Vì thế việc nhận thức đúng đắn và sâu sắc đối với việc thực hiện các CSDT nhằm tạo sự phát triển mọi mặt về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Hiện nay loài người đang bước vào nền văn minh mới với những biến đổi sâu sắc, trực tiếp tác động tới từng dân tộc, từng Quốc giacả bề rộng lẫn chiều sâu, làm nảy sinh nhiều vấn đề mới, ảnh hưởng đến tình cảm, tâm lý và đời sống của từng dân tộc
Việt Nam là nước đa dân tộc,vì vậy chính sách dân tộc (CSDT) là một
bộ phận rất quan trọng trong hệ thống chính sách của Đảng, Nhà nước để tạo nên sợ ổn định và thúc đẩy xã hội phát triển Cho nên việc xây dựng và thực hiện CSDT đúng, có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với việc củng cố khối đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc cùng phát triển
Các dân tộc ở Việt Nam có quan hệ lâu đời trên nhiều lĩnh vực, trong quá trình cùng tồn tại và phát triển Từ khi ra đời và suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, giúp đỡ các dân tộc cùng phát triển
Mặc dù còn nhiều khó khăn tồn tại, song những thành tựu do cách mạng đem lại cho đồng bào các dân tộc trong mấy chục năm qua là không thể phủ nhận Các dân tộc đã thoát khỏi thân phận người nô lệ, bị áp bức, bóc lột, chia
rẽ, khinh miệt, thậm chí có dân tộc bị nguy cơ đẩy đến bờ diệt vong dưới thời
đế quốc, phong kiến trước dây Nạn đói rách, mù chữ, bệnh tật trong cuộc sống thường ngày của nhân dân từng bước được khắc phục và chăm lo tốt hơn Đời sống đồng bào nhiều vùng được cải thiện rõ rệt
Những thành tựu đã đạt được ở vùng đồng bào các dân tộc thiểu số mấy chục năm qua dưới sự lãnh đạo của Đảng là hết sức quan trọng Song trên thực tế những thành tựu ấy vẫn chưa tương xứng với vị trí chiến lược của miền núi và vùng dân tộc, chưa đạt được những mục tiêu cách mạng mà Đảng
đã đề ra
Trang 2CSDT ở nước ta luôn được đặt ra như một vấn đề đặc biệt quan trọng trong toàn bộ chính sách của Đảng và Nhà nước Đây cũng là những vấn đề rất nhạy cảm, vừa mang tính thời sự vừa mang tính chiến lược.Tuy nhiên, hiệu quả và kết quả thực tế của thực hiện CSDT còn rất hạn chế, chưa tương xứng với tiền của, công sức của chúng ta đã bỏ ra và mong đợi của đồng bào
Vì thế việc nhận thức đúng đắn và sâu sắc đối với việc thực hiện các CSDT nhằm tạo sự phát triển mọi mặt về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nói chung, vùng dân tộc thiểu số nói riêng đang là một đòi hỏi bức xúc hiện nay
Là một trong những dân tộc ít người ở Việt Nam thực hiện chính sách dân tộc của Đảng từ khi đất nước đổi mới, đời sống kinh tế - xã hội của đồng bào Mường từng bước được nâng cao hơn Tuy nhiên, hiện nay vùng đồng bào dân tộc Mường vẫn còn là một trong những vùng chậm phát triển còn nhiều khó khăn đòi hỏi phải có sự quan tâm nhiều hơn nữa
Phú Thọ là một tỉnh ở vùng trung du miền núi phía Bắc, có vị trí và vai trò rất quan trọng đóng góp vào việc giữ vững an ninh – quốc phòng và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Đây là vùng kinh tế trọng điểm của phía Bắc, có điều kiện thuận lợi về địa lý tự nhiên trong phát triển nông nghiệp Đồng bào dân tộc ở Phú Thọ với số lượng không nhiều nhưng lại sống trên một địa bàn chiến lược quan trọng, vì vậy lãnh đạo thực hiện tốt chính sách dân tộc (CSDT) là một vấn đề Đảng bộ tỉnh Phú Thọ rất quan tâm, để từng bước cải thiện và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho đồng bào dân tộc góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân, ổn định chính trị - xã hội và phát triển bền vững của khu vực cũng như của cả nước, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã xác định; “Vấn đề dân tộc và đoàn kết các dân tộc luôn luôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp cách mạng”
Trang 3Xuất phát từ thực tế như vậy, tác giả chọn vấn đề: “Đảng bộ tỉnh Phú Thọ lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc đối với đồng bào Mường (1996
- 2004)” làm đề tài cho khóa luận của mình, nhằm làm sáng tỏ những thành
công, hạn chế, rút ra những kinh nghiệm lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc ở Phú Thọ vừa qua để tiếp tục thực hiện tốt hơn trong thời gian tới
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Vấn đề dân tộc và việc thực hiện chính sách dân tộc cho các dân tộc thiểu số là đối tượng nghiên cứu của nhiều môn khoa học xã hội khác nhau như Triết học, Sử học, Dân tộc học, Xã hội học, Văn học, Nghệ thuật, Chủ nghĩa cộng sản khoa học… Dưới những góc độ khác nhau của các môn khoa học đó, vấn đề dân tộc đã được nhiều nhà khoa học đi sâu nghiên cứu và đại được những thành tựu quan trọng về lý luận và thực tiễn, phục vụ thiết thực cho cuộc sống xã hội Ở nước ta nhiều công trình khoa học đã góp phần làm
rõ lịch sử hình thành, phát triển và đặc điểm của cộng đồng các dân tộc Việt Nam trong quá trình dùng nước và giữ nước, tình hình kinh tế, xã hội vùng đồng bằng các dân tộc thiểu số, những vấn đề thực hiện CSDT của Đảng nhằm xây dựng phát triển củng cố khối đoàn kết bình đẳng dân tộc Đã có những công trình đi sâu các vấn đề về kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục, y tế,
đào tạo và sử dụng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số, như: “Quan hệ giữa
các tộc người trong một Quốc gia– dân tộc” của giáo sư Đặng Nghiêm Vạn,
Nxb Chính trị Quốc giaHà Nội, 1993; “Các dân tộc thiểu số trong sự phát
triển kinh tế - xã hội miền núi” do giáo sư Bế Viết Đẳng (chủ biên), Nxb
Chính trị Quốc giaHà Nội, 1996; “Phát triển quan hệ dân tộc ở Việt Nam
hiện nay” của PGS.TS Trần Quang Nhiếp, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội,
1997; “50 năm các dân tộc thiểu cố Việt Nam (1945 – 1995)” do GS Bế Viết Đẳng (chủ biên), Nxb khoa học xã hội Hà Nội, 1995; “Bình đẳng dân tộc ở
nước ta hiện nay – Vấn đề và giải pháp” do GS,TS Trịnh Quốc Tuấn (chủ
Trang 4biên), Nxb Chính trị Quốc giaHà Nội, 1996; “Phát triển kinh tế xã hội các
vùng dân tộc và miền núi theo hướng công nghiệp hóa hiện đại hóa” của Lê
Dụ Phong và Hoàng Văn Hoa, Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội, 1998; “Mấy
vấn đề lý luận và thực tiễn về dân tộc và quan hệi dân tộc ở Việt Nam” của
TS Nguyễn Quốc Phẩm và GS.TS Trịnh Quốc Tuấn, Nxb Chính trị Quốc
giaHà Nội, 1999; Đề tài khoa học 04 – 05: “Những vấn đề lý luận và thực
tiễn cấp bách liên quan đến dân tộc, sắc tộc ở nước ta và trên thế giới, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta”, do GS Phan Hữu Dật làm chủ
nhiệm, Hà Nội, 2000; báo cáo tổng quan đề tài khoa học cấp bộ năm 2003:
“Một số giải pháp nâng cao đời sống cho đồng bào dân tộc Mường trong giai
đoạn hiện nay” do T.S Lê Tân làm chủ nhiệm…
Ngoài ra còn có một số công trình nghiên cứu về người Mường được công bố trên các tạp chí chuyên ngành, cũng như trong các công trình chuyên
khảo như: Các dân tộc ở Việt Nam – các tỉnh phía Bắc; vấn đề dân tộc ở đồng
bằng sông Hồng; Tìm hiểu vốn văn hóa dân tộc Mường…và nhiều công trình
nghiên cứu quan trọng khác có liên quan, do khuôn khổ của khóa luận tác giả không thể thống kê đầy đủ
Các công trình trên đây tuy có nhiều cách tiếp cận khác nhau từ góc độ
sử học, dân tộc học, tôn giáo, kinh tế học… đã trình bày, lý giải nhiều vấn đề đặt ra đối với nghiên cứu đồng bào Mường nói chung và bước đầu trình bày thực trạng đời sống và các giải pháp để nâng cao đời sống cho các đồng bào Mường ở miền Tây Nam Bộ, trung du miền núi phía Bắc hoặc giới thiệu tổng quan về dân tộc Mường Tuy nhiên cho đến nay chưa có một đề tài nào trình bày về Đảng lãnh đạo dân tộc ở một tỉnh nói riêng
Phú Thọ là một tỉnh có nhiều đồng bào Mường sinh tụ, đến nay chưa có một công trình nghiên cứu nào về Đảng bộ lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc đối với đồng bào dân tộc Mường
Trang 53 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là trình bày một cách có hệ thống chủ trương chính sách dân tộc của Đảng và quá trình vận dụng chủ trương của Đảng để chỉ đạo tổ chức thực hiện CSDT đối với đồng bào Mường của Đảng
bộ tỉnh Phú Thọ, làm rõ sự tác động của CSDT đối với đồng bào Mường Phú Thọ từ 1996 đến 2004
