B xét orisov trong cuốn : “Từ lịch sử quan hệ Xô- Trung trong những năm 1950”, Moskva 1981 đã tìm hiểu những bất đồng giữa hai nước Trung- Xô trong thập kỷ 1950 lý giải sự chia rẽ chủ y
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trung Quốc và Liên Xô là hai nước lớn nhất trong hệ thống xã hội chủ nghĩa trong thời kì chiến tranh lạnh Quan hệ của hai đất nước này không chỉ làm ảnh hưởng tới cục diện của quan hệ quốc tế mà còn ảnh hưởng rất nhiều đến nước ta - Một nước trong phe xã hội chủ nghĩa
Trong những năm 1950, Đảng và Nhà nước Trung Quốc thực hành đường lối đối ngoại ưu tiên cho các nước XHCN Với vị thế đứng đầu phe XNCH, Liên Xô luôn chiếm trung tâm trong chính sách đối ngoại của Trung Quốc Đến những năm 1959 – 1979, lại thực hiện đường lối đối ngoại chống lại Liên Xô Vì vậy, ở phương diện nào đó, thì quan hệ Xô – Trung đã trở thành nhân tố quốc tế có ý nghĩa nhất để tìm hiểu về nước CHND Trung Hoa và những biến đổi của nó trong 20 năm sóng gió 1959 – 1979 Mặt khác, có thể coi quan hệ Trung – Xô 1959 – 1979 là những mắt xích quan trọng để xem xét chính sách đối ngoại của Trung Quốc cùng những bước ngoặt của nó trong suốt thời kì chiến tranh lạnh Từ đó, thấy được hệ quả của mối quan hệ này tác động đến quan hệ quốc tế và Việt Nam
Đồng thời, từ việc tìm hiểu quan hệ của hai nước lớn trong phe XHCN
những năm 1959 – 1979, những bài học về quan hệ với các nước lớn từ những thập
kỉ 70 của thế kỉ trước vẫn còn nguyên giá trị đối với Việt Nam khi đất nước ta đang trên đà phát triển mạnh mẽ
Vì những lí do trên mà việc nghiên cứu Quan hệ Trung Quốc – Liên Xô 1959 – 1979 có những ý nghĩa quan trọng và người viết mạnh dạn chọn việc tìm hiểu vấn
đề “Bước đầu tìm hiểu quan hệ Trung Quốc – Liên Xô từ năm 1959 đến năm 1979” làm đề tài cho khóa luận tốt nghiệp của mình
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Quan hệ Trung - Xô trong những năm 1959-1979 đã gây mối quan tâm nghiên cứu từ nhiều năm qua Các công trình nghiên cứu tập trung nhiều ở các học
Trang 2giả phương Tây và Liên Xô, có thể kể một số cuốn sách tiêu biểu như: C B xét
orisov trong cuốn : “Từ lịch sử quan hệ Xô- Trung trong những năm 1950”,
Moskva 1981 đã tìm hiểu những bất đồng giữa hai nước Trung- Xô trong thập kỷ
1950 lý giải sự chia rẽ chủ yếu là do Trung Quốc; Richard Thomton “Trung Quốc,
một lịch sử chính trị 1917-1980” Westview Press, Boulder, Colorado 1982, phần 3
của cuốn sách này là “Quan hệ Trung -Xô từ năm 1949-1968” nói tới sự phát triển
nội bộ ở mỗi nước đã ảnh hưởng sâu sắc tới mối quan hệ Trung- Xô, chủ nghĩa dân
tộc đã được đặt trên chủ nghĩa quốc tế vô sản; Claude Cadart: “Từ dự án chiến lược
Trung -Xô đến dự án chiến lược Trung -Mỹ, nước Trung Hoa mới đi tìm một chiến lược nhằm giành ảnh hưởng toàn cầu”, Etudes Internationales, 12-1979 nói đến
mối quan hệ Trung Xô và sự rạn nứt của nó là cơ sở cho Trung Quốc đi tới chính
sách đối ngoại xích lại gần với Mỹ ; Cowichoudhury “ Cuộc xung đột Trung- Xô”,
Westview Press, Colorado, 1972 lại đi tìm nguyên nhân sự bất đồng Trung Xô từ mâu thuẫn giữa hai Đảng Cộng Sản; ở Việt Nam, Viện quan hệ quốc tế có xuất bản
cuốn “Quan hệ Liên Xô- Trung Quốc 1949-1982”, Hà Nội 1988, nói về đại sự ký
quan hệ giữa hai nước theo kiểu biên niên, trình bày các sự kiện khá khách quan;
P.Ponomanev, A Gromyko “Quan hệ Trung -Xô trong những năm 1955-1970” trích chương XXVIII cuốn “Liên Xô và các nước trong cộng đồng Xã Hội Chủ
Nghĩa”, Nxb Tiến Bộ Moskva, 1974 chủ yếu nói về sự hợp tác kinh tế, khoa học kỹ
thuật giữa hai nước và sự tác động của mối quan hệ ấy tới nền kinh tế Trung Quốc
Như vậy chưa có một công trình nghiên cứu nào khái quát được mọi mặt của quan hệ Trung Quốc – Liên Xô từ năm 1959 - 1979 Với việc tìm hiểu đề
tài “Bước đầu tìm hiểu quan hệ Trung Quốc- Liên Xô từ năm 1959-1979” , Tác
giả sẽ tổng hợp, khái quát mọi mặt trong từng giai đoạn cũng như hệ quả của quan
hệ Trung Quốc - Liên Xô đối với Liên Xô, Trung Quốc, với cách mạng Việt Nam
và với quan hệ quốc tế
Trang 33 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
-Làm rõ mối quan hệ chính trị khá phức tạp giữa hai nước
-Tìm hiểu những mâu thuẫn Trung – Xô trong thời kì này, mâu thuẫn về chings sách, đướng lối, đường biên giới
-Tìm hiểu câu kết Trung Mỹ và tác động của nó với quan hệ Trung – Xô -Tìm hiểu những hệ quả của qua hệ Trung – Xô đối với Trung quốc, đối với Liên Xô, đối với quan hệ quốc tế và đối với Việt Nam
3.2.Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài này tập trung tìm hiểu quan hệ Trung Quốc – Liên Xô trong giai đoạn
Về không gian: Trung Quốc- Liên Xô
4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
Trang 44.1 Nguồn tư liệu
Nguồn tài liệu sử dụng cho khóa luận gồm các tài liệu sau:
- Các văn kiện, báo cáo và điều ước của Đảng và Chính phủ hai nước có
liên quan về quan hệ đối ngoại như: “Tập văn kiện đối ngoại của nước CHND
Trung Hoa từ 1949 – 1959”; Thế giới tri thức xuất bản xã, Bắc Kinh, xuất bản từ
1958 – 1961; Khrushchev “Báo cáo của BCH TW Đ CS Liên Xô tại Đại hội Đảng
lần thứ XX năm 1956” Sự thật, Hà Nội 1956; Bộ Ngoại giao nước CHND Trung
Hoa biên tập “Tập điều ước của nước CHND Trung Hoa từ 1949 – 1959”
- Các sách tham khảo và tư liệu dịch, các cuốn như: Jean –Baptiste
Durosselle: “Lịch sử ngoại giao từ 1919 đến nay”, Học viện quan hệ quốc tế, Hà Nội 1994; B.V Axtaphiep, A.M Dubinxki “Chính sách đối ngoại và quan hệ quốc
tế của nước CHND Trung Hoa từ 1949 – 1963”, NXB Tư Tưởng Moskva, 1974;
Viện quan hệ quốc tế “Quan hệ Liên Xô – Trung Quốc từ 1949 – 1982, Hà Nội
1988; C Borisov “Từ lịch sử quan hệ Xô – Trung trong những năm 1950”, Moskva
1981
- Ngoài ra khóa luận cũng sử dụng một số tác phẩm của các nhà lãnh đạo
trong thời gian này như: “Mao Trạch Đông tuyển tập”, Bắc Kinh 1977; Jeimut Martin: “Mao Trạch Đông, cuốn sách đỏ lớn” (Những bài viết, bài nói và cuộc đàm
thoại từ 1949 – 1971), Paris, Flanmarien 1975, TvQđsl
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu chính của đề tài là phương pháp nghiên loogic và phương pháp lịch sử
Ngoài việc sử dụng những phương pháp chung của nghiên cứu khoa học , đề tài còn sử dụng phương pháp thống kê, tổng hợp nhằm đảm bảo tính khoa học của quá trình phân tích, lý giải sự kiện
Trang 55 Đóng góp của khóa luận
Khóa luận góp phần dựng lại bức tranh lịch sử về quan hệ Trung Quốc- Liên
Xô từ năm 1959-1979 một cách toàn diện, đầy đủ hơn Qua đó rút ra hệ quả của mối quan hệ Trung Quốc - Liên Xô đối với Liên Xô, Trung Quốc, với cách mạng Việt Nam và với quan hệ quốc tế
Đề tài còn dùng làm tài liệu tham khảo, phục vụ nghiên cứu giảng dạy
6 Bố cục của khóa luận
Ngoài phần mở đầu và kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, khóa luận gồm
Trang 6Chương 1 TUẦN TRĂNG MẬT TRONG QUAN HỆ TRUNG – XÔ TRƯỚC NĂM 1959 1.1 BỐI CẢNH LỊCH SỬ TRUNG – XÔ TRƯỚC NĂM 1959
1.1.1 Những diễn biến chính ở Liên Xô
Trước khi Cách mạng tháng 10 Nga diễn ra, Nga là một nước đế quốc phong kiến, đứng đầu nhà nước là Nga hoàng, trong nước đã tiến hành phát triển kinh tế theo nền kình tế tư bản chủ nghĩa Tuy nhiên, Nga cũng chỉ là một nước tư bản có mức phát triển nền kinh tế trung bình Trong khi đó nước Nga lại là nơi mâu thuẫn giữa nhân dân lao động và chính quyền thống trị gay gắt nhất Cuối thế kỉ XIX – đầu thế kỉ XX, Nga được coi là mắt xích yếu nhất trong sợi dây chuyền đế quốc chủ nghĩa
Năm 1917, Cách mạng tháng 10 Nga diễn ra thành công Cách mạng tháng
