1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giao kết và thực hiện hợp đồng thương mại tại công ty nhiệt điện uông bí

111 41 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 1,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

đồng đến khi giải quyết tranh chấp phát sinh vẫn có cán bộ nghiệp vụ đến lãnh đạođang không nắm rõ, không có phương châm, nguyên tắc phù hợp với đặc thù vàthực tiễn máy móc thiết bị của

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

Hà Nội - 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan với đề tài “ Giao kết và thực hiện hợp đồng tại Công ty Nhiệtđiện Uông Bí” là công trình nghiên cứu của riêng tôi Bản thân tôi đã tự thu thậpthông tin và dữ liệu của Tập đoàn Điện lực Viêt nam, Tổng công ty Phát điện 1,Công ty Nhiệt điện Uông Bí, từ đó chọn lọc những thông tin cần thiết nhất để phục

vụ cho đề tài

Quảng Ninh, ngày 12 tháng 02 năm 2020

Tác giả

Trần Thị Thúy

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Sau một thời gian nghiên cứu nghiêm túc, đến nay tôi đã hoàn thành bản luậnvăn để bảo vê tốt nghiệp theo kế hoạch của Trường Đại học Ngoại Thương

Có được kết quả này, trước hết tôi xin phép được cảm ơn đến tập thể các thầy

cô giáo đã truyền đạt các kiến thức quý giá cho tôi trong thời gian tôi được học tậptại trường Đặc biệt tôi xin trân trọng cảm ơn Thầy giáo TS Nguyễn Bình Minhngười đã hướng dẫn, giúp đỡ tận tình, trách nhiệm về mặt khoa học để tôi hoànthành bản luận văn này

Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn Ban lãnh đạo Công ty Nhiệt điện Uông Bí, cácđồng nghiệp và gia đình đã tham gia góp ý, tạo điều kiện và giúp đỡ tôi hoàn thànhluận văn này

Xin trân trọng cảm ơn!

Tác giả

Trần Thị Thúy

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vi

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ GIAO KẾT VÀ THỰC HIỆN 8

HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI 8

1.1 Khái niệm chung về Hợp đồng thương mại 8

1.1.1.Khái niệm

8 1.1.2 Đặc điểm

9 1.1.3 Điều kiện hiệu lực của Hợp đồng thương mại

13 1.2 Giao kết Hợp đồng thương mại 20

1.2.1 Nguyên tắc giao kết Hợp đồng thương mại

20 1.2.2 Đề nghị giao kết Hợp đồng thương mại.

22 1.2.3 Chấp nhận giao kết Hợp đồng thương mại

25 1.3 Thực hiện Hợp đồng thương mại 26

1.3.1 Nguyên tắc thực hiện Hợp đồng thương mại

26 1.3.2 Các biện pháp đảm bảo thực hiện Hợp đồng thương mại

28 1.3.3 Trách nhiệm do vi phạm Hợp đồng thương mại

29

Trang 6

1.4.1 Rủi ro trong quá trình đàm phán

37 1.4.2 Rủi ro xảy ra khi hợp đồng đã được ký kết

38 KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 42

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG GIAO KẾT VÀ THỰC HIỆN HĐTM 43

TẠI CÔNG TY NHIỆT ĐIỆN UÔNG BÍ 43

2.1 Giới thiệu chung về Công ty Nhiệt điện Uông Bí 43

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty Nhiệt điện Uông Bí 43

2.1.3 Cơ cấu tổ chức bộ máy của Công ty Nhiệt điện Uông Bí:

45

Trang 7

2.1.5 Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh và các loại hợp đồng thương mại tại Công ty Nhiệt điện Uông Bí

2.3.2 Các biện pháp đảm bảo thực hiện hợp đồng thương mại thường được

áp dụng tại Công ty Nhiệt điện Uông Bí

2.4 Đánh giá thực trạng giao kết và thực hiện hợp đồng thương mại tại Công

ty Nhiệt điện Uông Bí 66

Trang 8

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 73 CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIAO KẾT VÀ

THỰC HIỆN 74 HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI TẠI CÔNG TY NHIỆT ĐIỆN UÔNG BÍ. 74 3.1 Kế hoạch phát triển của Công ty Nhiệt điện Uông Bí và xu hướng giao kết, thực hiện hợp đồng thương mại tại Công ty 74 3.2 Giải pháp nâng cao chất lượng giao kết và thực hiện hợp đồng thương mại tại Công ty Nhiệt điện Uông Bí 76

3.2.1 Giải pháp trong các bước xây dựng, giao kết và thực hiện hợp đồng thương mại

76

Trang 9

3.2.2 Giải pháp sửa đổi, bổ sung các Quy chế, quy định liên quan đến việc giao kết và thực hiện Hợp đồng thương mại

79 3.2.3 Giải pháp liên quan đến nguồn nhân lực

80 3.3 Kiến nghị cụ thể để nâng cao chất lượng giao kết và thực hiện HĐTM tại Công ty Nhiệt điện Uông Bí. 81

3.3.1 Kiến nghị về Quy chế, Quy định của Tập đoàn Điện Lực Việt nam và Tổng công ty Phát điện 1

81 3.3.2 Kiến nghị đối với Công ty

84 KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 87

KẾT LUẬN 88

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 91

PHỤ LỤC 95

Trang 10

Kế hoạch lựa chọn nhà thầu Sản xuất kinh doanh

Kế hoạch và Vật tư Tài chính và Kế toánLTM Luật Thương mại

HĐTM Hợp đồng thương mại

Trang 11

DANH MỤC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ

Biểu đồ 2.1 Quy mô công suất các đơn vị trong Tổng công ty Phát điện 1 45

Biểu đồ 2.2 Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh 47

Biểu đồ 2.3 Giá trị tiết kiệm trong đấu thầu 68

Biểu đồ 2.4 Hình thức các gói thầu 69

Sơ đồ 2.1 Tổ chức hoạt động của Công ty Nhiệt điện Uông Bí 46

Sơ đồ 2.2: Các bước thực hiện giao kết hợp đồng 53

Sơ đồ 2.3: Các bước chấp nhận giao kết hợp đồng 56

Trang 12

TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU LUẬN VĂNTên luận văn thạc sĩ: Giao kết và thực hiện Hợp đồng thương mại tại Công ty

nhiệt điện Uông Bí

1 Tính cấp thiết của đề tài: Hiện nay, các doanh nghiệp của Việt Nam đứng

trước những nguy cơ, thách thức to lớn Ngành điện cũng gặp nhiều thách thức khinguồn tài nguyên dần cạn kiệt, tình hình thiên tai lũ lụt phức tạp, nhu cầu điện tăngcao… Công ty Nhiệt điện Uông Bí cũng không nằm ngoài các thách thức đòi hỏitrên Để góp phần vào việc thực hiện tốt quản lý và thực hiện hợp đồng tại Công tytôi quyết định nghiên cứu và thực hiện đề tài

2 Nhiệm vụ nghiên cứu:

Khái quát những vấn đề cơ bản về hợp đồng, HĐTM nói chung, các quy địnhpháp luật cơ bản về giao kết và thực hiện HĐTM;

Phân tích thực tiễn việc giao kết và thực hiện HĐTM tại UBTPC trong cácnăm vừa qua, đặc biệt trong thời điểm hiện nay, từ đó phát hiện ra các điểm bất cập,các nguy cơ rủi ro mà UBTPC đã, đang và sẽ gặp phải ở từng loại hợp đồng

Đề xuất các giải pháp hữu ích nhằm giải quyết các bất cập, rủi ro của việc giaokết và thực hiện HĐTM để nâng cao hiệu quả giao kết và thực hiện HĐTM với cácđối tác

3 Luận văn đã đạt được những kết quả chính như sau:

Luận văn đã nghiên cứu khái quát các vấn đề chung về giao kết và thực hiệnHĐTM như khái niệm, đặc điểm, điều kiện hiệu lực, trình tự giao kết, nguyên tắcthực hiện và các trách nhiệm pháp lý liên quan đến HĐTM

Luận văn đi sâu phân tích thực tiễn giao kết và thực hiện các loại HĐTM tạiUBTC, phân tích những thành công đạt được, nhưng nhược điểm còn tồn tại, cácvấn đề pháp lý phát sinh trong quá trình giao kết và thực hiện các HĐTM

Luận văn đã đưa ra và phân tích các giải pháp Công ty cần thực hiện để thúcđẩy hiệu quả của việc giao kết và thực hiện các HĐTM

Trang 13

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hiện nay, trong quá trình phát triển và hội nhập kinh tế thế giới, dưới sự lãnhđạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nước ta đang tập trung phát triển nền kinh tếnhiều thành phần theo định hướng Xã hội chủ nghĩa Đảng và Nhà nước ta đang chủtrương và tìm nhiều biện pháp, các chính sách hiệu quả, bằng hành lang pháp lý ổnđịnh và phù hợp để tạo môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp, đồng hành cùngcác doanh nghiệp trong nước vì vậy các Doanh nghiệp Việt Nam đứng trước nhiều

cơ hội phát triển

Kể từ gia nhập WTO Hoạt động thương mại Việt Nam có nhiều thay đổi, hoạtđộng mua bán hàng hóa diễn ra thường xuyên hơn, do đó hợp đồng thương mại(HĐTM) cũng được xem trọng hơn Các doanh nghiệp Việt Nam mở rộng quan hệhợp đồng với nhiều đối tác khác nhau nhằm mục tiêu đẩy mạnh phát triển sản xuấtkinh doanh

Tuy nhiên trong bối cảnh hiện nay, nền kinh tế Việt Nam cũng bị ảnh hưởng,các doanh nghiệp của Việt Nam đứng trước những nguy cơ, thách thức to lớn donền kinh tế các nước có sự ảnh hưởng tác động lớn lẫn nhau, nhất là sau các saucuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế thế giới, sau các cuộc chiến tranhthương mại của các nước lớn Ngành điện cũng gặp nhiều thách thức khi nguồn tàinguyên dần cạn kiệt, tình hình thiên tai lũ lụt phức tạp, nhu cầu điện tăng cao, cácyêu cầu tiêu chuẩn vè môi trường ngày càng khắt khe, xu hướng phát triển đòi hỏingành điện sản xuất từ nguồn nguyên liệu sạch, năng lượng tái tạo Công ty Nhiệtđiện Uông Bí cũng không nằm ngoài các thách thức đòi hỏi trên

Việt Nam đang trong tiến trình hội nhập kinh tế toàn cầu, đòi hỏi các doanhnghiệp phải năng động và có vốn hiểu biết pháp luật vững vàng nhằm có được ưuthế trong cuộc cạnh tranh khốc liệt của thương trường qua đó đạt hiệu quả cao trongkinh doanh không chỉ đối với thị trường trong nước mà còn phải đứng vững trên thịtrường thế giới Tranh chấp trong kinh doanh là không thể tránh khỏi, nhất là đốivới cơ chế mở và một nền kinh tế thị trường đang theo xu hướng khu vực hóa, toàn

Trang 14

cầu hóa như hiện nay Tuy nhiên, do sự chủ quan và không được trang bị kiến thứcpháp luật đầy đủ, các doanh nghiệp thường gặp phải những tổn thất không đáng códẫn tới sự thua thiệt, tổn thất rất lớn trong kinh doanh và thậm chí là phá sản.

