Dưới thời thuộc địa, một số học giả, nhà quản lý kinh tế Pháp đã tiến hành nghiên cứu thực trạng kinh tế nông nghiệp của tỉnh Bắc Kỳ từ những góc độ và chuyên môn khác nhau.. Đặc biệt, m
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nông nghiệp là ngành kinh tế thu hút sự quan tâm của thực dân Pháp trong quá trình khai thác thuộc địa ở Việt Nam Khi hoàn thành cuộc bình định nước ta (1884), giới tư bản Pháp đã chú trọng đến hai lĩnh vực là nông nghiệp và khai mỏ
Dưới tác động của cuộc khai thác thuộc địa lần 1 (1914 – 1918), thông qua chính sách nông nghiệp của thực dân Pháp, nền nông nghiệp Bắc Kỳ đã
có nhiều chuyển biến mới Việc nghiên cứu vấn đề nông nghiệp Việt Nam thời cận đại không những làm sáng tỏ các vấn đề về lịch sử Việt Nam cận đại nói chung, mà còn có ý nghĩa trong việc tìm hiểu về lịch sử kinh tế Việt Nam nói riêng
Tìm hiểu những chuyển biến mới trong nông nghiệp Bắc Kỳ những năm thời cận đại sẽ cho chúng ta có những nhìn nhận, đánh giá khách quan về nông nghiệp Bắc Kỳ thời bấy giờ Đồng thời chúng ta có những lý giải hợp lý
về các vấn đề chính trị - xã hội đương thời và góp phần nhìn nhận những bước thăng trầm của nông nghiệp Bắc Kỳ trong lịch sử dân tộc
Nghiên cứu vấn đề nông nghiệp thời thuộc địa góp phần bổ sung mảng
tư liệu về kinh tế - xã hội nước ta giai đoạn này Với các tỉnh Bắc Kỳ, việc làm đó càng cần thiết, bởi nông nghiệp chiếm vị trí quan trọng nhất trong cơ cấu kinh tế khu vực; đại bộ phận dân số ở nông thôn và chủ yếu sống nhờ vào nông nghiệp Do đó những hiểu biết về nông nghiệp giúp ta nhìn nhận đầy đủ hơn về tình hình kinh tế - xã hội nơi đây Trong điều kiện tư liệu về mảng này còn thiếu thốn, công tác nghiên cứu chưa nhiều, việc bổ sung những kiến thức nông nghiệp khu vực càng thêm ý nghĩa Từ đó, góp phần hiểu thêm tình hình kinh tế - xã hội Việt Nam thời Pháp thuộc
Trang 2Xuất phát từ ý nghĩa khoa học và thực tiễn đó và được sự giúp đỡ của
ThS Chu Thị Thu Thủy, tôi mạnh dạn chọn đề tài "Những chuyển biến trong kinh tế nông nghiệp Bắc Kỳ từ 1919 đến 1945" làm khóa luận tốt nghiệp của
mình
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Từ trước 1945 và nhất là sau ngày hòa bình lập lại trên miền Bắc (1954) đến nay, đã có một số công trình nghiên cứu về tình hình nông nghiệp các tỉnh Bắc Kỳ thời Pháp thuộc
Dưới thời thuộc địa, một số học giả, nhà quản lý kinh tế Pháp đã tiến hành nghiên cứu thực trạng kinh tế nông nghiệp của tỉnh Bắc Kỳ từ những góc độ và chuyên môn khác nhau Nhiều công trình khảo cứu công phu của các học giả Pháp về kinh tế nông nghiệp Đông Dương nói chung được công
bố, đáng chú ý là Y.Herry với “Economie agricole de j’Indochine” (Kinh tế nông nghiệp Đông Dương, Hà Nội, 1932), Paul Bernard với “Le problem economique Indochinois” (Vấn đề kinh tế Đông Dương, Paris,1934), P.Gourou với “L’Utilisation du sol en Indochine Francaise” (Sử dụng ruộng
đất ở Đông Dương thuộc Pháp, Paris, 1940) Trong các công trình này, các tác giả tập trung phân tích tình hình sở hữu ruộng đất, canh tác nông nghiệp, sử dụng nhân công trong kinh tế nông nghiệp Đông Dương, trong đó có đề cập tới các tỉnh Bắc Kỳ Đó là những khảo cứu nghiêm túc dựa trên các số liệu điều tra từ nguồn vốn đáng tin cậy báo cáo của Nha Nông Lâm Thương mại Đông Dương, báo cáo kinh tế thường niên của các Công sứ các tỉnh Tuy nhiên, các số liệu được công bố chỉ giới hạn trong những năm nhất định, thiếu
đi yếu tố “động”, tức là sự biến đổi năm này qua năm khác và sự chuyển biến giữa thời quân chủ và thời thuộc địa Do vậy thiếu đi sự so sánh lịch đại Bên cạnh đó, phương pháp tiếp cận của tác giả chưa làm nổi bật được mối quan hệ
Trang 3giữa chính sách đầu tư, điều kiện cơ sở hạ tầng để phát triển kinh tế nông nghiệp cũng như tác động của nó tới xã hội nông thôn Một số công trình khác
đã tập trung đề cập tới kinh tế Bắc Kỳ nói chung và nông nghiệp nói riêng Hội đồng tư vấn hỗn hợp thương mại và canh nông Bắc Kỳ biên soạn các cuốn sách, tập san, số đặc biệt về Bắc Kỳ đã tập hợp được nhiều bài viết về kinh tế khu vực Các công trình chỉ mới dừng lại giới thiệu khái quát kinh tế khu vực từ canh nông, thương mại dến kinh tế đồn điền, trong đó nhấn mạnh tình hình canh tác một số cây trồng, và khai thác ở một số đồn điền khu vực
Sau Cách mạng tháng Tám 1945, nhất là sau 1954, nhiều công trình khảo cứu về kinh tế - xã hội Việt Nam thời thuộc Pháp, trong đó có đề cập
đến các tỉnh Bắc Kỳ được công bố Đáng chú ý là các công trình Lịch sử tám mươi năm chống Pháp (Trần Huy Liệu, Hà Nội, 1957), Những thủ đoạn bóc lột của đế quốc Pháp ở Việt Nam (Nguyễn Khắc Đạm, Hà Nội, 1957), Tìm hiểu sự phát triển kinh tế xã hội Việt Nam (Minh Tranh, Hà Nội, 1957), Thực trạng giới nông dân Việt Nam dưới thời Pháp thuộc (Phạm Cao Dương, Sài Gòn, 1965), Chủ nghĩa đế quốc Pháp và tình hình công nghiệp Việt Nam dưới thời Pháp thuộc (Phạm Đình Tân, Hà Nội, 1959) Một số chuyên khảo về giai
cấp công nhân Việt Nam cũng có đề cập đến công nhân đồn điền các tỉnh Bắc
Kỳ như giai cấp công nhân Việt Nam (Trần Văn Giàu, Hà Nội, 1961), Giai cấp công nhân Việt Nam trước khi thành lập Đảng (Ngô Văn Hòa, Dương Kinh Quốc, Hà Nội, 1978) Trong giáo trình Lịch sử Việt Nam cận đại của
Trần Văn Giàu, Viện Sử học,cũng ít nhiều đề cập đến tình hình nông nghiệp của các tỉnh Bắc Kỳ Đó là những công trình nghiên cứu công phu về lịch sử Việt Nam được thực hiện theo phương pháp luận sử học Mácxit, cung cấp cho tôi những hiểu biết căn bản về hình thái kinh tế - xã hội nước ta thời thuộc Pháp Tuy nhiên, các công trình này chỉ tập trung phân tích những hạn chế
Trang 4của chế độ thuộc địa mà chưa chú ý đúng mức đến những tác động tích cực (nằm ngoài ý muốn chủ quan) của chính sách thực dân Theo tôi, điều đó cần được bổ sung để có cái nhìn khách quan hơn về chế độ thuộc địa ở nước ta
Đặc biệt, một số công trình chuyên khảo về cơ cấu kinh tế - xã hội, tình
hình nông nghiệp, nông thôn thời Pháp thuộc được công bố như Phác qua tình hình ruộng đất và đời sống nông dân trước Cách mạng tháng Tám (Nguyễn Kiến Giang, Hà Nội, 1958), Tình hình ruộng đất nông nghiệp và đời sống nông dân dưới triều Nguyễn (Trương Hữu Quýnh, Đỗ Bang chủ biên, Huế, 1997), Cơ cấu kinh tế xã hội Việt Nam thời thuộc địa 1858-1945
(Nguyễn Văn Khánh, Hà Nội, 1999, tái bản lần hai năm 2004) Đầu thập niên
90 của thế kỷ trước, đã diễn ra cuộc thảo luận sôi nổi về nông nghiệp và đời sống nông dân dưới thời thuộc Pháp và Nhà xuất bản Khoa học xã hội đã tập hợp trong ấn phẩm “Nông dân và nông thôn Việt Nam thời cận đại”, (Hà Nội 1990-1992) Một số bài viết đăng trên tạp chí Ngiên cứu Lịch sử cũng đề cập
ít nhiều tới vấn đề tôi nghiên cứu Đáng chú ý là các bài viết về ruộng đất của các tác giả Nguyễn Đức Nghinh, Trương Hữu Quýnh, Vũ Huy Phúc…Một số luận án Tiến sĩ đã được công bố cũng giúp tôi hiểu biết về chính sách đầu tư tín dụng đối với nông nghiệp hay chính sách khai thác đồn điền của thực dân
Pháp như: Sự hiện diện tài chính và kinh tế Pháp ở Đông Dương 1858-1939 (Auminphin, Hà Nội, 1994), Đồn điền người Pháp ở Bắc Kỳ (Tạ Thị Thúy,
Hà Nội, 1996), Lịch sử tín dụng nông nghiệp Việt Nam 1875-1945 (Phạm
Quang Trung, Hà Nội, 1997) Với nguồn tài liệu phong phú – nhất là tài liệu lưu trữ - các công trình này phản ánh tương đối trung thực và khách quan về kinh tế Việt Nam thời thuộc Pháp, kế thừa những hiểu biết về kinh tế nông nghiệp trên bình diện chung của cả nước, tôi có điều kiện so sánh và cụ thể hóa ở khu vực Bắc Kỳ
Trang 5Trong một số công trình lịch sử chuyên ngành, nông nghiệp Việt Nam qua các thời kỳ được nghiên cứu hệ thống, nông nghiệp Bắc Kỳ được đề cập nhất định Cuốn “Lịch sử nông nghiệp Việt Nam” (Đường Hồng Dật chủ biên, Hà Nội, 1994) đã nghiên cứu lịch sử nông nghiệp dưới nhiều góc độ: tài nguyên nông nghiệp, nghành trồng trọt và chăn nuôi, các cây trồng chính, kỹ thuật nông nghiệp, tổ chức nông nghiệp Hai cuốn “Về cơ cấu nông nghiệp Việt Nam” và “Văn minh lúa nước và nghề trồng lúa Việt Nam” (Bùi Huy Đáp, Hà Nội, 1983, 1985) đã phân tích tiềm năng nông nghiệp của từng vùng, lịch sử của nghề trồng lúa ở nước ta Cuốn “Sơ thảo lịch sử thủy nông Việt Nam” (Phan Khánh, Hà Nội, 1981) đã nghiên cứu tổng quát lịch sử thủy nông nước ta có đề cập tới hệ thống thủy nông ở Bắc Kỳ
