháp luật quy định về chế

độ BHTS Cụ thể, nguồn của pháp luật về chế độ bảo hiểm thai sản bao gồm:

+ Hiến pháp: Hiến pháp là đạo luật có giá trị pháp lí cao nhất quy định

những vấn đề cơ bản, quan trọng liên quan đến đời sống chính trị, kinh tế, văn

hóa-xã hội của quốc gia và quyền, nghĩa vụ cơ bản của công dân

+ Luật: Là loại văn bản quy phạm pháp luật do Quốc hội ban hành để cụ thể

hóa các quy định của Hiến pháp Có các văn bản chứa đựng quy phạm pháp luật vềchế độ bảo hiểm thai sản như: Luật BHXH 2014

+ Nghị định của Chính phủ: Tất cả những Nghị định của Chính phủ ban

hành với tư cách là văn bản quy phạm pháp luật về chế độ BHTS đều là nguồn của

Trang 24

pháp luật về chế độ BHTS như: Nghị định 115/2015/NĐ-CP ngày 11/11/2015 của Chính phủ.

+ Văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan hành chính nhà nước: Các

thông tư của Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, thủ trưởng cơ quan thuộcChính phủ ban hành để hướng dẫn thi hành luật, Nghị định quy định về chế độ bảohiểm thai sản như: Thông tư 59/2015/TT-BLĐTBXH ngày 29/12/2015 của Bộ Laođộng Thương binh và Xã hội

- Đặc điểm về chế tài xử lý vi phạm

Cơ quan, tổ chức có hành vi vi phạm quy định của pháp luật về BHXH nóichung và pháp luật về bảo hiểm CĐTS nói riêng, tùy theo tính chất, mức độ viphạm mà bị xử phạt vi phạm hành chính; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theoquy định của pháp luật

Cá nhân có hành vi vi phạm quy định của luật này, tùy theo tính chất, mức

độ vi phạm mà bị xử phạt vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu tráchnhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật

Như vậy, hành vi vi phạm pháp luật về bảo hiểm CĐTS có thể bị xử lý theo

3 chế tài là: Chế tài hành chính, chế tài dân sự và chế tài hình sự Ví dụ, Công tytrách nhiệm hữu hạn thương mại kinh doanh tổng hợp Liên Tám, Uông Bí, tỉnhQuảng Ninh về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản lấy tiền thai sản của Nhà nước (Tòa

án nhân dân thành phố Uông Bí, Bản án số 51/2015/HSST)

1.2.3 Nội dung của pháp luật về chế độ bảo hiểm thai sản

Luật BHXH 2014 quy định về chế độ bảo hiểm thai sản gồm 12 nội dung (từĐiều 30 đến Điều 41), bao gồm các nội dung liên quan đến đối tượng áp dụng, điềukiện hưởng chế độ BHTS; Các trường hợp đặc biệt hưởng chế độ BHTS như sẩy,nạo, hút thai…; Chế độ sinh con; Chế độ BHTS của người phụ nữ mang thai hộ;Chế độ trợ cấp một lần khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi; Chế độ BHTS trongtrường hợp dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau thai sản…Trong phạm vi của luậnvăn này, tác giả chỉ nghiên cứu 5 nội dung chủ yếu liên quan đến chế độ BHTS Đólà: Đối tượng hưởng chế độ BHTS; Điều kiện hưởng; Thời gian hưởng; Mức hưởngvà giải quyết tranh chấp Năm nội dung này sẽ được tác giả phân tích tại Chương 2của luận văn

Trang 25

1.3 Nghiên cứu kinh nghiệm của một số nước về chế độ bảo hiểm thai sản và bài học cho Việt Nam

1.3.1 Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới và bài học cho Việt Nam

Chế độ BHTS được quy định trong pháp luật hầu hết các nước trên thế giớitùy thuộc vào đặc điểm chính trị, kinh tế- xã hội ở mỗi nước mà chế độ này đượcquy định khác nhau về thời gian nghỉ, mức trợ cấp, điều kiện hưởng

1.3.1.1 Về điều kiện hưởng bảo hiểm thai sản

Ở hầu hết các nước trên thế giới, trong điều kiện nhận trợ cấp thai sản họ đềuyêu cầu hai điều kiện chủ yếu đó là: Những người đang mang thai hoặc sinh đẻ cótham gia BHXH và phải có thời gian đóng góp tối thiểu trước khi sinh, thôngthường các nước yêu cầu thời gian đóng góp tối thiểu trong khoảng từ 6 tháng đến

12 tháng cuối cùng trước khi sinh (Xem Bảng 1.1)

Bảng 1.1: Điều kiện về thời gian đóng góp tối thiểu trước khi sinh tại 10 nước

trên thế giới

1 Áchentina 10 tháng đóng góp liên tục trước khi nghỉ thai sản hoặc đã có

6 tháng đóng góp trong 12 tháng trước khi sinh trong đó có 1tháng làm việc ngay trước khi sinh