Công ty Nhiệt điện Uông Bí (Tên gọi tắt là UBTPC), một doanh nghiệp đãtừng là con chim đầu đàn của ngành điện, của khối doanh nghiệp Nhà nước trên địabàn tỉnh Quảng Ninh cũng đang trong giai đoạn nhiều khó khăn, sự khó khăn nàyđến từ nhiều phía: nguồn cung cấp nguyên liệu chính là than ngày càng giảm sút,cấp trên giao phát sản lượng ngày càng cao, yêu cầu tối ưu hóa chi phí, giảm giáthành càng chặt chẽ Các năm gần đây sản lượng sản xuất của Công ty thườngkhông đạt kế hoạch Tổng công ty giao, máy móc thiết bị vận hành thường xuyên sự

cố, giá thành sản xuất cao hơn kế hoạch đề ra dẫn tới hiệu quả sản xuất kinh doanhkhông có lãi Các nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên là trình độ tay nghề kinhnghiệm người lao động còn yếu , máy móc thiết bị lạc hậu, tiêu tốn nhiều nhiên liệu,nhiên liệu, vật tư cung cấp cho sửa chữa chưa kịp thời, máy móc thiết bị khôngđược đầu tư nâng cấp, giá bán điện thấp Để vận hành máy móc thiết bị sản xuấtđiện, yếu tố đầu tiên là người lao động thì các yếu tố đầu vào khác là nguyên nhiênvật liệu, công tác công tác sửa chữa máy móc thiết bị là rất quan trọng Nguyênnhiên vật liệu không được cung cấp kịp thời, đảm bảo yêu cầu chất lượng thì phảingừng máy móc thiết bị, không vận hành sản xuất được Việc cung cấp nguyên vật

liệu phụ thuộc vào chất lượng quản lý và thực hiện các hợp đồng mua sắm Công

tác sửa chữa không thực hiện tốt thì ảnh hưởng rất lớn tới hiệu quả sản xuất kinhdoanh của Công ty vì khi chất lượng sửa chữa kém, kéo dài thời gian sửa chữa thìmáy móc thiết bị không ổn định, liên tục sự cố và số giờ vận hành giảm, tốn kémnhiều chi phí khi phải khởi động lại lò máy, bị phạt trên thị trường do tham gia vào

hệ thống không đảm bảo sản lượng đã giao Công tác sửa chữa chủ yếu là thuê

ngoài nên chất lượng của hợp đồng với các nhà thầu sửa chữa ảnh hưởng trực tiếp

đến chất lượng thi công các công trình sửa chữa Các vướng mắc, khó khăn, trục

trặc liên quan đến công tác sửa chữa thương xuyên xảy ra tại Công ty trong nhiềunăm qua, chi phí sửa chữa lớn nhất là khi tiếp nhận và vận hành 2 tổ máy 300MW(do Tổng thầu Lilama bàn giao) và 330MW (do nhà thầu Chengda của Trung quốc

Trang 15

bàn giao) với tình hình chung là máy móc thiết bị lạc hậu, không đồng bộ, khôngđảm bảo đúng theo thiết kế nên Công ty phải thường xuyên sửa chữa Để giao kết

và thực hiện một hợp đồng sửa chữa thành công, chất lượng và hiệu quả thì tất cảcác khâu của hợp đồng thương mại từ lập phương án kỹ thuật, lập dự toán, xây dựng

hồ sơ mời thầu, chấm thầu, thương thảo hợp đồng, ký kết hợp đồng, quản lý thựchiện hợp đồng, nghiệm thu, bảo hành công trình phải làm tốt, tính pháp lý của hợpđồng chặt chẽ thì công tác sửa chữa mới chất lượng hiệu quả

Để góp phần vào việc thực hiện tốt quản lý và thực hiện hợp đồng tại Công tygóp phần quan trọng cho phục vụ sản xuất phát sản lượng điện, tiết giảm chi phí,thực hiện đạt và vượt kế hoạch Tổng công ty giao, sản xuất kinh doanh có lãi, quathời gian làm việc tại UBTPC, học tập và nghiên cứu tại khóa đào tạo Thạc sĩ Luậtkinh tế 2018 - 2020, Đại học Ngoại Thương, tôi quyết định nghiên cứu và thực hiện

đề tài “ Giao kết và thực hiện Hợp đồng thương mại tại Công ty nhiệt điện Uông Bí

” trình bày trong luận văn của mình

2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

Như đã khẳng định ở phần trên, việc giao kết và thực hiện HĐTM đóng vai tròrất quan trọng trong hoạt động của doanh nghiệp, là một trong những nguyên nhânquyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp nên vấn đề giao kết và thựchiện HĐTM đã được nghiên cứu, đề cập khá nhiều trong các chương trình nghiêncứu, giảng dạy, xây dựng hệ thống pháp luật và cả trong thực tiễn kinh doanh

Trong những năm qua, giới nghiên cứu khoa học pháp lý đã có một số côngtrình, bài nghiên cứu liên quan đến vấn đề này với những phạm vi và mức độ khácnhau, ví dụ như :

Cẩm nang hợp đồng thương mại của VCCI năm 2010;

Cẩm nang văn bản pháp luật dành cho doanh nghiệp - phiên bản 3.0 của VCCInăm 2015;

Những điều cần biết về ký kết và thực hiện hợp đồng dân sự (Theo Bộ luậtDân sự hiện hành năm 2015) của Bộ Tư pháp năm 2017

Trang 16

Giáo trình Luật thương mại quốc tê của Trường Đại học Kinh tế quốc dân do

TS Trần ThTrầòa Bình – TS Trnươnăn Nam ch Vg ên – NXB Lao độNXB ã hXBLao Vg mại đó đưa ra nhừng tổng quan về luật thương mại quốc tế, các thiết chếđiều chỉnh quan hệ thương mại quốc tế, chế độ pháp lý về hợp đồng mua bán hànghóa quốc tế, hợp đồng chuyên chở hàng hóa quốc tế, chế độ pháp lý về bảo hiểmhàng hóa

Luận án tiến sĩ của NCS Hà Công Anh Bảo – Trường Đại học ngoại thương vềHợp đồng thương mại dịch vụ và giải quyết tranh chấp Hợp đồng thương mại dịch

vụ ở Việt Nam Luận án đã đưa ra những khía cạnh chung nhất về khái niệm và thựctrạng giải quyết tranh chấp Hợp đồng thương mại dịch vụ tại Việt nam với các hợpđồng có hoặc không có yếu tố nước ngoài

Luận án Tiến sĩ của NCS Phạm Hoàng Giang, Quyền tự do hợp đồng tronghoạt động thương mại ở Việt Nam - những vấn đề lý luận và thực tiễn - Trường Đạihọc Luật Hà Nội Luận án đưa ra các vấn đề về lý luận và thực tiễn quyền tự do hợpđồng trong hoạt động thương mại ở Việt Nam

Bài viết “ Một số môc tiến độ chính để đạt được vận hành thương mại của Nhàmáy điện” thuộc phần Tranh tụng và trọng tài trong lĩnh vực năng lượng của các tácgiả Arif Hyder Ali và Denis J.King được đăng trên tạp chí Transnational DisputeManagement năm 2007 và Công thông tin về Luật và quy định điều chỉnh ngànhnăng lượng thế giới

Những công trình và đề tài, bài viết trên đều chứng tỏ được tầm quan trọng củahợp đồng thương mại trong nền kinh tế cũng như đối với các doanh nghiệp Tuynhiên, trong ngành điện nói chung, chưa có một nghiên cứu nào về giao kết và thựchiện HĐTM để giúp các doanh nghiệp sản xuất điện có sự tham chiếu hữu ích khitham gia ký kết và thực hiện các HĐTM nhằm có được các hợp đồng chất lượng,hiệu quả, giảm thiểu các rủi ro trong quá trình thực hiện hợp đồng Tại UBTPC nóiriêng, cho đến nay cũng chưa hề có một nghiên cứu nào về thực tiễn giao kết vàthực hiện HĐTM , chính vì vậy trên thực tế có những nội dung xây dựng hồ sơ mờithầu, chấm thầu, thương thảo hợp đồng, ký kết hợp đồng, quản lý thực hiện hợp

Trang 17

đồng đến khi giải quyết tranh chấp phát sinh vẫn có cán bộ nghiệp vụ đến lãnh đạođang không nắm rõ, không có phương châm, nguyên tắc phù hợp với đặc thù vàthực tiễn máy móc thiết bị của Công ty khi xây dựng, giao kết và thực hiện hợpđồng thương mại.