Trong số những công trình trên chưa có công trình nào chuyên nghiên cứu về những chuyển biến mới trong nông nghiệp Bắc Kỳ thời kỳ 1919 đến
1945 Những công trình đó tuy có những ưu, nhược điểm khác nhau nhưng đều là những bệ đỡ về tri thức, tạo điều kiện để tôi có thể học hỏi, tiếp tục nghiên cứu vấn đề này Trên cơ sở đó, chúng ta sẽ có cái nhìn khách quan hơn
về tác động của cuộc khai thác thực dân ở một khu vực, góp phần hiểu thêm
về lịch sử Việt Nam thời thuộc Pháp
3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu những chuyển biến trong kinh tế nông nghiệp Bắc Kỳ từ
1919 đến 1945 nhằm làm sang tỏ quá trình khai thác thuộc địa của thực dân Pháp dến tình hình kinh tế - xã hội của khu vực Trên cơ sở so sánh mức độ chuyển biến của kinh tế nông nghiệp Bắc Kỳ thời thuộc địa tới thời điểm
1884 để rút ra những nhận xét khách quan về công cuộc thực dân hóa ở một khu vực, góp phần hiểu thêm về chế độ thuộc địa ở nước ta Khóa luận cũng
bổ sung nguồn tư liệu, góp phần nghiên cứu và giảng dạy tốt hơn phần lịch sử
Trang 6địa phương, đồng thời nên lên những bài học kinh nghiệm, đề suất những giải pháp nhằm phát triển nông nghiệp, nông thôn Bắc Kỳ hiện nay
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài “Những chuyển biến trong kinh tế nông nghiệp Bắc Kỳ
từ 1919 đến 1945” nhằm giải quyết những nhiệm vụ:
Thứ nhất: Tìm hiểu những điều kiện tác động tới nền nông nghiệp Bắc Kỳ
Từ đó có cái nhìn khái quát về kinh tế - xã hội Bắc Kỳ trước năm 1919
Thứ hai: Phải làm rõ được sự chuyển biến trong kinh tế nông nghiệp Bắc
Kỳ từ 1919 đến 1945 Trên cơ sở tìm hiểu, phân tích những chuyển biến đó, tác giả rút ra những đặc điểm và tác động của nó đối với kinh tế nông nghiệp Bắc Kỳ
3.3 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Khóa luận nghiên cứu những chuyển biến trong
kinh tế nông nghiệp Bắc Kỳ
- Phạm vi thời gian: Từ 1919 đến 1945
4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1 Nguồn tư liệu
Để hoàn thành khóa luận, tác giả đã khai thác các nguồn tài liệu sau:
- Nguồn tư liệu thứ nhất: Là các giáo trình lịch sử, các công trình nghiên cứu về kinh tế nông nghiệp Việt Nam của các học giả Việt Nam và nước ngoài đang lưu trữ ở Thư viện Quốc Gia, Thư viện Khoa học xã hội, Viện sử học Việt Nam, Thư viện trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Thư viện Đai học Sư phạm Hà Nội 2
- Nguồn tư liệu thứ hai: Tôi tham khảo là các sách, báo, tạp chí nghiên cứu về nông nghiệp Bắc Kỳ trong thời kỳ 1919 – 1945
Trang 74.2 Phương pháp nghiên cứu
Cơ sở của phương pháp luận và lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng Sản Việt Nam về hình thái kinh tế xã hội, về lịch sử kinh tế nước ta thời thuộc Pháp
Để giải quyết các nhiệm vụ khoa học đặt ra, tôi sử dụng hai phương pháp nghiên cứu chuyên ngành cơ bản: phương pháp lịch sử và phương pháp logic Ngoài ra, tôi còn sử dụng nhiều nguồn tài liệu khác nhau, đánh giá và
so sánh các nguồn sử liệu để có những kết luận khoa học
5 Đóng góp của khóa luận
Khóa luận trình bày những chuyển biến của kinh tế nông nghiệp Bắc
Kỳ thời thuộc Pháp trên các mặt: chính sách khuyến nông, biện pháp kỹ thuật, phát triển thủy lợi, dẫn thủy nhập điền, chuyển biến trong quan hệ sở hữu ruộng đất, kinh tế đồn điền, cơ cấu nông nghiệp và chế độ tô thuế nông nghiệp…
Khóa luận cũng phân tích những tác động của quá trình khai thác thuộc địa nói chung, của nông nghiệp nói riêng đối với kinh tế - xã hội khu vực Bắc
Kỳ thời thuộc Pháp
Khóa luận cũng làm rõ những đặc điểm của kinh tế nông nghiệp Bắc
Kỳ thời thuộc Pháp Bổ sung tư liệu về lịch sử địa phương, nhất là mảng kinh
tế, góp phần làm sáng tỏ tình hình kinh tế - xã hội khu vực Bắc Kỳ nói riêng, Việt Nam nói chung thời cận đại
6 Bố cục của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phần mục lục, phần nội dung chính của khóa luận gồm hai chương:
Chương 1: Khái quát về kinh tế - xã hội Bắc Kỳ trước năm 1919 Chương 2: Những chuyển biến trong kinh tế nông nghiệp Bắc Kỳ từ
1919 đến 1945
Trang 8Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ KINH TẾ - XÃ HỘI BẮC KỲ
TRƯỚC NĂM 1919
1.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN
1.1.1 Tên gọi, vị trí địa lý và địa hình
Trong đời sống kinh tế của nước ta nói chung và Bắc Kỳ nói riêng từ xưa tới nay, nông nghiệp vẫn luôn là ngành kinh tế chủ đạo, chiếm vị trí quan trọng hàng đầu Trong khi trình độ sản xuất còn lạc hậu thì nền nông nghiệp của Bắc Kỳ lại có những ưu thế về tự nhiên và xã hội Đó là những thuận lợi
về đất đai, khí hậu và nguồn lao động
Sau cuộc hành quân của Pháp ra Bắc Kỳ lần 2, triều Nguyễn liên tiếp
ký với Pháp 2 bản điều ước đầu hàng là Harmand (25/8/1883) và Patenotre (6/6/1884), trong đó có một phần nội dung quy định về ranh giới của Bắc Kỳ Theo tinh thần của Hiệp ước Harmand "khu vực do triều đình cai trị như cũ, chỉ còn lại từ Khánh Hòa ra tới Đèo Ngang, tỉnh Bình Thuận sáp nhập vào Nam Kỳ, 3 tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh sáp nhập vào Bắc Kỳ" Như vậy, ranh giới Bắc Kỳ sẽ được tính từ Hà Tĩnh trở ra Bắc Song cho đến Hiệp ước Patenotre, thực dân Pháp lại quy định như sau: " từ địa giới phía Nam tỉnh Ninh Bình trở ra tới biên giới Việt - Trung gọi là Bắc Kỳ" Ranh giới Bắc
Kỳ quy định trong Hiệp ước Patenotre đã được duy trì trong suốt thời thuộc Pháp
Theo đó, Bắc Kỳ sẽ bao gồm 18 tỉnh: Nam Định, Thái Bình, Hà Nam, Quảng Yên, Ninh Bình, Thái Nguyên, Hà Đông, Hưng Yên, Kiến An, Bắc Ninh, Yên Bái, Hải Dương, Phúc Yên, Sơn Tây, Vĩnh Yên, Phú Thọ, Bắc Giang, Tuyên Quang
Trang 9Bắc Kỳ là nơi có diện tích không lớn lắm so với các vùng khác trong cả nước: 105.000 km vuông, trong đó, diện tích canh tác chiếm một tỷ lệ nhỏ, khoảng gần 1,5 triệu ha Còn theo như tính toán của Pierre Gourou, sau khi trừ đi tất cả những phần đất khác, thì diện tích có thể canh tác được ở vùng đồng bằng Bắc Kỳ là 12.000 km vuông (chiếm tỷ lệ 82,36% tổng diện tích đồng bằng Bắc Kỳ) Đất canh tác của Bắc Kỳ thì không nhiều nhưng lại tương đối màu mỡ do sự bồi tụ của hai hệ thống sông lớn là sông Hồng và sông Thái
Bình "Ở đây có thể làm ruộng 1 hoặc 2 vụ, nói chung đất khá tốt" [20, tr.40]
"Đất thịt pha" còn gọi là đất màu, là loại đất phù sa khá tốt rất dễ cày bừa dù khô hay ngập nước Đất này có thể trồng lúa vào mùa thu và trồng cây hoa màu vào mùa xuân
Đất ở miền núi, trung du Bắc Kỳ chiếm 2/3 diện tích tự nhiên có nhiều loại đất khác nhau Đất feralit nâu đỏ phát triển trên đá bazan, đá vôi, có diện tích lớn
1.1.3 Khí hậu, sông ngòi
Khí hậu cũng là một yếu tố tác động trực tiếp tới sự phát triển của nền nông nghiệp Bắc Kỳ Khí hậu nhiệt đới gió mùa (có nhiều biến động) đã cung
Trang 10cấp cho nền nông nghiệp Bắc Kỳ lượng nhiệt ẩm dồi dào (độ ẩm luôn lớn hơn 80%, nhiệt độ trung bình là 25°C, lượng mưa dao động từ 1,359 mm (1919) đến 2,588 mm (1926) đủ cho cây trồng đặc biệt là cây lúa và các cây hoa màu khác sinh trưởng và phát triển
Thiên nhiên mang lại cho người nông dân Bắc Kỳ nhiều thuận lợi nhưng đồng thời thiên nhiên cũng gây ra cho nền sản xuất nông nghiệp ở đây nhiều khó khăn thách thức Lịch sử Việt Nam cận hiện đại đã từng chứng kiến
26 trận vỡ đê ở Hưng Yên từ 1806 - 1900 những trận bão lớn ở Nam Định năm 1929 và những trận hạn hán kéo dài ở Bắc Bộ (1875)
Lượng mưa lớn, có nhiều đồi núi khiến cho hệ thống sông ngòi ở Bắc
Kỳ có những nét đặc thù Phần lớn các con sông chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, qua nhiều miền địa hình, chủ yếu là đồi núi nên sông ngắn, dốc, nước chảy xiết Lưu lượng nước không nhiều, phụ thuộc vào chế độ mưa Bắc