2 Trung Quốc Không quy định thời gian tham gia tối thiểu

3 Pháp Có 200 giờ làm việc trong 3 tháng cuối cùng trước khi sinh

4 Đức Có 12 tuần tham gia bảo hiểm hoặc có thời gian làm việc liên

tục từ 4 đến 10 tháng trước khi sinh

5 Nhật Bản Tất cả những người có việc làm trong diện tham gia bảo hiểm

6 Mêhicô Có 30 tuần đóng góp trong 12 tháng cuối cùng trước khi sinh

7 Balan Những người hiện tại đang làm việc ở những nơi thuộc phạm

vi tham gia BHXH

8 Nga Không quy định thời gian đóng góp tổi thiểu

9 Nam Phi Có 13 tuần đóng góp trong 52 tuần trước khi sinh

10 Thái Lan 7 tháng đóng góp trong 15 tháng trước khi sinh (chỉ giới hạn

trong 2 lần sinh)

“Nguồn: Báo cáo Hội nghị về công tác thu, chi BHXH năm 2014

của BHXH Việt Nam”

Trang 26

1.3.1.2 Về thời gian và mức hưởng trợ cấp thai sản

Trợ cấp thai sản có hai phương thức thực hiện là trợ cấp bằng tiền và chăm sóc

y tế

- Đối với chăm sóc y tế: Hầu hết các nước trên thế giới đều bắt buộc ngườiphụ nữ trong thời gian mang thai và sinh con phải sử dụng dịch vụ chăm sóc y tếtrước và sau khi sinh Dịch vụ y tế thông thường bao gồm: Chăm sóc ban đầu, một

số dịch vụ và thuốc men thiết yếu, những dịch vụ đặc biệt, phẫu thuật, chăm sóc thaisản Đặc biệt ở một số nước có thực hiện cả trợ cấp chi phí đi lại, dịch vụ chăm sóctại nhà Việc chi trả chi phí chăm sóc y tế, hiện nay đang tồn tại 3 phương pháp cơbản: Chi trả trực tiếp cho người thực hiện cung cấp dịch vụ trong các cơ sở y tế củaNhà nước; hoàn trả chi phí cho bệnh nhân; chi trả theo các điều khoản trực tiếp vềchăm sóc y tế

- Đối với trợ cấp thai sản bằng tiền: Mức trợ cấp và thời gian trợ cấp thai sảncủa các nước rất khác nhau Thông thường mức trợ cấp thai sản là 100% lương vàthời gian trợ cấp thường là 6 tuần trước khi sinh và từ 6 đến 8 tuần sau khi sinh.Ngoài trợ cấp kể trên thì mỗi lần sinh con người mẹ còn được cấp nuôi con với mức

từ 20 đến 25% mức trợ cấp thai sản trong thời gian từ 6 tháng trở lên Cũng có một

số nước thực hiện hỗ trợ tiền sắm sửa tã lót và trợ cấp thai sản một lần (Xem Bảng1.2)

Trang 27

Bảng 1.2: Thời gian và mức hưởng trợ cấp thai sản ở một số nước trên thế giới Stt Tên nước Thời gian và mức trợ cấp

1 Áchentina Thời gian nhận trợ cấp cho một lần sinh là 90 ngày với

mức 100% thu nhập của tháng trước khi sinh (người laođộng có thể tự lựa chọn thời gian nghỉ thích hợp: 30 ngàytrước khi sinh và 60 ngày sau khi sinh hoặc 45 ngày trướckhi sinh và 45 ngày sau khi sinh)

2 Trung Quốc Mức trợ cấp bằng 100% thu nhập trong thời gian 90 ngày

(chi phí này do chủ sử dụng lao động chịu trách nhiệm).Những trường hợp nạo, phá thai được nhận trợ cấp trongvòng 42 ngày với mức trợ cấp bằng 100% thu nhập

3 Pháp Mức trợ cấp bằng 100% thu nhập ròng Thời gian nhận trợ

cấp là 6 tuần trước khi sinh và 10 tuần sau khi sinh đối vớiđứa con thứ nhất và thứ hai Đối với đứa con thứ ba đượcnghỉ 8 tuần trước khi sinh và 18 tuần sau khi sinh Trườnghợp song thai, người mẹ được nghỉ 12 tuần trước khi sinhvà 22 tuần sau khi sinh Nếu thai ba, người mẹ được nghỉ

24 tuần trước khi sinh và 22 tuần sau khi sinh

4 Đức 100% thu nhập ròng Thời gian nhận trợ cấp là 6 tuần

trước khi sinh và 8 tuần sau khi sinh

5 Nhật Bản Mức trợ cấp bằng 60% mức lương bình quân ngày trong

42 ngày trước khi sinh (98 ngày trong những trường hợp

đa thai) và 56 ngày sau khi sinh

6 Mêhicô Mức trợ cấp bằng 100% mức lương bình quân Thời gian

nhận trợ cấp là 42 ngày trước khi sinh và 42 ngày sau khisinh (nếu sau khi sinh 42 ngày mà người mẹ không thể trởlại làm việc bình thường được thì họ sẽ được nhận trợ cấp

ốm đau)

7 Nga Mức trợ cấp bằng 100% thu nhập trong thời gian từ 10 –

12 tuần trước khi sinh và 10 – 16 tuần sau khi sinh Nhữngngười nghỉ việc để trông con dưới 18 tháng tuổi được nhận

Trang 28

mức trợ cấp hàng tháng bằng 200% mức lương tối thiểu.