Vì vậy cần thiết phải có một nghiên cứu về thực tiễn giao kết và thực hiệnHĐTM về tại UBTPC để giúp những người làm công tác tham mưu giúp việc soạnthảo, ký kết và thực hiện HĐTM cũng như các lãnh đạo UBTPC rút ra được cáckinh nghiệm quý giá trong quá trình xây dựng, đàm phán, ký kết và thực hiện; đểhiểu và có cách thức bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi tham gia quan

hệ thương mại với các đối tác trong và ngoài nước, giảm thiểu rủi ro, tổn thất, thiệthại khi thực hiện hợp đồng

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích của đề tài nhằm xác định cơ sở lý luận và thực tiễn vững chắc vềHĐTM, phát hiện ra những bất cập, tồn tại từ thực tiễn giao kết và thực hiện HĐTMcủa UBTPC, đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong việc giao kết

và thực hiện các HĐTM tại Công ty

Để thực hiện được mục tiêu trên, nhiệm vụ của đề tài là:

Khái quát những vấn đề cơ bản về hợp đồng, HĐTM nói chung, các quy địnhpháp luật cơ bản về giao kết và thực hiện HĐTM;

Phân tích thực tiễn việc giao kết và thực hiện HĐTM tại UBTPC trong cácnăm vừa qua, đặc biệt trong thời điểm hiện nay, từ đó phát hiện ra các điểm bất cập,các nguy cơ rủi ro mà UBTPC đã, đang và sẽ gặp phải ở từng loại hợp đồng

Đề xuất các giải pháp hữu ích nhằm giải quyết các bất cập, rủi ro của việc giaokết và thực hiện HĐTM để nâng cao hiệu quả giao kết và thực hiện HĐTM với cácđối tác

4 Đ i tượng và phạm vi nghiên cứu

Trang 18

Đối tượng của đề tài là những vấn đề pháp lý liên quan đến giao kết và thựchiện HĐTM theo pháp luật Việt Nam Đối tượng nghiên cứu của đề tài là thực tiễngiao kết và thực hiện các HĐTM tại UBTPC.

Phạm vi nghiên cứu của đề tài:

Về nội dung: Các loại hợp đồng hiện có tại UBTPC : hợp đồng mua sắm vật tưhàng hóa, hợp đồng dịch vụ, hợp đồng sửa chữa, hợp đồng mua bán điện, hợp đồngmua nhiên liệu, hợp đồng đào tạo

Về không gian: luận văn nghiên cứu các HĐTM trên quy mô của một doanhnghiệp là UBTPC và đề xuất giải pháp cho UBTPC trong việc giao kết và thực hiệnHĐTM

Về thời gian: tác giả thu thập và phân tích các HĐTM của UBTPC được ký kếttrong 5 năm trở lại đến nay Đồng thời tác giả đề xuất các giải pháp cho UBTPCtrong giai đoạn tiếp theo kể từ khi hoàn thiện công trình nghiên cứu tháng 12 năm2019

5 Phương pháp nghiên cứu

Tác giả đã kết hợp chặt chẽ giữa lý luận và thực tiễn trong việc nghiên cứu vàgiải quyết những vấn đề mà đề tài đã đặt ra Trên cơ sở phương pháp luận của Chủnghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đề tài tập trung sử dụng một số phươngpháp nghiên cứu khoa học chủ yếu đó là phương pháp thống kê, tổng hợp, phântích, kết hợp nghiên cứu lý luận và thực tiễn Các phương pháp này được sử dụngrải rác trong nhiều chương khác nhau của luận văn Cụ thể:

Chương 1 sử dụng phương pháp phân tích làm rõ các khái niệm, đặc điểm,điều kiện hiệu lực, trình tự giao kết, nguyên tắc giao kết và thực hiện HĐTM, tráchnhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM, tổng hợp các vấn đề pháp lý cơ bản về giao kết

và thực hiện HĐTM để tạo ra một hệ thống lý luận mang tính đầy đủ và lô gích hơn;tổng hợp các kỹ năng đàm phán, soạn thảo HĐTM

Trang 19

Chương 2, tác giả sử dụng phương pháp phân tích, đánh giá thực tiễn giao kết

và thực hiện từng loại HĐTM tại UBTPC nhằm làm rõ các vấn đề tồn tại trong việcgiao kết và thực hiện HĐTM tại UBTPC

Chương 3, tác giả sử dụng phương pháp đánh giá việc áp dụng các quy địnhpháp luật hiện hành, các quy trình, quy định nội bộ của Công ty liên quan đến việcgiao kết và thực hiện HĐTM, phân tích định hướng phát triển của UBTPC từ đó đềxuất các giải pháp hữu ích thúc đẩy hiệu quả của việc giao kết và thực hiện HĐTMtrong thời gian sớm nhất

6 Ý nghĩa khoa học của đề tài nghiên cứu

Với mục tiêu trên đây, tác giả hy vọng đề tài sẽ có ý nghĩa thiết thực, mangđến một cái nhìn tổng quát về các vấn đề còn tồn tại và cách thức khắc phục đối vớiviệc giao kết và thực hiện HĐTM tại UBTPC, giúp cho lãnh đạo UBTPC, cácphòng ban liên quan và cán bộ nghiệp có thêm cơ sở tham khảo cần thiết trong quátrình giao kết và thực hiện HĐTM với các đối tác Qua đó nâng cao năng lực quảntrị và thực hiện HĐTM, giảm thiểu rủi ro trong quá trình giao kết và thực hiệnHĐTM của UBTPC

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, bố cục của luậnvăn này gồm 3 chương:

Chương 1: Khái quát chung về giao kết và thực hiện Hợp đồng thương mại Chương 2: Thực trạng giao kết và thực hiện Hợp đồng thương mại tại Công ty

Nhiệt điện Uông Bí

Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả giao kết và thực hiện

Hợp đồng thương mại tại Công ty Nhiệt điện Uông Bí.

Trang 20

Theo Điều 385 BLDS 2015 “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc

xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự” Hợp đồng là một hành

vi pháp lý cơ bản và thông dụng nhất, là sự thể hiện ý chí của các chủ thể để làm

phát sinh các quyền và nghĩa vụ BLDS năm 2015 đã bỏ cụm từ “dân sự” sau hai từ

“hợp đồng” trong với BLDS năm 2005, điều này giúp cho cách hiểu về khái niệmhợp đồng trong BLDS được rộng hơn, bao trùm cả hợp đồng dân sự, hợp đồng laođộng, hợp đồng kinh doanh hay HĐTM, hợp đồng đầu tư Quy định mới về kháiniệm hợp đồng này làm tăng tính khả thi, minh bạch trong thực tiễn áp dụng, mở rộng phạm vi điều chỉnh của BLDS

Ý chí của các chủ thể đóng vai trò quan trọng trong hợp đồng, khi sự thốngnhất của các ý chí là thực chất và không trái pháp luật thì nó sẽ làm phát sinh cácnghĩa vụ, nghĩa vụ này ràng buộc các chủ thể, buộc các chủ thể hợp đồng phải thựchiện Do đó, yếu tố thoả thuận, thống nhất ý chí có ý nghĩa chủ đạo trong việc thiếtlập lên hợp đồng, tuy nhiên chỉ những thoả thuận làm phát sinh, thay đổi hoặc chấmdứt quyền, nghĩa vụ của các chủ thể mới tạo nên quan hệ hợp đồng

b/ Khái niệm về HĐTM

Hiện nay, khái niệm về HĐTM không có trong tất cả các văn bản pháp luật,khái niệm này chỉ tồn tại dưới dạng là một thuật ngữ pháp lý Ngay trong LTM

2005 cũng không có khái niệm cụ thể thế nào là HĐTM nhưng có thể hiểu HĐTM

là một dạng cụ thể của hợp đồng dân sự phục vụ cho mục đích kinh doanh Như vậyHĐTM cũng là những giao dịch có bản chất dân sự, được thiết lập trên cơ sở thỏathuận tự nguyện, bình đẳng của các bên, cùng hướng tới lợi ích của mỗi bên và lợiích chung khi tham gia giao kết hợp đồng và đều có những vấn đề cơ bản của một

Trang 21

hợp đồng dân sự, chỉ khác về mục đích là phục vụ cho mục đích kinh doanh thươngmại.

Xuất phát từ khái niệm hoạt động thương mại được qui định trong Khoản 1

gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạtđộng nhằm mục đích sinh lợi khác” thì có thể hiểu HĐTM là hình thức pháp lý củahành vi thương mại, là sự thỏa thuận giữa hai hay nhiều bên mà ít nhất một trongcác bên phải là thương nhân hoặc các chủ thể có tư cách thương nhân nhằm xác lập,thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên trong việc thực hiện hoạt độngthương mại

Khái niệm trên giúp cho các bên tham gia HĐTM hiểu rõ bản chất của HĐTM

là một sự thỏa thuận, mục đích của HĐTM là nhằm mục đích thương mại và chủ thểtham gia hợp đồng là thương nhân hoặc tổ chức cá nhân khác hoạt động có liênquan đến thương mại

Tóm lại HĐTM là sự thỏa thuận giữa các chủ thể thương mại với nhau và vớicác chủ thể có liên quan về việc xác lập, thay đổi, hoặc chấm dứt các quyền vànghĩa vụ trong hoạt động thương mại Hợp đồng là phương tiện không thể thiếutrong hoạt động thương mại để các chủ thể thực hiện mục tiêu thương mại củamình HĐTM trở thành phương tiện phục vụ cho mục đích kinh doanh trên nguyêntắc các chủ thể tự nguyện, bình đẳng với nhau

1.1.2 Đặc điểm

Từ các khái niệm trên thì HĐTM mang những đặc điểm của hợp đồng dân sựnói chung, đồng thời mang những nét đặc trưng nhất định, trong đó có hai yếu tố cơ

bản: Thứ nhất, nội dung là các hoạt động thương mại; Thứ hai, được ký kết giữa các

chủ thể là thương nhân hoặc ít nhất một bên chủ thể là thương nhân

a/ Chủ thể của Hợp đồng thương mại

Chủ thể đầu tiên của HĐTM là thương nhân Thương nhân được xem là cácchủ thể hoạt động một cách thường xuyên trong các hoạt động có liên quan đếnthương mại, các chủ thể khác được xem là các chủ thể hoạt động không thường

Trang 22

xuyên đó là tất cả các chủ thể của luật dân sự khi tham gia các hoạt động thươngmại.