3.2 Nhiêm vụ nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu, tổng kết thực tiễn luận văn đánh giá đúng những thành tựu, chỉ ra những hạn chế và rút ra những kinh nghiệm trong quá trình thực hiện CSDT đôi với đồng bào Mường ở Phú Thọ; bước đầu đề xuất những giải pháp cơ bản nhằm phát huy tác dụng của kinh nghiệm trong quá trình thực hiện chính sách dân tộc ở địa phương
3.3 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu về đường lối, chủ trương và quá trình lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Phú Thọ trong việc thực hiện chính sách dân tộc đôi với đồng bào dân tộc Mường trên địa bàn tỉnh Phú Thọ trong những năm 1996 - 2004
4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghên cứu
4.1 Nguồn tư liệu
Nguồn tư liệu chính để thực hiện đề tài là các văn bản, chỉ thị, nghị quyết của Đảng và Nhà nước về chính sách dân tộc và các văn bản cụ thể hóa việc
tổ chức thực hiện các chính sách trên của Đảng bộ tỉnh Phú Thọ Tham khảo
và tiếp thu có chọn lọc các kết quả nghiên cứu khác có liên quan đến đề tài
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu và trình bày khóa luận, phương pháp nghiên cứu chủ yếu là phương pháp lịch sử, phương pháp logic Ngoài ra còn kết hợp
Trang 6các phương pháp khác như: đối chiếu so sánh, phân tích, thống kê, tổng hợp của khoa học lịch sử
5 Đóng góp của khóa luận
Khẳng định tính đúng đắn những quan điểm của chủ nghĩa Mác_Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng ta về vấn đề dân tộc Tìm ra những ưu điểm, hạn chế và rút ra những kinh nghiệm trong việc thực hiện CSDT đối với đồng dân tộc Mường ở tỉnh Phú Thọ
Trình bày một cách có hệ thống chính sách dân tộc của Đảng từ 1996 -
2004 ở Phú Thọ qua đó góp phần nghiên cứu trong việc vạch ra những giải pháp mới xây dựng khối đoàn kết toàn dân tộc của Đảng ở Phú Thọ trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
6 Bố cục khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, khóa luận
gồm có ba chương:
Chương 1: Đảng bộ tỉnh Phú Thọ lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc
đối với đồng bào Mường (1996 - 2000)
Chương 2: Đảng bộ tỉnh Phú Thọ tiếp tục lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc đối với đồng bào Mường (2001 - 2004)
Chương 3: Những hạn chế và một số kinh nghiệm
Trang 7Chương 1 ĐẢNG BỘ TỈNH PHÚ THỌ LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN CHÍNH
SÁCH DÂN TỘC ĐỐI VỚI ĐỒNG BÀO MƯỜNG
(1996 - 2000)
1.1 ĐẶC ĐIỂM, TÌNH HÌNH DÂN TỘC MƯỜNG Ở PHÚ THỌ
1.1.1 Vị trí địa lý và điều kện tự nhiên tỉnh Phú Thọ
* Vị trí địa lý
Phú Thọ có tọa độ địa lý 20o55‟ - 21o
43‟ vĩ độ Bắc , 104o48‟ - 105o
27‟ kinh độ Đông, Bắc giáp Tuyên Quang , Nam giáp Hòa Bình , Đông giáp Vĩnh Phúc và Hà Tây , Tây giáp Sơn La và Yên Bái , nằm ở vị trí tiếp giáp giữa Đông Bắc, đồng bằng sông Hồng , và Tây Bắc , là trung tâm tiểu vùng Tây - Đông Bắc Diện tích chiếm 1,2% diện tích cả nước và chiếm 5,4% diện tích vùng miền núi phía Bắ c Dân số chiếm 1,64% dân số cả nước , chiếm 14,3% dân số vùng miền núi phía Bắc Đó là những yếu tố quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội
Với vị trí ở ngã ba sông , cửa ngõ phía Tây của thủ đô Hà Nội và địa bàn kinh tế trọng điểm phía Bắc , Phú Thọ là cầu nối các tỉnh đồng bằng Sông Hồng với các tỉnh miền núi Tây Bắc và Đông Bắc , là nơi trung chuyển hàng hóa thiết yếu của các tỉnh miền núi phía Bắc Phú Thọ chỉ cách Hà Nội khoảng 80 km tính theo đường ô tô và cách các tỉnh xung quanh từ 100km - 300km Các hệ thống đường bộ , đường sắt, đường sông từ các tỉnh phía Tây Đông Bắc đều qui tụ về Phú Thọ rồi mới đi Hà Nội , Hải Phòng và các tỉnh , thành phố khác trong cả nước
Thành phố Việt Trì là thủ phủ của tỉnh đồng thời cũng là một trong 5 trung tâm lớn của vùng miền núi phía Bắc , có các tuyến trục giao thông quan trọng chạy qua như quốc lộ số 2 chạy từ Hà Nội qua Việt Trì đi Tuyên Quang
Trang 8- Hà Giang đặc biệt là tuyến đường cao tốc Hà Nội – Việt Trì - Lào Cai sang Vân Nam - Trung Quốc Đây là tuyến nằm trong hành lang kinh tế Côn Minh
- Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh Dự báo đoạn Hà Nội - Việt Trì
sẽ có nhịp độ phát triển sớm nền kinh tế cao và đô thị hóa nhanh nên đây là cơ hội cho Phú Thọ để phát triển kinh tế Đường Hồ Chí Minh với cầu Ngọc Tháp cũng tạo ra thuận lợi để Phú Thọ giao lưu kinh tế với bên ngoài
Khi Sơn Tây, Hòa Lạc được xây dựng trở thành chuỗi đô thị có khoảng
30 - 50 vạn dân cũng sẽ mở ra cơ hội mới cho Phú Thọ phát triển , nhất là các huyện phía hữu ngạn sông Hồng như Tam Nông , Thanh Thủy, Thanh Sơn, Yên Lập, Cẩm Khê, Hạ Hòa có điều kiện phát triển mạnh hơn Ngoài ra Phú Thọ còn có đường sắt , đường sông chạy qua cũng là thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội nhanh hơn
* Điều kiện tự nhiên
- Địa hình
Điểm nổi bật là chia cắt tương đối mạnh vì nằm ở phía cuối dãy Hoàng Liên Sơn, nơi chuyển tiếp giữa miền núi cao và miền núi thấp , gò đồi, độ cao giảm dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam Căn cứ vào địa hình , chia Phú Thọ thành 2 tiểu vùng sau:
Tiểu vùng miền núi gồm các huyện Thanh Sơn , Yên Lập , Hạ Hoà và
một phần của huyện Cẩm Khê có diện tích tự nhiên khoảng 182.475,82 ha, dân số khoảng 418.266 người, mật độ dân số 228 người/km2
; có độ cao trung bình so với mặt nước biển từ 200 - 500 m Đây là tiểu vùng đang khó khăn về giao thông và dân trí còn thấp lại nhiều dân tộc nên việc khai thác tiềm năng nông lâm khoáng sản để phát triển kinh tế - xã hội còn hạn chế
Tiểu vùng trung du đồng bằng gồm thành phố Việt Trì, thị xã Phú Thọ
và các huyện Lâm Thao , Phù Ninh, Thanh Thuỷ, Tam Nông, Đoan Hùng và phần còn lại của huyện Cẩm Khê , Hạ Hoà Diện tích tự nhiên khoảng
Trang 9169.489,50 ha, dân số khoả ng 884.734 người, mật độ 519 người/ km2, có độ cao trung bình so với mực nước biển từ 50 - 200m Đây đang là tiểu vùng có kinh tế - xã hội phát triển , tiềm năng nông lâm , khoáng sản được khai thác tương đối triệt để , nơi sản xuất nhiều nông sản hàng hoá xuất khẩu như : chè, đậu tương, lạc v.v Nơi có nhiều khu , cụm, điểm công nghiệp Nhưng đã xuất hiện hiện tượng đất bị thoái hóa ở một vài nơi , còn dải đất ven sông lại màu mỡ thuận lợi ch o phát triển chè , đậu tương, lạc, vừng, cây ăn quả , sản xuất lương thực , chăn nuôi gia súc , gia cầm , nuôi trồng thuỷ sản là tiểu vùng thuận lợi về điều kiện giao thông vận tải , có đất đai phù hợp cho phát triển khu công nghiệp và đô thị
Tóm lại, Phú Thọ có địa hình đa dạng , vừa có miền núi , vừa có trung du
và đồng bằng ven sông , đã tạo ra nguồn đất đai đa dạng , phong phú để phát triển nông lâm nghiệp hàng hoá toàn diện với những cây trồ ng, vật nuôi có giá trị kinh tế cao phù hợp với thị trường trong nước và thế giới Tuy nhiên do địa hình chia cắt , mức độ cao thấp khác nhau nên việc đầu tư khai thác tiềm năng, phát triển sản xuất, phát triển hạ tầng để p hát triển kinh tế - xã hội phải đầu tư tốn kém nhất là giao thông, thuỷ lợi, cấp điện, cấp nước v.v
Tiểu vùng 1: các huyện phía Bắc Lượng mưa trung bình/năm là
1800mm, số ngày mưa 120 - 140 ngày/năm Nhiệt độ trung bình 22 - 230
C
Là vùng đủ ẩm, mùa đông ít lạnh, thuận lợi phát triển cây ngắn ngày và cây công nghiệp dài ngày
Trang 10Tiểu vùng 2: các huyện phía Nam Lượng mưa trung bình/năm 1400 -
1700mm Lượng mưa phân bố không đều chủ yếu tập trung vào các tháng mùa mưa Độ ẩm không khí trung bình 82 - 84%, nhiệt độ trung bình 23,30C Tạo điều kiện cho các cây trồng (nhất là cây trồng ngắn ngày) tăng khả năng quang hợp, tích lũy vật chất, cho năng suất cây trồng cao
Tiểu vùng 3: các huyện miền núi phía Tây Lượng mưa trung bình/năm
1900mm Phân bố mưa không đều, tập trung vào các tháng 6, 7, 8 Nhiệt độ trung bình 21 - 220C Là vùng có độ ẩm thấp, hệ số khô hạn cao hơn vùng khác, vì vậy cần chú ý giữ ấm cho cây trồng vào mùa đông
Nhìn chung, khí hậu Phú Thọ phù hợp cho việc sinh trưởng và phát triển
đa dạng các loại cây trồng nhiệt đới, á nhiệt đới và chăn nuôi gia súc, khả năng cho năng suất và chất lượng cao Yếu tố hạn chế của khí hậu là dễ bị úng ngập vào mùa mưa và hạn vào mùa khô Khắc phục hạn chế này cần giải quyết tốt vấn đề thủy lợi và bố trí hệ thống cây trồng phù hợp với từng vùng sinh thái