Kỳ với các hệ thống sông lớn như sông Hồng
Tóm lại, Bắc Kỳ có thể được xem như hình ảnh của nước Việt Nam thu nhỏ Điều kiện tự nhiên rất phong phú và đa dạng, có thế mạnh để phát triển một nền nông nghiệp đa dạng Tuy vậy, điều kiện tự nhiên Bắc Kỳ cũng rất khắc nghiệt, phức tạp về địa hình và thời tiết, thủy văn khiến cho canh tác nông nghiệp trên vùng đất này rất khó khăn cực nhọc
1.2 ĐIỀU KIỆN XÃ HỘI
Thời cận đại, 90% dân số Bắc Kỳ sống ở nông thôn, hầu hết họ quần tụ trên một phần lãnh thổ Châu thổ Bắc Kỳ có 6.500.00 cư dân nông thôn sống trên 15.000 km vuông Như vậy có thể ước lượng rằng mật độ dân số trung bình ở đồng bằng Bắc Kỳ là 430 người/km vuông Thậm chí ở phía Nam đồng bằng, có nơi mật độ dân số lên tới 830 người/km vuông và 1650 người/km vuông So với các nước Đông Nam Á thời đó (mật độ dân số trung bình trên 300 người/km vuông) thì mật độ dân số ở Bắc Kỳ cao hơn rất nhiều
Trang 11Với số lượng và tình hình phân bố dân cư như vậy, Bắc Kỳ đã có một nguồn lao động dồi dào Đó là một điều kiện thuận lợi để phát triển nông nghiệp ở một xứ nhiệt đới trong khi kỹ thuật sản xuất còn lạc hậu Hơn nữa, nông dân Bắc Kỳ vốn chăm chỉ, thông minh, kiên nhẫn và rất có kinh nghiệm
trong sản xuất nông nghiệp, nhất là việc trồng lúa: "Trong tất cả mọi công việc canh tác, người nông dân Bắc Kỳ đã sử dụng những phương pháp cực kỳ thích đáng, rất tinh vi, phù hợp với các môi trường khác nhau" và "Tất cả mọi nhà nông học đang nghiên cứu về xứ sở này đều thán phục sự thích nghi mềm dẻo và trí quan sát của người nông dân Tất cả đều thừa nhận tính cực kỳ hoàn thiện của các kỹ thuật nông nghiệp khó mà có thể cải tiến thêm được nữa Sau khi nghiên cứu xứ sở này, họ nhận thấy rằng họ khó có thể làm tốt hơn người nông dân, nhiều tập quán nông nghiệp mới đầu thấy có vẻ kỳ lạ đã được những phát minh gần đây của khoa học thổ nhưỡng xác nhận là đúng"
[13, tr.58]
Vì thế, tuy có những hạn chế về tác phong lao động, sức ép về tình trạng thiếu đất canh tác, ruộng đất manh mún do dân số quá đông gây ra, người nông dân Bắc Kỳ vẫn là một lực lượng lao động quan trọng, có vai trò quyết định trong nền sản xuất nông nghiệp Với một nguồn lao động dồi dào, người nông dân có kinh nghiệm sản xuất lâu đời, Bắc Kỳ có ưu thế để phát triển kinh tế nông nghiệp hơn so với các vùng khác trong cả nước
Nhìn chung, Bắc Kỳ có đủ các điều kiện cơ bản, thuận lợi cho sự hình thành và phát triển của một nền nông nghiệp nhiệt đới Nguồn tài nguyên tự nhiên xã hội giàu có là một trong những thế mạnh của vùng đất này, tạo ra ưu thế vượt trội, thúc đẩy sự phát triển nền nông nghiệp Bắc Kỳ Song đây cũng
là mảnh đất màu mỡ mà thực dân Pháp đã sớm nhận ra trong công cuộc khai thác và bóc lột thuộc địa của mình Những yếu tố tự nhiên xã hội trên sau này
sẽ tác động trực tiếp tới nền nông nghiệp Bắc Kỳ thời kỳ 1919 - 1945
Trang 121.3 KINH TẾ NÔNG NGHIỆP BẮC KỲ TRƯỚC NĂM 1919
1.3.1 Tình hình sở hữu ruộng đất
Nhìn chung, sở hữu ruộng đất tồn tại 2 phương thức chủ yếu là nhà nước và tư nhân Ruộng đất sở hữu nhà nước gồm 2 loại: nhà nước trực tiếp quản lý và ruộng đất công làng xã Ruộng đất do nhà nước trực tiếp quản lý gồm 3 hình thức chủ yếu là: tịch điền, quan điền quan trại, đồn điền
Tịch điền là loại ruộng đất có tính chất lễ nghi Có từ thế kỷ X và tồn tại cho đến triều Nguyễn Nhà Nguyễn chủ trương duy trì và mở rộng loại ruộng này
Năm 1832, tịch điền được mở rộng ra các địa phương trên cả nước, mỗi tỉnh có 3 mẫu, 3 sào và 15 người phu tịch điền Lấy ruộng ở khu vực phía Tây tỉnh thành Tuy nhiên diện tích loại ruộng này cũng chỉ dừng lại ở con số không quá 100 mẫu, nên không gây tác dụng gì đáng kể đến chế độ ruộng đất đương thời
Quan điền, quan trại gồm các loại ruộng ngụ lộc, thưởng lộc, chế lộc, quan điền, quan điền trang, quan đồn điền, quan trải thuộc sở hữu trực tiếp của nhà nước
Đồn điền là một hình thức khẩn hoang có từ cuối thế kỷ XVIII, kết hợp giữa kinh tế và quốc phòng Đồn điền tập trung ở Nam Bộ, địa điểm để lập đồn điền phải là một nơi xung yếu về quân sự và có tiềm năng đất đai để khai hoang, lực lượng khai hoang là các binh lính và các tử phạm Việc khai hoang đang tiến triển tốt đẹp thì bị dở dang do thực dân Pháp xâm lược vào giữa thế
kỷ XIX
Dinh điền là hình thức khai hoang ở duyên hải Bắc Bộ dưới thời Minh Mạng và Nam Bộ dưới thời Tự Đức Ở Bắc Bộ có 2 huyện được thành lập
Trang 13dưới hình thức này là Tiền Hải (Thái Bình) và Kim Sơn (Ninh Bình) bằng tất
cả sự cố gắng của Dinh điền sứ Nguyễn Công Trứ Từ tháng 3-1828 đến tháng 3-1929, diện tích đã khai khẩn được ở 2 huyện là 33.590 mẫu
Đối với 2 hình thức đồn điền và dinh điền, nhà Nguyễn đã có những chủ trương hết sức mâu thuẫn Đó là ý định vừa muốn đẩy mạnh khai hoang
và để phát triển kinh tế xây dựng quốc phòng ổn định xã hội lại vừa mở rộng hình thức sở hữu công cộng Chủ trương đó đã không thể tạo ra động lực đối với người khai hoang để công việc khai hoang đạt hiệu quả
* Ruộng đất công làng xã:
Đối với ruộng đất công làng xã, nhà Nguyễn đã có chủ trương biện pháp nhằm duy trì, bảo vệ và mở rộng Năm 1803, nhà nước đã ra lệnh cấm các làng xã không được bán đứt hay cầm cố ruộng đất công
Từ năm 1802 đến 1848 nhà Nguyễn đã ban hành 24 quyết định mở rộng diện tích công điền Tuy nhiên nhà Nguyễn có cố gắng duy trì, mở rộng ruộng đất công thì trên thực tế diện tích loại ruộng này có xu hướng thu hẹp dần và chiếm một tỷ lệ nhỏ Đầu thế kỷ XIX, diện tích ruộng đất cả nước là 3.396.584 mẫu, trong đó ruộng công là 580.363 mẫu chiếm tỷ lệ 17,08%
Ruộng công phân bố không dài giữa các vùng trong cả nước Ngay cả trong từng vùng, từng tỉnh ruộng đất công phân bố cũng không đồng đều Ví
dụ ở Hà Đông, tỷ lệ công điền của cả tỉnh là 14,59% nhưng trong từng huyện thì tỷ lệ này có khác đi Huyện Đan Phượng, công điền là 37,98%, huyện Hoài An là 4,8%, Sơn Minh là 4,55%, Thượng Phúc là 16,47%, Từ Liêm là 11,14% Sự thu hẹp và phân bố không đều ruộng đất công giữa các vùng, các tỉnh chứng tỏ rằng ruộng đất công làng xã đã dần mất vai trò trong đời sống kinh tế nông nghiệp của nông dân Việt Nam, từng bước nhường đường cho một loại hình sở hữu khác là ruộng tư
Trang 14* Ruộng đất thuộc sở hữu tư nhân:
Đầu thế kỷ XIX, ruộng đất thuộc sở hữu tư nhân là 2.816.221 mẫu, chiếm tỷ lệ 82,92%
Ruộng tư phân bố không đều giữa các miền, các vùng, trong từng tỉnh
Ở Thái Bình, tỷ lệ ruộng tư giữa các huyện có sự chênh lệch rõ rệt Khu vực phía tây huyện Thụy Anh ruộng tư chiếm 75,2%, trong khi đó ở Kiến Xương
la 37,67% Tại Hà Đông ruộng tư chiếm tỷ lệ 65,34%, nhưng phân bố không đều giữa các huyện, tổng
Nếu như sơ hữu lớn được duy trì ở Nam Bộ thì ở Bắc Bộ sở hữu nhỏ (những người có sở hữu dưới 3 mẫu ruộng) vẫn chiếm ưu thế về tỷ lệ 96,32% Những người sử hữu trên 20 mẫu chiếm tỷ lệ nhỏ là 0,87% Loại sở hữu vừa (từ 3 - 20 mẫu) (bao gồm tầng lớp trung nông và địa chủ nhỏ) phổ biến ở Bắc
Bộ với 36,8%, số chủ và nắm giữ 69,97% ruộng đất
Nhìn chung tình hình sử hữu ruộng đất ỏ Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX vẫn đang trong tình trạng phát triển và phân hóa (tuy chưa có mức sâu sắc)
Tư hữu hóa ruộng đất vẫn là một xu thế tất yếu trong lịch sử phát triển ruộng đất ở Việt Nam Sự phân hóa ruộng đất này đã tác động và có những ảnh hưởng nhất định đối với sự phát triển của nền nông nghiệp Việt Nam nói chung và nông nghiệp Bắc Kỳ trước 1919 nói riêng
1.3.2 Chính sách ruộng đất của thực dân Pháp
Sau khi đã hoàn thành về cơ bản công cuộc bình định về quân sự, thực dân Pháp bắt tay vào việc khai thác và bóc lột nhân dân ta Chúng ráo riết đẩy mạnh hai cuộc khai thác thuộc địa (lần 1: 1897 - 1914) (lần 2: 1919 - 1929)
Để mở đầu cho công cuộc khai thác thuộc địa lần 1, toàn quyền Đông Dương Paul Doumer đã đề ra một chương trình khai thác, bóc lột toàn diện trên một quy mô lớn về mặt kinh tế tài chính, Paul Doumer chủ trương:
Trang 151 Thiết lập một chế độ thuế khóa và thích hợp với thuộc địa với tình hình xã hội, với phong tục dân chúng cũng như nhu cầu của ngân sách
2 Thiết bị kinh tế với một quy mô lớn cần thiết cho việc khai thác Đông Dương
3 Đẩy mạnh công nghiệp thương mại, nông nghiệp trong khuôn khổ của một số xứ Đông Dương thuộc địa khai khẩn của Pháp
Và cuối cùng, biến Đông Dương trở thành nơi "Sẽ đem lại cho nước Pháp một căn cứ kinh tế và chính trị vững mạnh ở Viễn Đông sẽ bù lại thừa thãi những hy sinh trong quá khứ"
Một trong những nguồn lợi đầu tiên mà chúng quan tâm tới ở Việt Nam
là nông nghiệp và ruộng đất Vì thế, ngay từ trong khai thác đợt 1, thực dân Pháp đã ban hành các chính sách về nông nghiệp, ruộng đất nhằm hợp pháp hóa cho các hoạt động khai thác và bóc lột về nông nghiệp của chúng
Chính sách nông nghiệp của Pháp trong thời kỳ này được cụ thể hóa bằng các Nghị định, Sắc luật như sau:
* Đối với vấn đề ruộng đất thực dân Pháp đã ra 12 nghị định và thông tư:
- Thông tư ngày 25/11/1897 và 12/6/1898 liên quan đến việc xác định các loại đất có thể nhượng và không thể nhượng
- Nghị định ngày 22/12/1899 và 5/2/1902 về tổ chức tài sản ở Đông Dương
- Nghị định ngày 15/1/1903 về "tổ chức lại tài sản ở Đông Dương"
- Nghị định 29/7/1903 của Thống sứ Bắc Kỳ về vấn đề bảo vệ công điền công thổ
- Nghị định 27/8/1904 áp dụng đối với Nam Kỳ đề cập đến việc quản
lý tài sản của làng xã
- Nghị định 8/3/1906 áp dụng đối với Bắc Kỳ đề cập đến việc quản lý tài sản của làng xã
Trang 16- Nghị định 2/2/1904 và 29/8/1904 về nhượng đất nông nghiệp ở Bắc
Kỳ do toàn quyền Paul Beau phê chuẩn
- Nghị định 8/11/1910 quy định về việc nhượng đất cho người bản xứ
- Nghị định 19/4/1906 quy định những khoảng đất 300 ha sẽ do Thống
sứ cấp giấp sở hữu, lớn hơn 300 ha do Toàn quyền Đông Dương cấp
- Nghị định 6/3/1913 quy định việc nhượng đất cho người Pháp
- Nghị định 27/12/1913 quy định tất cả những vấn đề liên quan đến việc nhượng đất của chính quyền thực dân đối với người Pháp ở Việt Nam
- Nghị định 6/3/1914 của Thống sứ Bắc Kỳ về việc áp dụng Nghị định 27/12/1913 của Toàn quyền Đông Dương ở Đông Dương
Thông qua các Nghị định và Thông tư trên, thực dân Pháp thể hiện rõ thái độ của chúng đối với vấn đề ruộng đất ở Việt Nam Trước hết chúng tìm cách biến những "đất hoang", "đất sở hữu" (đất bị bỏ hoang) trở thành tài sản cấp xứ, có quyền sở hữu của Nhà nước bảo hộ Sau đó, chính quyền thực dân
sẽ đem cấp không hoặc bán đấu giá cho bọn thực dân làm đồn điền Chính sách đó một mặt thiết lập quyền sở hữu của thực dân Pháp đối với ruộng đất Việt Nam, đồng thời thông qua đó cướp đất và các nguồn tài nguyên nông nghiệp khác của nhân dân Việt Nam Đó là một chính sách ăn cướp trắng trợn của bọn thực dân Pháp ở Việt Nam, đã được hợp pháp hóa bằng những Nghị định, Thông tư mà chúng đưa ra
1.4 PHƯƠNG THỨC CANH TÁC, CƠ CẤU CÂY TRỒNG, VẬT NUÔI 1.4.1 Phương thức canh tác
Phương thức canh tác và kỹ thuật trồng lúa những năm đầu thế kỷ XX vẫn không có gì thay đổi gì nhiều so với đầu thế kỷ XIX Vì vậy năng suất lúa chỉ đạt được khoảng 9 tạ/ha
Do chính sách cướp đoạt ruộng đất của thực dân Pháp, từ 1890 - 1900 Pháp đã chiếm 322.044 ha ruộng đất ở Việt Nam Nhiều đồn điền đã được lập
Trang 17nên bởi các đồn điền người Pháp Nhiều cây trồng mới đã được đưa vào như thuốc lá, cà phê bên cạnh việc duy trì cây lúa Tuy nhiên, những cây trồng mới này chỉ được trồng thí điểm chứ chưa thực sự được mở rộng như các cây trồng truyền thống
Những năm cuối thế kỷ XIX, thực dân Pháp có chú ý đến vấn đề thủy lợi như đào đắp một số kênh mới ở Nam Bộ: kênh Cột Cờ (1875), Trà Ôn (1876), Chợ Gạo (1877) Tuy nhiên, những biện pháp đó chỉ được thực hiện nhiều ở Nam Kỳ còn ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ chưa được thực dân Pháp đầu tư thích đáng bằng chứng là vào cuối thế kỷ XIX, người dân Bắc Kỳ thường xuyên chứng kiến cảnh đê vỡ (lớn nhất là trận vỡ đê năm 1871 ở Hà Nội, Sơn Tây, Bắc Ninh, Nam Định) Những trận vỡ đê cộng với dịch bệnh và sưu thuế cao đã dẫn tới tình trạng ruộng đất bị bỏ hoang Việc bỏ làng đi tha phương cầu thực đã báo hiệu một thời kỳ dài cuộc sống bần cùng, đói khổ của nông dân Việt Nam trong các giai đoạn lịch sử tiếp theo
Nền nông nghiệp Việt Nam dưới triều Nguyễn và thời kỳ thuộc địa là một nền nông nghiệp độc canh cây lúa, tự cung tự cấp, khép kín, những yếu tố
đó đã là cản trở sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa trong nông nghiệp, nông thôn nước ta nói chung và vùng Bắc Bộ nói riêng Trong toàn bộ thời thuộc Pháp, đặc biệt là những năm đầu thế kỷ XX, những yếu tố đó sẽ dần dần thay đổi dưới ảnh hưởng của một tác động lịch sử mới: hệ thống chính sách của thực dân Pháp đối với nền nông nghiệp Việt Nam nói chung và nông nghiệp Bắc Kỳ nói riêng
1.4.2 Cơ cấu cây trồng, vật nuôi
Lúa vẫn là cây trồng chủ yếu trên diện tích cách tác của cả nước, lúa chiếm 70% diện tích canh tác của Bắc Kỳ và các tỉnh miền Đông Nam Kỳ, 30% đất còn lại được giành cho một số cây trồng khác
Trang 18De Lanessan cho rằng cuối thế kỷ XIX, Bắc Kỳ có tới 1.000.000 ha trồng lúa (trên tổng số 1,5 triệu ha đất canh tác)
Về cơ cấu cây trồng ở nước ta chia làm hai nhóm: nhóm 1 là cây lương thực thực phẩm bao gồm cây lúa, ngô, khoai, sắn, các loại rau đâụ cây ăn quả; Nhóm 2 là nhóm cây công nghiệp như cây cà phê, chè cây đậu, cây cao su, thuốc lá, bông cây đay, cây Gai, cây mía
Về cơ cấu vật nuôi:
Người nông dân Việt Nam có truyến thống chăn nuôi gia cầm (gà Vịt), gia súc (lợn, trâu bò) từ lâu đời Tuy nhiên những hạn chế về điều kiện sống
và những quy định nghiêm ngặt của Nhà nước trong việc giết mổ trâu bò, nền chăn nuôi của Việt Nam cho đến thế kỷ XIX không phát triển trên quy mô lớn trong những trang hay đồn điền Hoạt động chăn nuôi, nhất là lợn, trâu, bò chỉ dừng lại trong phạm vi gia đình, gắn với tập quán trồng lúa lâu đời của nông dân Việt Nam
1.5 KINH TẾ ĐỒN ĐIỀN TRƯỚC NĂM 1919
Dưới thời quân chủ, đồn điền đã xuất hiện dưới nhiều hình thức khác nhau ở Bắc Kỳ Thời Lý - Trần, chế độ điền trang, thái ấp của quý tộc được mở rộng, sang thời Lê với mục tiêu dùng hết tiềm lực của nhà nông, mở rộng nguồn tích trữ cho nhà nước, chính quyền đã chủ trương mở rộng các đồn điền
Sang thời thuộc địa đồn điền được chính quyền khuyến khích phát triển
so với Nam Kỳ và Trung Kỳ, đồn điền ở Bắc Kỳ được thiết lập sớm hơn Điển hình là khi toàn quyền Paul Dumer đề ra chương trình khai thác thuộc địa lần thứ nhất năm 1897 ở Bắc Kỳ Trong giai đoạn 1914 - 1918 đã có khoảng 106 đồn điền của người Pháp đã được thiết lập và các đơn xin nhượng đất lập đồn điền ở Bắc Kỳ tăng lên đáng kể
Trang 19Từ năm 1919 trở đi, kinh tế đồn điền ở Bắc Kỳ đã có nhiều khởi sắc Qua hoạt động thăm dò địa chất của các nhà khai mỏ nhiều vùng đất màu mỡ được phát hiện Đặc biệt việc đưa nhóm cây trồng công nghiệp như ca phê, chè đã làm cho đồn điền Bắc Kỳ được mở rộng Bên cạnh đó hệ thống giao thông được mở mang Quy chế về ruộng đất dần được hoàn thiện, nghị định
về cấp nhượng đất đai năm 1913 đã mở đường cho các điền chủ người Pháp chiếm đoạt ruộng đất Các trạm giống có nhiều hoạt động và khuyến cáo cho các nhà canh nông nhiều kinh nghiệm bổ ích Đặc biệt sự thành công bước đầu của một số điền chủ đã khích lệ giới thực dân đầu tư kinh doanh đồn điền
Trước năm 1919, hệ thống đồn điền đã hình thành ổn định ở Bắc Kỳ bước đầu còn gặp nhiều khó khăn, để đáp ứng yêu cầu "lấy ngắn nuôi dài", lúa là cây trồng chủ yếu cho các đồn điền Mục tiêu xa hơn của giới điền chủ
là trồng cây công nghiệp và chăn nuôi đại gia súc Cây cà phê thâm nhập và thành công bước đầu ở một số đồn điền đã khích lệ các nhà canh nông Nó
mở ra một hướng kinh doanh mới, phá vỡ thế độc canh lúa truyền thống của nông nghiệp Bắc Kỳ, kinh tế đồn điền xuất hiện và phát triển ở khu vực Bắc
Kỳ đã trở thành nhân tố thúc đẩy sự chuyển biến kinh tế nông nghiệp truyền thống nơi đây
Trang 20Tô thuế đất công, tư Thời Gia Long, theo chế độ cũ, các đất bãi phù sa