Từ một đặc điểm của HĐTM là được ký kết giữa các chủ thể là thương nhân,hoặc có ít nhất một chủ thể là thương nhân, có thể thấy hoạt động thương mại làhoạt động của các thương nhân hoặc giữa thương nhân với các chủ thể khác Khoản

lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và cóđăng ký kinh doanh”

Trong HĐTM, có thể có những hợp đồng đòi hỏi các bên đều phải là thươngnhân như: hợp đồng đại diện cho thương nhân, hợp đồng đại lý thương mại… hay

có những hợp đồng chỉ đòi hỏi có ít nhất một bên là thương nhân như: hợp đồng ủythác mua bán hàng hóa, hợp đồng dịch vụ bán đấu giá hàng hóa, hợp đồng môi giớithương mại…)

Ngoài ra, các tổ chức, các nhân không phải là thương nhân cũng có thể trởthành chủ thể của HĐTM khi họ có hoạt động liên quan đến thương mại Họ thamgia hợp đồng không nhằm mục đích sinh lợi nhưng có liên quan đến thương mại, cónhu cầu giao dịch, mua bán hàng hóa và lựa chọn luật áp dụng là LTM

Như vậy, chủ thể trong HĐTM gồm thương nhân, cá nhân, tổ chức khác có

hoạt động liên quan đến thương mại (Khoản 1,2 Điều 2 LTM 2005), với tư cách là

pháp nhân hay cá nhân nếu tuân thủ được các quy định của pháp luật thì đều cóquyền tiến hành các giao dịch thương mại

b/ Đối tượng của Hợp đồng thương mại

Các bên khi tham gia ký kết HĐTM thỏa thuận về quyền và nghĩa vụ của mìnhtrong hoạt động thương mại ký kết Đối tượng của HĐTM có thể là hàng hóa, trong

đó Khoản 2 Điều 3 LTM 2005 quy định hàng hóa bao gồm tất cả các loại động sản

kể cả động sản hình thành trong tương lai, những vật gắn liền với đất đai, dịch vụ, nhưng phải không thuộc danh mục hàng hóa bị cấm Chính vì hoạt động thươngmại bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, xúc tiến thương mại và các hoạt

Trang 23

động nhằm mục đích sinh lợi, nên đối tượng của HĐTM không chỉ dừng lại ở hàng

hóa hữu hình mà bao gồm cả các loại hình dịch vụ và các hoạt động sinh lợi khác.

c/ Luật điều chỉnh Hợp đồng thương mại

Nguồn của pháp luật hợp đồng là các căn cứ được sử dụng làm cơ sở để xâydựng, ban hành, giải thích pháp luật cũng như để áp dụng vào việc giải quyết cáctranh chấp pháp lý xảy ra trong thực tế, cụ thể nguồn luật điều chỉnh hợp đồng tronghoạt động thương mại ở Việt Nam gồm:

Thứ nhất, Các văn bản pháp luật liên quan đến HĐTM Hai văn bản pháp luật

quan trọng nhất hiện nay là LTM 2005 và BLDS 2015, bên cạnh đó còn có luậtchuyên ngành Những vấn đề nào LTM 2005 và luật chuyên ngành không quy địnhthì áp dụng BLDS 2015 Trong mối quan hệ giữa LTM và luật chuyên ngành thìluật chuyên ngành được ưu tiên điều chỉnh trước Đối với HĐTM quốc tế thì ngoàicác quy định trên còn ưu tiên áp dụng các công ước quốc tế mà Việt Nam tham gia

ký kết hoặc luật của nước mà các bên thỏa thuận áp dụng Đối với các hợp đồngmua bán hàng hóa quốc tế (hợp đồng xuất khẩu, hợp đồng nhập khẩu) thì có thể ápdụng Công ước của Liên Hợp Quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (CISG)nếu hợp đồng thuộc phạm vi áp dụng của Công ước này

Thứ hai, Các nghị quyết, hướng dẫn, tổng kết của tòa án nhân dân tối cao và

nghị quyết của Hội đồng thẩm phán liên quan đến các vụ án thương mại, các nghịđịnh của chính phủ, các thông tư của các bộ ban ngành là nguồn của pháp luậtHĐTM

Thứ ba, Thói quen và tập quán thương mại: Theo điều 12 LTM 2005 thì các

bên được coi là mặc nhiên áp dụng những thói quen trong hoạt động thương mại đãđược thiết lập giữa các bên đó mà họ đã biết hoặc buộc phải biết Trường hợp cácbên không có thỏa thuận, pháp luật không quy định thì áp dụng tập quán thươngmại, tức là thói quen được thừa nhận rộng rãi trong hoạt động thương mại trên mộtvùng, miền hoặc một lĩnh vực thương mại, có nội dung rõ ràng được các bên thừanhận để xác định quyền và nghĩa vụ của các bên trong hoạt động thương mại Đối

Trang 24

với các HĐTM quốc tế thì tập quán thương mại quốc tế như Incoterms, UCP là mộttrong các nguồn chủ yếu.

d/ Giải quyết tranh chấp Hợp đồng thương mại

Trong quá trình tiến hành hoạt động thương mại, các chủ thể tham gia hoạtđộng thương mại khó tránh khỏi những mâu thuẫn, bất đồng về quyền và nghĩa vụtrong những quan hệ cụ thể Tranh chấp HĐTM phát sinh khi có một hoặc nhiềuchủ thể trong quan hệ hợp đồng vi phạm hoặc bị cho là vi phạm về các quyền vànghĩa vụ được quy định trong hợp đồng Khi có tranh chấp xảy ra, để đảm bảoquyền lợi của mình, các bên đều muốn giải quyết tranh chấp nhanh chóng, thuận lợi,

có hiệu quả và không ảnh hưởng đến quá trình kinh doanh của mình Các bên có thểlựa chọn phương án giải quyết bằng thương lượng, hòa giải, trọng tài hoặc yêu cầuTòa án giải quyết

Thương lượng là phương thức giải quyết tranh chấp HĐTM thông qua việc các

bên cùng nhau bàn bạc, thỏa thuận để tự giải quyết mâu thuẫn phát sinh

Hoà giải là hình thức các bên cùng nhau bàn bạc, thỏa thuận (có thể có sự

tham gia của trung gian) để tìm kiếm phương pháp giải quyết tranh chấp phát sinh.Phương pháp này đơn giản, nhanh chóng, ít tốn kém, thủ tục linh hoạt, mềm dẻo, cóthể duy trì hợp tác giữa các bên tranh chấp nếu hòa giải thành đồng thời giữ được

uy tín và bí mật kinh doanh của các bên, các bên thường tự nguyện và nghiêm túcthực hiện

Giải quyết tranh chấp HĐTM bằng Tòa án là việc các bên khi phát sinh tranh

chấp không thể tự thỏa thuận, hòa giải thì có thể nộp đơn yêu cầu Tòa án giải quyếttranh chấp

Giải quyết tranh chấp HĐTM bằng Trọng tài là phương thức giải quyết tranh

chấp khi có sự thỏa thuận của các bên trong hợp đồng hoặc sau khi xảy ra tranhchấp về việc đưa tranh chấp ra giải quyết tại cơ quan Trọng tài Khoản 1 Điều 3

thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp do các bên thoả thuận và được tiếnhành theo quy định của Luật Trọng tài thương mại

Trang 25

1.1.3 Điều kiện hiệu lực của Hợp đồng thương mại

LTM 2005 không quy định điều kiện có hiệu lực cụ thể của HĐTM TheoĐiều 117 BLDS 2015, có thể thấy 4 điều kiện hiệu lực cơ bản của giao dịch dân sự,

cũng chính là 4 điều kiện hiệu lực cơ bản của giao dịch thương mại, bao gồm: (i) Điều kiện về chủ thể của hợp đồng; (ii) Điều kiện về mục đích, nội dung hợp đồng;

(iii) Điều kiện về hình thức hợp đồng; (iv) Điều kiện về tính chất tự nguyện khi giao

kết hợp đồng

a/ Điều kiện về chủ thể của hợp đồng

Quy định tại Điểm a, b Khoản 1 Điều 117 BLDS 2015 về điều kiện có hiệulực của hợp đồng, Yếu tố cơ bản để giao dịch thương mại có hiệu lực là điều kiện

về chủ thể, theo đó chủ thể giao dịch phải hợp pháp thể hiện ở việc chủ thể phảiđảm bảo các điều kiện có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phùhợp với giao dịch được xác lập

Xem xét tính hiệu lực về điều kiện chủ thể còn phải xem xét tư cách của chủthể, cụ thể là thẩm quyền của người đại diện của các bên giao kết hợp đồng, ngườiđại diện giao kết hợp đồng có phải là người đại diện pháp luật hay người được ủyquyền, nếu là người được ủy quyền thì phải đảm bảo các quy định trong chế định ủyquyền về hình thức, phạm vi, thời hạn ủy quyền và phải tiên lượng trước đượcnhững hậu quả pháp lý của việc ủy quyền đối với việc xác lập và thực hiện giaodịch thương mại đó

Để trở thành chủ thể hợp pháp của HĐTM, các công ty, doanh nghiệp phảitiến hành đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật Người đại diện theopháp luật của công ty, doanh nghiệp được quy định trong Điều lệ của công ty,doanh nghiệp và/hoặc trong Giấy chứng nhận thành lập doanh nghiệp, phù hợp vớiquy định của pháp luật doanh nghiệp

Căn cứ Khoản 1 Điều 139 BLDS 2015 thì giao dịch dân sự do người đại diệnxác lập, thực hiện với người thứ ba phù hợp với phạm vi đại diện làm phát sinhquyền, nghĩa vụ đối với người được đại diện Tương tự như vậy với giao dịchthương mại, nếu người đại diện xác lập, thực hiện với chủ thể khác mà phù hợp với

Trang 26

phạm vi đại diện mới làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với chủ thể khác trong giaodịch thương mại đó.