- Tài nguyên đất
Diện tích đất bằng và hơi bằng , chiếm 44,4%, diện tích đất dốc chiếm 51,6% Do diện tích đất dốc lớn đã gây cản trở trong việc bố trí sản xuất nông lâm nghiệp, đầu tư phát triển hạ tầng giao thông , thuỷ lợi tốn kém , việc giao lưu kinh tế trong và ngoài tỉnh hiện tại còn gặp nhiều khó khăn
Tỉnh Phú Thọ có 351.858 ha diện tích đất tù nhiên Trong đó: Diện tích đất nông nghiệp là 95.987 ha, chiếm 27%; diện tích đất lâm nghiệp có rừng là 134.888 ha, chiếm 38%; diện tích đất chuyên dùng là 21.080 ha, chiếm 5%; diện tích đất chưa sử dụng và sông suối đá là 92.495 ha, chiếm 26%
Trong đất nông nghiệp, diện tích đất trồng cây hàng năm là 59.235 ha, chiếm 61%; riêng đất lúa có 48.437 ha, chiếm 81,7% gieo trồng 2 vụ; diện
Trang 11tích đất trồng cây lâu năm là 12.074 ha, chiếm 12,57%; diện tích đất có mặt nước nuôi trồng thuỷ sản là 2.321 ha
Diện tích đất trống, đồi trọc cần phủ xanh 68.836,2 ha; bãi bồi có thể sử dụng 2.438,1 ha
- Tài nguyên nước
Nguồn nước mặt: với diện tích lưu vực của 3 sông lớn đã có 14.575 ha,
chứa một dung lượ ng nước mặt rất lớn Sông Hồng có chiều dài qua tỉnh 96
km, lưu lượng nước cực đại , có thể đạt 18.000 m3/s ; sông Đà qua tỉnh 41,5
km, lưu lượng nước cực đại 8.800 m3/s; sông Lô qua tỉnh 76 km, lưu lượng nước cực đại 6.610 m3
/s và 130 sông suối nhỏ cùng hàng nghìn hồ , ao lớn , nhỏ phân bố đều khắp trên lãnh thổ đều chứa nguồn nước mặt dồi dào
Nguồn nước ngầm: có nước ngầm phân bố ở các huyện Lâm Thao , Phù Ninh, Đoan Hùng, thị xã Phú Thọ và H ạ Hoà, nhưng có lưu lượng nước khác nhau Ở Lâm Thao, Nam Phù Ninh có lưu lượng nước bình quân 30l/s Ở La Phù - Thanh Thuỷ có mỏ nước khoáng nóng , chất lượng nước đạt tiêu chuẩn quốc tế mở ra triển vọng lớn cho phát triển ng ành du lịch nghỉ dưỡng, chữa bệnh với quy mô lớn
Tóm lại, tài nguyên nước của Phú Thọ rất dồi dào đủ đáp ứng cho yêu
cầu phát triển kinh tế - xã hội với cường độ cao Song cần có quy hoạch để bảo vệ và khai thác hợp lý theo hướng bền vững
1.1.2 Nét đặc thù trong đời sống kinh tế xã hội người Mường Phú Thọ
Phú Thọ là một tỉnh miền núi có diện tích tự nhiên 3.532,9km2
; có 13 huyện thành, thị, trong đó có 10 huyện miền núi; 218/227 xã, thị trấn miền núi, trong đó có 188 xã thuộc vùng khó khăn
Tỉnh có 34 dân tộc chung suống, dân số là 1.316.389 người, trong đó dân
số miền núi có 961.800 người (chiếm 70% dân số toàn tỉnh); riêng dân tộc thiểu số là 207.398 người (chiếm 21% dân số miền núi và 16% dân số toàn
Trang 12tỉnh) Có 4 dân số sống tập trung thành làng bản, có bản sắc văn hóa riêng là: Dân tộc Mường (184.141 người), dân tộc Dao (12.986 người), dân tộc Cao Lan (3.294 người), dân tộc H‟Mông (866 người) Các dân tộc thiểu số khác
do quan hệ hôn nhân, điều kiện công tác nên sống xen kẽ, không thành làng bản riêng
Phong tục tập quán của người Mường ở Phú Thọ cũng khá giống với người Mường ở Hòa Bình cũng như người Mường ở Thanh Hóa… tuy nhiên cũng có một số nét riêng biệt sau:
- Tên tự gọi: Mol (hoặc Mon, Moan, Mual)
- Nhóm địa phương: Ao Tá, (Âu Tá), Mọi Bi
Nông nghiệp lúa nước chiếm vị trí hàng đầu, cây lúa là cây lương thực
chính Công cụ làm đất chủ yếu là chiếc cày chìa vôi và chiếc bừa đơn nhỏ có răng bằng gỗ hoặc tre Lúa chín dùng hái gặt bó thành cụm gùi về nhà, phơi khô xếp để trên gác, khi cần dùng thì lấy từng cụm bá vào máng gỗ, dùng chân chà lấy hạt rồi đem giã Trong canh tác ruộng nước, người Mường Phú Thọ có nhiều kinh nghiệm làm thủy lợi nhỏ
Ngoài ruộng nước, người Mường Phú Thọ còn làm nương rẫy, chăn nuôi gia đình, săn bắn đánh cá, hái lượm và sản xuất thủ công nghiệp (dệt vải, đan lát…)
* Ăn
Người Mường thích ăn các món như xôi đồ, cơm tẻ đồ, rau cá đồ Cơm, rau đồ chín được dỡ ra rá tãi đều cho khái nát trước khi ăn
Trang 13Rượu cần của người Mường nổi tiếng bởi cách chế biến và hương vị đậm đà của men được đem ra mời khách và uống trong các cuộc vui tập thể Phụ nữ cũng như năm giới thích hút thuốc lào bằng loại ống điếu to Đặc biệt phụ nữ còn có phong tục nhiều người cùng chuyền nhau hút chung một điếu thuốc
* Mặc
Bộ y phục nữ đa dạng hơn nam giới và còn giữ được nét độc đáo Khăn đội đầu là một mảnh vải trắng hình chữ nhật không thêu thùa, yếm, áo cánh (phổ biến là mầu trắng) thân rất ngắn thường xẻ ở ngực và váy dài đến mắt cá chân gồm 2 phần chính là thân váy và cạp váy Cạp váy nổi tiếng bởi các hoa văn được dệt kì công
Trang sức gồm vòng tay, chuỗi hạt và bộ xà tích 2 hoặc 4 giây bạc có treo hộp quả đào và móng vuốt hổ, gấu bít bạc
Thầy mo mỗi khi hành lễ mặc y phục riêng Đó là chiếc áo dài 5 thân cài khuy bên nách phải, nhuộm màu xanh hoặc đen, thắt dây lưng trắng, đội mũ vải nhọn đầu
* Ở
Người Mường Phú Thọ sống tập trung thành làng xóm, thường ở các chân núi, bên sườn đồi, nơi đất thoải gần sông suối Mỗi làng có khoảng vài chục nóc nhà, khuôn viên của mỗi gia đình thường nổi bật lên những hàng cau, cây mít Đại bộ phận người Mường ở nhà sàn, kiểu nhà 4 mái Phần trên sàn người ở, ở dưới sàn đặt chuồng gia xúc, gia cầm, để cối gã gạo và các công cụ sản xuất khác
Làm nhà mới, khi dựng cột bếp, người Mường ở Phú Thọ có tục làm lễ nhóm lửa Gia chủ lấy bẹ chuối cắt hình ba con cá to kẹp vào thanh nứa buộc lên cột bếp, ở cột cá của bếp còn đặt một quả bí xanh Trước lúc đun nấu ở nhà mới, gia chủ làm lễ nhóm lửa xin thần bếp đặt ba hòn đầu rau có một hòn
Trang 14đá cái Đêm đó gia chủ mời mọi người uống rượu cần dưới ánh sáng của ngọn lửa không tắt
* Phương tiện vận chuyển
Phụ nữ chủ yếu dùng loại gùi đan bằng giang hoặc tre, bốn góc nẹp thành thẳng đứng có dây đeo qua vai để chuyên chở Đôi dậu, đòn gánh có mấu hai đầu, đòn xóc cũng thường được sử dụng
Nước sạch được chứa trong ống nứa to, dài hơn 1m, vác vai từ bến nước
về, dựng bên vách để dùng dần
Quan hệ xã hội: Quan hệ làng xóm với nhau chủ yếu là quan hệ làng xóm láng giềng Gia đình 2 – 3 thế hệ chiếm phổ biến Con cái sinh ra lấy họ cha Quyền con trai trưởng được coi trọng và con trai trong gia đình được thừa kế tài sản
* Cưới xin
Trai gái được tự do yêu đương, tìm hiểu, ưng ý nhau thì báo cho gia đình biết để chuẩn bị lễ cưới Để dẫn đến đám cưới phải trải qua nhiều lần ướm hái (kháo thiếng), lễ bá trầu (ti nòm bánh), lễ xin cưới (nòm khảu), lễ cưới lần thứ nhất (ti cháu), lễ đón dâu (ti chu) Trong ngày cưới, chú rể mặc quần áo đẹp chít khăn trắng, gùi một chón (gùi) cơm đồ chín (bằng 10 đấu gạo), trên miệng chón để 2 con gà sống thiến luộc chín Trong lễ đón dâu, cô dâu đội nón, mặc váy áo đẹp, ngoài cùng là chiếc áo dài màu đen thắt hai vạt ở phía trước, cô dâu mang về nhà chồng thường là 2 chăn, 2 cái đệm, 2 gối tùa để biếu bố mẹ chồng và hàng chục gối con để nhà trai biếu cô, dì chú, bác
* Sinh đẻ
Khi người vợ sắp sinh con, người chồng phải chuẩn bị nhiều củi, làm một bếp riêng ở gian trong và quây phên nứa thành một buồng kín cho vợ đẻ Khi vợ chuyển dạ đẻ, người chồng đi báo cho mẹ vợ và anh chị em họ hàng nội ngoại biết để đến nhà cùng nhau chờ đợi Bà đỡ cắt rốn cho đứa trẻ bằng
Trang 15dao nứa lấy từ đầu chiếc dui trên mái nhà trước, nếu là con gái thì dùng dao nứa mái nhà sau Cuống rốn của các con trong gia đình được đựng chung trong một ống nứa, họ tin rằng lớn lên anh em sẽ thương yêu nhau
Ngày sinh con gia đình tổ chức ăn mừng, mời thầy mo đến cúng trừ mọi điều xấu hại đến hai mẹ con Đẻ được 3 – 7 ngày thường có nhiều anh em, bà con đến thăm hỏi, tặng quà Bà ngoại mừng cháu bao giờ cũng có vải vuông, vải tù dệt, gia đình khá giả thì mừng thêm chiếc vòng bạc đeo cổ, anh em thân thích thì mừng gạo, mừng tiền
Người đẻ thường ăn cơm nếp với lá tắc chiềng (loại lá thuốc chống được bệnh sài), uống nước nấu với các loại lá cây thuốc và trong thời gian cữ (7 –
10 ngày), nhất là 3 ngày đầu luôn luôn phải sưởi bên bếp lửa Trẻ sơ sinh nếu
là trai thì được âu yếm gọi là lọ mạ (thóc giống), nếu là gái thì lại trìu mến gọi
là cách tắc (rau cá) Thường thì trẻ một tuổi mới được đặt tên chính thức
* Ma chay