công được lấy lúa phải nạp 120 bát/mẫu, còn các loại đất khác thì phải nộp tiền Đến thời Tự Đức, thuế đất đã được quy định kha tỉ mỉ
Thuế đinh là một bộ phận thu nhập quan trọng của Nhà nước Chế độ tô
thuế của triều Nguyễn khá chặt chẽ, phân chia khu vực, phân chia ba miền và không nặng hơn ở các thời đại trước Có thể họ Nguyễn chấp nhận sự hợp lý của thời đại trước hoặc bất lực, chưa đủ sức đưa ra một chế độ tô thuế thống nhất trong cả nước Tô được thu bằng hiện vật là cơ sở cho hình thức phát canh thu tô trong mối quan hệ giữa địa chủ và tá điền
Đối với vấn đề thuế nông nghiệp thực dân Pháp đã thi hành và cho thực hiện 6 nghị định sau:
- Nghị định 2/6/1897 quy định mức thuế ruộng đất đối với Bắc Kỳ và cho thi hành từ ngày 1/1/1898
- Nghị định 4/6/1897 quy định về việc miễn thuế cho các loại đất trồng bông, tràm, cao su, cà phê ở Nam Kỳ
- Nghị định 4/6/1910 quy định về việc miễn thuế 6 năm cho một số đất trồng các loại cây công nghiệp như cao su, đay, bông, cà phê
- Nghị định 9/3/1913 quy định về việc miễn thuế cho cây trồng dâu ở Nam Kỳ
- Nghị định 4/10/1913 quy định về việc miễn thuế cho đất trồng dâu để chăn nuôi tằm ở Nam Kỳ
Bằng 6 nghị định về thuế, thực dân Pháp trước hết là muốn bảo vệ quyền lợi (ruộng đất, nông nghiệp) của mình ở Đông Dương và sau đó tìm mọi cách khuyến khích các điền chủ người Pháp trồng cây công nghiệp để khai thác nguồn lợi này ở Việt Nam và Đông Dương Đối với nông dân Việt
Trang 21Nam, nghị định thuế của thực dân Pháp đã trực tiếp bòn rút của cải đẩy họ tới tình cảnh khốn cùng để từ đó dễ dàng bóc lột thêm một lần nữa
* Tiểu kết chương 1:
So với Trung Kỳ và Nam Kỳ thì khu vực Bắc Kỳ là khu vực có nhiều khả năng để phát triển một nền nông nghiệp đa dạng Tài nguyên thiên nhiên phong phú, tiềm lực lao động dồi dào, Bắc Kỳ có thế mạnh trong việc trồng lúa, cây công nghiệp và trăn nuôi đại gia súc Vói vị trí địa lý thuận lợi chắc chắn thu hút sự quan tâm của các nhà canh nông Pháp trong qua trình khai thác thuộc địa
Chính sách thực dân Pháp đối với nông nghiệp Việt Nam nói chung và Bắc Kỳ nói riêng là một chính sách "ăn cướp trắng trợn", bóc lột triệt để nguồn lợi về nông nghiệp từ tay người nông dân Đó là "một quá trình vận động liên hoàn khép kín của một chính sách hai mặt: cướp đoạt ruộng đất của nhân dân lao động một cách quy mô và củng cố, phát triển giai cấp địa chủ Pháp và bản địa" Chính sách đó được núp dưới chiêu bài "phát triển nông nghiệp", "khai hóa văn minh" và đã được thực dân Pháp áp dụng vào Việt Nam nói riêng, ở Đông Dương nói chung trong suốt nửa đầu thế kỷ XX Chính sách nông nghiệp của thực dân Pháp đã tạo ra những tiền đề trực tiếp cho sự biến đổi của nền nông nghiệp Bắc Kỳ nói riêng và nền nông nghiệp Việt Nam nói chung vào những năm đầu thế kỷ XX
Kinh tế đồn điền phát triển mạnh là một nhân tố quan trọng làm chuyển biến nông nghiệp Bắc Kỳ Hệ thống đồn điền được thiết lập ở vùng trung du
đã có ý nghĩa nhất định trong việc khai khẩn vùng đất hoang hóa Tuy nhiên việc khai thác đồn điền đang ở giai đoạn mò mẫm, cố gắng của những cá nhân riêng lẻ, chưa có sự tổ chức hướng dẫn, định hướng của chính quyền Đó là điều kiện để nền nông nghiệp Bắc Kỳ chuyển biến
Trang 22Chương 2
NHỮNG CHUYỂN BIẾN TRONG KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
2.1 CHÍNH SÁCH NÔNG NGHIỆP CỦA THỰC DÂN PHÁP SAU
CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ NHẤT (1914 – 1918)
Sau thế chiến thứ nhất (1914 – 1918), thực dân Pháp tiến hành đầu tư vào Đông Dương một cách ồ ạt (nhất là Việt Nam) với tốc độ nhanh và nhanh chóng Số vốn đầu tư tăng nhanh chóng Nếu 20 năm (từ 1888 - 1918) tư bản Pháp đầu tư vào Đông Dương trên 1 tỉ phơ răng vàng chỉ riêng trong 5 năm (1924 - 1929) lượng vốn đầu tư của tư bản Pháp tăng lên 4 tỉ phơ răng Mục tiêu đầu tư của tư bản Pháp nhằm đẩy mạnh khai thác thuộc địa, khôi phục nền kinh tế chính quốc bị sa sút sau chiến tranh và tránh nạn phá giá của đồng phơ răng Tiến độ đầu tư chỉ bị ngưng lại trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế thế giới (1929 - 1933) và được đầu tư trở lại vào năm 1934, nhưng tốc độ ở mức nhỏ hơn Trong thế chiến thứ hai (1939 – 1945) hoạt động đầu tư không đáng kể, chủ yếu là ngân hàng Đông Dương
Về hướng đầu tư, "nếu đầu thế kỷ XX, tư bản Pháp tập trung trước hết vào ngành khai mỏ, giao thông vận tải và thương mại thì đến đợt khai thác thuộc địa sau thế chiến 1, ngành ưu tiên nhất lại là nông nghiệp"
- Xây dựng hệ thống ngân hàng, tiền tệ, hỗ trợ kinh tế nông nghiệp
Để đáp ứng nhu cầu vốn đầu tư cho canh nông, chính quyền thực dân
đã xúc tiến xây dựng hệ thống ngân hàng Ở Bắc Kỳ, cơ sở của ngân hàng Nông Phố, ngân hàng Đông Dương lần lượt xuất hiện Từ năm 1927, đại lý của ngân hàng này lần lượt được thiết lập ở Bắc Kỳ và nhanh chóng trở thành một tổ chức tín dụng có vai trò lớn
Trang 23Tiền tệ ở khu vực Bắc Kỳ cũng dần được ổn định Trước đó, trên thị trường xuất hiện nhiều loại tiền khác nhau, từ đồng bạc Đông Dương, đồng phờ răng vàng, đồng bạc Mễ Tây Cơ đến tiền đồng Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức Nạn khan hiếm tiền đồng cùng sự đầu cơ của các con buôn khiến cho hoạt động giao thương tương đối khó khăn Mệnh giá các thứ tiền cũng khác nhau và lên xuống thất thường
Một nét mới trong hoạt động tín dụng đầu tư cho nông nghiệp là có sự góp vốn của các công ty vô danh, các công ty công thương nghiệp, các hãng buôn, hội buôn lớn
Nhìn chung, trong giai đoạn từ 1919 đến 1945, các hoạt động tín dụng
đã những khởi sắc đáng kể Nếu như trước thế chiến thứ nhất (1914 – 1918), đầu tư cho nông nghiệp chỉ dừng lại ở những cố gắng của những cá nhân thì giai đoạn này, hoạt động canh nông đã có sự tham gia của nhà nước, các nhãn hàng, các công ty và tập đoàn tài chính Hoạt động kinh doanh và lưu thông tiền tệ mở rộng là điều kiện thúc đẩy nông nghiệp Bắc Kỳ chuyển biến theo hướng kinh tế hàng hóa
- Phát triển hệ thống thủy nông:
Sau thế chiến thứ nhất (1914 – 1918), thực dân Pháp đã đầu tư xây dựng hệ thống thủy nông tương đối quy mô và hiện đại, bên cạnh việc xây dựng các công trình đại thủy nông, chính quyền thuộc địa còn chú ý đến việc củng cố hệ thống tiểu nông, đắp đê, đắp đập, đào kênh mương, khơi rãnh
So với thời kỳ trước thế chiến thứ nhất thì trong giai đoạn từ 1919 -
1945, chính quyền thực dân đã có sự đầu tư đáng kể cho các công trình thủy nông Với các công trình dẫn thủy nhập điền lớn được xây dựng từ ngân sách chung Đông Dương và những dự án tiểu nông được tiến hành từ ngân sách hàng tỷ, các công trình dẫn thủy nhập điền ở Bắc Kỳ đã đảm bảo tưới cho gần 140.000 ha, đó là một bước tiến mới trong lịch sử thủy nông khu vực Sự phát
Trang 24triển của thủy nông kéo theo sự tăng trưởng của diện tích gieo trồng, góp phần tạo lên sự chuyển biến trong kinh tế nông nghiệp Bắc Kỳ
- Mở rộng các trại thí nghiệm giống, các chính sách khuyến nông
Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, chính quyền thực dân Pháp đã đề ra một hệ thống chính sách nông nghiệp cụ thể, riêng biệt cho Bắc Kỳ mà trọng tâm nhất vẫn là vấn đề ruộng đất
Đối với ruộng đất Bắc Kỳ, thực dân Pháp thực hiện hai chính sách cơ bản: cướp đất lập đồn điền và duy trì chế độ công điền công thổ
* Cướp đất lập đồn điền:
Ngay sau khi bình định về quân sự, thực dân Pháp tiến hành chiếm đoạt đất đai ở Bắc Kỳ Nhằm hợp pháp hóa cho hành động ăn cướp của mình, từ trước cuộc khai thác lần một thực dân Pháp đã có những nghị định quy định
Trong nghị định ngày 6/3/1913, thực dân Pháp thể hiện rõ mục đích nhượng địa của mình như sau:"Những nhượng địa nông nghiệp có diện tích bằng hay dưới 50 ha có thể được cấp nhượng cho các công dân thần dân hay dân bảo hộ Pháp nếu muốn xin với mục đích là tạo lập ra các cơ sở, các doanh nghiệp nông nghiệp hay các xí nghiệp công nghiệp"
Vào những năm cuối của đợt khai thác thực dân Pháp tiếp tục ra các bản nghị định ngày 27/12/1913, ngày 6/3/1914 và nghị định 11/11/1914 quy