10 có ý nghĩa lịch sử vô cùng trọng đại không những đối với nước Nga mà còn đối với cả thế giới
Cách mạng tháng 10 đã mở ra một kỉ nguyên mới đối với nước Nga – kỉ nguyên của giai cấp công nhân, nhân dân lao động, các dân tộc không phải Nga được giải phóng, thoát khỏi nô lệ gông xiềng Một chế độ xã hội mới – chế độ xã hội mới – chế độ xã hội chủ nghĩa được thiết lập với mục tiêu cao cả là xóa bỏ chế
độ người bóc lột người, xây dựng một xã hội tự do, hạnh phúc và công bằng cho mọi người lao động
Với tinh thần đó, nước Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô Viết được thành lập Đây là một sự kiện hết sức quan trọng Nó đã gắn kết dân tộc Nga và những dân tộc được Nga giải phóng lại thành một khối, nó là thắng lợi của chính sách dân tộc theo chủ nghĩa Lênin, của tình hữu nghị anh em giữa các dân tộc trong một quốc gia công nông đầu tiên trên thế giới
Từ đó cả nước Xô Viết bước vào công quốc phục hồi kinh tế, phát triển kinh
tế, công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa, xây dựng nước Liên Xô giàu mạnh Các kế hoạch 5 năm liên tiếp được thực hiện Và kế hoạch 5 năm lần thứ ba (1937 – 1942)
Trang 7chỉ bị ngừng lại bởi chiến tranh thế giới lần thứ hai, Đức phát xít tấn công vào đất nước Xô Viết
Nước Liên Xô đã trở thành ngọn cờ đầu của phong trào dân tộc dân chủ, đấu tranh chống lại chiến tranh, chống phát xít trên thế giới Ngoài việc đẩy phát xít Đức ra khỏi lãnh thổ, Liên Xô còn giúp các nước Đông Âu, Trung Quốc giải phóng khỏi ách phát xít Đức, Nhật, các nước này trở thành các nước XHCN sau chiến tranh thế giới thứ hai
Bước ra khỏi chiến tranh với vị thế của người chiến thắng, Liên Xô lại bước vào công cuộc khôi phục kinh tế sau chiến tranh, tiếp tục tiến hành các kế hoạch 5 năm tiếp theo
Trong thời gian này, vị lãnh tụ của đất nước Xô Viết và phong trào cộng sản thế giới là Stalin qua đời Điều này đã gây ra một cuộc khủng hoảng chính trị ở Liên
Xô Chức vụ lãnh đạo Đảng còn để trống, đứng đầu nhà nước là Malencốp, Bộ trưởng quốc phòng là nguyên soái Bunganin, Bộ trưởng bộ nội vụ và an ninh là Bêria Chính quyền thực tế nằm trong tay Malencôp và Bêria Không lâu sau, Bêria
bị xử tử vì cho là có âm mưu đảo chính Cuối những năm 1950, Khrushchev được đưa lên làm người đứng đầu Đảng và Nhà nước
Tuy nhiên vừa mới lên, Khrushchev đã phát động một phong trào bài xích Stalin gay gắt, gây ảnh hưởng không nhỏ tới toàn ĐCS Liên Xô và làm giảm sút uy tín uy tín của Nhà nước và Đảng Cộng sản Liên Xô trên trường quốc tế Vì vậy, những người lãnh đạo của Xô Viết như Bunganin, Môlôtốp, Malencốp quyết định loại Khrushchev ra khỏi chức vụ lãnh đạo Tuy nhiên việc làm này không thành công Khrushchev tiếp tục những đường lối lãnh đạo sai lầm của mình khi xây dựng cương lĩnh “Xây dựng chủ nghĩa cộng sản trong vòng 15 – 20 năm” và quyết định chung sống hòa bình với Mỹ Đất nước Liên Xô rơi vào tình trạng khủng hoảng về đường lối lãnh đạo, mất uy tín trên trường quốc tế nghiêm trọng
1.1.2 Tình hình ở Trung Quốc trước 1959
Chỉ trong vòng hai thế kỉ, thế kỉ XIX và thế kỉ XX, ở Trung Quốc đã nổ ra những cuộc cách mạng lớn làm rung chuyển đảo lộn đất nước Trung Hoa tưởng
Trang 8chùng bất biến từ thời Khổng Tử Sau cuộc chiến tranh thuốc phiện (1840 – 1842) nền văn minh phương Tây xâm nhập và ảnh hưởng mạnh mẽ tới đất nước Trung Quốc Lần đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc, khát vọng duy tân hội nhập và phát triển được đưa ra một cách hệ thống, rõ ràng và bức thiết Các phong trào Dương
Vụ và đặc biệt là hiến pháp Mậu Tuất tiêu biểu cho khát vọng đó Bởi sự hạn chế của lịch sử mà các phong trào này đều lần lượt thất bại Dù vậy những ý nghĩa to lớn mà chúng để lại là không thể phủ nhận, có thể coi một cuộc cách mạng tư tưởng
đã diễn ra ở đất nước Trung Hoa vào cuối thế ki XIX đầu thể kỉ XX Chính những phong trào duy tân đó đã đặt nền móng cho cách mạng Tân Hợi vào năm 1911 Cách mạng Tân Hợi, một cuộc cách mạng chính trị đã đập tan chế độ quân chủ đã tồn tại hàng nghìn năm ở Trung Quốc, sáng lập ra Trung Hoa Dân Quốc Nhưng thành quả cách mạng nhanh chóng bị Viên Thế Khải cướp đoạt, chế độ cộng hòa dân chủ chưa được khai sinh
Năm 1921, dưới ảnh hưởng của cách mạng tháng 10 Nga và sự ra đời của nước Nga Xô Viết, Đảng Cộng Sản Trung Quốc được thành lập, đưa giai cấp vô sản Trung Quốc lên vũ đài chính trị và từng bước trở thành một lực lượng lãnh đạo cách mạng, mở ra một thời kì mới trong lịch sử hiện đại Trung Quốc Sau mấy chục năm vừa thực hiện nội chiến vừa thực hiện chống xâm lăng, đến năm 1949, cuộc cách mạng dân tộc dân chủ mới thành công trên toàn đất nước Trung Quốc Đúng 3 giờ chiều ngày 1/10/1949 tại quảng trường Thiên An Môn, chủ tịch Mao Trạch Đông đã đọc “Tuyên ngôn của chính phủ nhân dân trung ương nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa” tuyên bố với toàn thế giới sự ra đời của nước CHND Trung Hoa Những dang dở của cuộc cách mạng Tân Hợi đến đây đã được hoàn thành Đây là một sự kiện lịch sử trọng đại trong lịch sử Trung Quốc nói chung và thời hiện đạị nói riêng Thắng lợi này đã chấm dứt 100 năm nô dịch và thống trị của đế quốc, thực dân, tư sản mại bản và các thế lực phản động trong nước, đưa nhân dân Trung Quốc vào kỉ nguyên độc lập, tự do và tiến lên CNXH, mở ra vận hội mới để thực hiện mục tiêu chấn hưng Trung Hoa mà bao thế hệ người Trung Hoa từ Khang Hữu
Vi, Lương Khải Siêu, Tôn Trung Sơn đến Mao Trạch Đông đều mong muốn
Trang 9Với diện tích bằng ¼ châu Á và chiếm ¼ dân số toàn thế giới, thắng lợi của cách mạng Trung Quốc vào thời điểm đó đã tăng cường ảnh hưởng và lực lượng của cách mạng xã hội trên toàn thế giới và có ảnh hưởng to lớn đến sự phát triển của phong trào giải phóng dân tộc
Nước Trung Hoa ra đời trong bối cảnh cục diện thế giới đã hình thành rõ nét hai cực Ở Châu Âu, cục diện hai cực hình thành rõ nét với vùng Đông Âu thuộc phạm vi ảnh hưởng của Liên Xô và Tây Âu thuộc phạm vi ảnh hưởng của Mỹ (Áo
và Phần Lan trở thành hai nước trung lập) Ở châu Á – Thái Bình Dương cục diện
ấy đang trong giai đoạn hình thành, quân đội Liên Xô chiếm đóng miền Bắc Triêu Tiên và quân đội Mỹ chiến Nam Triều Tiên, lấy vĩ tuyến 38 làm ranh giới, Nhật Bản thuộc phạm vi ảnh hưởng của Mỹ…Nước Trung Hoa mới chọn cho mình con đường CNXH nên ngay từ đầu nó đã phải đối mặt với sự thù địch của Mỹ và phương Tây Ngày 30/10/1949, Mỹ ra tuyên bố không thừa nhận nước CHDC Trung Hoa Tuy nhiên, lúc đầu Mỹ vẫn chưa có chính sách ngăn chặn gay gắt đối với “Trung Hoa đỏ” Chỉ đến sau khi Lên Xô và Trung Quốc kí hiệp ước “Đồng minh hữu hảo và tương trợ Trung – Xô” và cuộc chiến tranh Triều Tiên bùng nổ (ngày 25/6/1950) sau đó Trung Quốc đưa “chí nguyện quân” tham gia vào cuộc chiến tranh “Kháng Mỹ viện Triều” , Mỹ mới bắt đầu thi hành chính sách cứng rắn đối với CHND Trung Hoa Từ tháng 2/1950, chính quyền Truman bắt đầu thi hành những chính sách bao vây cấm vận hoàn toàn đối với CHND Trung Hoa, các nước đồng minh của Mỹ cũng đi theo chính sách ấy Mỹ không chỉ bao vây kinh tế mà còn bao vây cả chính chị, quân sự đối với Trung Quốc, lập ra chiến tuyến từ bán đảo Triều Tiên qua Nhật Bản, Đài Loan rồi tới Dông Dương tạo thành thế vòng cung bao quanh Trung Quốc
Trong suốt những năm 50, Mỹ luôn tìm cách ngăn chặn và bóp nghẹt đối với CHDC Trung Hoa, bao vây cấm vận, dung quyền phủ quyết phản đối Trung Hoa ra nhập Liên Hợp Quốc, ra sức nâng đỡ chính quyền Đài Loan…Những hành động đó của Mỹ khiến cho Trung Quốc không thể thi hành quan hệ đối ngoại bình thường