Người chết tắt thở, con trai trưởng cầm dao nín thở chặt 3 nhát dao vào khung cửa sổ gian thờ, sau đó gia đình nổi chiêng phát tang Thi hài người chết được liệm nhiều lớp vải và quần áo theo phong tục rồi để vào trong quan tài làm bằng thân cay khoét rỗng, bên ngoài phủ áo vẩy rồng bằng vải
Tang lễ do thầy mo chủ trì, dẫn dắt Bên cạnh hình thức chịu tang của con trai, con gái như vẫn thường thấy ở người Việt, riêng con dâu, cháu dâu chịu tang cha mẹ, ông bà còn có bộ tang phục riêng gọi là bộ quạt ma
* Lịch
Lịch cổ truyền của người Mường Phú Thọ gọi là sách đọi làm bằng 12 thẻ tre tương ứng với 12 tháng Trên mỗi thẻ có khắc ký hiệu khác nhau để biết tính toán, xem ngày giờ tốt xấu để khởi sự công việc
Trang 16Người Mường Phú Thọ có cách tính lịch với người Mường ở các nơi khác gọi là cách tính ngày lui tháng tới Tháng Giêng lịch ứng với tháng 10
âm lịch của các nơi khác
* Văn nghệ
Hát Xéc bùa (có nơi gọi là Xắc bùa hay Khóa rác) được nhiều người ưa thích Thường (có nơi gọi là Ràng Thường hoặc Xường) là loại dân ca ca ngợi lao động và các nét đẹp phong tục dân tộc Bọ Mẹng là hình thức hát giao du tâm sự tình yêu Ví đúm cũng là loại dân ca phổ biến
Bên cạnh đó, người Mường Phú Thọ còn có các thể loại hát khác như: hát ru, hát đồng dao… dặc biệt còn phải kể đến lễ ca, đó là những áng mo, bài khấn do thầy Mo đọc và hát trong đám tang Ngoài sáo, nhị, trống, kèn… thì cồng chiêng là loại nhạc cụ đặc sắc
Nhìn chung, người Mường Phú Thọ thích cuộc sống thảnh thơi, an nhàn
hơn là đua chen để làm giàu lớn như người Kinh và họ tin vào số phận con người, họ quan niệm rằng phải có phúc, có phận thì mới phát triển làm giàu được, vì thế họ ít chịu tìm hiểu làm thế nào để tăng năng suất canh tác nên cuộc sống còn gặp nhiều khó khăn Làm thế nào để giúp đồng bào có cuộc sống no đủ, theo kịp với cuộc sống của các dân tộc anh em đang là vấn đề đặt
ra đòi hỏi Đảng, Nhà nước cũng như chính quyền địa phương phải suy nghĩ, nghiên cứu hoạch định chính sách phát triển kinh tế, xã hội trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Trang 171.2 QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VỀ CHÍNH SÁCH DÂN TỘC 1.2.1 Quan điểm và chính sách dân tộc của Đảng Cộng sản Việt Nam
Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về vấn đề dân tộc được thể hiện trong cương lĩnh dân tộc của Lênin gồm ba nội dung chủ yếu: Các dân tộc hoàn toàn bình đẳng, các dân tộc có quyền tự quyết, đoàn kết nhân dân lao động trong cuộc đấu tranh xóa bỏ áp bức dân tộc và xây dựng mối quan hệ mới giữa các dân tộc
Như vậy, theo quan điểm của chủ nghĩa Mác_Lênin, thực chất của bình đẳng dân tộc là xóa bỏ sự nô dịch của dân tộc này đối với dân tộc khác Từng bước xóa bỏ sự chênh lệch về sự phát triển giữa các dân tộc, việc thực hiện bình đẳng dân tộc sẽ góp phần thực hiện bình đẳng xã hội Sự bình đẳng này phải được thực hiện trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội… Để thực hiện điều ấy chỉ có thể đứng vững trên lập trường của giai cấp công nhân mới thực hiện được quyền bình đẳng và quyền tự quyết đúng đắn, khắc phục thái độ kỳ thị và mới đoàn kết được nhân dân lao động các dân tộc trong cuộc đấu tranh vì sự nghiệp giải phóng xã hội, giải phóng con người, đưa các dân tộc tiến tới bình đẳng, công bằng, dân chủ, văn minh
Trong quá trình tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã bắt gặp tư tưởng Lênin về cách mạng vô sản và vấn đề dân tộc thuộc địa Trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác_Lênin, căn cứ vào thực tiễn Việt Nam là một Quốc giađa dân tộc, Bác đã nhiều lần căn dặn chúng ta về việc quan tâm đến cuộc sống của đồng bào các dân tộc Người nói:
“Chủ nghĩa Mác - Lênin đã giúp Đảng nhận thấy rõ rằng trong điều kiện một nước nông nghiệp lạc hậu như nước ta thì vấn đề dân tộc thực chất là vấn
đề nông dân Cách mạng dân tộc thực chất là cách mạng của nông dân do giai cấp công nhân lãnh đạo và chính quyền nhân dân thực chất là chính quyền của công nông [34, tr.17-18]”
Trang 18Người luôn kêu gọi đoàn kết các dân tộc, bởi đoàn kết là một yếu tố cực
kỳ quan trọng tạo nên sức mạnh tổng hợp của cách mạng Việt Nam Người chỉ rõ:
“Nhờ sức đoàn kết đấu tranh chung của tất cả các dân tộc, nước Việt Nam ngày nay được độc lập, các đân tộc thiểu số được bình đẳng cùng dân tộc Việt Nam, tất cả đều như anh chị em trong một nhà, không còn sự phân chia nòi giống, tiếng nói làm gì nữa Trước kia các dân tộc để giành độc lập phải đoàn kết, bây giờ để giũ lấy nền độc lập càng cần đoàn kết hơn nữa [36,tr 110]”
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng nước ta Hồ Chí Minh rất quan tâm đến việc hoạch định và thực hiện đường lối, chính sách chung của cả nước Người nhắc nhở phải tìm cách vận dụng đường lối chính sách chung ấy sao cho phù hợp với điều kiện của các dân tộc, đồng thời Người cũng quan tâm đến việc hoạch định và thực hiện những chính sách riêng cho đồng bào các dân tộc thiểu số, cho riêng miền núi
Đặc biệt trong Di Chúc Bác Hồ đã căn dặn:
“Nhân dân lao động ta ở miền xuôi cũng như ở miền núi, đã bao đời chịu đựng gian khổ bị chế độ phong kiến và thực dân áp bức bóc lột, lại qua nhiều năm chiến tranh Tuy vậy, nhân dân ta rất anh hùng, dũng cảm, hăng hái, cần
cù Từ ngày có Đảng nhân dân ta luôn luôn đi theo Đảng, rất trung thành với Đảng Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân [37,tr.511]”
Đặc điểm nổi bật trong quan hệ dân tộc – tộc người ở Việt Nam là có truyền thống gắn bó từ lâu đời trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam Do dặc điểm của cuộc đấu tranh chinh phục thiên nhiên khắc nhiệt và chống giặc ngoại xâm, các dân tộc Việt Nam, thiểu số cũng như đa số tùy trình độ kinh
tế, văn hóa, xã hội, phong tục, tập quán… khác nhau, nhưng đều có chung
Trang 19truyền thống đoàn kết thống nhất, tương thân, tương ái, đồng cam cộng khổ trong công cuộc dựng nước và giữ nước Truyền thống đó đã được phát huy cao độ trong các cuộc đấu tranh nhằm giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc
và đang được phát huy trong công cuộc xây dựng đất nước theo định hướng
xã hội chủ nghĩa, mà nhiệm vụ trọng tâm hiện nay là công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Dựa trên những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác_Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc và giải quyết các mối quan hệ dân tộc; xuất phát từ đặc điểm tình hình các dân tộc ở đất nước ta Đảng ta, luôn luôn đề ra chính sách dân tộc đúng đắn ngay từ cương lĩnh đầu tiên của Đảng Cộng sản Đông Dương, tiếp tục hoàn thiện và thể hiện cụ thể trong các Nghị quyết của các Đại hội đại biểu toàn quốc, trong các chỉ thị, Nghị quyết của Đảng và được khẳng định trong Hiến pháp
Chính sách dân tộc được thể hiện trong các giai đoạn, trên cơ sở cụ thể hóa những nhiệm vụ của từng thời kỳ cách mạng:
Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, tháng 8 – 1952, Nghị quyết của
Bộ Chính trị về công tác dân tộc của Đảng đã chỉ rõ: “Các dân tộc sống trên đất nước Việt Nam đều được bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ, phải đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau để kháng chiến và kiến quốc [20,tr.38]”
Sau khi miền Bắc được giải phóng, đất nước thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược cách mạng, miền Bắc trở thành hậu phương lớn của cả nước, Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ III đã đề ra chủ trương:
Đảng và Nhà nước cần có kế hoạch toàn diện và lâu dài phát triển kinh tế
và văn hóa ở miền núi, làm cho miền núi tiến kịp miền xuôi, các dân tộc thiểu
số tiến kịp dân tộc đa số, giúp các dân tộc phát huy tinh thần cách mạng và khả năng to lớn của mình [20,tr.46]
Trang 20Sau khi miền Nam được giải phóng, cả nước thống nhất đi lên chủ nghĩa xã hội, Đảng ta tiếp tục chủ trương tiếp tục phát huy truyền thống đoàn kết, yêu nước của toàn dân, đồng thời, coi việc giải quyết đúng đắn vấn đề dân tộc là một trong những nhiệm vụ có tính chất chiến lược của cách mạng Việt Nam
Báo cáo Chính trị lần thứ IV của Đảng đã chỉ ra một cách cụ thể hơn về chính sách dân tộc cuả Đảng:
Chính sách dân tộc của Đảng là triệt để thực hiện quyền bình đẳng giữa các dân tộc, tạo ra những điều kiện cần thiết để xóa bỏ tận gốc sự trênh lệch
về trình độ kinh tế, văn hóa giữa các dân tộc ít người và đông người, đưa miền núi tiến kịp miền xuôi, vùng cao tiến kịp vùng thấp, làm cho tất cả các dân tộc đều có cuộc sống ấm no, văn minh và hạnh phúc phát triển về mọi mặt, đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ [19 tr.46]
Đại hội lần thứ VII của Đảng cũng đã chỉ rõ con đường phát triển các dân tộc và mối quan hệ giữ các dân tộc:
Sự phát triển mọi mặt của từng dân tộc đi liền với sự phát triển của cộng đồng các dân tộc trên đất nước ta Sự tăng cường tính cộng đồng, tính thống nhất là một quá trình hợp quy luật, nhưng tính cộng đồng, tính thống nhất không mâu thuẫn, không bài trừ tính đa dạng, tính độc đáo của mỗi dân tộc [22, tr.16]
Báo cáo Chính trị lần thứ VII đã chỉ rõ:
Thực hiện chính sách bình đẳng đoàn kết tương trợ giũa các dân tộc, tạo mọi điều kiện để các dân tộc phát triển đi lên con đường văn minh, tiến bộ, gắn bó với sự phát triển chung của cộng đồng dân tộc Việt Nam [23, tr.16] Xuất phát từ tình hình phát triển không đồng đều giữa các dân tộc trong lịch sử và sự chênh lệch lớn về đời sống kinh tế - xã hội giữa các dân tộc, giữa các vùng miền, Đảng và Chính phủ Việt Nam trong lãnh đạo công cuộc đổi
Trang 21mới ngày càng nhận rõ việc xóa bỏ sự chênh lệch giữa các vùng miền, đẩy mạnh xóa đói giảm nghèo thực hiện công bằng xã hội, bình đẳng dân tộc Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng đã chỉ rõ:
“Vấn đề dân tộc có vị trí chiến lược lớn Thực hiện “bình đẳng, đoàn kết, tương trợ” giữa các dân tộc trong sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Xây dựng Luật dân tộc Từ nay đến năm 2000, bằng nhiều phương pháp tích cực và vững chắc, thực hiện cho được 3 mục tiêu chủ yếu: xóa được đói, giảm được nghèo, ổn định và cải thiện đời sống, sức khỏe cho đồng bào các dân tộc, đồng bào vùng cao, vùng biên giới; xóa được mù chữ, nâng cao dân trí, tôn trọng và phát huy bản sắc văn hóa tốt đẹp của các dân tộc; xây dựng được cơ sở chính trị, đội ngũ cán bộ và đảng viên của các dân tộc ở mỗi vùng, các cấp trong sạch và vững mạnh” [24,tr 125 – 126]
Để cụ thể hóa các Nghị quyết của Đảng từ Đại hội VI, bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết 22 (ngày 27/11/1989) về một số chủ trương, chính sách lớn về phát triển kinh tế - xã hội miền núi
Nghị quyết 22 của Bộ Chính trị đã nêu quan điểm chỉ đạo rất quan trọng là: Phát triển kinh tế - xã hội miền núi là một bộ phận hữu cơ của chiến lược phát triển nền kinh tế quốc dân Một mặt, các địa phương miền núi có trách nhiệm góp phần thực hiện chủ trương chiến lược phát triển kinh tế - xã hội chung của cả nước Mặt khác, việc cụ thể hóa và tổ chức thực hiện những chủ trương, chính sách ở miền núi phải tính đẩy đủ những đặc điểm về tự nhiên, lịch sử, kinh tế, xã hội, văn hóa, phong tục, tập quán của miền núi nói chung
và của riêng từng vùng, từng dân tộc; trong việc này cần đặc biệt nhấn mạnh vai trò năng động, sáng tạo của địa phương và cơ sở
Ngày 18/3/1990 Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) ra quyết định số 72 về chủ trương chính sách cụ thể nhằm phát triển kinh tế - xã hội miền núi, nâng cao mức đầu tư, xây dựng cơ sở hạ tầng, tạo đà phát triển
Trang 22mới cho các vùng đồng bào bằng các chương trình dự án cụ thể, phù hợp với từng vùng, từng địa bàn cư trú của các dân tộc ít người
Chỉ thị 68 – CT/TW ngày 18/4/1991 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa VI) về công tác ở vùng đồng bào dân tộc Mường Chỉ thị đã phân tích những nguyên nhân chủ yếu của một số sai lầm tồn tại trong việc thực hiện chính sách dân tộc của Đảng đối với đồng bào Mường trong thời gian qua; đồng thời vạch ra kế hoạch phát triển toàn diện về kinh tế, đời sống, văn hóa,
xã hội, an ninh chính trị, công tác quần chúng, xây dựng Đảng và đào tạo cán
bộ người Mường
Với mục tiêu huy động mọi nguồn lực tại chỗ, phối hợp lồng ghép các chương trình trên địa bàn để xây dựng cơ sở hạ tầng chủ yếu ở mỗi trung tâm cụm xã, nhằm tạo động lực đẩy quá trình phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc và miền núi, góp phần đảm bảo an ninh quốc phòng Thúc đẩy các hoạt động văn hóa – xã hội trong tiểu vùng, tạo sự giao lưu giữa các bản, làng và giữa các cụm xã với đô thị để phát huy sức mạnh cộng đồng, quản lý mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội, giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc, góp phần xây dựng nông thôn mới vùng dân tộc miền núi
Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số: 35/TTg, ngày 13/1/1997 phê duyệt chương trình xây dùng trung tâm cụm xã miền núi, vùng cao
Chỉ thị số 15/1998/CT-TTg ngày 28/3/1998 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường chỉ đạo xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội củng cố quốc phòng an ninh ở các xã, phường, biên giới, hải đảo Để tiếp tục thực hiện chỉ thị 23 – CT/TW ngày 29/11/1997 của Bộ Chính trị và triển khai thực hiện tinh thần Nghị quyết Ban Chấp hành Trung ương lần thứ IV (khóa VIII) về nhiệm
vụ “Tăng cường và nâng cao hiệu quả hỗ trợ các vùng nghèo, xã nghèo” trong
đó có các xã, phường, biên giới, hải đảo
Trang 23Gần đây Thủ tướng Chính phủ đã ra quyết định số 133/1998/QĐ/TTg ngày 23/7/1998 về việc phê duyệt chương trình mục tiêu Quốc giaxóa đói giảm nghèo trong giai đoạn 1998 – 2000 Đây là một chương trình tổng hợp
có tính chất liên nghành nằm trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước với mục tiêu: giảm tỉ lệ đói nghèo trong tổng số hộ của cả nước xuống còn 10% năm 2000
Tiếp theo là quyết định 135/1998/QĐ - TTg ngày 31/7/1998 của Thủ tướng Chính phủ, phê duyệt chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn miền núi và vùng sâu, vùng xa Mục tiêu của chương trình nhằm nâng cao nhanh đời sống vật chất, tinh thần cho đồng bào các dân tộc ở các xã đặc biệt khó khăn miền núi và vùng sâu, vùng xa; tạo điều kiện để đưa nông thôn các vùng này thoát khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu, chậm phát triển, hòa nhập vào sự phát triển chung của cả nước, góp phần đảm bảo trật tự
an toàn xã hội, an ninh quốc phòng
Thông qua các hệ thống văn bản, từ văn kiện của Đảng, Chính phủ, pháp luật của Nhà nước cũng như các văn bản dưới luật, CSDT của Đảng và Nhà nước ta ngày càng được quan tâm ngay cả trong phương diện hoạch định chính sách đến việc thể hóa và thực hiện trong đời sống
CSDT không chỉ nêu lên những nội dung xuyên suốt, bao trùm cả một thời kỳ dài (thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước) mà còn được xác định rõ những nhiệm vụ cụ thể, những mục tiêu cụ thể trong từng thời kỳ, giai đoạn Để làm được điều đó, cần phải thực hiện đầy đủ các nội dung cụ thể trên các lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng
Về kinh tế: Nhiệm vụ kinh tế trong CSDT chính là các chủ trương, chính
sách phát triển kinh tế - xã hội miền núi và các vùng dân tộc thiểu số nhằm tạo điều kiện để các dân tộc phát huy tiềm năng và các nguồn lực, đẩy mạnh
Trang 24sản xuất, kinh doanh, phát triển kinh tế hàng hóa, từng bước khắc phục tình trạng chênh lệch kinh tế giữa các vùng miền, giữa dân tộc thiểu số với dân tộc
đa số
Nội dung kinh tế trong CSDT bao gồm nhiều nhiệm vụ, nhiều chương trình cụ thể liên quan đến các cấp, các ngành, từ trung ương đến các địa phương và cơ sở Đó là việc xây dựng cơ cấu kinh tế ở miền núi và các vùng dân tộc thiểu số trên tất cả các lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, công nghiệp, dịch vụ đến việc đẩy nhanh ứng dụng khoa học - kỹ thuật vào sản xuất và đời sống Phát triển kinh tế miền núi, các vùng dân tộc thiểu số cũng gắn liền với những nhiệm vụ cụ thể trong điều chỉnh quan hệ sản xuất, đổi mới quản lý, giải phóng nguồn nhân lực sản xuất ở miền núi và vùng dân tộc thiểu số Các chính sách, chủ trương phù hợp với địa bàn, địa phương và những đặc điểm canh tác, sản xuất của các tộc người