8 Nam PhiMức trợ cấp bằng 45% thu nhập tuần trong thời gian 18 tuần

trước khi sinh và 8 tuần sau khi sinh

“Nguồn: Báo cáo Hội nghị về công tác thu, chi BHXH năm

2014 của BHXH Việt Nam” 1.3.1.3 Về chế độ bảo hiểm thai sản đặc biệt tốt

Hiện nay có 05 quốc gia có chế độ BHTS được đánh giá là tốt nhất trên thếgiới Đó là:

Iceland

Iceland là một trong những quốc gia có chế độ ưu đãi tuyệt vời nhất dành chocác bà mẹ Chế độ nghỉ thai sản đã có ở quốc gia này đã có từ những năm 1970,nhưng vào năm 2013 chính sách mới mang tên 5-2-5 đã được ra đời Chính sáchnày cho phép các các bà mẹ và ông bố mỗi người được nghỉ 5 tháng khi có con.Thêm 2 tháng nghỉ nữa hai người có thể tự thỏa thuận phân chia với nhau Ngoài ra,các vị phụ huynh cũng có đến 2 năm để sử dụng thời gian nghỉ này và được hưởng80% thu nhập trong thời gian đó (Nguyễn Thị Diệu Tuyết 2013 Tám quốc gia có

chế độ thai sản tuyệt vời nhất trên thế giới Tạp chí điện tử Nhịp Sống).

Thụy Điển

Tại đất nước này, pháp luật về BHTS quy định thời gian nghỉ thai sản có thểkéo dài đến vài năm và được chia cho cả bố và mẹ Các cặp vợ chồng có con dưới 8tuổi cũng có quyền làm việc bán thời gian và tiếp tục công việc cũ Chính phủ chophép một cặp vợ chồng được nghỉ tổng cộng là 480 ngày, được hưởng 80% thunhập và thời gian hết sức linh hoạt khi sinh con (Nguyễn Thị Diệu Tuyết 2013 Tám

quốc gia có chế độ thai sản tuyệt vời nhất trên thế giới Tạp chí điện tử Nhịp Sống).

Trang 29

nhận được khoảng 50% thu nhập hàng tháng (Nguyễn Thị Diệu Tuyết 2013 Tám

quốc gia có chế độ thai sản tuyệt vời nhất trên thế giới Tạp chí điện tử Nhịp Sống).

Diệu Tuyết 2013 Tám quốc gia có chế độ thai sản tuyệt vời nhất trên thế giới Tạp

chí điện tử Nhịp Sống).

1.3.1.4 Bài học cho Việt Nam

Trên cơ sở nghiên cứu kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới về chế

độ bảo hiểm thai sản, từ đó vận dụng những quy định có tính ưu việt, nhân văn vềđiều kiện hưởng, thời gian và mức hưởng mức hưởng trợ cấp thai sản của một sốquốc gia phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam để xây dựngcác văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh về chế độ thai sản Bài học rút ra từ cácnước trên là: (i) Chế độ BHTS của Việt Nam cần được điều chỉnh thường xuyênkhi điều kiện kinh tế của Việt Nam đã có sự phát triển nhất định; (ii) Trong số cácnước nêu trên, Việt Nam có lựa chọn những nước có pháp luật về chế độ BHTS phùhợp với Việt Nam để đưa vào các văn bản pháp luật và áp dụng trong thực tế

1.3.2 Quy định của Tổ chức Lao động quốc tế về bảo hiểm thai sản và bài học cho Việt Nam

1.3.2.1 Quy định của Tổ chức lao động quốc tế về bảo hiểm thai sản

ILO được ra đời vào năm 1919, sau các cuộc đàm phán của Hiệp địnhVersailles và là thành viên của Hội Quốc Liên Sau khi Chiến tranh thế giới lần thứ

2 kết thúc và Hội Quốc liên giải tán, ILO trở thành thành viên của Liên Hiệp quốc(Đặng Thị Thơm, năm 2016) ILO được thành lập với nhiệm vụ tăng cường các cơhội cho lao động nữ và lao động nam để có được những công việc tốt trong môitrường tự do, công bằng, an toàn và nhân phẩm Mục đích chính của tổ

Trang 30

chức là thúc đẩy quyền lợi trong lao động, khuyến khích các cơ hội việc làm, thúcđẩy sự bảo vệ của xã hội và tăng cường các cuộc đối thoại nhằm giải quyết các vấn

đề lao động Do đó, ngay sau khi thành lập, ILO đã cho ra đời rất nhiều công ước

về đảm bảo quyền lợi cho NLĐ nữ đặc biệt liên quan đến các CĐTS như:

- Công ước 03: Đây là công ước đầu tiên về thai sản được Tổ chức Lao động

quốc tế (ILO) thông qua ngày 29/10/1919 quy định trợ cấp thai sản đối với lao độngnữ trong các ngành công nghiệp (Đặng Thị Thơm, năm 2016) Nội dung chủ yếucủa công ước là quy định thời gian nghỉ thai sản cũng như những quyền lợi màngười lao động nữ được hưởng khi mang thai và sinh con Cụ thể:

+ Người lao động nữ tuyệt đối không được quay trở lại làm việc trong thời gian 6 tuần sau khi sinh

+ Người lao động nữ được quyền nghỉ việc nhận trợ cấp thai sản trong vòng

6 tuần trước khi sinh

+ Được quyền nhận trợ cấp chăm sóc y tế đối với cả mẹ và con

Mức trợ cấp, thời gian nghỉ việc nhận trợ cấp cụ thể tuỳ thuộc vào luật pháp,quy định cũng như điều kiện của từng quốc gia

- Công ước 102: Năm 1952, Viện nghị của ILO đã thông qua công ước 102

quy định những tiêu chuẩn tối thiểu về Bảo đảm xã hội Đây là Công ước có nộidung đầy đủ nhất, phát triển những tiêu chuẩn quốc tế về Bảo đảm xã hội (NguyễnVăn Định, 2008)

Trong Công ước có quy định 9 nhánh chế độ chính trong hệ thống Bảo đảm

xã hội, gồm: (1) Chăm sóc y tế; (2) Trợ cấp ốm đau; (3) Trợ cấp thất nghiệp; (4)Trợ cấp tuổi già; (5) Trợ cấp tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp; (6) Trợ cấp giađình; (7) Trợ cấp thai sản; (8) Trợ cấp tàn tật; (9) Trợ cấp chôn cất và mất ngườinuôi dưỡng

Công ước quy định: một quốc gia được gọi là có hệ thống BHXH phải thiếtlập ít nhất 3 chế độ, trong đó ít nhất phải có 1 trong các chế độ: trợ cấp tuổi già, trợcấp thất nghiệp, trợ cấp tai nạn lao động, trợ cấp tàn tật, trợ cấp chôn cất và mấtngười nuôi dưỡng

Đối với trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp và trợ cấp thai sản cóthể vừa thực hiện trợ cấp bằng tiền vừa thực hiện trợ cấp bằng hiện vật

Trang 31

Tài chính để thực hiện trợ cấp chủ yếu do sự đóng góp của các bên tham gia.Nhà nước có trách nhiệm quản lý chung về BHXH.

Điều kiện nhận trợ cấp thai sản: Tất cả những người phụ nữ khi mang thai, sinh đẻ đều được quyền hưởng trợ cấp thai sản

Mức trợ cấp thai sản: Những người phụ nữ khi thai nghén, sinh đẻ được hưởng chăm sóc y tế và còn được nhận trợ cấp định kỳ trong khoảng từ 45 – 75%

- Công ước 103: Ngày 28/6/1952, Tổ chức lao động quốc tế đã thông qua

công ước số 103 Nội dung của công ước lần này là quy định nội dung trợ cấp thaisản đối với người lao động nữ trong các ngành công nghiệp cả nhà nước và tư nhân.Những quy định này đã mang tính chất cụ thể hơn so với công ước 03 thông quanăm 1919 (Đặng Thị Thơm, 2016) Cụ thể:

+ Thời gian nghỉ thai sản trước và sau khi sinh đối với lao động nữ ít nhất là

+ Trong thời gian nghỉ thai sản, lao động nữ được quyền nhận trợ cấp bằng tiền và chăm sóc y tế:

* Mức trợ cấp bằng tiền được quy định cụ thể theo luật pháp, quy định củatừng quốc gia nhưng nó phải đảm bảo duy trì sức khoẻ cho người mẹ và đứa trẻtheo tiêu chuẩn mức sống tối thiểu

Đối với những nước thực hiện trợ cấp thai sản theo hệ thống BHXH bắt buộcthì mức trợ cấp được tính trên cơ sở mức thu nhập trước đó Mức trợ cấp khôngđược thấp hơn 2/3 mức thu nhập trước đó của người lao động nữ

* Chăm sóc y tế bao gồm: Chăm sóc trước sinh, trong khi sinh và sau khisinh bởi một bác sĩ đủ năng lực và trong một bệnh viện tuỳ theo sự lựa chọn củangười mẹ

Trang 32

- Công ước 183: Đây là công ước có nội dung cụ thể nhất về chế độ trợ cấp

thai sản đối với tất cả mọi người lao động nữ được Tổ chức ILO thông qua ngày15/6/2000 (Đặng Thị Thơm, 2016) Trong đó quy định cụ thể:

+ Thời gian nghỉ việc nhận trợ cấp thai sản của lao động nữ tuỳ thuộc vào luật pháp và quy định của từng quốc gia nhưng không dưới 14 tuần

+ Thời gian nghỉ tối thiểu sau khi sinh là 6 tuần

+ Lao động nữ nghỉ sinh con được nhận trợ cấp cả bằng tiền và chăm sóc y

tế Mức trợ cấp tuỳ thuộc vào quy định của từng quốc gia, nhưng phải đảm bảo duytrì được sức khoẻ của người mẹ và đứa trẻ theo mức sống tối thiểu Đối với nhữngnước thực hiện trợ cấp trên cơ sở mức thu nhập trước đó thì mức trợ cấp khôngđược thấp hơn 2/3 mức thu nhập trước khi nghỉ sinh con