Trang 10với các nước TBCN phương Tây Trung Quốc buộc phải thi hành chính sách đối ngoại nghiêng về các nước XHCN và các nước thuộc “thế giới thứ 3”
Cục diện thế giới phân chia hai cực đã gây cho Trung Quốc những bất lợi như đã nói trên, nhưng song hành với nó cũng có những thuận lợi Điều căn bản là cách mạng Trung Quốc thành công vào thời kì mà các cơ sở vững chắc của hệ thống XHCN đã được thiết lập Ở đó, chiến lược của Liên Xô và các nước XHCN thể hiện sự đối lập với chiến lược của Mỹ, là đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc, bảo vệ hòa bình và ủng hộ phong trào cách mạng thế giới, vì độc lập dân tộc dân chủ và tiến bộ xã hội Hơn nữa, mối quan hệ quốc tế gắn bó giữa các nước XHCN với nhau, giữa các nước còn nghèo nàn lạc hậu, phe XHCN đã tỏ rõ những tiến bộ nhất định so với các quan hệ quốc tế của CNTB Cụ thể là hệ thống XHCN ngày càng phát huy ảnh hưởng bằng con đường viện trợ kinh tế quân sự, giúp đỡ nhau
mô hình phát triển trên tinh thần của chủ ngĩa quốc tế vô sản Như vậy là lập trường hình thái ý thức cùng các quan hệ quốc tế của các nước xã hội chủ nghĩa đã ảnh hưởng sâu sắc đến việc đề ra chính sách ngoại giao của nước Trung Hoa trong những năm 50 và trên thực tế đường lối đối ngoại mà Trung Quốc thi hành là đường lối của các nước XHCN.Vấn đề đặt ra là Trung Hoa phải tiến hành một đường lối đối ngoại đúng đắn để tận dụng được hoàn cảnh quốc tế thuận lợi đó cho sự củng cố chính quyền củ mình cũng như viêc thiết lập những cơ sở của sự phát triển XHCN của đất nước
1.2 QUAN HỆ TRUNG QUỐC – LIÊN XÔ TRƯỚC NĂM 1959
1.2.1 Thời kì truyền bá chủ nghĩa Mac-Lênin vào Trung Quốc
Nga và Trung Quốc là hai quốc gia có lịch sử quan hệ lâu đời bởi có đường biên giới liền kề Đối với người Trung Quốc, nước Nga có nghĩa là đất đói, dân Nga cũng thuộc loại man di như các quan niệm thời phong kiến Để tránh những rắc rối không cần thiết, người viết xin được nói sơ qua từ thế kỉ XIX khi các nước đế quốc đẩy mạnh công cuộc tìm kiếm thuộc địa
Sau cuộc chiến tranh thuốc phiện (1840 – 1842) nước Nga sa hoàng rất hăng hái trong việc tham gia xâu xé nước Trung Hoa Những hiệp ước bất bình đẳng liên
Trang 11tiếp ra đời khi nhà Mãn Thanh đang ở giai đoạn mạt kì Ngày 16/8/1858, hòa ước Aigoun đã cho phép người Nga đến tả ngạn song Hắc Long Giang Như thế là lãnh thổ Siberie của nước Nga kéo dài đến tận Thái Bình Dương và cả miền đông bắc Trung Quốc Ngoài Siberie, ở Tân Cương cũng vậy và dãy Pamir, biên giới Trung Quốc lùi dần
Sau cách mạng tháng 10/1917, nhà nước Xô Viết ra đời và thi hành đường lối đối ngoại tiến bộ với nội dung là: tích cực ủng hộ và giúp đỡ giai cấp công nhân, nhân dân lao động và các lực lượng dân chủ ở các nước trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc vì mục tiêu hòa bình, độc lập, dân chủ và tiến bộ xã hội Trong quan hệ với Trung Quốc, lập trường với Liên Xô là rõ ràng: những hiệp ước bất bình đẳng giữa phong kiến Trung Quốc và Nga Sa Hoàng phải được hủy bỏ Sau
đó, người Xô Viết đã bỏ lại tô giới của họ tại Hán Khẩu cùng những nhượng địa của Nga Sa Hoàng trước đây đã giành giật được trên lãnh thổ Trung Quốc Hiệp ước Xô – Trung ngày 31/5/1924 đã ghi nhận điều đó
Năm 1921, ĐCS Trung Quốc được thành lập, từ đó trên vũ đài chính trị Trung Quốc xuất hiện hai lực lượng chính là QDĐ và ĐCS Sau một thời kì hợp tác ngắn ngủi theo chính sách của QTCS, hai lực lượng này bước vào cuộc nội chiến, kéo dài kể từ năm 1927 – 1937 Năm 1937, một lần nữa thực hiện đường lối của Đại hội VII QTCS (1935), Mặt trận dân tộc thống nhất chống Nhật lại được hình thành gồm ĐCS và QDĐ Nhưng bởi những nguyên nhân của cuộc nội chiến ở Trung Quốc vẫn còn chưa phân định thắng bại nên sự tham gia của họ vào mặt trận này, nhất là phía QDĐ còn hạn chế, cầm chừng
Trong thời kì từ năm 1921 đến khi thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất chống Nhật, QTCS mà trụ cột là Liên Xô có ảnh hưởng lớn đến tiến trình cách mạng Trung Quốc, nhất là sự tác động đến quá trình hình thành đường lối của ĐCS Trung Quốc
Trong những năm kháng chiến chống Nhật 1937 – 1945, Liên Xô đã tiến hành viện trợ cho các lực lượng Trung Quốc, mặc dù số lượng còn hạn chế Liên Xô chỉ trực tiếp chống Nhật vào giai đoạn cuối cùng của chiến tranh thế giới thứ hai
Trang 12Theo đề nghị của Mỹ, Anh tại hội nghị Yanta tháng 2/1945, Liên Xô chấp nhận tham gia chiến tranh chống Nhật ba tháng sau khi chiến tranh kết thúc ở châu Âu Đến ngày 8/8/1945, Liên Xô tuyên chiến với Nhật Bản Ngày 9/8/1945, các lực lượng Hồng Quân Liên Xô bắt đầu mở cuộc tấn công vào đạo quân Quan Đông của Nhật ở Mãn Châu Ngày 14/8/1945, Nhật Hoàng tuyên bố đầu hàng Sau đó giữa chính quyền Moskva và chính quyền Tưởng Giới Thạch đã kí một bản “Hiệp định
Xô – Trung” vào ngày 14/8/1945 qua đó:
- Giữa hai nước Trung Hoa Quốc Dân Đảng và Liên Xô hình thành một liên minh
- Đường sắt Trường Xuân thuộc chủ quyền chủ Trung Quốc và do công ty
Xô – Trung quản lí
- Cảng Lữ Thuận sẽ được sử dụng làm quân cảng chung của Trung Quốc và Liên Xô Ngoài ra Liên Xô được miễn thuế và tham gia quản lí cảng Đại Liên
- Ba tỉnh miền đông của Trung Quốc do quân đội của Liên Xô chiếm đóng
và xử lí các vấn đề liên quan đến sự chiếm đóng đó
- Hai bên trao đổi công hàm nói rõ Mãn Châu và Tân Cương thuộc chủ quyền của Trung Quốc
Như vậy, việc Liên Xô tham chiến ở Viễn Đông, xuất kích một lực lượng hùng hậu đã đặt Nhật Bản vào thế thất bại hoàn toàn và giúp cho đất nước Trung Quốc thoát khỏi ách xâm lược
Về phía ĐCS Trung Quốc, lãnh tụ Mao Trạch Đông lên tiếng ủng hộ việc quân đội Liên Xô tiến vào giải phóng Mãn Châu ĐCS Trung Quốc hoạt động mạnh
ở vùng Đông Bắc Hàng vạn quân của ĐCS do tướng Lâm Bưu chỉ huy tiến vào vùng này và phối hợp cùng quân đội Xô Viết từ Siberie xuống Khi quân đội Liên
Xô rút khỏi cùng này, ĐCS Trung Quốc đứng vững ở đó nhất là vùng Đông Bắc Sự phát triển của ĐCS ở Mãn Châu gắn liền với những bước tiến của cuộc đấu tranh ở nơi khác (cả về quân sự và chính trị) và phần nào là dựa vào quan hệ với Liên Xô
Trang 131.2.2 Quan hệ Trung Quốc – Liên Xô trong thời kì chiến tranh giải phóng Trung Quốc (1946-1949)
Từ tháng 10/1945 ĐCS Trung Quốc tiến hành cuộc nội chiến cách mạng lần thứ ba ĐCS Trung Quốc từ chỗ có 50 vạn quân mà đánh bại được 3 - 4 triệu của QDĐ phải kể đến ngyên nhân quan trọng là: sau chiến tranh chống Nhật, Liên Xô chuyển giao vùng Đông Bắc Trung Quốc, một vùng công nghiệp có vị trí chiến lược quan trọng cho ĐCS và chính quyền cách mạng quản lí, vùng này đã trở thành căn
cứ của ĐCS, đồng thời chuyển giao toàn bộ vũ khí giải giáp đội quân Quan Đông của Nhật và một phần vũ khí của Liên Xô trước khi đội quan này rút về nước cho quân giải phóng nhân dân Trung Quốc Những nhân tố nói trên đã có tác động sâu sắc làm thay đổi so sánh lực lượng ở Trung Quốc có lợi cho ĐCS Đây là bối cảnh thuận lợi để ĐCS Trung Quốc giải phóng đất nước và thành lập nước CHND Trung Hoa
1.2.3 Giai đoạn Trung Quốc bắt đầu xây dựng Chủ nghĩa xã hội 1959)
1.2.3.1 Vài nét về quan hệ ngoại giao