Nội dung kinh tế của chính sách dân tộc cũng đòi hỏi phải xây dựng kết cấu hạ tầng, tạo điều kiện phát triển giao thong, thủy lợi, thông tin liên lạc để phát triển sản xuất, ổn định và nâng cao đời sống cho đồng bào dân tộc thiểu
số
Về chính trị: Nội dung bao trùm, xuyên suốt của chính sách dân tộc là
thực hiện sự bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc Đồng bào các dân tộc thiểu số cũng như đa số đều có quyền làm chủ, có đầy
đủ các quyền lợi và nghĩa vụ công dân, có quyền lợi và trách nhiệm xây dựng thể chế chính trị mới, phát huy vai trò của hệ thống chính trị, dân chủ hóa đời sống chính trị ở các vùng dân tộc thiểu số Ý thức chính trị, văn hóa chính trị (mà trước hết là những thông tin tri thức về đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước về quyền lợi, nghĩa vụ công dân…) được chú ý quan tâm trong CSDT
Trang 25Về văn hóa: Nội dung nhiệm vụ văn hóa cũng được phản ánh rất phong
phú trong CSDT của Đảng và Nhà nước ta Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, bao hàm các nội dung bảo tồn, phát huy những giá trị, bản sắc văn hóa, phát triển văn hóa, giáo dục, xây dựng đời sống văn hóa mới của các dân tộc thiêu số, bài trừ hủ tục, mê tín dị đoan, chống các tệ nạn xã hội…, tạo nên sự thống nhất trong sự đa dạng của nền văn hóa Việt Nam
Về xã hội: Chính sách xã hội bao hàm nội dung giải quyết các vấn đề xã
hội Có rất nhiều nội dung, nhiệm vụ cụ thể thuộc chính sách xã hội được triển khai đan lồng trong nhiều chủ trương chính sách: chính sách xóa đói, giảm nghèo đối với các vùng nông thôn miền núi, vùng dân tộc thiểu số, vùng sâu vùng xa; chính sách tạo việc làm, chính sách đền ơn đáp nghĩa; chính sách bảo trợ xã hội; các chính sách về kế hoạch hóa dân số… những chính sách đó đều phản ánh nội dung xã hội, trong việc thực hiện CSDT của Đảng và Nhà nước ta
Về an ninh quốc phòng: CSDT được hoạch định và thực hiện cũng
chính là tạo điều kiện củng cố, xây dựng an ninh, quốc phòng ngày càng vững chắc Bởi vậy, xây dựng, phát triển kinh tế văn hóa, xã hội cũng chính là thực hiện và đáp ứng những yêu cầu về ổn định chính trị, bảo đảm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội
Quán triệt đầy đủ các yêu cầu, nội dung nhiệm vụ của CSDT đòi hỏi
chúng ta phải thực hiện sâu sắc rằng, thực hiện đúng đắn CSDT của Đảng và Nhà nước là trách nhiệm chung của tất cả mọi người, của các tổ chức trong hệ thống chính trị các cấp của nước ta chứ không chỉ riêng đồng bào các dân tộc thiểu số
Trang 26Lĩnh vực dân tộc, CSDT có nội dung rộng lớn đòi hỏi việc hoạch định chính sách, chủ trương của Đảng và Nhà nước phải luôn luôn được hoàn thiện, bổ xung, chi tiết hóa, pháp luật hóa
1.2.2 Chủ trương của Đảng bộ Phú Thọ về chính sách dân tộc
Trong sự nghiệp xây dựng Tổ quốc, thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, Đại hội Đảng bộ Phú Thọ lần thứ IV (tháng 10 - 1986) đã đánh dấu mở đầu cho thời kỳ đổi mới ở Phú Thọ bằng chính sách “Tam nông”, trong đó nông nghiệp được xác định là nền tảng – là mặt trận hàng đầu, nông dân là chủ thể của quá trình đổi mới và nông thôn là địa bàn chiến lược, nhất là từ khi có nghị quyết 22 ngày 27/11/1989 của Bộ Chính trị về một số chủ trương, chính sách lớn phát triển kinh tế - xã hội miền núi, xem phát triển kinh tế - xã hội miền núi là một bộ phận hữu cơ của chiến lược phát triển nền kinh tế quốc dân
Đặc biệt là chỉ thị 86 – CT/TƯ ngày 18/4/1991 của Ban Bí Thư Trung ương Đảng (khóa VI) về công tác ở vùng đồng bào dân tộc Mường Chỉ thị đã phân tích những nguyên nhân chủ yếu của một số sai lầm, tồn tại trong việc thực hiện CSDT của Đảng đối với đồng bào Mường trong thời gian qua; đồng thời vạch ra kế hoạch phát triển toàn diện về kinh tế đời sống, văn hóa, xã hội,
an ninh chính trị, công tác quần chúng, xây dựng Đảng và đào tạo cán bộ người Mường Chỉ thị nêu rõ:
Về kinh tế, đời sống: Phát triển kinh tế - xã hội làm cơ sở để thực hiện
CSDT, thực hiện bình đẳng giữa các dân tộc Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc Mường cần được xây dựng trong kế hoạch chung phát triển kinh tế, xã hội của mỗi tỉnh có đồng bào Mường và của cả nước Kế hoạch đó cần chú ý đến đặc điểm kinh tế và tập quán của từng vùng để bố trí
cơ cấu kinh tế cho phù hợp, xác định cụ thể cơ cấu cây trồng, vật nuôi hướng
Trang 27theo mục tiêu phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần làm cho sản xuất, đời sống của đồng bào Mường có bước tiến rõ rệt
Phương châm phát triển kinh tế ở vùng đồng bào dân tộc Mường là tiếp tục phát huy tinh thần tự lực tự cường, khai thác đến mức cao nhất mọi tiềm năng trong nhân dân kết hợp với sự đầu tư thích đáng của tỉnh và sự hỗ trợ của Trung ương
Coi trọng đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp toàn diện, trọng tâm là sản xuất lương thực, với biện pháp hàng đầu là phát triển thủy lợi, gắn với công nghiệp chế biến, phát triển nghành nghề chăn nuôi, tiểu thủ công nghiệp nhất
là các nghành nghề truyền thống của đồng bào dân tộc Mường giải quyết tốt khâu phân phối lưu thông, xây dựng kết cấu hạ tầng, áp dụng tiến bộ khoa học
kỹ thuật, xây dựng nông thôn mới Giải quyết hợp tình hợp lý các vấn đề đất đai, tạo quỹ đất để khắc phục tình trạng đồng bào Mường thiếu đất canh tác, phá thế độc canh cây lúa Ở nơi còn đất đai thì thực hiện các chính sách khuyến khích để giãn dân xây dùng vùng kinh tế mới có chính sách đầu tư thích đáng cho thủy lợi giao thông, làm cây nước và vật liệu xây dụng trước hết ở những vùng có nhiều khó khăn Thành lập hợp tác xã tín dụng nông thôn để phục vụ sản xuất, đời sống Mở rộng hoạt động của các chi nhánh ngân hàng, cổ phần, ngân hàng phát triển nông thôn ở các tỉnh, huyện có đồng bào Mường, tạo điều kiện để đồng bào được vay vốn sản xuất với lãi xuất thấp, từng bước thu hẹp dần và xóa bỏ tình trạng đồng bào Mường phải vay nặng lãi, bán lúa non, cầm cố ruộng đất Đối với vùng sản xuất còn nhiều khó khăn cần có chính sách miễn hoặc giảm thuế, xóa nợ, ưu đãi về giá bán những mặt hàng thiết yếu như dầu thắp sáng, vải mặc, thuốc chữa bệnh
Về văn hóa – xã hội: Đi đôi với củng cố và phát triển các ngành học phổ
thông, mẫu giáo, bổ túc văn hóa, cần củng cố và phát triển các loại trường phổ thông dân tộc nội trú, trường thanh niên dân tộc ở các huyện, tỉnh có đồng bào
Trang 28Mường Mở trường đào tạo nguồn cán bộ Mường và các dân tộc thiểu số khác Quan tâm đào tạo cán bộ Mường tại trường Đại học Hùng Vương, học sinh Mường được miễn học phí ở các cấp học, nghành học Có kế hoạch xóa nạn mù chữ và tái mù
Xây dựng kế hoạch bảo tồn, khai thác và phát huy vốn văn hóa dân tộc Mường, xây dựng nhà truyền thống và một số trung tâm văn hóa tiêu biểu của đồng bào Mường Có chính sách củng cố và duy trì đội văn nghệ dân tộc Mường chuyên nghiệp; khuyến khích phong trào văn nghệ quần chúng, sử dụng tốt tiếng nói, chữ viết dân tộc Mường trên các phương tiện thông tin đại chúng của địa phương Đài truyền hình và phát thanh của các tỉnh có đồng bào Mường cần tăng thêm thời gian phát sóng bằng tiếng Mường Đẩy mạnh phong trào vệ sinh phòng bệnh và xây dựng nếp sống mới, bài trừ mê tín dị đoan và những phong tục tập quán lạc hậu Củng cố các tuyến y tế cơ sở ở phum, sóc, liên xã, củng cố phòng khám đa khoa khu vực, trung tâm y tế huyện để làm tốt nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân Cung ứng kịp thời thuốc chống dịch bệnh, các loại thuốc thiết yếu, nhất là thuốc chữa bệnh sốt rét Miễn viện phí cho đồng bào dân tộc Mường nghèo Cần đặc biệt quan tâm giải quyết bệnh phụ khoa cho phụ nữ và bệnh suy dinh dưỡng cho trẻ em Có chính sách và biện pháp tích cùc thực hện kế hoạch hóa gia đình Khuyến khích sử dụng các loại thuốc gia truyền dân tộc
Về an ninh chính trị: Tăng cường giáo dục, nâng cao giác ngộ chính trị
cho các cán bộ đồng bào dân tộc Mường cũng như Kinh, làm cho mọi người quán triệt CSDT, chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước, tăng cường đoàn kết dân tộc, hăng hái góp phần xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Đi đôi với việc phổ biến tình hình thời sự trong nước và thế giới, tuyên truyền quyền lợi và nghĩa vụ công dân, tổ chức đấu tranh chống những âm mưu thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề lịch sử, vấn