Cũng tại Điều 139 BLDS 2015, Khoản 3 quy định về trường hợp người đạidiện biết hoặc phải biết việc xác lập hành vi đại diện là do bị nhầm lẫn, bị lừa dối, bị

đe dọa, cưỡng ép mà vẫn xác lập, thực hiện hành vi thì không làm phát sinh quyền,nghĩa vụ đối với người được đại diện, trừ trường hợp người được đại diện biết hoặcphải biết về việc này mà không phản đối

Từ quy định tại Khoản 1 Điều 142 BLDS 2015 quy định hậu quả của giao dịchdân sự do người không có quyền đại diện xác lập có thể thấy giao dịch thương mại

do người không có quyền đại diện xác lập, thực hiện thì không làm phát sinh quyền,nghĩa vụ đối với chủ thể khác, trừ khi chủ thể đó đã công nhận giao dịch hoặc chủthể đó biết mà không phản đối trong một thời hạn hợp lý hoặc chủ thể đó có lỗi dẫnđến việc người đã giao dịch không biết hoặc không thể biết về việc người đã xáclập, thực hiện giao dịch thương mại với mình không có quyền đại diện

Trong trường hợp giao dịch thương mại do người không có quyền đại diện xáclập, thực hiện không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với người được đại diện thìngười không có quyền đại diện vẫn phải thực hiện nghĩa vụ đối với người đã giaodịch với mình, trừ trường hợp người đã giao dịch biết hoặc phải biết về việc không

có quyền đại diện mà vẫn giao dịch Người đã giao dịch với người không có quyềnđại diện có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hoặc huỷ bỏ giao dịch đã xác lập

và yêu cầu bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp người đó biết hoặc phải biết về việckhông có quyền đại diện mà vẫn giao dịch hoặc người được đại diện đã công nhậngiao dịch Trường hợp người không có quyền đại diện và người đã giao dịch cố ýxác lập, thực hiện giao dịch mà gây thiệt hại cho người được đại diện thì phải chịutrách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại Chủ thể giao kết với người đại diện không

có thẩm quyền này không biết về việc không có thẩm quyền của người đại diện thì

có thể đơn phương chấm dứt thực hiện hoặc hủy bỏ giao dịch đó

Điều 143 BLDS 2015 quy định hậu quả của giao dịch do người đại diện xáclập, thực hiện vượt quá phạm vi đại diện theo đó giao dịch đó sẽ không làm phát

Trang 27

sinh quyền, nghĩa vụ của người được đại diện đối với phần giao dịch được thực hiệnvượt quá phạm vi đại diện, trừ khi người được đại diện đồng ý hoặc người được đạidiện biết mà không phản đối trong một thời hạn hợp lý hoặc người được đại diện cólỗi dẫn đến việc người đã giao dịch không biết hoặc không thể biết về việc người đãxác lập, thực hiện giao dịch với mình vượt quá phạm vi đại diện Trường hợp giaodịch do người đại diện xác lập, thực hiện vượt quá phạm vi đại diện không làm phátsinh quyền, nghĩa vụ của người được đại diện đối với phần giao dịch được xác lập,thực hiện vượt quá phạm vi đại diện thì người đại diện phải thực hiện nghĩa vụ đốivới người đã giao dịch với mình về phần giao dịch vượt quá phạm vi đại diện, trừtrường hợp người đã giao dịch biết hoặc phải biết về việc vượt quá phạm vi đại diện

mà vẫn giao dịch

Người đã giao dịch với người đại diện có quyền đơn phương chấm dứt thựchiện hoặc huỷ bỏ giao dịch đối với phần vượt quá phạm vi đại diện hoặc toàn bộgiao dịch và yêu cầu bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp người đó biết hoặc phảibiết về việc vượt quá phạm vi đại diện mà vẫn giao dịch hoặc khi Người được đạidiện đồng ý Trường hợp người đại diện và người giao dịch với người đại diện cố ýxác lập, thực hiện giao dịch vượt quá phạm vi đại diện mà gây thiệt hại cho ngườiđược đại diện thì phải chịu trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại

b/ Điều kiện về mục đích, nội dung hợp đồng

Nội dung của HĐTM là tổng hợp các điều khoản mà các bên tham gia giao kếtHĐTM đã thỏa thuận, thống nhất, các điều khoản này xác định những quyền vànghĩa vụ cụ thể của các bên Mục đích của hợp đồng là những lợi ích hợp pháp màcác bên mong muốn đạt được khi giao kết hợp đồng

Để HĐTM có hiệu lực thì một trong những điều kiện cơ bản là mục đích vànội dung của giao dịch thương mại không vi phạm điều cấm của pháp luật, khôngtrái đạo đức xã hội, điều này được quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 117 BLDS2015

Ví dụ: các bên có thể thỏa thuận trong hợp đồng mua bán bất kỳ đối tượnghàng hóa nào nhưng không được thỏa thuận những đối tượng mà pháp luật cấm

Trang 28

mua bán như ma túy, vũ khí, các hàng hóa cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu quyđịnh tại Phụ lục 1 ban hành kèm theo Nghị định 187/2013/NĐ-CP ngày 20/11/2013của Chính Phủ, các bên không được thỏa thuận ký kết các hợp đồng có nội dung viphạm điều cấm của pháp luật, trái với đạo đức xã hội như hợp đồng mua bán phụ

nữ, hợp đồng mua bán trẻ em, hợp đồng mua bán nội tạng người

Pháp luật Việt Nam cũng có những văn bản luật không quy định điều khoảnbắt buộc phải có trong HĐTM như LTM 2005 Pháp luật đề cao sự thỏa thuận giữacác bên giao kết, tuy nhiên vẫn quy định nội dung của hợp đồng phải tuân theonhững quy định của pháp luật hợp đồng nói chung tại Khoản 1 Điều 398 BLDS2015

Luật Việt Nam đưa ra các khuyến nghị, theo quy định tại Khoản 2 Điều 398BLDS 2015 thì hợp đồng có thể bao gồm các nội dung: Đối tượng của hợp đồng; sốlượng, chất lượng; giá, phương thức thanh toán; thời hạn, địa điểm, phương thứcthực hiện hợp đồng; quyền, nghĩa vụ của các bên; trách nhiệm do vi phạm hợpđồng; phương thức giải quyết tranh chấp Tùy theo tính chất của từng loại hợp đồngcác bên có thể thỏa thuận hay không thỏa thuận tất cả các nội dung trên Các bêncũng có thể bổ sung thêm vào hợp đồng những điều khoản không có quy địnhnhưng thấy cần thiết

Ngoài ra, để làm rõ nội dung của hợp đồng, các bên có thể bổ sung bằng phụlục hợp đồng Phụ lục hợp đồng có hiệu lực như hợp đồng, nhưng nội dung của phụlục hợp đồng không được trái với hợp đồng Trường hợp phụ lục có điều khoản tráivới nội dung của điều khoản trong hợp đồng thì điều khoản này không có hiệu lực,trừ trường hợp có thỏa thuận khác Nếu các bên chấp nhận phụ lục của hợp đồng cóđiều khoản trái với điều khoản trong hợp đồng thì coi như điều khoản đó trong hợpđồng đã được sửa đổi

BLDS 2015 đã bổ sung thêm một điểm mới so với BLDS 2005 đó là quy địnhquyền thỏa thuận của các bên về nội dung hợp đồng, theo đó Điều 398 quy định:

“Các bên trong hợp đồng có quyền thỏa thuận về nội dung trong hợp đồng” Đâyđược xem là bổ sung thêm phương thức giải quyết khi xảy ra tranh chấp Cũng theo

Trang 29

quy định tại Điều 123 BLDS 2015, trường hợp các bên thỏa thuận các nội dung viphạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội thì HĐTM đó sẽ vô hiệu Trườnghợp một phần nội dung của giao dịch thương mại đó vô hiệu mà không ảnh hưởngđến hiệu lực của phần còn lại của giao dịch thì HĐTM sẽ vô hiệu từng phần (Điều

130 BLDS 2015)

c/ Điều kiện về hình thức hợp đồng

Hình thức của hợp đồng là cách thức thể hiện ý chí ra bên ngoài dưới hìnhthức nhất định của các chủ thể hợp đồng, là phương tiện để ghi nhận, lưu trữ, truyềntải nội dung của hợp đồng Hợp đồng để ghi nhận lại các điều khoản mà các bên đãcùng nhau thống nhất cam kết Thông qua cách thức biểu hiện này, người ta có thểbiết được nội dung của giao dịch đã xác lập Hình thức của hợp đồng có ý nghĩa đặcbiệt quan trọng trong tố tụng, bởi đó là chứng cứ xác nhận các quan hệ hợp đồng đã

và đang tồn tại giữa các bên, từ đó xác định trách nhiệm khi có vi phạm xảy ra.Tùy thuộc vào nội dung, tính chất của từng hợp đồng cũng như tùy thuộc vào

độ tin tưởng lẫn nhau mà các bên có thể lựa chọn một hình thức nhất định trong việcgiao kết hợp đồng cho phù hợp với từng trường hợp cụ thể để đảm bảo được tínhthống nhất và mối quan hệ liên thông, bổ trợ lẫn nhau trong hệ thống các quy địnhpháp luật về hợp đồng