Ngày 1/10/1949 nước CHND Trung Hoa được thành lập thì ngay ngày hôm sau 2/10/1949 chính phủ Liên Xô đã ra tuyên bố công nhận Ngày 3/10/1949, hai nhà nước thiết lập quan hệ ngoại giao và trao đổi đại sứ Ngày 16/12/1949, Chủ tịch Mao Trạch Đông dẫn đoàn đại biểu Đảng và Nhà nước Trung Quốc chính thức sang thăm Liên Xô Trong thời gian đi thăm, Chủ tịch Mao Trạch Đông và Thủ tướng Chu Ân Lai đã tiến hành hội đàm với người đứng đầu Đảng và Nhà nước Liên Xô Stalin và một số nhà lãnh đạo khác thảo luận về những vấn đề chính trị và kinh tế liên quan tới hai nước Sau hai tháng thương lượng, ngày 14/2/1950, đại biểu của hai nước đã kí vào bản “Hiệp ước đồng minh, hữu hảo và tương trợ Xô – Trung” Nội dung của bản hiệp ước này là: hai bên thi hành những biện pháp cần thiết ngăn chặn tái diễn xâm lược và vi phạm hòa bình của phát xít Nhật, hai bên sẽ hỗ trợ nhau nếu một trong hai bên bị tấn công, hai bên sẽ không tham gia vào liên minh chống bên kia, hai nước sẽ ủng hộ các mối quan hệ kinh tế…
Trang 14Sự kiện này, đánh dấu mối quan hệ đồng minh, hữu hảo và tương trợ lớn giữa hai nước XHCN lớn nhất, đánh dấu bước nhảy vọt trong quan hệ hai nước và mở ra một thời kì hợp tác toàn diện giữa Trung Quốc và Liên Xô Phe XHCN từ đây lớn mạnh chưa từng thấy Mối quan hệ này cũng góp phần hình thành cục diện mới ở châu Á – Thái Bình Dương nói riêng và trên thế giới nói chung
Ngày 17/2/1950, trước khi lên đường về nước, Chủ tịch Mao Trạch Đông phát biểu: “Tình đoàn kết giữa nhân dân hai nước Trung – Xô được củng cố qua bản hiệp ước đồng minh này là không có gì phá vỡ nổi, không ai có thể chia rẽ chúng ta Tình đoàn kết này, không những ảnh hưởng đến sự phồn vinh của hai nước Trung Xô mà còn tất yếu ảnh hưởng đến tương lai của nhân loại, ảnh hưởng đến chính nghĩa và hòa bình thế giới”1
Nước Trung Hoa, từ đây, theo cách diễn đạt của Mao Trạch Đông đã chính thức “nghiêng hẳn về một bên” (nhất biên đảo), quan hệ với Liên Xô là trọng tâm trong chính sách đối ngoại
Quan hệ đồng minh chiến lược Trung – Xô được thành lập không lâu thì ngày 25/6/1950 cuộc chiến tranh Triều Tiên bùng nổ Cuộc chiến tranh Triều Tiên
1950 – 1953 là sự thử nghiệm chiến lược đầu tiên của cuộc chiến tranh lạnh, đồng thời, nó cũng là sự thử thách cho liên minh Trung – Xô vừa mới xác lập
Ngày 7/10/1950, quân đội Liên Hợp Quốc do Mỹ chỉ huy vượt vĩ tuyến 38 đánh lên bắc Triều Tiên Ngày 26/10/1950, đội quân này tiến sát sông Áp Lục, bờ bên kia là lãnh thổ Trung Quốc Cùng ngày, “Chí nguyện quân” Trung Quốc bắt đầu vượt sông Áp Lục để chi viện cho quân miền bắc Triều Tiên đang rút chạy
Về phía Liên Xô, đại diện Jacob Malik tại Hội đồng bảo an Liên Hợp Quốc tuyên bố sẽ phủ quyết nghị quyết của Mỹ, Anh, Pháp và 9 thành viên khác yêu cầu Trung Quốc rút khỏi Triều Tiên
1 “Tập văn kiện quan hệ đối ngoại nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa 1959 – 1950”, tập 1, Thế
giới tri thức xuất bản xã Bắc Kinh, 1961 Dẫn lại theo Lý Kiện, Trung – Xô – Mỹ cuộc đối đầu lịch
sử, Nhà xuất bản Thanh niên, 2008, trang 69
Trang 15Ngày 14/12/1950, Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua dự thảo Nghị quyết của Ấn Độ về ngừng bắn ở Triều Tiên, cử một ủy ban ba người đến tiếp xúc với đại diện Trung Quốc là Ngũ Tu Quyền đang có mặt ở NewYork Liên Xô và bốn nước Đông Âu Ba Lan, Bungari, Hunggari, Tiệp Khắc) đã bác bỏ nghị quyết này Đại diện Ngũ Tu Quyền của Trung Quốc cũng bác bỏ Ông nêu ra lập trường của Trung Quốc: điều kiện tiên quyết để có thể ngừng bắn là các bên phải trở lại vĩ tuyến 38, Hoa Kì phải từ bỏ Đài Loan, nước Trung Hoa vào LHQ Ngay sau đó vào tháng 12/1950, Mỹ thi hành chính sách cấm vận đối với Trung Quốc
Ngày 20/1/1951, Mỹ đề nghị thảo luận với LHQ và ra nghị quyết tuyên bố Trung Quốc đã phạm tội xâm lược Triều Tiên Liên Xô lại một lần nữa phản đối nghị quyết này (ngoài ra còn 4 nước Đông Âu kể trên và Ấn Độ, Miến Điện cũng bác bỏ)
Các cuộc đàm phán về ngừng bắn Triều Tiên đã được bắt đầu từ tháng 7/1951, nhưng đàm phán kéo dài không có hy vọng đi tới giải pháp cụ thể là do những bất đồng quan điểm của hai bên về vấn đề trao đổi tù binh, lập ranh giới quân
sự, rút quân đội nước ngoài…Phải chờ đến ngày 2/7/1953 một hiệp định đình chiến mới được kí kết tại Bàn Môn Điếm Qua đó vĩ tuyến 38 được lấy làm ranh giới quân
sự giữa hai miền Triều Tiên và một khu phi quân sự được thiết lập rộng 4 km sẽ ngăn cách hai bên
Qua cuộc chiến tranh Triều Tiên, hai nước Trung – Xô đã thể hiện sự nhất trí cao độ trong việc phản đối Mỹ và các nước tham chiến ở Triều Tiên, ủng hộ người anh em ở bắc Triều Tiên, cùng những cố gắng của hai nước trong vấn đề giải quyết hòa bình vấn đề Triều Tiên Về phía Liên Xô, họ luôn ủng hộ việc Trung Quốc tham chiến ở Triều Tiên và trên thực tế đã cung cấp một khối lượng lớn về viện trợ quân sự cho quân đội Trung Quốc
Sau khi hiệp định đình chiến ở Triều Tiên được kí kết, ngày 28/7/1953, chính phủ Liên Xô đã gửi một bức điện mừng tới chính phủ Trung Quốc, trong đó có đoạn: “Việc kí kết hiệp định đình chiến ở Triều Tiên và kết thúc chiến tranh ở Triều Tiên là thắng lợi vĩ đại của nhân dân Triều Tiên anh hùng và chí nguyện quân
Trang 16Trung Quốc anh dũng”2 Trong bức điện đáp lại của chính phủ Trung Quốc gửi chính phủ Liên Xô ngày 31/7/1953, có đoạn viết: “Việc thực hiện đình chiến ở Triều Tiên là thắng lợi vĩ đại của mặt trận hòa bình dân chủ trên thế giới Chính phủ
và nhân dân Liên Xô đã đi đầu trong những nỗ lực không biết mệt mỏi để giải quyết vấn đề Triều Tiên”3
Cùng với việc thừa nhận nước CHND Trung Hoa, ngày 23/11/1949 đại diện Liên Xô ở Đại hội đồng LHQ tuyên bố Liên Xô không còn công nhận phái đoàn Trung Hoa Quốc Dân Đảng là người đại diện của Trung Quốc tại LHQ Ngày 10/1/1950, Liên Xô đưa ra đề nghị không thừa nhận chính quyền Tưởng Giới Thạch
và đòi khai trừ đại diện của Tưởng Giới Thạch ra khỏi LHQ, Hội đồng bảo an đã bác bỏ đề nghị này của Liên Xô Sau đó, Liên Xô trả đũa bằng cách tẩy chay Hội đồng bảo an LHQ Và các cơ quan khác Họ tuyên bố chính phủ Liên Xô từ chối tham gia thảo luận của Hội đồng bảo an và sẽ quyết định không tham gia chừng nào CHND Trung Hoa chưa giành được ghế thường trực của Trung Hoa Quốc Dân Đảng Đại diện của Liên Xô Malik khẳng định Liên Xô không công nhận tính hợp pháp của bất cứ quyết định nào được tham gia của đại diện của Trung Hoa Quốc Dân Đảng Đến hội nghị 4 nước Anh, Pháp, Mỹ, Liên Xô họp tại Berlin (2/1954) Chủ tịch hội đồng Liên Xô Malenkov đề nghị các nước công nhận CHND Trung Hoa nhưng không đạt kết quả Đến hội nghị những người đứng đầu chính phủ nói trên tại Geneva vào tháng 7/7/1955, vấn đề đó lại được đưa ra nhưng phương Tây vẫn từ chối không chấp nhận CHND Trung Hoa vào LHQ và Liên Xô đã bác bỏ cùng các nước phương Tây xem xét tình hình ở các nước Đông Âu
Trong suốt thập kỉ 50, Liên Xô luôn tranh thủ mọi cơ hội vận động cho nước CHND Trung Hoa vào LHQ, những nỗ lực không biết mệt mỏi ấy đã được chính phủ và nhân dân Trung Quốc ghi nhận
Trang 17Cùng với việc không thừa nhận chính quyền Trung Hoa Quốc Dân Đảng, Liên Xô còn ủng hộ nước CHND Trung Quốc trong việc thu hồi Đài Loan.Sau khi nước CHND Trung Hoa ra đời, liên minh Mỹ Tưởng vốn được xác lập trước đó lại càng được củng cố Theo một chương trình phòng thủ chung vào tháng 2/1951, Mỹ coi Đài Loan là căn cứ quân sự của mình Mỗi năm Mỹ cung cấp cho chính quyền Tưởng 200 triệu USD để tái vũ trang quân đội Chỉ từ năm 1950 – 1953, liên minh này đã tổ chức lại 24 sư đoàn sẵn sàng chiến đấu với số quân lên đến 60 vạn người
Về phần mình, tháng 8/1954, thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai công khai tuyên bố giải phóng Đài Loan và cảnh cáo rằng “những kẻ nước ngoài dám can thiệp sẽ phải chịu những hậu quả nghiêm trọng” Ngày 3/9/1954 quân đội Trung Quốc bắt đầu