Trang 29đề dân tộc, tôn giáo và những sai sót của cán bộ hòng xuyên tạc, gây chia rẽ, kích động thù hằn dân tộc, gieo rắc hoang mang trong nhân dân, phá hoại việc thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước
Về công tác quần chúng, xây dựng Đảng và đào tạo cán bộ: Đổi mới nội
dunh, hình thức và phương thức hoạt động của các đoàn thể quần chúng, các
tổ chức xã hội theo tinh thần Nghị quyết Hội Nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VI), phù hợp với đặc điểm và thực tế vùng đồng bào Mường
Có kế hoạch xây dựng và củng cố tổ chức cơ sở Đảng ở vùng đồng bào dân tộc Mường Phát triển đảng viên là người đồng bào dân tộc Mường phù hợp với đặc điểm dân tộc Mường Trên cơ sở xây dùng đội ngũ trung kiên cốt cán, lựa chọn những đoàn viên, hội viên ưu tú (kể cả trong sư sãi) để đào tạo, bồi dưỡng trở thành cán bộ, đảng viên
Các cấp ủy đánh giá đúng đắn đội ngũ cán bộ, đảng vên Mường để có quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng sử dụng, nhằm phát huy tốt khả năng cống hiến của cán bộ Mường cho sự nghiệp xây dựng địa phương và sự nghiệp xây dựng đất nước Xây dựng một đội ngũ cán bộ, đồng bộ hoạt động trong các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, đối ngoại Có chính sách đối với những cán bộ người dân tộc Mường chủ chốt, tiêu biểu, đã tham gia công tác lâu năm
Quán triệt tinh thần cơ bản trên, Đảng bộ tỉnh Phú Thọ đã tập trung lãnh đạo đề ra nhiều giải pháp nhằm phát triển vùng núi – dân tộc, đã tạo sự chuyển biến tích cực Tuy nhiên, nhìn chung đời sống của đồng bào Mường vẫn còn nhiều khó khăn trên nhiều lĩnh vực so với mặt bằng chung của nhân dân trong tỉnh
Nhận thức một cách đầy đủ về CSDT của Đảng và Nhà nước ta, Báo cáo Chính trị tại Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ VI (1996) khẳng định:
“Mục tiêu quần chúng trong năm tới là trên cơ sở tăng cường khối liên minh
Trang 30công nhân – nông dân – trí thức, không ngừng mở rộng khối đoàn kết toàn đân, động viên các tầng lớp nhân dân, tín đồ các tôn giáo, các dân tộc, phát huy vai trò làm chủ ra sức thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văm minh theo Nghị quyết Đại hội lần thứ VIII của Đảng”
Xuất phát từ yêu cầu phát triển mọi mặt ở Phú Thọ nói chung và đồng bào dân tộc Mường nói riêng, nhằm nhanh chóng biến Phú Thọ thành một vùng chiến lược mạnh về kinh tế, chính trị và quốc phòng, nhất là rút ngắn khoảng cách về trình độ kinh tế, văn hóa, xã hội giữa đồng bào dân tộc thiểu
số và đồng bào đa số, giữa vùng này với vùng khác
Uỷ ban nhân dân tỉnh đã xây dựng Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế
- xã hội 1996 - 2004, với mục tiêu là tìm ra con đường phát triển và sự bố trí theo lãnh thổ phù hợp với các điều kiện có bên trong và bên ngoài, phù hợp với các quy luật phát triển chung và đạt được các mục tiêu do Đảng đề ra, đồng thời thúc đẩy tăng trưởng nhanh nền kinh tế của tỉnh
Riêng miền núi và biên giới, vừa theo định hướng phát triển chung của tỉnh; nhưng do tính đặc thù của vùng mà mục tiêu quy hoạch cần tập trung vào một số lĩnh vực then chốt sau:
Nhiệm vụ hàng đầu có tính quyết định chi phối là thủy lợi, ra sức giải quyết vấn đề nước cho sản xuất, sinh hoạt, phòng chống lũ đầu nguồn, bằng nhiều biện pháp kỹ thuật thích ứng với từng khu vực
Phát triển nông – lâm – ngư toàn diện và đa dạng Tiếp tục đầu tư thâm canh, tăng vụ, mở diện đối với cây lúa, khôi phục phát triển các giống lúa đặc sản… Tiếp tục phát triển các loại rau màu thực phẩm, chăn nuôi heo, gia cầm; đặc biệt phát triển nhanh đàn bò lai sind để dần dần trở thành mũi nhọn chăn nuôi trong vùng Quan tân trồng rừng phòng hộ đi đôi với chăm sóc bảo vệ rừng trên núi
Trang 31Gắn với phát triển nông – lâm nghiệp, tiếp tục đầu tư mở rộng khai thác
đá, cát xây dựng, đá ốp lát, khai khoáng…
Trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa: Ra sức giải quyết việc làm, chuyển dịch cơ cấu lao động tạo điều kiện nâng cao thu nhập và mức sống trong vùng theo kịp với các vùng khác Giảm nhanh tỉ lệ tăng dân số, phát triển y tế, văn hóa, giáo dục, nhà ở, nước sạch Thực hiện tốt các chính sách đối với vùng sâu, vùng xa, đặc biệt là CSDT đối với đồng bào các dân tộc ít người
Do đồng bào dân tộc thiểu số chủ yếu sống ở những vùng mà hạ tầng cơ
sở chưa phát triển, vì vậy thiếu thông tin, khó tiếp cận với thị trường, y tế, giáo dục và khoa học kĩ thuật còn nhiều hạn chế Đa số đồng bào trong vùng
đã có truyền thống sản xuất lâu đời, đã có những kỹ năng nhất định trong trồng trọt, chăn nuôi, có những kinh nghệm quý báu cần phát huy Tuy nhiên, nhìn chung nông nghiệp còn lạc hậu, năng xuất cây trồng thấp, chăn nuôi, trồng trọt chủ yếu dựa vào kinh nghiệm Vì vậy, sản phẩm làm ra không nhiều
và tính cạnh tranh không cao, khó tiêu thụ Để thay đổi tập quán sản xuất nông nghiệp của đồng bào là việc làm khó khăn, đòi hái phải tuyên truyền vận động, đi đôi với làm các mô hình mẫu, trực quan để đồng bào làm theo, phải thay đổi cả nếp nghĩ, cách thức làm ăn, hỗ trợ kĩ thuật, giống tốt cho đồng bào
Trên cơ sở tình hình, đặc điểm của đồng bào dân tộc, Đảng bộ Phú Thọ luôn quán triệt quan điểm phát triển kinh tế - xã hội là cơ sở thực hiện CSDT
và thực hiện sự bình đẳng giữa các dân tộc, tỉnh đã triển khai thực hiện các chính sách của Đảng, Nhà nước đối với đồng bào Mường trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội
Để thực hiện mục tiêu nói trên, tỉnh đã thực hiện nhiều chương trình, giải pháp lồng ghép về phát triển kinh tế - xã hội với chương trình xóa đói giảm
Trang 32nghèo, giải quyết việc làm, huy động nhiều nguồn lực từ các nguồn kinh phí ở Trung ương và địa phương, huy động trong cộng đồng, tranh thủ sự tài trợ của các tổ chức quốc tế, cùng với sự phấn đấu vươn lên của các hộ nghèo
Trong hai năm 1996 – 1997, sản xuất nông nghiệp nói riêng và tình hình kinh tế - xã hội trong tỉnh nói chung đã chịu tác động xấu bởi nhiều nguyên nhân:
Do giá lúa sụt giảm vào năm 1996, làm cho đời sống nông dân lâm vào tình cảnh rất khó khăn, thiếu vốn cho sản xuất
Nghề nuôi trồng thủy hải sản cũng bị thiệt hại nặng do khủng hoảng về thị trường tiêu thụ, giá bán nguyên liệu bị giảm mạnh… gây tình trạng tồn đọng, sản lượng cá nuôi bè rất lớn, không tiêu thụ được
Nền kinh tế và cơ sở hạ tầng nông thôn bị thiệt hại nặng nề do 3 trận lũ lớn liên tiếp 1994 – 1995 – 1996
Để tháo gỡ ách tắc trong việc phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh nói chung, nghành nông nghiệp nói riêng, trong đó có việc quyết khó khăn về kinh tế, đời sống cho đồng bào dân tộc thiểu số
Nhiều chương trình, chính sách hỗ trợ trực tiếp cho người nghèo đã được thực hiện như cho vay tín dụng, chương trình nhà ở, chính sách bảo trợ xã hội, chính sách ưu đãi về y tế, giáo dục… Ngoài ra một số chương trình dự án lồng ghép khác cũng góp phần quan trọng vào mục tiêu xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm như: Chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn vùng đồng bào miền núi, vùng sâu, vùng xa (chương trình 135); Chương trình xây dựng cụm tuyến dân cư gắn với xây dựng nhà ở cho người nghèo; Chính sách hỗ trợ đồng bào dân tộc đặc biệt khó khăn,… với các biện pháp chủ yếu:
Trang 33Thực hiện việc phổ cập cấp I nhất là các huyện, xã miền núi nhằm nâng cao trình độ dân trí để đủ khả năng tiếp thu tiến bộ khoa học kỹ thuật Đào tạo ngành nghề cho người dân tại địa phương, chú trọng việc đào tạo trình độ phổ thông cho người dân tộc Phấn đấu đào tạo đại học, trên đại học cho sinh viên tại chỗ để phục vụ cho sự phát triển của vùng Có chính sách ưu đãi cho cán
bộ, chuyên viên phục vụ tại miền núi và vùng sâu, vùng xa Các chương trình khuyến nông phải chú ý tập trung vào đào tạo xây dựng đội ngũ trong vùng Quan tâm đến việc đầu tư và phổ biến công nghệ mới, nhất là công nghệ sau thu hoạch Phổ biến các máy chế biến và tồn trữ nông sản phù hợp với vốn đầu tư và khả năng sử dụng Áp dụng các kỹ thuật chăn nuôi công nghiệp cho nhân dân
Suất đầu tư phát triển miền núi và vùng sâu, vùng xa phải chấp nhận cao hơn vùng đồng bằng