Trang 25định bắt đầu từ dưới 50 ha sẽ được cho không và do các Thống sứ, Thống đốc, Khâm sứ quyết định
Tuy nhiên, chính quyền thực dân Pháp cũng ra một số quy định đối với các điền chủ như sau:
- Chỉ được xin cấp không một đồn điền thứ hai (chỉ được cấp 2 lần là tối đa), nếu như 4/5 diện tích đồn điền thứ nhất đã được canh tác (nghị định 27/12/1913)
- Chính quyền chỉ cấp chứng nhận quyền sở hữu tạm thời và hạn cho trong một thời gian tối đa là 5 năm với điều kiện chủ đồn điền phải canh tác hết toàn bộ diện tích đồn điền đó Hết hạn 5 năm, phần nào chưa canh tác chính quyền sẽ thu lại Sau đó mới cấp chứng nhận quyền sở hữu vĩnh viễn, chính thức đối với phần diện tích đã được canh tác cho chủ đồn điền (nghị định của toàn quyền Đông Dương ngày 27/12/1913, nghị định của thống sứ Bắc Kỳ ngày 6/3/1914, nghị định của thống đốc Nam Kỳ ngày 11/11/1914)
- Khi chưa có giấy chứng nhận quyền sở hữu chính thức, chủ đồn điền không được phép nhượng lại đồn điền cho ai, nếu làm trái đồn điền đó sẽ bị chính quyền thu hồi lại
Bằng những chính sách nói trên, thực dân Pháp đã ngang nhiên cướp đoạt ruộng đất của nhân dân ta, cho đến năm 1900, tổng diện tích thực dân Pháp đã chiếm để lập đồn điền ở Bắc Kỳ là 197.769 ha
Có thể thấy trong suốt thời gian thống trị và bóc lột ở Bắc Kỳ thì đợt khai thác thuộc địa là giai đoạn thực dân Pháp cướp đất mạnh mẽ nhất
Năm 1918, thực dân Pháp chiếm ở Bắc Kỳ 3.068 ha (chiếm tỷ lệ 26,24% so với cả nước) Năm 1919, tỷ lệ đó ở Bắc Kỳ lên tới 83,51% /59.930
ha trong tổng số 72.074 ha của Việt Nam
Năm 1919, tỷ lệ đó xấp xỉ 25% (tức là 136.096 ha trên tổng số 469.724
ha của cả nước) Và tới năm 1920 - 1930, tỷ lệ đó gần bằng 1/7 (tức là trong 775.700 ha đất bị cướp ở Việt Nam, đất ở Bắc Kỳ đã bị chiếm là 104.000 ha)
Trang 26Trước và trong cuộc khai thác lần thứ nhất, do chiến tranh loạn lạc, nhiều nông dân đã rời bỏ quê hương đi tha phương cầu thực để lánh nạn, ruộng đất của họ không có người cày cấy và bị nhà nước cướp không Nhưng sau một thời gian lánh nạn, người nông dân trở về quê hương và đã đòi lại ruộng đất của mình Nhiều cuộc đấu tranh đòi đất của nông dân đã diễn ra Và
đó là lý do giải thích vì sao cho đến giai đoạn cuối của cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất, việc cướp đất ở Bắc Kỳ của thực dân Pháp lại giảm (so với giai đoạn trước), như số liệu mà chúng tôi vừa nêu ra
Phần lớn diện tích ruộng đất cướp được của thực dân Pháp ở Bắc Kỳ đều được sử dụng để lập đồn điền, kinh doanh nông nghiệp Từ 1914 - 1918
đã có 476 đồn điền với 417.650 ha đã được cấp nhượng cho các điền chủ người Pháp
Đồn điền của người Pháp ở Bắc Kỳ phần lớn tập trung ở vùng trung du, sau đó là đồng bằng và cuối cùng là thượng du
Bảng 1: Sự phân bố các đồn điền của người Pháp ở Bắc Kỳ
Trang 27Trong các đồn điền, người Pháp trồng nhiều loại cây khác nhau, từ cây trồng bản xứ như lúa đến các cây công nghiệp như cà phê, cao su, cơ cấu cây trồng trong các đồn điền có sự thay đổi qua các giai đoạn thể hiện qua việc tăng dần diện tích cà phê và giảm dần diện tích trồng lúa
Năm 1900, diện tích đồn điền trồng lúa của người Pháp ở Bắc Kỳ là 16.952,98 ha Đến năm 1914, diện tích đó bị giảm 34 lần chỉ còn 50.000 ha Việc mở mang đất lập đồn điền của thực dân Pháp ở Bắc Kỳ đã làm tăng thêm diện tích canh tác trên các vùng đất thượng và trung du, từng bước phá
vỡ thế độc canh cây lúa và góp phần mở rộng cơ cấu cây trồng Nhưng về cơ bản đó là một chính sách ăn cướp, bòn rút trắng trợn nguồn tài nguyên nông nghiệp ở Bắc Kỳ của thực dân Pháp Cũng từ đó, người nông dân cũng bị đẩy xuống tận cùng của những nỗi khổ bởi ách áp bức của thực dân và phong kiến
* Duy trì chế độ công điền:
Trong quá trình khai thác, bóc lột nông nghiệp ở Việt Nam thời kỳ khai thác thuộc địa, đặc biệt sau thế chiến thứ nhất Pháp đã có những thái độ chính sách khác nhau về các loại ruộng đất ở Bắc Kỳ Cùng với việc phát triển chế độ sở hữu ruộng đất lớn ở Nam Kỳ, thực dân Pháp chủ trương duy trì chế độ công điền, công thổ ở Bắc và Trung Kỳ
Thực dân Pháp thể hiện mục đích duy trì chế độ công điền, công thổ
qua bản nghị định 5/9/1914: "nhằm thiết lập những cơ sở khai thác nông nghiệp hoặc chăn nuôi súc vật, những đất đai bỏ không và thuộc về nhà nước
ở nông thôn sẽ có thể được đem nhượng cho những người Pháp làm đơn xin nhượng" [19, tr.30]
Đó là cơ sở pháp lý đầu tiên của chúng tấn công vào chế độ công điền, công thổ ở Bắc Kỳ Thái độ đầu tiên của thực dân Pháp đối với công điền, công thổ cũng như đối với tư điền là cướp đoạt trắng trợn, tự do
Trang 28Công điền, công thổ ở Bắc Kỳ bị xâm phạm nghiêm trọng vì trong những phần nhượng địa của Pháp đều nằm ỏ vùng trung du, ven đồng bằng Bắc Kỳ, nơi chiến sự xảy ra giữa thực dân Pháp và nghĩa quân kháng Pháp, dân chúng phải tránh đi nơi khác và ruộng đất của nông dân trỏ thành ruộng đất vắng chủ
Sau khi dân chúng từ nơi phiêu tán trở về làng cũ, vì mất đất họ đã đấu tranh đòi lại ruộng cũ từ chính quyền thực dân Một cuộc đấu tranh đó kéo dài cho đến khi Pháp phải nhượng bộ vào đầu thế kỷ XX Từ 1914 - 1918 ở Bắc
Kỳ có "12 vụ tranh chấp chính về ruộng đất đã xảy ra trên 12 đồn điền với diện tích 58.839,44 ha được thiết lập từ 1890 - 1903", trong đó nổi tiếng là các vụ đấu tranh của nông dân trong đồn điền của Pretti, Gobert
Trước cuộc đấu tranh mạnh mẽ của nông dân Bắc Kỳ, thực dân Pháp
đã phải nhân nhượng và đã chuyển từ thái độ xâm phạm sang thái độ tôn trọng, củng cố chế độ công điền, công thổ ở Bắc Kỳ
Ngày 12/6/1898, thống sứ Bắc Kỳ ra thông tư số 40 quy định về vấn đề công điền, công thổ ở Bắc Kỳ như sau:
- Tất cả những công điền, công thổ, ngay cả công điền, công thổ bỏ hoang mà các làng vẫn đóng thuế đều không được đem nhượng
- Tất cả những ruộng đất không canh tác mà bị bỏ hoang dưới 3 năm
mà các làng đã tuyên bố trên giấy tờ là muốn dành riêng lại cho làng và đã nộp thuế từ khi đó, tất cả những ruộng đất ấy cũng được đem nhượng
Sau đó, thực dân Pháp liên tiếp ra các nghị định để bảo vệ phát triển công điền công thổ
Ngày 29/7/1903, Thống sứ Bắc Kỳ ra một nghị định về công điền, công thổ như sau "những điều cấm đoán mà pháp luật bản xứ đề ra đặc biệt là trong chỉ dụ năm Gia Long thứ 2 và trong quyết định của kinh lược ngày 20/4/1894
về việc bán, cho thuê các công điền công thổ đều dứt khoát được duy trì"
Trang 29Quy định trên được nhắc lại ở nghị định ngày 8/3/1906 với nội dung:
- Điều 1: Cấm kỳ mục làng xã Bắc Kỳ không được vay mượn, mua bán hoặc cho thuê tài sản của làng xã để lấy tiền chi dùng vào việc làng Nếu không được phép của quan công sứ và khi số tiền vượt quá 500 thì phải được phép của quan thống sứ
- Điều 2: Những điều cấm có liên quan đến việc bán và cho thuê tài sản công như công điền và công thổ đã được nêu trong luật bản xứ, đặc biệt là trong đạo dụ của Gia Long năm thứ 2 đều được giữ nguyên
Tuy nhiên vì mục đích đảm bảo quyền lợi thực dân vừa để tránh xung đột với nhân dân Bắc Kỳ thì công điền bị xâm phạm trong các nghị định 29/7/1903 và 8/3/1906, thực dân Pháp đã đề ra một nội dung mà sau này trở thành nguyên tắc có thể công điền công thổ trong những trường hợp đặc biệt
và phải được chính quyền cấp tỉnh hoặc cấp xứ đồng ý Đối với công điền công thổ ở Bắc Kỳ, chính quyền thực dân Pháp có những thái độ phức tạp nhưng về căn bản vẫn là chính sách duy trì chế độ công điền và công thổ Bời
vì hơn ai hết thực dân Pháp hiểu rằng khi duy trì công điền công thổ - cơ sở kinh tế của tổ chức làng xã chúng ta có thể "buộc người nông dân phải phụ thuộc vào diện tích công điền ít ỏi của làng xã, chấp nhận thân phận nô lệ cho bọn địa chủ bản xứ"
P.Doumer khẳng định: "Cơ cấu vững chắc của làng xã An Nam được hoàn toàn tôn trọng và còn để triệt để duy trì về sau cho việc cai trị của chúng ta được dễ dàng" [50, tr.110]