Theo quy định tại BLDS 2015, hợp đồng có thể xác lập bằng văn bản, bằng lờinói hoặc hành vi cụ thể Tuy nhiên đối với một số hợp đồng mà pháp luật qui địnhphải bắt buộc bằng văn bản như hợp đồng cung ứng dịch vụ (Điều 74 LTM 2005),hợp đồng nhượng quyền thương mại (Điều 285 LTM 2005)… hoặc quy định phảiđược công chứng, chứng thực, đăng ký hay xin phép thì các bên phải tuân thủ quyđịnh về hình thức khi ký kết hợp đồng Trong trường hợp này, hình thức của hợpđồng là điều kiện có hiệu lực, khi giao kết các bên phải tuân theo hình thức đượcpháp luật quy định thì HĐTM mới có hiệu lực Thông thường các HĐTM được xáclập bằng văn bản để đảm bảo sự an toàn và dễ giải quyết khi xảy ra tranh chấp,nhưng đối với những hợp đồng đơn giản, việc mua bán cần diễn ra nhanh chóng thìcác bên có thể xác lập hợp đồng bằng lời nói hoặc bằng một hành vi cụ thể

Trang 30

Như vậy việc xác định hình thức của HĐTM như thế nào là tùy thuộc vào sựthỏa thuận của các bên Việc đưa ra hình thức bắt buộc đối với một số loại giao dịch

là nhằm mục đích lưu ý các bên cần thận trọng hơn khi giao kết thương mại vànhằm đảm bảo tính rõ ràng của việc tồn tại các giao dịch thương mại, quyền vànghĩa vụ cũng như đặc điểm của quan hệ pháp luật thương mại

Một trong các vấn đề mà các chuyên gia về pháp luật kinh doanh quan tâm làhình thức hợp đồng có ảnh hưởng đến hiệu lực của hợp đồng như thế nào Về vấn

đề này, pháp luật của các nước có những quan điểm và cách tiếp cận khác nhau

Ở nhiều nước trên thế giới, pháp luật có những điều khoản cụ thể đối với một

số hợp đồng, bắt buộc từng loại phải được thể hiện bằng hình thức nhất định, nếu viphạm quy định này, hợp đồng đã ký kết sẽ không có giá trị pháp lý Vi phạm cácquy định bắt buộc về hình thức sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến pháp luật và trật tự công

Vì vậy, chừng nào sự thống nhất của các bên chưa được thể hiện bằng những hìnhthức nhất định theo quy định của pháp luật thì chừng đó chưa có hợp đồng

Pháp luật một số nước coi sự vi phạm về hình thức là vi phạm lợi ích côngcộng nên hợp đồng vô hiệu tuyệt đối Ví dụ, pháp luật của Đức đã đưa ra điều kiệntiên quyết là phải tuân thủ nghiêm ngặt về hình thức để nhằm bảo vệ những ngườikhông có kinh nghiệm đối mặt với những tình huống bất ngờ, cũng như để hạn chếphương pháp chứng cứ Tuy nhiên, việc pháp luật quy định hợp đồng phải đượcthiết lập bởi những hình thức nhất định sẽ vô tình tạo nên khoảng cách nhất địnhgiữa sự thỏa thuận mong muốn của các bên với hiệu lực của hợp đồng Hay ở một

số nước theo hệ thống luật Anh - Mỹ (common law), quan niệm hình thức văn bản

là bắt buộc đối với các hợp đồng có giá trị Tại Anh và Úc, hợp đồng bắt buộc phảiđược lập thành văn bản khi giá trị của nó lớn hơn 10 bảng Anh, quy định này xuấtphát từ hệ thống luật án lệ coi các văn bản hợp đồng có giá trị bắt buộc và có tínhchất như luật đối với các bên và đó chính là căn cứ cơ bản để cơ quan có thẩmquyền xem xét giải quyết tranh chấp Nhờ đó, hợp đồng ở các nước này được soạnthảo rất chặt chẽ

Trang 31

Theo quy định của pháp luật Việt Nam tại BLDS 2015, Khoản 2 Điều 117 quyđịnh về điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự liên quan đến hình thức của giaodịch dân sự đó là trong trường hợp luật có quy định về hình thức.

Điều 119 BLDS 2015 quy định về hình thức giao dịch dân sự theo đó giaodịch dân sự được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể, giaodịch dân sự thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu theoquy định của pháp luật về giao dịch điện tử được coi là giao dịch bằng văn bản.Trường hợp luật quy định giao dịch dân sự phải được thể hiện bằng văn bản có côngchứng, chứng thực, đăng ký thì phải tuân theo quy định đó

Điều 129 BLDS 2015 quy định giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủquy định về hình thức theo đó giao dịch dân sự vi phạm quy định điều kiện có hiệulực về hình thức thì vô hiệu, trừ trường hợp giao dịch dân sự đã được xác lập theoquy định phải bằng văn bản nhưng văn bản không đúng quy định của luật mà mộtbên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theoyêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực củagiao dịch đó; hoặc giao dịch dân sự đã được xác lập bằng văn bản nhưng vi phạmquy định bắt buộc về công chứng, chứng thực mà một bên hoặc các bên đã thựchiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặccác bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó Trong trườnghợp này, các bên không phải thực hiện việc công chứng, chứng thực Hiệu lực củahợp đồng liên quan đến điều kiện về hình thức còn được quy định rõ ngay cả khisửa đổi hợp đồng theo đó hợp đồng sửa đổi phải tuân theo hình thức của hợp đồngban đầu (Khoản 3 Điều 421 BLDS 2015)

d/ Điều kiện về tính tự nguyện khi giao kết hợp đồng

Khi nhắc đến hợp đồng, tức là sự thỏa thuận giữa hai hay nhiều bên nhằm mụcđích xác lập, thay đổi, chấm dứt nghĩa vụ của các bên (Điều 385 BLDS 2015) Đồngthời, hợp đồng là một hành vi pháp lý, là sự thể hiện ý chí của các bên để làm phátsinh các quyền và nghĩa vụ Hợp đồng là loại hành vi pháp lý cơ bản và thông dụngnhất Ý chí của cá nhân đóng vai trò quan trọng trong hợp đồng, khi sự thống

Trang 32

nhất của các ý chí là thực chất và không trái pháp luật thì nó sẽ làm phát sinh cácnghĩa vụ, nghĩa vụ này ràng buộc các bên như luật pháp.

HĐTM được giao kết phải đảm bảo các nguyên tắc của hợp đồng nói chungtheo quy định của pháp luật Việc quy định nguyên tắc giao kết hợp đồng nhằm đảmbảo sự thỏa thuận của các bên phù hợp với ý chí thực của họ, hướng đến những lợiích chính đáng của các bên, đồng thời không xâm hại đến những lợi ích mà phápluật cần bảo vệ Theo quy định của BLDS 2015 việc giao kết hợp đồng phải tuântheo các nguyên tắc trong đó có nguyên tắc tự do giao kết những không trái phápluật và đạo đức xã hội LTM là luật riêng trong luật chung là BLDS nên chịu sựđiều chỉnh của những nguyên tắc chung nói trên trong BLDS 2015

Một trong những điều kiện cơ bản để HĐTM có hiệu lực là tính tự nguyện khi

giao kết hợp đồng, theo đó người tham gia giao dịch phải hoàn toàn tự nguyện,không bị ép buộc, điêu này được quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 117 BLDS2015

Việc quy định nguyên tắc giao kết hợp đồng nhằm đảm bảo sự thỏa thuận củacác bên phù hợp với ý chí thực của họ, hướng đến những lợi ích chính đáng của cácbên, đồng thời không xâm hại đến những lợi ích mà pháp luật cần bảo vệ Việc giaokết hợp đồng nói chung và hợp đồng kinh doanh thương mại nói riêng phải tuântheo các nguyên tắc: Tự do giao kết những không trái pháp luật và đạo đức xã hội,đảm bảo các nguyên tắc tự do ý chí, tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác, trungthực và ngay thẳng Những hành vi cưỡng ép, đe dọa, lừa dối để giao kết hợpđồng là lý do dẫn đến hợp đồng bị coi là vô hiệu

1.2 Giao kết Hợp đồng thương mại

1.2.1 Nguyên tắc giao kết Hợp đồng thương mại

Nguyên tắc giao kết và thực hiện HĐTM là những yêu cầu mà các bên thamgia giao kết phải tuân thủ nhằm đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp của các bên.Trong quá trình giao kết và thực hiện HĐTM, các bên tham gia hợp đồng phảithực hiện đúng các nguyên tắc cơ bản của pháp luật nói chung và pháp luật về hợpđồng, trước hết phải kể đến là các nguyên tắc chung được quy định trong Điều 3

Trang 33

BLDS 2015, theo đó mọi cá nhân, pháp nhân đều bình đẳng, không được lấy bất kỳ

lý do nào để phân biệt đối xử; được pháp luật bảo hộ như nhau về các quyền nhânthân và tài sản; cá nhân, pháp nhân xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụdân sự của mình trên cơ sở tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận; mọi cam kết, thỏathuận không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội có hiệu lực thựchiện đối với các bên và phải được chủ thể khác tôn trọng; cá nhân, pháp nhân phảixác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình một cách thiện chí,trung thực; việc xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự không đượcxâm phạm đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợppháp của người khác; cá nhân, pháp nhân phải tự chịu trách nhiệm về việc khôngthực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ dân sự

Từ những nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự và các nguyên tắc cơ bảncủa hợp đồng nói chung dẫn chiếu đến các nguyên tắc cơ bản mà các bên tham giaHĐTM cần tuân thủ trong quá trình giao kết và thực hiện HĐTM

Khi giao kết HĐTM, các chủ thể cần chú ý đến các nguyên tắc giao kết, trong

đó có các nguyên tắc cơ bản sau:

Nguyên tắc đầu tiên phải kể đến đó là nguyên tắc tự do, tự nguyện giao kết

hợp đồng Theo nguyên tắc này, HĐTM được hình thành hoàn toàn trên cơ sở tự

nguyện thỏa thuận giữa các bên, các bên có quyền tự do ý chí, tự do thỏa thuận giaokết hay không giao kết HĐTM, tự do lựa chọn các bên đồng ký kết và tự do xácđịnh nội dung HĐTM nhưng không trái với thuần phong mỹ tục, đạo đức xã hội.Như vậy, chúng ta có thể thấy rằng nếu có ý chí thống nhất của các bên thì một sựthỏa thuận, một hợp đồng được hình thành Hợp đồng giữa các bên không thể do sự

áp đặt ý chí của bất cứ cá nhận tổ chức nào, quyền tự do giao kết hoặc không giaokết hợp đồng có hệ quả đặc biệt, xác lập lên quyền và nghĩa vụ của các bên tham giahợp đồng

Nguyên tắc thứ hai là nguyên tắc bình đẳng và cùng có lợi, theo nguyên tắc

này khi ký kết HĐTM, các bên phải đảm bảo nội dung hợp đồng có sự tương xứngnhau về quyền và nghĩa vụ nhằm đáp ứng lợi ích kinh tế của các bên Xuất phát từ

Trang 34

nguyên tắc thứ nhất, các bên có quyền tự do thỏa thuận để đảm bảo thực hiện đượcnguyên tắc thứ hai này, các bên tự do thỏa thuận đến độ nhận thấy quyền và lợi íchhợp pháp của mình và của đối tác được đảm bảo chấp nhận ở nội dung hợp đồng,thỏa thuận để đạt được mục đích của giao dịch thương mại Không bên nào được ưutiên hơn, cũng không bên nào bị bắt buộc phải chịu thiệt thòi hơn vì bất cứ lý do gì,các bên khi giao kết HĐTM đều bình đẳng trước pháp luật, giao kết với mục tiêucùng có lợi, cùng đạt đến mục đích giao kết.

Nguyên tắc thứ ba là nguyên tắc trực tiếp chịu trách nhiệm tài sản Theo

nguyên tắc này, các bên tham gia HĐTM phải dùng chính tài sản của mình để đảmbảo việc ký kết và thực hiện hợp đồng, phải trực tiếp chịu trách nhiệm với tài sảncủa mình khi tham gia HĐTM Nguyên tắc này quy định trách nhiệm tài sản của cácbên đối với nội dung của việc ký kết và thực hiện hợp đồng

Nguyên tắc thứ tư là nguyên tắc không vi phạm điều cấm của luật, theo

nguyên tắc này, các bên liên quan HĐTM không được lợi dụng việc ký kết hợpđồng để hoạt động trái pháp luật, phải đảm bảo nội dung và hình thức của hợp đồngtheo quy định của pháp luật Yêu cầu về Nội dung và hình thức hợp đồng đã được

đề cập ở mục 1.3.2 và 1.3.3 trên đây

Ngoài ra các bên tham gia giao kết HĐTM còn phải đảm bảo các nguyên tắckhác như nguyên tắc thiện chí và trung thực, nguyên tắc tự do lựa chọn luật áp dụng

và cơ quan giải quyết tranh chấp đối với hợp đồng có yêu tố nước ngoài

1.2.2 Đề nghị giao kết Hợp đồng thương mại.

Theo quy đ thương mại.gia giao kết HĐTM còn phải đảm bảo các nguyên tắckhác như nguyên tắc thiện chí và trung thực, nguyên tắc tự do lựa chọn luật áp dụng

và cơ quan giải quyết tranh chấp đối với hợp đồng có yêu tố nước ngoài ồng đãđược đề nghị Có thể thấy, đề nghị giao kết hợp đồng là sự thể hiện ý chí của mộtbên về ý định giao kết hợp đồng với bên đã được xác định cụ thể So vhị giao kếthợp đồng là sự thể hiện ý chí của một bên về ý định giao kết hợp đồng với bên đãđược xác địnhp đồng, có thể có nhiều bên nhận được đề nghị trong giao kết hợpđồng, điều này phù hợp với thực tiễn áp dụng ở nước ta hiện nay

Trang 35

Về nội dung và phương thức đề nghị giao kết hợp đồng, bên đề nghị phải xácđịnh rõ những nội dung chủ yếu (điều, khoản cơ bản) của hợp đồng và chịu sự ràngbuộc về đề nghị đối với bên đã được đề nghị.

có nêu rõ thời hạn trả lời, nếu đề nghị giao kết hợp đồng có nêu rõ thời hạn trả lời

mà chưa hết thời hạn đó bên đề nghị lại giao kết hợp đồng với người thứ ba thì phảibồi thường thiệt hại cho bên được đề nghị khi bên này bị thiệt hại do không đượcgiao kết hợp đồng

Đề nghị giao kết hợp đồng có thể được thực hiện theo một trong hai phươngthức là đề nghị trực tiếp và đề nghị gián tiếp Theo phương thức đề nghị trực tiếp,các bên trực tiếp gặp mặt, trao đổi, thống nhất để đề nghị và nghe đề nghị Bên được

đề nghị có thể trả lời ngay về việc chấp nhận hoặc không chấp nhận lời đề nghị củabên đề nghị, trường hợp chưa trả lời ngay mà sẽ trả lời trong một thời gian nhất địnhthì các bên ấn định thời hạn chờ trả lời, thời hạn chờ trả lời đề nghị xác định theophương thức này phải có sự đồng ý của các bên Theo phương thức đề nghị giántiếp, bên đề nghị gửi đề nghị giao kết hợp đồng đến bên được đề nghị Thời hạn chờtrả lời đề nghị xác định theo phương thức này do bên đề nghị ấn định

Có một điểm mà BLDS 2015 quy định mới so với BLDS 2005 đó là việc bảomật thông tin giao kết hợp đồng, theo đó Điều 387 BLDS 2015 quy định trường hợpmột bên có thông tin ảnh hưởng đến việc chấp nhận giao kết hợp đồng của bên kiathì phải thông báo cho bên kia biết Trường hợp một bên nhận được thông tin bí mậtcủa bên kia trong quá trình giao kết hợp đồng thì có trách nhiệm bảo mật thông tin

và không được sử dụng thông tin đó cho mục đích riêng củ mình hoặc cho mục đíchtrái pháp luật khác, nếu vi phạm thì sẽ phải bồi thường Quy định này là cơ sở đểgiải quyết tranh chấp phát sinh nếu có

Điều 388 BLDS 2015 quy định thời điểm đề nghị giao kết hợp đồng có hiệulực, theo đó thời điểm có hiệu lực do bên đề nghị ấn định, nếu bên đề nghị không ấnđịnh thì đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu lực kể từ khi bên được đề nghị nhậnđược đề nghị đó, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác Điều này có thêm

Trang 36

ý được bổ sung so với BLDS 2005 đó là chế định loại trừ nếu luật có liên quan cóquy định khác, thể hiện sự ưu tiên đối với luật chuyên ngành đồng thời tránh được

sự mâu thuẫn giữa các luật khác nhau và phù hợp với thực tiễn áp dụng ở nước taBLDS cũng quy định các trường hợp được coi là đã nhận được đề nghị giaokết hợp đồng gồm: Đề nghị được chuyển đến nơi cư trú, nếu bên được đề nghị là cánhân; được chuyển đến trụ sở, nếu bên được đề nghị là pháp nhân; đề nghị được đưavào hệ thống thông tin chính thức của bên được đề nghị; khi bên được đề nghị biếtđược đề nghị giao kết hợp đồng thông qua các phương thức khác

Điều 389 BLDS 2015 quy định việc thay đổi, rút lại đề nghị giao kết hợpđồng, theo đó bên đề nghị giao kết hợp đồng có thể thay đổi, rút lại đề nghị giao kếthợp đồng nếu Bên được đề nghị nhận được thông báo về việc thay đổi hoặc rút lại

đề nghị trước hoặc cùng với thời điểm nhận được đề nghị Trường hợp bên đề nghịthay đổi nội dung của đề nghị thì đó là đề nghị mới

Khi bên được đề nghị đã chấp nhận giao kết hợp đồng nhưng có nêu điều kiệnhoặc sửa đổi đề nghị thì coi như người này đã đưa ra đề nghị mới, đây là quy địnhtại Điều 392 BLDS 2015 về Sửa đổi đề nghị do bên được đề nghị đề xuất

Quy định việc huỷ bỏ đề nghị giao kết hợp đồng được đề cập tại Điều 390BLDS 2015 theo đó bên đề nghị giao kết hợp đồng có thể huỷ bỏ đề nghị nếu đãnêu rõ quyền này trong đề nghị và bên được đề nghị nhận được thông báo về việchủy bỏ đề nghị trước khi người này gửi thông báo chấp nhận đề nghị giao kết hợpđồng

Quy định việc chấm dứt đề nghị giao kết hợp đồng tại Điều 391 BLDS 2015theo đó đề nghị giao kết hợp đồng chấm dứt nếu bên được đề nghị chấp nhận giaokết hợp đồng hoặc bên được đề nghị trả lời không chấp nhận hoặc hết thời hạn trảlời chấp nhận hoặc khi thông báo về việc thay đổi hoặc rút lại đề nghị có hiệu lựchoặc khi thông báo về việc huỷ bỏ đề nghị có hiệu lực hoặc theo thoả thuận của bên

đề nghị và bên được đề nghị trong thời hạn chờ bên được đề nghị trả lời

Trang 37

Khi nhận được đề nghị giao kết hợp đồng, việc bên được đề nghị trả lời đềnghị giao kết hợp đồng là việc họ thể hiện ý chí của mình về việc đồng ý hay khôngđối với nội dung mà bên đề nghị đã đưa ra trong đề nghị giao kết hợp đồng.