nã pháo vào đảo Kim Môn mở đầu cho cuộc khủng hoảng eo biển Đài Loan lần thứ nhất Đáp trả lại, ngày 2/12/1954, Mỹ đã kí với Tưởng ”Hiệp ước phòng thủ chung” quy định nếu Đài Loan và Bành Hồ bị tấn công thì Mỹ sẽ có nghĩa vụ cứu giúp Cả Liên Xô và Trung Quốc đều phản đối lại hiệp ước đó Ngày 8/12/1954, thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai tuyên bố: “Mỹ sẽ phải chịu trách nhiệm về những hậu quả nếu không rút quân đội khỏi Đài Loan và ĐCS Trung Quốc rất cương quyết giải phóng Đài Loan” Ngày 15/12, Liên Xô ra tuyên bố ủng hộ hoàn toàn những yêu cầu đó của Trung Quốc
Ngày 29/1/1955, Quốc hội Mỹ thông qua “Nghị quyết về Đài Loan” cho phép tổng thống Mỹ được sử dụng các lực lượng vũ trang của Mỹ trong trường hợp Đài Loan và Bành Hồ bị tấn công vũ trang.Ngay hôm sau tại LHQ, đại diện Liên
Xô đã lên án hành động xâm lược của Mỹ đối với CHND Trung Hoa, đòi Mỹ chấm dứt xâm lược Đến đầu năm 1955, cuộc khủng hoảng eo biển Đài Loan lần thứ nhất xuống dần
Trong thời gian này, hai nước Trung Quốc và Liên Xô còn thể hiện sự gắn
bó qua việc cùng chung lưng giải quyết xung đột ở Triều Tiên và Đông Dương tại hội nghị Giơnevơ tháng 5/1954 Trước khi hội nghị Giơnevơ khai mạc, ngày 5/3/1954 báo chí Liên Xô đã công bố một bản tuyên bố của Chủ tịch hội đồng bộ trưởng Liên Xô Malenkov như sau: “Một cuộc hội nghị sẽ được triệu tập tại
Trang 18Gioneve với sự tham gia của 5 cường quốc về hai vấn đề nóng bỏng nhất đang đặt
ra tại châu Á là vấn đề Triều Tiên và tình hình Đông Dương Nước CHND Trung Hoa sẽ có địa vị hợp pháp với các cường quốc tại hội nghị đó”4
Trong thời gian đàm phán ở Giơnevơ, hoạt động của hai đoàn đại biểu Trung
- Xô đã tỏ ra hoàn toàn ăn ý với nhau Hai nước đã chia nhau giải quyết các vấn đề: Liên Xô phụ trách các vấn đề chung, còn Trung Quốc phụ trách các vấn đề có tính chất khu vực hơn ở châu Á “Trung Quốc và Liên Xô đã hành động như hai nước đồng minh của nhau, giữa hai nước không xuất hiện những bất đồng quan trọng như bất đồng giữa Mỹ và các nước đông minh châu Âu”5
Giải pháp tại hội nghị Giơnevơ không chỉ là sự phản ánh của tương quan lực lượng của các bên trên chiến trường mà còn phản ánh mối quan hệ quốc tế cực kì phức tạp và ý đồ chiến lược của các nước lớn Về phía Trung Quốc, mối liên minh
Xô – Trung đã cho phép Bắc Kinh chống đỡ lại sức ép nhiều mặt của Mỹ trên bàn hội nghị và cả trên thực tế Có nghĩa là trong bối cảnh chiến tranh lạnh lên cao lúc bấy giờ, Trung Quốc đã có thể đóng vai trò ngang hàng với các nước lớn, một phần bởi vì trường hợp quốc tế hóa cuộc xung đột, Mỹ phải tính đến khả năng của Liên
Xô Rõ ràng là, liên minh Xô – Trung đã đem lại cho Trung Quốc những phương tiện can thiệp vào một ván bài chiến lược ngoại giao vượt xa rõ rệt năng lực quân sự của bản thân họ
Năm 1954 ghi nhận quan hệ ngoại giao Xô – Trung được củng cố thêm những bước quan trọng Từ ngày 28/9/1954 Bí thư thứ nhất TW ĐCS Liên Xô Khrushchev dẫn đoàn đại biểu Đảng và chính phủ Liên Xô thăm Trung Quốc và tham dự các hoạt động chúc mừng năm năm ngày quốc khánh Trung Quốc Trong thời gian ở thăm, đoàn đại biểu Liên Xô đã tiến hành hội đàm với đoàn đại biểu chính phủ Trung Quốc do thủ tướng Chu Ân Lai dẫn đầu về quan hệ hai nước và tình hình quốc tế Ngày 12/10, Bản thông cáo chung của cuộc hội đàm nêu rõ:
4 Francois Joyaux, Trung Quốc và việc giải quyết cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất,
Giơnevơ1954, Pari, Tv quân đội lược dịch, 1979, tr 39
5 Như trên, tr 44
Trang 19“Tình đoàn kết hai nước ngày càng được củng cố”, bản thông cáo cũng tố cáo
“những hành động xâm lược của Mỹ đối với Nhật” và nước Nhật vẫn chưa được độc lập và tiếp tục là một nước nửa chiếm đóng”6
Ngoài bản thông cáo chung nói trên còn các bản thông cáo nêu những vấn đề về quan hệ giữa hai nhà nước
Quan hệ Trung - Xô đến năm 1956 có những chuyển biến quan trọng, có lẽ được bắt đầu từ Đại hội thứ XX của ĐCS Liên Xô và những ảnh hưởng của nó
Đại hội lần thứ XX ĐCS Liên Xô diễn ra từ tháng 2 – 3/1956 Đại hội này có tầm quan trọng về đường lối không chỉ với đất nước Liên Xô mà còn ảnh hưởng đến cả phe XHCN Và nó tác động không nhỏ đến mối quan hệ giữa Trung Quốc và Liên Xô Đại hội được ghi dấu bởi sự lên án “tệ sung bái cá nhân Stalin” và tuyên ngôn về chung sống hòa bình của Nhà nước Xô Viết Tại một phiên họp kín của Đại hội vào ngày 25/2/1956, Khrushchev chỉ trích Stalin rất gay gắt: “Tình hình hết sức tồi tệ của sự độc đoán thô bạo liên quan đến những hành động sai trái của Stalin Stalin đã lạm dụng quyền lực và khủng bố hàng loạt cán bộ Đảng…Nắm quyền lực
vô hạn độ, Stalin đã cho phép mình đọc đoán một cách tàn nhẫn, đàn áp con người
về thể xác và tinh thần…không thể dung tha được những hành động mà người thủ xướng là Stalin…thực tế lãnh đạo trong những năm cuối cùng Stalin đã trở lên kìm hãm ghê gớm sự phát triển của xã hội Xô Viết”7
Stalin là lãnh tụ không chỉ của ĐCS Liên Xô mà còn của phong trào cộng sản thế giới trong một thời gian dài Vì thế uy tín và ảnh hưởng của Stalin là rất lớn Những lời chỉ trích nói trên của Khrushchev đã có một tác động tiêu cực không nhỏ đối với toàn bộ phong trào cộng sản và công nhân quốc tế Sau ngày Khrushchev đọc bài diễn văn nói trên, Trung Quốc đã xác định ngay thái độ của mình tại Hội nghị mở rộng của Bộ chính trị Ngày 5/4/1956, Nhân dân nhật báo đã đăng bài nhan đề: “Bàn về kinh nghiệm lịch sử của chuyên chính vô sản” Bài này được coi là kết
Trang 20quả tranh luận tại Hội nghị mở rộng nói trên Hội nghị đã chỉ ra nhiều xu hướng cơ bản trước hết là cần phải hạn chế sự đả kích lan rộng không cho nó lan rộng ra khắp toàn bộ phong trào cộng sản, sau đó là cần phải hết sức chặt chẽ về lí luận
Cũng từ diễn đàn của Đại hội XX ĐCS Liên Xô này, chính sách cùng tồn tại hòa bình giữa những chế độ khác nhau đã gây một tiếng vang lớn trong dư luận thế giới và đặc biệt gây một sự chú ý trong dư luận phương Tây Báo cáo của Đại hội nêu rõ: “Đối với việc củng cố sự nghiệp hòa bình trên thế giới, việc lập quan hệ hữu nghị vững bền giữa hai nước lớn nhất thế giới là Liên Xô và Mỹ, lấy năm nguyên tắc chung sống hòa bình làm cơ sở thì sẽ có nhiều ý nghĩa nổi bật đối với toàn thể loài người và dĩ nhiên sẽ có lợi cho nhân dân Mỹ…Chủ nghĩa Mac – Lênin về chung sống hòa bình giữa các nước có chế độ xã hội khác nhau đã là và đến nay vẫn
là đường lối bao quát chính sách đối ngoại của chúng ta…đó không phải là một sách lược mà là nguyên tắc cơ bản trong chính sách đối ngoại Xô Viết”8
Điều đáng chú là tại Đại hội này, Khrushchev tuyên bố cùng tồn tại hòa bình
là một nguyên tắc cơ bản chứ không phải là một biện pháp tạm thời của nhà nước
Xô Viết Đặc biệt, Khrushchev đã đặt vấn đề cùng tồn tại hòa bình là nhiệm vụ số một trong chính sách ngoại giao của Liên Xô (thứ đến mới là nhiệm vụ củng cố quan hệ với các nước XHCN), điều mà thời Stalin trước đó và Brêgiơnhep sau này không thể làm
Quá độ hòa bình, chung sống hòa bình giữa các chế độ khác nhau, giữa CNXH và CNTB có liên quan đến nhiều vấn đề về ý thức hệ, an ninh…rất phức tạp.Về sau nó gây ra bao nhiêu sự luận giải khác nhau giữa Liên Xô và Trung Quốc,
có lẽ bắt nguồn từ Đại hội này Sau Đại hội XX ĐCS Liên Xô không lâu, tại Hội nghị toàn thể BCHTW khóa 8 ĐCS Trung Quốc ngày 15/11/1956, Chủ tịch Mao Trạch Đông phát biểu: “Con dao Lênin giờ đây phải chăng cũng đã bị một số người lãnh đạo Liên Xô vứt đi một số Tôi thấy cũng bị quẳng đi khá nhiều rồi đấy Cách mạng tháng 10 có còn thiêng nức không? Có còn có thể làm mẫu mực cho các nước
8
Khrushchev, “Báo cáo của ban chấp hành Đảng cộng sản Liên Xô tại đại hội Đảng lần thứ XX 1956”,
Nhà xuất bản Sự Thật, Hà Nội, 1956, tr 66.