Chính sách của thực dân Pháp đối với nông nghiệp Việt Nam nói chung và Bắc Kỳ nói riêng là một chính sách "ăn cướp trắng trợn", bóc lột triệt để nguồn lợi về nông nghiệp từ tay người nông dân Đó là "một quá trình vận động liên hoàn khép kín của một chính sách hai mặt: cướp đoạt ruộng đất
Trang 30của nhân dân lao động một cách quy mô và củng cố phát triển giai cấp địa chủ Pháp và bản địa" Chính sách đó được núp dưới chiêu bài "phát triển nông nghiệp" , "khai hóa văn minh", và đã được thực dân tư bản Pháp áp dụng ở Việt Nam nói riêng ở Đông Dương nói chung trong suốt nửa đầu thế kỷ XX"
Chính sách kinh tế nông nghiệp của thực dân Pháp đã tạo ra những tiền
đề trực tiếp cho sự biến đổi của nền nông nghiệp Bắc Kỳ nói riêng và nền nông nghiệp Việt Nam nói chung vào những năm đầu của thế kỷ XX
2.2 CHUYỂN BIẾN VỀ SỞ HỮU RUỘNG ĐẤT
2.2.1 Ruộng đất thuộc sở hữu nhà nước và ruộng đất công làng xã
Một trong những chính sách ruộng đất quan trọng mà thực dân Pháp thực hiện ở Bắc Kỳ là duy trì chế độ công điền công thổ, nhằm qua đó duy trì
cơ sở kinh tế làng xã phục vụ cho quyền lợi vì sự bóc lột của chúng Do đó một đặc điểm nổi bật trong nông nghiệp Bắc Kỳ trong giai đoạn này là sự tập trung công điền công thổ
"Công điền công thổ không phải là ruộng đất của tư nhân hay thuộc quyền làng xã Công điền cũng phải là ruộng đất của nhà nước do quan chức nhà nước trực tiếp quản lý như quan điền, dinh điền, đồn điền"
"Công điền là loại ruộng đất thuộc sở hữu hoặc coi như sở hữu của nhà nước, trao cho xã thôn để quản cấp và cho xã dân cùng cày cấy theo đúng định lệ chung"
- Diện tích công điền công thổ:
Diện tích công điền công thổ ở Bắc Kỳ là 233.745 ha (chiếm tỷ lệ 47,79% so với tổng diện tích công điền của Đông Dương) So với diện tích canh tác của cả kỳ, thì công điền công thổ ở Bắc Kỳ chiếm 1/5 diện tích
- Sự phân bố công điền công thổ:
Hầu hết công điền tập trung ở các tỉnh đồng bằng, nhất là các tỉnh ven biển như Nam Định, Thái Bình hoặc là các tỉnh trung du - nơi thực dân Pháp chú tâm khai thác mỏ như Quảng Yên, Thái Nguyên
Trang 31Bảng 2: Tỷ lệ công điền của một số tỉnh Bắc Kỳ đầu thế kỷ XX
(Nguồn trích: Vũ Huy Phúc (1996), “Chế độ công điền công thổ Bắc
Kỳ dƣois thời Pháp thống trị”, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, [17, tr.51] )
Nếu đem so công điền với diện tích canh tác của từng tỉnh, từng vùng
cụ thể thì tỷ lệ công điền còn nhích lên rất nhiều
Bảng 3: Tỷ lệ công điền so với diện tích canh tác trong một số phủ huyện của Bắc Kỳ đầu thế kỷ XX
Phủ/huyện Tỷ lệ ruộng công với diện tích canh tác (%)
(Nguồn: Vũ Huy Phúc “Chế độ công điền công thổ dưới thời Pháp thống trị”,
[17 tr.51] Nguyễn Đức Nghinh (1998), “Ruộng đất công ở miền Đông Thái
Trang 32Bình cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX”, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, (2), [15,
tr.20] )
Ở Thái Bình, nhất là vùng Kiến Xương và Thái Ninh, 95,93% các làng
xã đều có ruộng đất công (118/123 đơn vị) Có nơi, toàn bộ đất đai làng xã Hạ Phán (Quỳnh Côi), Phủ Xuân Trường (Nam Định), tỷ lệ công điền chiếm 77% diện tích đất canh tác của cả Phủ Thậm chí có những làng chỉ có công điền, không có tư điền như làng Lạc Nam (Kiên Trung - Hải Hậu)
Tuy nhiên, ngay cả trong những tỉnh có nhiều công điền công thổ thì giữa các làng, sự phân bộ công điền công thổ không đều nhau có làng có, có làng không
Tỉnh Bắc Ninh, 319 làng (trong tổng số 617 làng), không có công điền (tỷ lệ 51,5%)
Tỉnh Hải Dương, 616 làng (trong tổng số 1004 làng) không có công điền
Tỉnh Kiến An: 24% các làng không có công điền Có những nơi không
có 1 mảnh công điền nào như Bình Đà - Ước Lễ - Tả Thanh Oai
- Tình hình phát triển công điền công thổ
Công điền công thổ ở Bắc Kỳ có xu hướng tăng dần từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX
Trong các làng buôn Đan Loan, Đa Ngưu, Phù Lưu, Bảo Đáp ruộng công, ruộng của các tập thể nhỏ, các tổ chức tôn giáo, tăng lữ 4,8% (cuối thế
kỷ XIX) lên tới 32,44% (đầu thế kỷ XX) Hai làng Đan Loan và Đa Ngưu đạt trên 50%
Làng Mộ Trạch - Hải Dương ruộng công tăng từ 0,93% (thế kỷ XIX) lên 33,5% (đầu thế kỷ XX), (tức đầu thế kỷ XX, ruộng công của Mộ Trạch là
245 ha trên tổng số 730 ha đất canh tác của cả làng)
Trang 33Sự gia tăng diện tích ruộng công là một hiện tượng phổ biến trong các làng xã Bắc Kỳ thời Pháp thuộc Hiện tượng này "là 1 chủ trương đối phó của làng xã đối với chính quyền Trung ương Do chính sách tăng cường thuế khóa của nhà nước thực dân, các làng xã đã tìm cách kê khai một số ruộng tư hoặc ruộng bán công bán tư thành ruộng công để giảm mức đóng thuế"
Song theo chúng tôi, một nguyên nhân quan trọng khác nữa để dẫn tới hiện tượng trên chính là chính sách duy trì, bảo vệ và phát triển chế độ công
điền công thổ ở Bắc Kỳ của thực dân Pháp "Đế quốc Pháp chủ trương duy trì chế độ công điền công thổ đồng thời duy trì kinh tế địa chủ ở Bắc - Trung bộ
đã đem lại một lợi ích to lớn nhất cho chúng là bần cùng hóa nông dân Việt Nam và dùng đội quân nông dân bị bần cùng hóa ấy để bóc lột nhân công giá
rẻ Đó là một tác dụng đặc biệt của chính sách ruộng đất ở Bắc - Trung Bộ khác với Nam Bộ" [4, tr.16]
Việc chia công điền:
- Đối tượng được chia:
Theo quy định của nhà nước phong kiến, tất cả những người dân trong làng đều được chia công điền, kể cả đàn bà góa, trẻ mồ côi, những người tàn tật Đến thời thuộc Pháp, đối tượng được hưởng công điền bị thu hẹp lại chỉ
có những người được ghi trong sổ đinh hoàn toàn được chia công điền Ngoài
ra, ở một số nơi công điền còn được chia cho cả lính, mõ, những người đi phu, đi đồn điền Nam Kỳ Có những nơi (như làng Đông Lạc - Ninh Giang - Hải Dương) một người chết lính đến lúc chưa hết tang, cũng vẫn được hưởng quân cấp quân điền Cũng có những ngoại lệ như ở Kiến An vẫn chia công điền cho người thương tật, cho người già, trẻ mồ côi và đàn bà góa
- Thời hạn chia công điền
Điểm đầu tiên trong thời hạn chia công điền ở Bắc Kỳ ở giai đoạn này
đó là sự không thống nhất giữa tất cả các làng
Trang 34Nhà Nguyễn ấn định cứ 3 năm chia công điền 1 lần Thời hạn đó lại tiếp tục được áp dụng trong thời thuộc Pháp vì rằng nếu để thời hạn hưởng ruộng kéo dài từ 4-5 năm trở lên thì dễ có khuynh hướng "biến công vi tư" và các điều lạm dụng có điều kiện xảy ra do đó, thời hạn 3 năm đã trở thành lệ chung cho toàn Bắc Kỳ
Nhưng trên thực tế, việc thực hiện luật lệ ấy không hoàn toàn triệt để và đồng nhất giữa các làng Có những làng chia 5 - 6 năm/lần, có những làng chia 1 năm/lần (52 làng trong tỉnh Bắc Ninh) có những làng chia 10 năm/lần hoặc vĩnh viễn suốt đời, như ở Phúc Thọ, Bất Bạt (Sơn Tây), Tân Kim - Hân Giang - Cẩm Giàng - Hải Dương hoặc chia công điền không theo thời hạn nhất định như làng Hàm Nghi - Tứ Kỳ - Hải Dương Bao gồm những người chót đi hay lên lão, đồng thời có nhiều người thành đinh các bộ kỳ mục nghe
dư luận thấy cần phải chia, lúc đó mới chịu chia lại
Trong một tỉnh như Hải Dương thời hạn chia cũng có sự khác biệt giữa các làng Có một làng chia 4 năm/lần, có làng chia 10/lần, có 3 làng chia hàng năm/lần, có 8 làng chia 5 năm/lần, có 37 làng chia 6 năm/lần, có 71 làng chia
3 năm/lần
Nhìn vào số liệu trên ta thấy ở Hải Dương thời hạn chia 3 và 6 năm là phổ biến nhất Việc kéo dài thời hạn chia ruộng do nhiều nguyên nhân khác nhau Một là thời hạn 3 năm không đủ cho việc thu hoạch tối đa về sản lượng cho những ruộng đất xấu Hai là có nhiều làng có nhiều công điền (nhất là những tỉnh đồng bằng)đủ để chia trong thời gian dài
Thời gian chia từ 3 - 6 năm hoặc lâu hơn đã tiếp tay cho sự làm ruộng công của bọn hào lý trong làng Chính quyền thực dân Pháp chỉ có thể gây sức ép đối với cường hào dân làng nhằm giảm sự hà lạm ruộng công chứ không thể thống nhất được thời hạn chia ruộng công Bởi cho tới tận 1937, ở
Trang 35nhiều tỉnh số làng chia công điền năm một lần không chiếm quá tỷ lệ 50%
là bao
- Cách chia công điền
Trong làng xã Bắc Kỳ thời Pháp thuộc phổ biến 5 cách chia công điền công thổ như sau:
Cách 1: chia công điền ra nhiều khu, kỳ hào nhận phần béo bở trước
Còn thừa mới gạt cho từng nhà tùy theo thế lực hoặc ngôi thứ trong hương thôn, những người mới vào làng mới đóng góp chỉ được phần xương xẩu Đó
là cách chia ruộng đất bất công, nhưng phổ biến ở Bắc Kỳ
Cách 2: ruộng công chia nhiều mảnh ghép thành 2 dãy: 1 dãy mảnh tốt
và 1 dãy mảnh xấu Mỗi người được 1 mảnh tốt và 1 mảnh xấu Cách chia này
ỏ 1 chừng mực nào đó còn công bằng hơn cách 1
Cách 3: đặt 1 số đinh theo ngôi thứ và già trẻ, ai có chức tước và nhiều
tuổi ở trên, ai bạch đinh hoặc ít tuổi ở dưới Ruộng cũng được chia thành từng mảnh đánh số theo thứ tự: vừa, xấu, tốt lần này những người đứng trên đầu
sổ bắt được phần ruộng tốt thì lần sau phải nhận phần ruộng xấu nghĩa là bắt ngược sổ đi Theo cách chia này thì những người ở giữa luôn nhận phần ruộng trung bình
Cách 4: người nào nhận được ruộng tốt thì nhận được ít ruộng, người
nào nhận ruộng xấu thì nhận được nhiều ruộng Cách chia này về lý thuyết là công bằng
Cách 5: rút thăm, chia ruộng với số đinh thành những khẩu phần Làng
có 180 đinh và 36 mẫu ruộng, 1 khẩu phần là 2 sào, đặt con số cho mỗi khẩu phần theo số từ 1 đến 180 Rồi làm thẻ biến số các khẩu phần sau đó rút thăm,
ai rút phần nào được phần ấy Cách chia này chỉ hợp lý khi ruộng công sàn sàn nhau về chất lượng Có những người liên tục rút phải phần ruộng xấu thì
sẽ phản đối và với cách chia này bọn cường hào có thể gian trá khi làm thăm
Trang 36Theo các tác giả trên, trong 5 cách chia công điền thì cách chia 1 là bất công nhất, nhung lại phổ biến ở Bắc Kỳ Bốn cách chia còn lại tuy có đỡ bất công hơn nhưng cũng chẳng đem lại sự công bằng cho người nông dân Ví dụ nếu chia theo cách 2 thì phải có một điều kiện là số ruộng tốt và xấu gần bằng nhau, ngoài ra các vị trí các ruộng tốt, xấu ấy không thuận lợi cho việc ghép các mảnh thành một khẩu phần
Nếu chia theo cách thứ 3 và thứ 4 khó phân biệt được đâu là ruộng tốt, xấu, trung bình Còn nếu chia theo cách thứ 5 thì cũng chẳng bao giờ công bằng khi nó phụ thuộc vào sự may rủi và bọn hào lý rất dễ có cơ hội hà lạm của công Sau một lần chia công điền, người dân cày chỉ được một phần rất ít công điền (nhiều lắm là tới 1 sào Bắc Bộ) Hơn nữa, được chia công điền là một vấn đề và được hưởng hoa lợi của phần ruộng ấy lại là một vấn đề khác Nhiều nông dân nghèo đi vay nặng lãi không trả được đến khi nhận ruộng công liền gán nợ - hay cố luôn cho chủ nợ gọi là "cô công điền" Ở ấp Thiện Thành (Tiền Hải - Thái Bình) cứ đến vụ cứ không có tiền người nông dân phải nộp thuế "cô công điền", mỗi mẫu lấy 400 đồng làm giấy nhận lại phần ruộng kia mà cày cấy đến mùa phải nộp lại cho địa chủ 20 thùng/mẫu, một năm nộp 40 thùng Dân nghèo mà phải "cô công điền" thì công điền đó cũng như không
Như vậy, việc chia công điền ở Bắc Kỳ là hoàn toàn không công bằng,
dù với bất kỳ cách chia nào thì bọn hào lý vẫn được lợi Chừng nào việc chia công điền còn nằm trong tay bọn hào lý thì chừng ấy sự bất công, thiệt thòi đối với những người nông dân vẫn còn tồn tại
2.2.2 Ruộng đất tư hữu
So với Nam Kỳ, địa chủ ở Bắc Kỳ không nhiều ruộng như ở Nam Kỳ Trong 18 tỉnh Bắc Kỳ, chỉ có 12.005 địa chủ sống bằng cho cấy Cùng thời điểm đó, Nam Kỳ đã có 90.285 địa chủ, trong đó có 244 đại địa chủ có
Trang 37trên 500 ha ruộng đất Những địa chủ lớn ở Bắc Kỳ thường tập trung ở các tỉnh đồng bằng như Hà Đông, Thái Bình, Nam Định, Bắc Ninh, Hải Dương
Năm 1920, Yên Hưng có 95,6% số địa chủ có sở hữu từ 1 - 3 mẫu, sở hữu từ 5-10 mẫu rất ít
Tỉnh Thái Nguyên lúc bấy giờ có 24 địa chủ lớn, chiếm 8.154 m 4s 3th, chiếm tỷ lệ 6,7% so với diện tích của toàn tỉnh
Các địa chủ vừa và nhỏ sở hữu 1.883m 9s 2th, chiếm tỷ lệ 8,68% so với diện tích của toàn tỉnh
Ở làng Mộ Trạch (Hải Dương), trong 19 chủ ruộng (16 nam + 3 nữ) có mức sở hữu trên 3 mẫu thì sẽ có 1 nguồn sở hữu trên 10 mẫu, 18 người sở hữu dưới 10 mẫu
Sau khi dùng mọi thủ đoạn để chiếm đất, các địa chủ ở Bắc Kỳ thường dùng 2 phương thức kinh doanh chủ yếu là: phát canh thu tô và thuê mướn nhân công Ngoài ra còn có các hình thức kết hợp giữa phát canh, thuê mướn
và cho vay nặng lãi
Ở Thái Nguyên, phương thức kinh doanh của giai cấp địa chủ được cụ thể hóa bằng những số liệu sau:
Bảng 4: Các hình thức bóc lột điển hình của địa chủ Thái Nguyên đầu
thế kỷ XX
Hình thức bóc lột 5 xã điển hình 28 xã của 6 huyện
Số địa chủ Tỷ lệ (%) Số địa chủ Tỷ lệ (%)
Thuê mướn nhân công
là chính, kết hợp thu tô 39 50,00 101 60,48 Kết hợp hai hình thức
(Nguồn trích dẫn: Nguyễn Duy Tiến “Tình hình sở hữu ruộng đất ở Thái Nguyên trước cách mạng tháng tám”, [22, tr.13] )
Trang 38Qua bảng số liệu trên, ta thấy rằng thuê mướn nhân công kết hợp với thu tô (tô rẽ, tô đong, tô châu) là phương thức kinh doanh chủ yếu của địa chủ Thái Nguyên Đó là cách bóc lột nhân dân tàn tệ nhất nhanh chóng đẩy người nông dân vào con đường bần cùng hóa Một điểm đáng lưu ý là tô tiền chưa xuất hiện Điều đó nói lên rằng "hạt thóc vẫn là vật thanh toàn chính tại một vùng kinh tế hàng hóa chưa phát triển" như Thái Nguyên và khẳng định 1 điều căn bản là thực lực kinh tế của địa chủ Thái Nguyên còn thực sự nhỏ yếu
2.3 CHUYỂN BIẾN TRONG PHƯƠNG THỨC CANH TÁC
2.3.1 Vốn đầu tư cho nông nghiệp
Về hướng đầu tư, "nếu đầu thế kỷ XX, tư bản Pháp tập trung trước hết vào ngành khai mỏ, giao thông vận tải và thương mại thì đến đợt khai thác thuộc địa sau thế chiến thứ nhất, ngành ưu tiên nhất lại là nông nghiệp" Phân
bố vốn đầu tư nhà nước cho các ngành từ 1859 - 1939 cho thấy điều đó
Bảng 5: Phân bố vốn đầu của tư bản nhà nước Pháp từ 1859 - 1939
Trang 39Bên cạnh nguồn vốn nhà nước thì nguồn vốn tư nhân cũng tăng lên đáng kể Phân bố vốn tư nhân đầu tư vào Đông Dương từ năm 1924 đến 1939 cho thấy nông nghiệp và khai mỏ được tư bản Pháp chú trọng
Bảng 6: Số vốn đầu tư của tư bản, tư nhân Pháp trong một số ngành kinh tế từ 1924 - 1939
Hoạt động kinh doanh Số vốn đầu tư (triệu
Sự điều chỉnh chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp đã tác động đến tình hình kinh tế nông nghiệp Bắc Kỳ Số vốn đầu tư tập trung vào công tác thủy lợi, dẫn thủy nhập điền Bên cạnh đó, chính quyền thực dân
Trang 40cũng chú ý đầu tư nâng cấp hệ thống giao thông vận tải, cảng biển Sau thế chiến 1, đường sắt qua Bắc Kỳ được hoàn thành Hai đường thuộc địa 7 và 8 nối sang Lào được nâng cấp Cảng Bến Thủy được tu bổ hàng năm, mở rộng khả năng vận tải, đáp ứng nhu cầu xuất khẩu hàng nông sản ở khu vực
Như vậy, ở khu vực Bắc Kỳ, chính quyền thực dân đã đầu tư đồng bộ trên nhiều lĩnh vực của kinh tế nông nghiệp, trong đó ưu tiên nhất cho hệ thống dẫn thủy nhập điền Hệ thống cơ sở hạ tầng, đặc biệt giao thông vận tải được mở rộng Điều đó đã thu hút các nhà canh nông tập trung đầu tư vào khu vực Đồn điền trồng cà phê và trồng lúa xuất hiện ồ ạt Bắc Kỳ trở thành nơi chuyên canh lúa và cà phê lớn của khu vực
2.3.2 Ứng dụng khoa học kỹ thuật trong sản xuất nông nghiệp
Sở Canh nông Bắc Kỳ, tiếp tục cho thành lập các cơ sở để mở rộng các trạm thí nghiệm giống
Sau thế chiến thứ nhất, thị trường thế giới có nhu lớn về len dạ Các nhà canh nông Pháp đã phát triển chăn nuôi cừu và du nhập giống cừu vào Việt Nam Trạm giống Yên Định trở thành nơi thuần giữ giống vật này ở Bắc
Kỳ Từ đây cừu được đưa đi nuôi ở một số đồn điền ở Bắc Kỳ
Đáp ứng nhu cầu cây giống cho các đồn điền ở Bắc Kỳ, năm 1927 Sở Canh nông Bắc Kỳ đã lập các trại nghiên cứu giống cây công nghiệp, chủ yếu
là cà phê và các loại cây ăn quả Tại đây, người ta đã xây dựng những vườn ươm cà phê Khác với những nơi khác, hạt cà phê được gieo trực tiếp xuống
hố trồng, ở đây hạt cà phê được ươm cho trong các nhà có mái che Khi cây mọc mầm phát triển cứng cáp mới đem ra trồng để hạn chế tác hại của gió Lào người ta đã trồng lấy bóng mát Nhằm tránh cho đất đai không bị rửa trôi người ta đã trồng các loại cây lục lạc, cây xấu hổ có tác dụng giữ độ ẩm, độ đạm cho đất