1.3.2.2 Bài học cho Việt Nam

Các công ước này quy định việc phòng ngừa tiếp xúc với những nguy hại về

an toàn và sức khỏe trong quá trình mang thai và cho con bú, quyền được trả trợ cấpthai sản, sức khỏe bà mẹ và trẻ em và thời giờ nghỉ cho con bú, bảo vệ chống phânbiệt đối xử và sa thải liên quan đến thai sản, cũng như quyền được đảm bảo khi trởlại làm việc sau khi nghỉ thai sản Mặc dù 66 quốc gia trong tổng số 185 quốc gia vàvùng lãnh thổ đã cam kết thực hiện ít nhất một trong ba công ước trên nhưng ViệtNam không nằm trong số đó Tuy nhiên, trên cơ sở nghiên cứu các quy định củaILO về BHTS về chế độ bảo hiểm thai sản, từ đó vận dụng những quy định có tính

ưu việt, nhân văn về thời gian nghỉ việc nhận trợ cấp thai sản, điều kiện và mứcnhận trợ cấp thai sản… phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội ở ViệtNam để xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật quy định về chế độ BHXH nóichung và chế độ bảo hiểm thai sản nói riêng

Trang 33

Những nhân tố ảnh hưởng đến tổ chức thực hiện chế độ thai sản bao gồm nhómnhân tố pháp luật, chính sách, các quy định của Nhà nước về bảo hiểm xã hội; yếu

tố thuộc về đối tượng hưởng chế độ bảo hiểm xã hội, đồng thời thông qua con sốthực tế cũng như kinh nghiệm của một số nước trên thế giới và Tổ chức quốc tế vềbảo hiểm xã hội, bài viết cũng rút ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

Nội dung cụ thể thực trạng pháp luật của Việt Nam đối với CĐTS sẽ đượctrình bày tại Chương 2 dưới đây

Trang 34

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM THAI SẢN TẠI THÀNH PHỐ UÔNG

BÍ, TỈNH QUẢNG NINH 2.1 Giới thiệu tình hình kinh tế-xã hội, lao động việc làm tại thành phố Uông

Bí, tỉnh Quảng Ninh

2.1.1 Tình hình kinh tế - xã hội

Uông Bí nằm trong vùng tam giác động lực phát triển miền Bắc là Hà Nội Hải Phòng - Quảng Ninh, do đó rất thuận tiện cho việc thu hút các nhà đầu tư trongvà ngoài nước Đặc biệt trên địa bàn thị xã có khu di tích lịch sử văn hóa và danhthắng cấp Quốc gia Yên Tử (Kinh đô Phật giáo - Thiền phái Trúc Lâm Việt Nam),Đình Đền Công; các khu di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh như: Hang son, Ba Vàng,Chùa Phổ Am và các khu du lịch sinh thái như: Hồ Yên Trung, Lựng Xanh Đây lànhững tiềm năng nổi trội, điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế và du lịch, dịch vụcủa Thành phố cũng như của tỉnh Quảng Ninh; Uông Bí có nguồn tài nguyênkhoáng sản than rất lớn (khu vực có trữ lượng than lớn nhất Quảng Ninh) đang đượckhai thác; đây là ngành công nghiệp quan trọng thúc đẩy các ngành công nghiệpđiện, cơ khí, sản xuất vật liệu xây dựng, phát triển các khu công nghiệp tập trung tạiVàng Danh, khu vực phía Nam Quốc lộ 18A, ven Quốc lộ 10 và khu đê Vành Kiệu(QNP, 2019)

-Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Thành phố lần thứ XVI với nhiệm vụtrọng tâm là: “Phát huy sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị tập trung giảiphóng mặt bằng, thu hút các nguồn lực đầu tư nâng cấp cơ sở hạ tầng kinh tế - xãhội, phấn đấu đưa thị xã Uông Bí trở thành thành phố vào cuối năm 2011” (Nghịquyết Đại hội Đảng bộ Thành phố Uông Bí lần thứ XVI năm 2015) Tuy nhiên ngày

25 tháng 2 năm 2011, Uông Bí đã nhận Quyết định của Chính phủ là Thành phốUông Bí và ngày 28/11/2013 Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 2306 côngnhận Thành phố Uông Bí là đô thị loại II trực thuộc tỉnh Chính vì vậy, thành phốUông Bí đã đạt được những thành tựu kinh tế - xã hội nổi bật: Năm 2017: Hoànthành xuất sắc 19/19 chỉ tiêu về phát triển kinh tế- xã hội; Giá trị tăng thêm cácngành công nghiệp - xây dựng đạt 15%, nông- lâm- thủy sản 4%, dịch vụ 17%;Tổng thu ngân sách, tổng vốn đầu tư xã hội trên địa bàn vượt kế hoạch; Giải quyếtviệc làm cho 4.117 lượt lao động, trong đó 2.300 lao động có việc làm mới; 6 đơn