Trang 21nữa không? Báo cáo của Khrushchev tại Đại hội XX nói rằng có thể thông qua con đường nghị viện để giành lấy chính quyền, thế tức là nói các nước có thể không cần học Cách mạng tháng 10 nữa Cái cửa đó vừa mở ra là chủ nghĩa Lênin cơ bản đã
bị vứt bỏ hết rồi Chúng ta tiến hành đấu tranh giai cấp là học từ Cách mạng tháng 10…Hỏi anh có được bao nhiêu vốn liếng, chẳng qua là một Stalin, một Lênin Anh vứt bỏ Stalin đi, Lênin cũng bị vứt bỏ gần hết rồi Dựa vào quần chúng, đi theo đường lối quần chúng để tiến hành đấu tranh giai cấp, không phân rõ địch ta, đó là điều nguy hiểm”9
Đối với Trung Quốc, trong một thời kì, đấu tranh giai cấp và một thái độ kiên quyết không nhượng bộ kẻ thù là một chân lí bất biến Nhưng lúc này những bất đồng về vấn đề trên mới bắt đầu xảy ra giữa hai nước có tính chất nội bộ chưa bộc lộ ra ngoài Chỉ đến đầu thập kỉ 60, khi Liên Xô và Trung Quốc tranh luận công khai về việc giành chính quyền: trong khi Trung Quốc nói từ chối bạo lực là dấu hiệu của chủ nghĩa xét lại, thì Liên Xô phê phán lúc nào cũng bạo lực là rơi vào chủ nghĩa giáo điều, thì lúc đó vấn đề mới sáng tỏ Những căn nguyên của sự tranh luận
đó đã bắt đầu từ đây
Dù sao, những bất đồng về đường lối chưa thật rõ ràng và chưa được đặt ra một cách bức thiết giữa hai ĐCS đã không ảnh hưởng mấy đến quan hệ giữa hai nước Trung – Xô Cũng vào thời điểm này, Đại hội lần thứ VIII hội nghị lần thứ nhất ĐCS Trung Quốc (tháng 9/1956) biểu lộ sự tán thành về đường lối của Đại hội
XX ĐCS Liên Xô
Về phương châm đối ngoại, Đại hội VIII ĐCS Trung Quốc 1956 xác định mối quan hệ với Liên Xô và các nước XHCN là ưu tiên số một trong chính sách đối ngoại Bản báo cáo chính trị nêu rõ: “Tình đoàn kết và hữu nghị dựa trên nền tảng giúp đỡ lẫn nhau và nhằm mục đích chung giữa Trung Quốc và Liên Xô vĩ đại cùng với các nước XHCN luôn luôn vững bền không có gì lay chuyển nổi Tiếp tục củng
9
“Mao Trạch Đông tuyển tập”, tập 5, Bắc Kinh, Tv Viện TT KHXH dịch, 1977, tr.71
Trang 22cố và tăng cường tình hữu nghị đó là nghĩa vụ quốc tế tối cao của chúng ta, là nền tảng của chính sách đối ngoại của chúng ta”10
Tháng 3/1953, Stalin mất đưa đến cuộc khủng hoảng lãnh đạo ở Liên Xô cũng như đối với các nước Đông Âu Ngoài ra, do sự lạc hậu về lí luận và đường lối
cụ thể đã xảy ra khủng hoảng trong xây dựng XHCN ở hai nước Đông Âu là Ba Lan và Hunggari Đối với hai cuộc khủng hoảng này, Liên Xô đã đưa quân đội vào thiết lập trật tự và thành lập chính phủ mới theo phe XHCN
Các cuộc khủng hoảng ở Ba Lan và Hunggari đã đặt ra vấn đề về tính chất vững mạnh của phe XHCN Ở đó người ta cần xem xét lại tính đúng đắn khi xây dựng CNXH cũng như mối quan hệ giữa các nước trong phe Quan điểm của Trung Quốc về những sự kiện này là: “Phe CNXH chủ yếu do Liên Xô và Trung Quốc cấu thành, hai nước phải ủng hộ nhau, đó là điều hoàn toàn đúng đắn Phải hết sức tuyên truyền cho họ hiểu rằng “dựa vào một phía” là đúng hay không đúng Nếu chúng ta chỉ dựa vào một phía tức là chúng ta cùng hành động với Liên Xô Lập trường của chúng ta là chỉ dựa vào một phía, cơ sở của lập trường đó là quyền lợi phải ngang nhau Chúng ta có cảm giác rằng, những vấn đề ở Ba Lan và Hunggari không thể nảy sinh ở nước chúng ta được Nếu chúng ta tin vào chủ nghĩa Mác và chúng ta tự nguyện làm theo kinh nghiệm của Liên Xô Nếu phải cưỡng ép làm theo những kinh nghiệm của Liên Xô thì chúng ta sẽ phạm sai lầm nghiêm trọng…Họ đã sao chép những kinh nghiệm của Liên Xô, không phân biệt đúng hay sai, và không chú ý đến tình hình cụ thể, nên họ đã phạm sai lầm Do đó người ta có thể rút ra bài học là, ở Trung Quốc nếu chúng ta muốn vươn lên phía trước chúng ta phải dựa vào chân lí phổ biến của chủ nghĩa Mac – Lenin, đồng thời phải liên hệ chặt chẽ với tình hình
cụ thể”11
10
C Borisov, “Từ lịch sử quan hệ Xô-Trung trong những năm 1950”, Moskva 1981, Ban Trung Quốc
dịch, 1981, Tv Trung tâm Nghiên cứu Trung Quốc, tr 38
11
Tú Lan, “Tính bất biến và khả biến trong chính sách đối ngoại của Trung Quốc”, Tạp chí Nghiên cứu
Trung Quốc 4(20) 8/1998, tr 7
Trang 23Ở đây, Trung Quốc trả lời một cách chính thức rằng ở nước này không thể xảy ra một vụ như Hunggari và Ba Lan Điều này cũng có nghĩa là chính quyền Trung Quốc không thể bị suy yếu, bạo loạn không thể nổ ra và cũng không thể có
sự can thiệp từ bên ngoài
Trong các cuộc khủng hoảng nói trên, Liên Xô áp đặt cách giải quyết cho Ba Lan và Hunggari Nhưng vấn đề được đặt ra một cách rõ ràng về sự thiết lập lại những mối quan hệ trong phe là kết thúc mọi quan hệ bất bình đẳng Ở lời tuyên bố trên, Trung Quốc nói rõ thái độ của mình là các bên “quyền lợi phải ngang nhau”,
“nếu bị cưỡng ép làm theo kinh nghiệm Liên Xô thì chúng ta sẽ sai lầm nghiêm trọng” thể hiện mong muốn bình đẳng trong phe XHCN của nước này nhất là trong quan hệ với Liên Xô Một bản tuyên bố của chính phủ Trung Quốc ngày 1/11/1956 minh họa thêm điều này: “Chính phủ Trung Quốc thấy rằng các sự kiện gần đây, nhân dân Ba Lan và Hunggari đã yêu cầu tăng cường dân chủ độc lập, bình đẳng và nâng cao đời sống vật chất của nhân dân trên cơ sở phát triển sản xuất, những yêu cầu đó là hoàn toàn chính đáng”12
Cuối cùng thì Trung Quốc cũng ủng hộ những biện pháp có phần độc đoán
do Liên Xô áp đặt cho Ba Lan và Hunggari Đại hội VIII ĐCS Trung Quốc hội nghị lần thứ hai năm 1958 tuyên bố: “giai cấp vô sản cách mạng ở Hunggari nhờ có Liên
Xô giúp đỡ và lực lượng cách mạng thế giới ủng hộ, không bao lâu đã dập tắt được bọn phiến loạn”13
Quan điểm của Trung Quốc về chính sách đối ngoại vẫn là tiếp tục “dựa vào một bên” (phe Liên Xô) và người ta không nên chọn một con đường lưng chừng Vấn đề này cơ bản được giải quyết qua thông cáo chung ngày 16/1/1957 giữa hai chính phủ Trung Quốc và Liên Xô, nêu rõ: “trong quan hệ của các nước XHCN hoàn toàn có khả năng kết hợp sự thống nhất với độc lập của mỗi nước và khẳng
12
Mario Bettati, Mối tranh chấp Trung – Xô, Viện quan hệ quốc tế dịch, 1982, tr 56
13
“Tập trích quan điểm của Mao Trạch Đông và tập đoàn lãnh đạo Bắc Kinh về triết học, kinh tế chính trị,
CNXHKH và xây dựng Đảng”, Trường Đảng cao cấp Nguyễn Ái Quốc, Vụ tư liệu 1979, tr 69.