Đối với chính sách tín dụng nông thôn, cần quy định lãi suất và thời hạn cho vay phù hợp với từng loại cây, con, nghành nghề, ưu đãi đối với miền núi vùng sâu, vùng xa để giúp đỡ nhân dân có diều kiện ổn định cuộc sống Tập trung các nguồn vốn ngân sách nhà nước và vốn viện trợ của các tổ chức quốc
tế để đầu tư các chương trình trọng điểm của vùng là: Chương trình dân số; Chương trình nước sạch và thủy lợi; Chương trình nhà ở nông thôn; Chương trình trồng rừng, định canh định cư, giải quyết việc làm và xóa đói giảm nghèo; Chương trình đưa văn hóa về cơ sở
Các chương trình phát triển miền núi cần được cụ thể hóa bằng các dự án đầu tư, tạo điều kiện để các tổ chức tài chính tín dụng đầu tư vốn, đồng thời thu hút nhiều nguồn vốn xã hội tham gia đầu tư phát triển miền núi và vùng sâu, vùng xa
Trang 341.3 KẾT QUẢ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC ĐỐI VỚI ĐỒNG BÀO MƯỜNG
1.3.1 Về kinh tế, văn hóa, xã hội
Trong nhiều năm qua Phú Thọ đã dồn sức tập trung đẩy mạnh phát triển kinh tế, chủ yếu là sản xuất lương thực, sản suất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp, phát triển thương mại, dịch vụ, du lịch Ưu tiên đầu tư phát triển sự nghiệp giáo dục, y tế, đường nông thôn, điện nông thôn, chợ nông thôn, nước sinh hoạt nông thôn… tuy còn nhiều khó khăn nhưng đời sống nhân dân từng bước được ổn định và có nâng lên, bộ mặt nông thôn, vùng sâu, vùng đồng bào dân tộc có nhiều đổi mới
Riêng về vốn ngân sách Trung ương và tỉnh từ năm 1991 – 2000 đã đầu
tư qua các chương trình, dự án phát triển giao thông, điện, nước sinh hoạt, trường học, bệnh viện, trạm xá, chương trình hỗ trợ đồng bào đặc biệt khó khăn (2,38 tỷ), trị giá chính sách các mặt hàng miền núi (3,4 tỷ đồng), bao gồm các mặt hàng như: lúa giống, khoai mì, phân hóa học, dầu thắp sáng, muối i-ốt, thuốc chữa bệnh và tập vở học sinh
Hỗ trợ nhà ở, tính riêng từ 1998 – 2000, đã cất 1.036 căn nhà tình nghĩa, sửa chữa gần 910 căn nhà cho gia đình chính sách với tổng kinh phí gần 19
tỉ đồng
Là một tỉnh ở vùng trung du miền núi nên rừng có vai trò vô cùng quan trọng đối với Phú Thọ, rừng có tác dụng lớn đối với việc phòng hộ đầu nguồn, chống xói mòn, bảo vệ môi trường sinh thái, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh
Do chiến tranh tàn phá, những năm đầu sau giải phóng, hầu hết các đồi núi đều trơ trọc nhưng trong thời kỳ 1996 – 2000, tỉnh đã phủ xanh 8000 ha đồi trọc thuộc rừng phòng hộ đầu nguồn theo Chương trình 327/CT Cho đến nay tổng diện tích rừng đồi núi của tỉnh đã có 10.284ha, góp phần cải thiện
Trang 35môi trường, môi sinh trong vùng, chống xói mòn, sạt lở và quy tụ dần động vật hoang dã
Ngoài vốn ngân sách đầu tư, tỉnh cũng quan tâm giải quyết vốn tín dụng giúp bà con phát triển sản xuất; từ quỹ Quốc giagiải quết việc làm đầu tư cho nuôi bò, sản xuất tiểu thủ công nghiệp; vốn xóa đói giảm nghèo…
Ngoài ra, tỉnh quan tâm theo dõi giúp đỡ cứu trợ kịp thời bà con gặp thiên tai khó khăn Riêng năm 1997 ngân hành đã cho vay 20,9 tỉ đồng cho 11.134 lượt đồng bào Mường vay vốn sản xuất
Thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế toàn tỉnh theo hướng nâng dần tỷ
lệ khu vực II và khu vùc III trong tổng cơ cấu kinh tế chung của tỉnh Tích cực khai thác tiềm năng thế mạnh về dịch vụ, làm cơ sở thúc đẩy công nghiệp phát triển nhanh hơn, thay đổi nhanh cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Do cư trú ở những vùng có điều kiện địa lý – tự nhiên khó khăn nên hoạt động chủ yếu của đồng bào Mường là sản xuất nông nghiệp; trồng lúa và nuôi bò, nhưng còn lệ thuộc nhiều vào thiên nhiên, trình độ thâm canh còn hạn chế Đến nay đời sống tuy đã ổn định, song so với mặt bằng chung trong toàn tỉnh vùng này vẫn là vùng nghèo, cần phải được Đảng, Nhà nước quan tâm nhiều hơn
Nhiều năm qua, tỉnh đã đầu tư phát triển nhanh sự nghiệp giáo dục cho đồng bào Mường, số lượng trường, lớp và sĩ số học sinh học các cấp đều tăng, công tác xóa mù chữ, phổ cập tiểu học đang được đẩy mạnh Tỉnh có hai trường nội trú trung học cơ sở và trung học phổ thông dành cho con em đồng bào Mường
Năm 1998, toàn tỉnh có 12.925 học sinh, gồm tiểu học 11.428 em; trung học cơ sở 1.198 em, trung học phổ thong 299 em; sinh viên đại học và chuyên nghiệp 66 Tuy nhiên, số đồng bào biết chữ phổ thông, nhất là người lớn tuổi
Trang 36tỷ lệ còn ít, số trẻ em trong độ tuổi đến trường còn thấp Thực trạng hiện nay
là phần lớn thanh thiếu niên biết tiếng và chữ Việt nhưng những người lớn tuổi phần nhiều lại hiểu rất ít về tiếng và chưa biết về chữ Việt, số này lại là trụ cột trong gia đình, từ đó trẻ em cũng được sinh hoạt hàng ngày bằng tiếng Mường Do vậy trong giai đoạn đầu đến trường tiểu học, đa số các em tiếp thu chậm hơn các bạn học cùng lớp nên hiện tượng lưu ban, bỏ học thường có tỷ
lệ cao ở các trường vùng dân tộc Mường Đó là khó khăn cơ bản nhất đối với công tác giáo dục cho đồng bào dân tộc Mường
Về văn hóa dân tộc được chính quyền, mặt trận và các cấp ủy quan tâm tạo điều kiện giúp đỡ để bà con được tổ chức các ngày lễ, ngày tết theo đúng phong tục truyền thống với nội dung vui tươi lành mạnh Các tập tục lạc hậu,
mê tín dị đoan được xóa bỏ từng bước, đời sống văn hóa mới ở địa bàn dân cư đang hình thành và phát triển
Các thiết chế văn hóa, thể thao trong vùng dân tộc được tập trung phát triển nhanh Trong các xã tập trung người dân tộc, kết hợp các nguồn vốn nhiều ngành của tỉnh, huyện đã hình thành các bưu điện văn hóa, các tụ điểm hoạt động văn hóa, sân bóng đá, bóng chuyền Tại các nơi này đồng bào cả Kinh lẫn Mường đều đến sinh hoạt tương đối thường xuyên
Ngoài ra tỉnh đã cấp cho các huyện này trên 80 tivi, trong đó các chùa đều được ưu tiên phân phối, hiện tại 100 chùa đều có hệ thống truyền thông, đồng thời đã cấp 2000 radio cho các tụ điểm văn hóa, chùa và một số gia đình dân tộc, đã cấp 244 bộ phim tài liệu, phim truyện trong nước lẫn nước ngoài
đã được lồng tiếng Mường do các đội chiếu bóng lưu động thường xuyên hoạt động được đồng bào rất hoan nghênh
Các hoạt động văn hóa văn nghệ được biểu hiện tập trung trong các lễ hội dân tộc được cả hệ thống chính trị kết hợp với các chùa tổ chức chu đáo, mang bản sắc dân tộc đã lôi quấn hầu hết mọi người tham gia Trong những
Trang 37dịp này, ngoài các loại hình hoạt động văn hóa văn nghệ do tỉnh, huyện tổ chức phục vụ còn có các hoạt động thể dục thể thao, các cuộc vui chơi theo truyền thống dân tộc, đặc biệt việc đua bò được hưởng ứng nồng nhiệt
Trong các hoạt động văn hóa văn nghệ, từng bước giáo dục vận động phong trào nếp sống vệ sinh, văn minh hòa vào việc thực hiện phong trào
“toàn dân đoàn kết xây dùng đời sống văn hóa ở địa bàn dân cư”, với kết quả bước đầu đáng khích lệ, đã có 7.665 gia đình được công nhận gia đình văn hóa, đạt tỉ lệ 32,3%
Công tác chăm sóc sức khỏe cho đồng bào dân tộc được đầu tư và phát
và triển khai thực hiện đạt kết quả khá hơn trước, nhất là công tác phòng bệnh, chống sốt rét, tiêm chủng mở rộng và trẻ em uống sabin, vitaminA, phòng chống suy dinh dưỡng cho trẻ em… Đặc biệt việc thực hiện chính sách dân số kế hoạch hóa gia đình được chị em đồng bào Mường hưởng ứng ngày càng nhiều Hàng năm, tỉnh, huyện phối hợp tổ chức nhiều đợt khám và phát thuốc điều trị bệnh phụ khoa cho chị em phụ nữ dân tộc Hầu hết các xã, vùng đều có các trạm y tế, có 3 bác sĩ, 14 y sĩ, 34 y tá, 6 hộ sinh, 5 dược sĩ là người Mường Tuy nhiên, hiện nay công tác chăm sóc sức khỏe còn hạn chế, trình
độ dân trí thấp, còn nhiều tập tục cũ cần phải tiếp tục đấu tranh, giáo dục như: ngủ không màn, để bò sống chung trong nhà, trị bệnh bằng cúng bái…
Vào các dịp lễ hội, lễ Tết cổ truyền của người dân tộc Mường, Tỉnh ủy, Uỷ ban nhân dân, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh đều tổ chức thăm hỏi và tặng quà cho các chùa, hộ chính sách, hộ nghèo người Mường tạo mối quan hệ tốt với đồng bào dân tộc, Cấp ủy và chính quyền, mặt trận các cấp luôn quan hệ với các sư sãi và vận động họ, coi đây là bộ phận quan trọng trong công tác dân vận của địa phương vì nắm được sư sãi là nắm được dân