Trang 35

vị y tế tuyến xã, phường được công nhận đạt chuẩn quốc gia về y tế; giảm 81 hộ

nghèo (Báo Quảng Ninh, ấn phẩm Quảng Ninh toàn cảnh, 2017) Năm 2018: Cơ

cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng với nông- lâm- thủy sản chiếm 6,3% (giảm0,6%); công nghiệp và xây dựng chiếm 50,7% (giảm 0,8%); dịch vụ và thuế chiếm43% (tăng 1,4%) Trong đó, riêng giá trị tăng thêm ngành dịch vụ (thương mại, du

lịch) và thuế đạt cao nhất với 17,2% (Báo Quảng Ninh, ấn phẩm Quảng Ninh toàn

cảnh, 2018).

Sự phát triển kinh tế trên địa bàn thành phố Uông Bí trong thời gian qua mặc

dù đạt được mức tăng trưởng cao nhưng một số ngành kinh tế vẫn chưa có khả năngthu hút hết lao động trên địa bàn Nhiều chỗ làm việc mới được tạo ra nhưng còn ít

so với nhu cầu kiếm việc làm Mặt khác trình độ văn hóa và chuyên môn của ngườilao động cũng là trở ngại đáng kể để có thể vào làm tại các doanh nghiệp Tất cả cácvấn đề về dân số và lao động ở trên có ảnh hưởng trực tiếp tới tình hình tham giaBHXH cho người lao động nói chung và lao động nữ nói riêng, nguồn thu quỹBHXH trên toàn thành phố Bởi vậy cần có các giải pháp cụ thể hợp lý sử dụng hiệuquả nguồn lao động, trong đó có lao động nữ, nâng cao năng lực chuyên môn, quảnlý người lao động góp phần ổn định và tăng trưởng bền vững quỹ BHXH nói chungvà quỹ BHTS nói riêng

2.1.2 Tình hình lao động nữ làm việc tại thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh

Thành phố Uông Bí là một trong các địa phương có dân số cao trong toàntỉnh, theo điều tra dân số của tỉnh, tính đến năm 2018, dân số thành phố là 120.982người, trong đó nam là 60.668 người chiếm 50,1%, nữ là 60.314 người chiếm49,9% Tổng số lao động nữ là 31.037 (Chi Cục Thống kê thành phố Uông Bí,2019)

Trong những năm qua, thành phố Uông Bí đã thực hiện nhiều giải pháp đểnâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đặc biệt là nâng cao chất lượng đối với laođộng nữ: Tiến hành các chương trình phổ cập giáo dục; tăng cường ngân sách nhànước để đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất, đào tạo giáo viên, giảng viên; xây dựng cơchế gắn kết cơ sở dạy nghề với người sử dụng lao động, khuyến khích đẩy mạnh xãhội hóa công tác đào tạo Các cơ sở đào tạo đã chú ý đến nhu cầu của lao động nữtại thành phố, nhu cầu sử dụng của doanh nghiệp và tích cực chuyển hướng đào tạotheo nhu cầu của thị trường Vì vậy, chất lượng lao động nữ tại thành phố Uông Bí

Trang 36

trong thời gian qua có sự nâng lên đáng kể về trình độ học vấn, chuyên môn kỹthuật và sự chuyển biến tích cực về cơ cấu.

Trong những năm gần đây, thành phố Uông Bí đã có những cố gắng trongcông tác tạo việc làm mới cho người lao động, đặc biệt là đối với lao động nữ Điđôi với việc đẩy mạnh sản xuất để giải quyết việc làm, thành phố đã chú trọng thựchiện các giải pháp, chính sách hỗ trợ trực tiếp cho người lao động nữ tự tìm kiếmviệc làm và giải quyết việc làm Một trong các kênh giúp người lao động nữ kết nốiđược thông tin với người sử dụng lao động là qua các sàn giao dịch việc làm Đây làmột hoạt động tích cực làm chuyển biến nhận thức của các cấp, các ngành, của nhândân về trách nhiệm và các biện pháp giải quyết việc làm cho người lao động

Được sự quan tâm, chỉ đạo trực tiếp của Tỉnh uỷ, HĐND, UBND Tỉnh, Đảngbộ; chính quyền và nhân dân thành phố Uông Bí nên công tác lao động, việc làmđối với lao động nữ của Thành phố đã đạt được những kết quả cụ thể chất lượngnguồn lao động ngày càng được nâng cao, tỷ lệ lao động nữ qua đào tạo năm 2017của Thành phố đạt gần 80% tổng số lao động trong độ tuổi lao động có khả năng laođộng; thị trường lao động, cung - cầu lao động được triển khai tích cực, đa dạng nhưtuyên truyền trên trang Website Thành phố; Đài Truyền thanh - truyền hình Thànhphố; các Sàn giao dịch việc làm định kỳ hàng tháng; tuyên truyền các thị trườngxuất khẩu lao động ; các cơ quan, doanh nghiệp, các cơ sở sản xuất kinh doanh đã

cố gắng duy trì, ổn định sản xuất, đảm bảo việc làm cho người lao động nữ (xembảng 2.1)

Bảng 2.1 Tình hình lao động nữ làm việc tại TP Uông Bí giai đoạn 2014-2018

(Nguồn: Báo cáo tình hình lao động của Phòng Lao động-Thương binh

và Xã hội thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh, 2018)

Trang 37

Trên đây là những đặc điểm khái quát về kinh tế - xã hội của TP Uông Bí,tỉnh Quảng Ninh Những đặc điểm này vừa có những thuận lợi nhưng cũng đặt rakhông ít thách thức khó khăn cho việc triển khai thực hiện chế độ BHTS trên địabàn thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh.