Trang 24định nguyên tắc hoàn toàn bình đẳng của tất cả các nước XHCN”14 Như vậy, giữa hai nước Trung - Xô vẫn thể hiện sự nhất trí
Năm 1957, quan hệ ngoại giao Trung – Xô có những bước phát triển mới Từ ngày 2 – 20/11/1957, chủ tịch Mao Trạch Đông dẫn đầu đoàn đại biểu Đảng và Chính phủ Trung Quốc dự lễ kỉ niệm 40 năm ngày Cách mạng tháng 10 Nga Đây
là lần đi thăm thứ hai của ông đến Liên Xô, lần trước ông sang Liên Xô kí “Hiệp ước đồng minh hữu hảo tương trợ Xô – Trung” 1950 Ngày 22/11/1957, báo Sự thật đưa tin về bài nói chuyện của Chủ tịch Mao với các lưu học sinh Trung Quốc tại Đại học Moskva, có đoạn viết: “Hệ thống CNXH phải có người lãnh đạo, người lãnh đạo đó là Liên Xô, trong các ĐCS và các Đảng công nhân cũng cần có một người lãnh đạo, người lãnh đạo đó là ĐCS Liên Xô”15 Cũng trong thời gian đi thăm này, Chủ tịch Mao cũng bày tỏ sự tán thành với chính sách cùng tồn tại hòa bình của Liên Xô Đồng thời, ông cũng tham dự hội nghị các ĐCS và công nhân Moskva tháng 11/1957 Kế thừa đường lối của Đại hội XX ĐCS Liên Xô, một lần nữa Hội nghị các ĐCS và công nhân Moskva 1957 nhấn mạnh: cùng tồn tại hòa bình là cách mạng XHCN bằng con đường hòa bình và giành chính quyền không cần nội chiến…Kết quả hội nghị là một bản tuyên bố giữa các ĐCS được đưa ra, đó là bản
“Tuyên ngôn Moskva” Mặc dù bản tuyên ngôn còn có nhiều điểm thỏa hiệp nhưng dẫu sao đây cũng là sự thống nhất của phong trào cộng sản quốc tế trong bối cảnh thế giới đầy phức tạp
Cuối cùng thì đại biểu của ĐCS Trung Quốc cũng kí vào bản “Tuyên ngôn Moskva” chấp nhận tuyên bố của hội nghị mà nhiều điểm trước đó họ không thừa nhận Chỉ cách đó một tháng, trong Hội nghị toàn thể lần thứ hai BCHTW khóa 8 ĐCS Trung Quốc ngày 9/10/1957, Chủ tịch Mao Trạch Đông phát biểu: “Còn vấn
14
Viện qian hệ quốc tế, Quan hệ Liên Xô – Trung Quốc 1949 – 1982, Hà Nội, 1988, tr 136
15
Nguyễn Huy Qúy, Nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa chặng đường lịch sử nửa thế kỉ, Nhà xuất bản
chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999, tr 62
Trang 25đề quá độ hòa bình, chúng ta có ý kiến bất đồng với Khrushchev Chúng ta cho rằng: bất kể chính Đảng của giai cấp vô sản ở nước nào cũng đều có hai con đường: con đường thứ nhất là hòa bình, con đường thứ hai là chiến tranh”16 Người ta nói nhiều về sự thỏa hiệp giữa ĐCS Liên Xô và ĐCS Trung Quốc tại Hội nghị các ĐCS
và công nhân năm 1957, đổi lại việc Liên Xô giúp Trung Quốc chế tạo bom nguyên
tử ngày 15/10/1957, Trung Quốc đồng ý kí vào bản “Tuyên ngôn Moskva” tháng 11/1957 Đây là một vấn đề rất nhạy cảm trong quan hệ hai nước Người Trung Quốc vẫn rất dè dặt đối với những hy vọng của Moskva về một cuộc hòa dịu với phương Tây mà đối với họ thì đó có nghĩa là nước Mỹ
Năm 1958, Đại hội lần thứ VIII ĐCS Trung Quốc hội nghị lần thứ hai diễn
ra từ 5 đến 23/5/1958 Đại hội lần này cùng với đường lối của nó đã tác động mạnh
mẽ tới sự phát triển nội bộ Trung Quốc, đồng thời nó cũng gây ra những biến đổi trong quan hệ Xô – Trung Đại hội đã thông qua đường lối xây dựng CNXH: “Dốc hết sức lực, vươn lên hàng đầu, xây dựng CNXH nhiều, nhanh, tốt, rẻ” Đường lối chung này trở thành cơ sở lí luận cho phong trào “Đại nhảy vọt” sau đó Ngày 17/8/1958, “Nghị quyết về vấn đề thành lập công xã nhân dân tại nông thôn” ra đời
“Đường lối chung”, “đại nhảy vọt”, “công xã nhân dân” hợp thành “ba ngọn cờ hồng” đầy tai tiếng Chính nó là căn nguyên dẫn đến sự đảo lộn nước Trung Hoa suốt hai năm sau đó Về phương châm đối ngoại, Đại hội nêu rõ: “Sự nghiệp của chúng ta nhất định thắng lợi còn do ở chúng ta có sự giúp đỡ của các nước anh em trong mặt trận XHCN do Liên Xô lãnh đạo, đó là điều kiện khách quan quan trọng nhất về mặt quốc tế Chúng ta sẽ tiếp tục học tập kinh nghiệm tiên tiến của Liên Xô
và các nước XHCN khác, tiếp tục tăng cường sự hợp tác, tương trợ với các nước anh em trong phe XHCN”17 Như vậy Liên Xô và các nước XHCN được khẳng định
16“Tập trích quan điểm của Mao Trạch Đông và tập đoàn lãnh đạo Bắc Kinh về triết học, kinh tế chính trị,
CNXHKH và xây dựng Đảng”, Trường Đảng cao cấp Nguyễn Ái Quốc, Vụ tư liệu 1979, tr 50
17“Tập trích quan điểm của Mao Trạch Đông và tập đoàn lãnh đạo Bắc Kinh về triết học, kinh tế chính trị,
CNXHKH và xây dựng Đảng”, Trường Đảng cao cấp Nguyễn Ái Quốc, Vụ tư liệu 1979, tr 32
Trang 26là “điều kiện khách quan quan trọng nhất” cho sự phát triển của đất nước Trung Quốc Với “ba ngọn cờ hồng”, Trung Quốc “thoát thai” đi tìm con đường mới để đi nhanh hơn trong xây dựng CNXH bất chấp những quy luật khách quan Theo đó quan hệ Trung – Xô cũng có những biến chuyển, mặc dù thoạt nhìn không thật rõ ràng
Sang năm 1959, chủ tịch Khrushchev dẫn đoàn đại biểu Liên Xô sang Trung Quốc tham dự lễ kỉ niệm 10 ngày quốc khánh Trung Quốc từ ngày 30/9 – 4/10/1959 Trong thời gian này lãnh đạo hai nước đã khẳng định tình đoàn kết hữu nghị bền vững giữa hai nước Trung – Xô Các nhà lãnh đạo Trung Quốc hết lời ca ngợi sự giúp đỡ của Liên Xô trong những thành tựu của “10 năm huy hoàng”18 ở Trung Quốc.Cũng trong chuyến thăm này, Khrushchev lại phát biểu về chính sách cùng tồn tại hòa bình: “Không phải nói rằng, chúng ta đã mạnh như thế này thì phải dùng vũ lực để thử nghiệm tính ổn định của CNTB Các nước XHCN phản đối chiến tranh, chủ trương cùng tồn tại hòa bình Điều này không phải là do CNTB còn mạnh mà căn bản chúng ta không muốn có chiến tranh…Quán triệt chính sách cùng tồn tại hòa bình, các nước XHCN hãy tập trung mọi sức lực để tiến hành công cuộc hòa bình kiến thiết”19
Vấn đề chung sống hòa bình giữa các chế độ khác nhau đã được Liên Xô đề cập nhiều lần trước đó, nhưng lần này có lẽ là lần đầu tiên người Liên Xô phát biểu trực tiếp với người Trung Quốc ngay trên lãnh thổ Trung Hoa Người phát biểu là Khrushchev, lãnh tụ của ĐCS Liên Xô về một chủ đề mà rõ ràng người Trung Quốc
đã tỏ ra không tán thành Khi hiểu nhiều về sự xuống dốc nhanh chóng của quan hệ Trung – Xô một vài năm sau đó thì người ta thấy những lời phát biểu đó gần như một sự tuyên truyền, một sự thuyết phục, cả như một lời cảnh báo của ĐCS Liên Xô
18
Nguyễn Quốc Hùng, “ Quan hệ quốc tế thế kỷ XX”, Nxb Giáo dục, 2000, tr 282
19 Cowichoudhury, Cuộc xung đột Trung – Xô, Tv Trung tâm nghiên cứu Trung Quốc, tr 133
Trang 27đối với ĐCS Trung Quốc Về sau, người Trung Quốc nói Khrushchev ám chỉ đường lối của họ là có ý “thử nghiệm tính ổn định của CNTB”20
1.2.3.2 Về hợp tác quân sự
Trong bối cảnh tình hình căng thẳng của khu vực và thế giới, hợp tác quân sự chiếm một vị trí quan trọng trong những mối quan hệ Trung – Xô thập kỉ 50 Tháng 6/1950, chiến tranh Triều Tiên bùng nổ Tháng 10/1950, “chí nguyện quân” Trung Quốc tham gia “kháng Mỹ viện Triều” Cuộc chiến tranh này là thử thách đầu tiên cho mối đồng minh Trung – Xô vừa xác lập, trước tiên là lĩnh vực quân sự Trong thời kì chiến tranh, Liên Xô đã chuyển sang phía Đông theo đề nghị của ban lãnh đạo Trung Quốc hàng loạt sư đoàn không quân để bảo vệ vùng trời Đông bắc Trung Quốc phòng sự oanh kích của không quân Mỹ Mặt khác, sự tồn tại của “Hiệp ước đồng minh, hữu hảo, tương trợ Xô – Trung” và “Hiệp định về căn cứ hải quân cảng
Lữ Thuận và Đại Liên” dẫn đến việc Liên Xô đưa các lực lượng vũ trang của mình
ở Viễn Đông gồm cả Lữ Thuận và Đại Liên vào tư thế sẵn sàng chiến đấu Đây là nhân tố kìm hãm cơ bản, ngăn cản Mỹ mở rộng các hành động xâm lược và can thiệp vũ trang trực tiếp chống nước CHDC Trung Hoa.Hồi kí của tổng thống Mỹ G Truman đã viết: “Nếu như chúng ta quyết định mở rộng chiến tranh sang Trung Quốc thì sẽ phải chờ đợi sự trừng phạt Bắc Kinh và Moskva không chỉ đồng tư tưởng mà theo Hiệp ước năm 1950 còn là đồng minh của nhau Nếu chúng ta tấn công vào Trung Hoa cộng sản thì chúng ta phải chờ đợi sự can thiệp của nước Nga”21