Việc trả lời đề nghị giao kết hợp đồng của bên được đề nghị có thể theo mộttrong ba trường hợp, thứ nhất đó là không chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồngbằng cách có thể không trả lời đề nghị và hết thời hạn chờ trả lời thì coi như bênđược đề nghị không chấp nhận đề nghị, trừ trường hợp các bên đã thỏa thuận nếubên nhận đề nghị giao kết hợp đồng im lặng thì coi như chấp nhận giao kết hợpđồng hoặc bên được đề nghị có thể trả lời trực tiếp hoặc bằng công văn về việckhông chấp nhận giao kết hợp đồng với bên đã đề nghị; thứ hai là đồng ý giao kếthợp đồng nhưng có nêu ý kiến của mình hoặc phải thay đổi một số nội dung nhấtđịnh đối với đề nghị của phía bên kia, trong trường hợp này thì bên được đề nghịnêu điều kiện và nội dung sửa đổi trong trả lời đề nghị và được coi là một đề nghịmới của bên đã được đề nghị; thứ ba là chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng, tức làtrả lời chấp nhận toàn bộ nội dung của đề nghị

1.2.3 Chấp nhận giao kết Hợp đồng thương mại

Theo quy định tại Điều 393 BLDS 2015, chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng

là sự trả lời của bên được đề nghị về việc chấp nhận toàn bộ nội dung của đề nghị

đó Nếu bên được đề nghị im lặng thì không được coi là chấp nhận đề nghị trừtrường hợp có thỏa thuận hoặc theo thói quen đã được xác lập giữa các bên vớinhau

Điều 394 Bộ luật dân sự 2015 quy định về thời hạn trả lời chấp nhận giao kếthợp đồng, theo đó khi bên đề nghị có ấn định thời hạn trả lời thì việc trả lời chấpnhận chỉ có hiệu lực khi được thực hiện trong thời hạn đó; nếu bên đề nghị giao kếthợp đồng nhận được trả lời khi đã hết thời hạn trả lời thì chấp nhận này được coi là

đề nghị mới của bên chậm trả lời Khi bên đề nghị không nêu rõ thời hạn trả lời thìviệc trả lời chấp nhận chỉ có hiệu lực nếu được thực hiện trong một thời hạn hợp lý.Trường hợp thông báo chấp nhận giao kết hợp đồng đến chậm vì lý do khách quan

mà bên đề nghị biết hoặc phải biết về lý do khách quan này thì thông báo chấp nhận

Trang 38

giao kết hợp đồng vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp bên đề nghị trả lời ngay khôngđồng ý với chấp nhận đó của bên được đề nghị Khi các bên trực tiếp giao tiếp vớinhau, kể cả trong trường hợp qua điện thoại hoặc qua phương tiện khác thì bên được

đề nghị phải trả lời ngay có chấp nhận hoặc không chấp nhận, trừ trường hợp cácbên có thoả thuận về thời hạn trả lời

Điều 395, 396 BLDS 2015 quy định trường hợp bên đề nghị và bên được đềnghị giao kết hợp đồng chết, mất năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trongnhận thức, làm chủ hành vi sau khi chấp nhận giao kết hợp đồng thì đề nghị giao kếthợp đồng vẫn có giá trị, trừ trường hợp nội dung giao kết gắn liền với nhân thân củahọ

Việc rút lại thông báo chấp nhận giao kết hợp đồng được quy định tại Điều

397 BLDS 2015 theo đó bên được đề nghị giao kết hợp đồng có thể rút lại thôngbáo chấp nhận giao kết hợp đồng, nếu thông báo về việc rút lại này đến trước hoặccùng với thời điểm bên đề nghị nhận được trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng

1.3 Thực hiện Hợp đồng thương mại

1.3.1 Nguyên tắc thực hiện Hợp đồng thương mại

Trong quá trình thực hiện HĐTM, các bên cần tuân thủ các nguyên tắc cơ bản:

Thứ nhất, thực hiện đúng các điều khoản về đối tượng của hợp đồng như

hàng hóa, sản phẩm, công việc, dịch vụ mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng.Khi giao kết HĐTM, các bên đã xác định rõ đối tượng của hợp đồng mình giao kết.Trong quá trình thực hiện HĐTM các bên phải tuân thủ đầy đủ các thỏa thuận liênquan đến đối tượng của hợp đồng đã giao kết

Thứ hai, thực hiện đúng các điều khoản về số lượng như sản lượng về hàng

hóa giao dịch, khối lượng công việc thực hiện, đơn vị đo lường, phương thức đolường Trên thực tế, hợp đồng thường quy định rất rõ ràng về điều khoản số lượng,điều khoản này liên quan trực tiếp đến giá trị HĐTM, đến các yêu cầu chính về đốitượng HĐTM, vì vậy các bên nhất thiết phải tuân thủ các điều khoản về số lượng đãthỏa thuận

Trang 39

Thứ ba, thực hiện đúng các điều khoản về chất lượng, các bên khi thực hiện

HĐTM đã ký kết phải thực hiện đúng các điều khoản đã thỏa thuận liên quan đếnchất lượng hàng hóa, dịch vụ, công việc đã thỏa thuận căn cứ trên các tiêu chuẩn kỹthuật của nhà nước hoặc tiêu chuẩn chất lượng mà các bên đã đăng ký với cơ quannhà nước có thẩm quyền Điều khoản về chất lượng cũng là một trong những điềukhoản cơ sở để các bên thực hiện HĐTM đã ký kết và thường cũng hay xảy ra tranhchấp khi các bên thỏa thuận không rõ ràng hoặc thực hiện không đúng thỏa thuận

Thứ tư, thực hiện đúng các điều khoản về giá cả, phương thức thanh toán,

trong quá trình thực hiện HĐTM các bên cần tuân thủ các điều khoản về giá cả,phương thức thanh toán, lưu ý đối với những sản phẩm, dịch vụ mà nhà nước đãđịnh giá hoặc quy định khung giá thì các bên chỉ được thỏa thuận theo khung giáquy định ví như sản phẩm xăng, dầu, điện, dịch vụ y tế

Các điều khoản về thời gian trong HĐTM ảnh hưởng trực tiếp đến quyền vàlợi ích hợp pháp của các bên và là một trong những nguyên nhân thường gây nêntranh chấp thương mại vì thế đòi hỏi các bên phải thực hiện đúng các điều khoản vềthời gian đã thỏa thuận trong HĐTM

Địa điểm thực hiện hợp đồng là một trong những nội dung cơ bản của HĐTM,góp phần phục vụ mục đích của giao dịch thương mại, vì vậy các bên cần tuân thủcác thỏa thuận về địa điểm thực hiện hợp đồng

Ngoài ra trong quá trình thực hiện hợp đồng, các bên còn phải thực hiện cácnguyên tắc khác như nguyên tắc thực hiện đúng các nội dung cam kết về bảo hiểmvận chuyển, bảo hành

Trong quá trình thực hiện hợp đồng, các chủ thể của hợp đồng nhận thấy cần

có một số nội dung đã ký kết trong hợp đồng cần phải sửa đổi nhằm giúp cho việcthực hiện dễ dàng hơn, phù hợp hơn, hợp lý hơn với thực tế thực hiện thì các bên

ký phụ lục hợp đồng để sửa đổi, bổ sung một số nội dung đã ký kết Việc ký kết phụlục hợp đồng cũng phải thực hiện, tuân thủ theo các nguyên tắc nêu ở trên

Trang 40

1.3.2 Các biện pháp đảm bảo thực hiện Hợp đồng thương mại

Để đảm bảo quyền và lợi ích của các bên khi tham gia quan hệ hợp đồng, tránhrủi ro nhất định có thể xảy ra thì trong hợp đồng cần quy định biện pháp đảm bảothực hiện hợp đồng Theo quy định của BLDS 2015, các biện pháp đảm bảo gồmcó: Cầm cố tài sản, Thế chấp tài sản, Đặt cọc, Ký cược, Ký quỹ, Bảo lưu quyền sởhữu, Bảo lãnh, Tín chấp, Cầm giữ tài sản Các bên có thể lựa chọn một trong cácbiện pháp hoặc sử dụng phối hợp nhiều biện pháp trong hợp đồng phù hợp với đốitượng, hình thức, lĩnh vực hợp đồng

Đối với đơn vị sử dụng vốn nhà nước khi ký kết hợp đồng thương mại thực hiện

theo quy định của Luật đấu thầu năm 2013 thì Bảo đảm thực hiện hợp đồng là việc

nhà thầu, nhà đầu tư thực hiện một trong các biện pháp đặt cọc, ký quỹ hoặc nộp thưbảo lãnh của tổ chức tín dụng hoặc chi nhánh ngân hàng nước ngoài được thành lậptheo pháp luật Việt Nam để bảo đảm trách nhiệm thực hiện hợp đồng của nhà thầu,nhà đầu tư

- Biện pháp đặt cọc:

Đặt cọc là việc một bên (sau đây gọi là bên đặt cọc) giao cho bên kia (sau đâygọi là bên nhận đặt cọc) một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc vật có giả trịkhác (sau đây gọi chung là tài sản đặt cọc) trong một thời hạn để bảo đảm giao kếthoặc thực hiện hợp đồng

Trường hợp hợp đồng được giao kết, thực hiện thì tài sản đặt cọc được trả lạicho bên đặt cọc hoặc được trừ để thực hiện nghĩa vụ trả tiền; nếu bên đặt cọc từ chốiviệc giao kết, thực hiện hợp đồng thì tài sản đặt cọc thuộc về bên nhận đặt cọc; nếubên nhận đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì phải trả cho bên đặtcọc tài sản đặt cọc và một khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc, trừ trườnghợp có thỏa thuận khác

- Biện pháp ký quỹ :

Ký quỹ là việc bên có nghĩa vụ gửi một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quýhoặc giấy tờ có giá vào tài khoản phong tỏa tại một tổ chức tín dụng để bảo đảmviệc thực hiện nghĩa vụ Tài sản ký quỹ là tiền, kim khí quý, đá quý hoặc giấy tờ có

Ngày đăng: 01/08/2020, 19:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w