2.2 Thực trạng pháp luật về chế độ bảo hiểm thai sản

2.2.1 Về đối tượng hưởng chế độ bảo hiểm thai sản

Theo Luật BHXH hiện hành thì người lao động tham gia BHXH bắt buộc làđối tượng được hưởng trợ cấp thai sản (được quy định tại Điều 2, Điều 30 LuậtBHXH năm 2014), cụ thể là:

Người lao động là công dân Việt Nam thuộc đối tượng tham gia BHXH bắtbuộc, bao gồm:

- Người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồnglao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một côngviệc nhất định có thời hạn từ đủ 03 tháng đến dưới 12 tháng, kể cả hợp đồng laođộng được ký kết giữa người sử dụng lao động với người đại diện theo pháp luật của người dưới 15 tuổi theo quy định của pháp luật về lao động;

- Người làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 01 tháng đếndưới 03 tháng;

- Người quản lý doanh nghiệp, người quản lý điều hành hợp tác xã có hưởng tiền lương;

Các đối tượng này có tham gia đóng phí BHXH thì khi thuộc một trong cáctrường hợp: Lao động nữ mang thai, sinh con; người lao động (không phân biệtnam, nữ) nhận nuôi con nuôi sơ sinh theo Luật Hôn nhân và Gia đình hoặc thựchiện các biện pháp tránh thai đều được nghỉ việc hưởng trợ cấp

Như vậy, đối tượng hưởng trợ cấp BHTS chủ yếu là lao động nữ trong quátrình thai nghén, sinh con, có quan hệ lao động theo quy định của pháp luật lao

Trang 38

động, có tham gia BHXH bắt buộc Ngoài ra, Luật cũng quy định cả người lao độnglà nam nhưng nhận nuôi con sơ sinh theo Luật Hôn nhân và Gia đình thì họ cũng làđối tượng được hưởng BHTS.

Tuy nhiên, không phải trong mọi trường hợp nghỉ thai sản đều được hưởngchế độ này, mà họ phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện mà luật quy định

2.2.2 Điều kiện hưởng chế độ bảo hiểm thai sản

Để được hưởng chế độ thai sản, ngoài các điều kiện bắt buộc như người laođộng phải tham gia đóng phí BHXH, có sự kiện nghỉ việc đi khám thai, bị sẩy thai,sinh con, nuôi con nuôi sơ sinh và các điều kiện về thủ tục thì cần thiết phải đặt rađiều kiện người lao động phải có thời gian đóng BHXH trước khi hưởng chế độ,đặc biệt là các chế độ nghỉ dài ngày như sinh con hoặc nuôi con nuôi sơ sinh hợppháp.…phải có thời gian đóng bảo hiểm đủ 06 tháng trở lên trong thời gian 12tháng trước khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi

Ý nghĩa của quy định này thể hiện ở hai điểm:

Thứ nhất, đã chú trọng đến sự bảo toàn và phát triển về tài chính của quỹ Thứ hai, khắc phục được những lạm dụng trong thực tế do không ít trường

hợp người lao động nữ đóng BHXH trong thời gian ngắn đã sinh con và đượchưởng từ 6 tháng nguyên lương, một tháng trợ cấp Mặc dù rất coi trọng đến việctrợ giúp cho lao động nữ khi nghỉ việc thực hiện thiên chức làm mẹ, song là một chế

độ trợ cấp BHXH, trợ cấp thai sản vẫn phải đảm bảo nguyên tắc trên cơ sở đónggóp của chính người lao động

Pháp luật của hầu hết các nước trên thế giới đều đã từ lâu quy định cụ thểđiều kiện về thời gian đóng BHXH trước khi hưởng chế độ thai sản Chẳng hạn,pháp luật lao động của Thái Lan quy định phải có 7 tháng đóng góp trong 15 thángtrước khi sinh; pháp luật lao động của Singapore quy định ít nhất phải có 6 thánglàm việc (Nguyễn Thị Lan Hương, 2012) Nhật Bản quy định phải có 12 tháng làmviệc trước đó Philipine trợ cấp thai sản được thực hiện trong 4 lần sinh, với điềukiện lao động nữ phải đóng BHXH 3 tháng trong vòng 12 tháng trước khi sinh(Nguyễn Thị Lan Hương, 2012)

Đối với Việt Nam điều kiện hưởng chế độ thai sản được quy định tại Điều 31Luật BHXH 2014, theo quy định này thì người lao động được hưởng chế độ thai sảnkhi thuộc một trong các trường hợp sau:

Trang 39

- Lao động nữ mang thai;

- Lao động nữ sinh con;

- Lao động nữ mang thai hộ và người mẹ nhờ mang thai hộ;

- Người lao động nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi;

- Lao động nữ đặt vòng tránh thai, người lao động thực hiện biện pháp triệtsản;

Pháp luật BHXH Việt Nam hiện hành thì không khống chế số lần sinh conđược hưởng bảo hiểm thai sản Nhưng để được hưởng chế độ này thì người laođộng nữ sinh con, lao động nữ mang thai hộ và người mẹ nhờ mang thai hộ; vàngười lao động nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi phải có thời gian đóngBHXH từ đủ 06 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con hoặc nhậnnuôi con nuôi

Thời gian 12 tháng trước khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi được xác địnhnhư sau:

- Trường hợp sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi trước ngày 15 của tháng, thìtháng sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi không tính vào thời gian 12 tháng trước khisinh con hoặc nhận nuôi con nuôi

- Trường hợp sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi từ ngày 15 trở đi của thángvà tháng đó có đóng BHXH, thì tháng sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi được tínhvào thời gian 12 tháng trước khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi Trường hợptháng đó không đóng BHXH thì thực hiện theo quy định tại điểm a khoản này.Ví dụ: Chị A sinh con ngày 18/01/2017 và tháng 01/2017 có đóng BHXH,thời gian 12 tháng trước khi sinh con được tính từ tháng 02/2016 đến tháng01/2017, nếu trong thời gian này chị A đã đóng BHXH từ đủ 6 tháng trở lên hoặc từ

đủ 3 tháng trở lên trong trường hợp khi mang thai phải nghỉ việc để dưỡng thai theochỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền thì chị A được hưởng chế

độ thai sản theo quy định

Ngoài ra, pháp luật BHXH quy định:

- Người lao động nữ sinh con đã đóng BHXH từ đủ 12 tháng trở lên mà khimang thai phải nghỉ việc để dưỡng thai theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữabệnh có thẩm quyền thì phải đóng BHXH từ đủ 03 tháng trở lên trong thời gian 12tháng trước khi sinh con

Trang 40

- Người lao động (sinh con, mang thai hộ và người mẹ nhờ mang thai hộ,nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi) đã đóng BHXH từ đủ 06 tháng trở lên trongthời gian 12 tháng trước khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi Và người lao độngnữ sinh con đã đóng BHXH từ đủ 12 tháng trở lên mà khi mang thai phải nghỉ việc

để dưỡng thai theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền đãđóng BHXH từ đủ 03 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con: Nếuchấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc thôi việc trước thời điểm sinhcon hoặc nhận con nuôi dưới 06 tháng tuổi thì vẫn được hưởng chế độ thai sản theoquy định

Việc quy định thời gian đóng BHXH trước khi hưởng chế độ thai sản theoLuật Bảo hiểm xã hội là phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của ViệtNam, đồng thời phù hợp với quy định của các nước trên thế giới

2.2.3 Thời gian nghỉ được hưởng bảo hiểm thai sản

Thời gian nghỉ thai sản được quy định ở các mức khác nhau cho nhiềutrường hợp: Nghỉ khám thai, nghỉ vì sảy thai, nạo hút thai hoặc thai chết lưu nghỉ vì

đẻ non, nghỉ sinh con, nghỉ khi con mới sinh bị chết, nghỉ nuôi con nuôi dưới sáutháng tuổi, nghỉ khi thực hiện các biện pháp tránh thai, nghỉ dưỡng sức, phục hồisức khỏe sau thời gian hưởng chế độ thai sản… những quy định về thời gian nghỉcho mỗi trường hợp luôn có sự thay đổi và ngày càng được tính toán dựa trên nhiều

cơ sở khoa học để phù hợp hơn trong việc bảo vệ sức khỏe người lao động và trẻ sơsinh phù hợp hơn với thực tế đời sống xã hội và khả năng chi trả của quỹ bảo hiểm.Luật BHXH 2014 quy định thời gian nghỉ cho các trường hợp như sau:

2.2.3.1 Thời gian hưởng chế độ khi khám thai

Người phụ nữ khi mang thai để thực hiện thiên chức làm mẹ là thời kỳ rấtquan trọng và đầy rủi ro trong chức năng làm mẹ của người phụ nữ, vì thế khi cóthai, người phụ nữ cần đến cơ sở y tế để khám thai Số lần khám thai được căn cứvào quá trình phát triển của thai nhi Khám thai đầy đủ, đúng định kì sẽ giúp ngườiphụ nữ thực hiện chức năng làm mẹ an toàn Chính từ ý nghĩa này mà số lần khámthai theo quy định hiện hành đã đảm bảo được mục đích bảo vệ, chăm sóc sức khỏecho người mẹ cũng như thai nhi Theo ILO thì trong một thai kì, người mẹ phảikhám thai tối thiểu 5 lần

Ngày đăng: 01/08/2020, 19:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w