Nhân dân Trung Quốc có quyền tự hào về sự tham gia của các lực lượng Trung Quốc hỗ trợ bắc Triều Tiên, nhưng cũng nên hiểu rằng, nó diễn ra trong tình hình là Mỹ chiếm đóng Đài Loan và có những cuộc tấn công bằng máy bay vào các tỉnh Đông bắc Trung Quốc, do đó một phần Trung Quốc phải bảo vệ biên giới của
Trang 28mình Về mặt chiến lược, những hoạt động chiến đấu của “chí nguyện quân” Trung Quốc ở Triều Tiên đã được dựa ở phía sau tấm lá chắn tên lửa hạt nhân của Liên
Xô
Ngoài ra, quân đội Trung Quốc cũng đã nhận được một khối lượng lớn viện trợ, trang thiết bị của Liên Xô trong thời gian tham chiến ở Triều Tiên Về viện trợ quân sự, giá trị vũ khí và kĩ thuật quân sự Liên Xô cung cấp cho Trung Quốc mà phía nước này phải thanh toán tất cả chỉ bằng 20% tổng số tín dụng có tính chất quân sự Đồng thời, chỉ có một phần vũ khí và kĩ thuật quân sự là được sử dụng để trang bị trực tiếp cho quân “chí nguyện” tham gia chiến tranh ở Triều Tiên, còn phần lớn được chuyển cho phía Trung Quốc và sau đình chiến đã được dùng để hiện đại hóa quân đội nước này Cụ thể là, trong thời gian từ 1950 – 1955, hơn 1 nửa số tín dụng quân sự mà Liên Xô cung cấp theo các hiệp định được kí kết từ tháng 11/1952 đến 1955 (tức là sau khi đạt được hiệp định ngừng bắn ở Triều Tiên)
Khi căng thẳng ở khu vực đã giảm, Liên Xô còn chuyển giao căn cứ hải quân
Lữ Thuận cho phía Trung Quốc Hiệp định quy định về việc hai nước Trung – Xô phòng thủ chung ở Lữ Thuận được kí kết vào ngày 14/2/1950 Sau một lần trì hoãn năm 1952, ngày 31/5/1955, Liên Xô đã chuyển giao hoàn toàn căn cứ này cho Trung Quốc theo nguyên tắc không phải trả tiền căn cứ, thiết bị quân sự cùng nền kinh tế phát triển thành phố và vùng ven Vai trò quan trọng của căn cứ này đã được chúng minh trong thời kì 1945 – 1949 đối với cách mạng Trung Quốc cũng như trong chiến tranh Triều Tiên Mao Trạch Đông đã từng nói: “Thu hồi Lữ Thuận là một sự việc vĩ đại”22 Sau khi thu hồi, Trung Quốc bắt đầu tiến hành hoạt động phòng thủ độc lập ở căn cứ “tiền tiêu” này
Trong những năm 50, Liên Xô đã gánh vác trách nhiệm giúp đỡ nước CHND Trung Hoa trong việc xây dựng một số lượng lớn các xí nghiệp công nghiệp quốc phòng, gồm hơn 100 các xí nghiệp, trong đó đã đưa vào hoạt động hơn 70 xí nghiệp lớn Mặt khác, qua việc tiến hành hợp tác kinh tế, sự giúp đỡ của Liên Xô giành cho
22
Viện Quan hệ quốc tế, “Quan hệ Liên Xô- Trung Quốc tử 1949-1982”, Hà Nội, 1988
Trang 29Trung Quốc chủ yếu trong công nghiệp mà trọng tâm là công nghiệp nặng (90%)
Đó là nền tảng cho nền công nghiệp quốc phòng vững mạnh
Chính phủ Liên Xô đã san sẻ cho Trung Quốc các dự trữ vũ khí và tài liệu kĩ thuật quân sự về lượng đủ để trang bị cho 60 sư đoàn bộ binh, phía Trung Quốc cũng được chuyển giao kĩ thuật quân sự gồm cả Lữ Thuận Đồng thời, trong những năm 1950, Liên Xô cũng trao cho Trung Quốc các văn kiện kĩ thuật quân sự khác nhau,đã gửi sang Trung Quốc một số lượng lớn chuyên gia để giúp đỡ xây dựng các
cơ sở sản xuất và hướng dẫn sử dụng các vũ khí cao cấp cho các đơn vị quân đội nước này
Sự hợp tác quân sự Trung – Xô lên tới đỉnh cao khi ngày 15/10/1957, “Hiệp định về kĩ thuật mới cho nền quốc phòng” giữa hai chính phủ Trung – Xô được kí kết, qua đó Liên Xô sẽ cung cấp cho Trung Quốc mẫu và tài liệu để chế tạo bom nguyên tử
Trong những chuyến viếng thăm giữa các phái đoàn quân sự của hai nước,
có lẽ đáng chú ý nhất là tháng 11/1957, Bộ trưởng Quốc phòng Bành Đức Hoài đi Moskva cùng với phái đoàn do Chủ tịch Mao Trạch Đông dẫn đầu dự lễ kỉ niệm 40 năm Cách mạng tháng 10 Bành Đức Hoài được tháp tùng bởi một nhóm đủ quyền hành để tiến hành những cuộc thương nghị về những vấn đề quân sự và chiến lược Trung – Xô gồm: Nguyên soái Diệp Kiếm Anh, Tổng tham mưu trưởng Túc Dục, Chủ nhiệm tổng cục chính trị Đàm Chính…Đây có lẽ là nhóm có những khuôn mặt quân sự quan trọng nhất được phái ra nước ngoài từ sau 1949 Phái đoàn này đã đi thăm những cơ sở quân sự của Liên Xô, tới Khabarovsk và Vladivostok là hai thành phố có những cơ sở quân sự quan trọng Điều đáng ghi nhớ là có rất ít phái đoàn Trung Quốc tới đây, mặc dù chúng rất gần Mãn Châu Trong thời gian ở Lên Xô, Bành Đức Hoài đã có nhiều cuộc hội đàm với nhiều tướng lĩnh cấp cao của Liên
Xô, và ông đã nêu ra nhận định nhằm chỉ ra Trung Quốc mong đợi những viện trợ lớn lao của Liên Xô để hiện đại hóa quân giải phóng Sau đó, Trung Quốc đã nhận được một số viện trợ quân sự từ Liên Xô
Trang 30Nhìn chung, sự hợp tác quân sự Trung – Xô trong những năm 1950 đã mang lại nhiều điều có lợi cho quốc phòng an ninh Trung Quốc, chống được sức ép đe dọa của Mỹ, xây dựng được nền công nghiệp quốc phòng vững mạnh, phát triển quân đội theo hướng hiện đại hóa…
1.2.3.3 Về quan hệ kinh tế và hợp tác khoa học kĩ thuật
Trên phương diện kinh tế, khi ra đời, nước CHND Trung Hoa có một vài đặc điểm quan trọng Đó là xuất phát điểm kinh tế ở trình độ thấp và gần như đi thẳng
từ cơ cấu nông nghiệp cổ truyền sang chủ nghĩa tập thể XHCN Ở Trung Quốc, CNXH không ra đời trên cơ sở CNTB đạt đến trình độ cao mà thực tế là thông qua cuộc cách mạng chính trị có nội dung giải phóng dân tộc và đấu tranh giai cấp gay gắt Bản thân nước Trung Quốc phải trải qua những năm tháng chiến tranh chống Nhật, nội chiến, hậu quả để lại thật nặng nề: đất nước bị tàn phá, cơ sở vật chất, nguồn nhân lực con người đều phát huy phục vụ chiến tranh, một bộ máy quản lí nhà nước, một kiểu tổ chức xã hội và một phong cách thời chiến…tất cả những cái
đó để lại dấu ấn khá đậm nét lên diện mạo của CNXH hiện thực, ảnh hưởng đến nhịp độ, bước đi của quá trình cách mạng XHCN sau này
Nếu như Liên Xô bắt đầu quá độ đi lên CNXH từ trình độ phát triển trung bình của CNTB thì ở Trung Quốc, CNTB mới chỉ đi những bước đầu tiên vào đầu thế kỉ XX Mâu thuẫn giữa hình thức chính quyền tiên tiến với nền kinh tế lạc hậu là mâu thuẫn nổi bật của nước Trung Hoa mới
Trước tình hình đó, về đối nội, Đảng và Chính phủ Trung Quốc đã tiến hành chỉ đạo công cuộc khôi phục kinh tế và cải tạo dân chủ suốt 3 năm 1950 – 1952 mà nội dung chính là: tịch thu tài sản của bọn quan liêu, cải cách ruộng đất, điều hòa tài chính và kinh tế, khôi phục và phát triển sản xuất
Chúng ta đều biết tính chất phức tạp trong những vấn đề đối nội của Trung Quốc, mà trước hết là vấn đề kinh tế Nhưng tất nhiên, như các nhà khoa học mác xít từ lâu đã chỉ dẫn, việc giải quyết những vấn đề đó không thể bằng cách tách rời đất nước với thế giới bên ngoài
Trang 31Trước và ngay sau khi nước Trung Hoa mới ra đời, Trung Quốc có ý định tích cực phát triển các quan hệ kinh tế với tất cả các nước Cương lĩnh chung của Hội nghị hiệp thương chính trị nước CHND Trung Hoa được thông qua ngày 29/9/1949 có ghi: “Nước CHND Trung Hoa duy trì và mở rộng buôn bán với các nước và chính phủ trên cơ sở bình đẳng và cùng có lợi” Như vậy, phát triển kinh tế với nước ngoài là đường lối cơ bản của Trung Quốc, song việc thực hiện lại không diễn ra theo như vậy Nguyên do là từ tháng 12/1950 Mỹ bắt đầu thi hành chính sách bao vây cấm vận kinh tế với Trung Quốc Điều đó làm phá vỡ các mối quan hệ kinh tế của Trung Quốc với nhiều nước trên thế giới Đặc biệt là quan hệ buôn bán giữa Trung Quốc với Mỹ và các nước phương Tây bị thiệt hại nghiêm trọng Vì thế, khi Mỹ thi hành chính sách cấm vận, nền kinh tế Trung Quốc đứng trước một thách thức to lớn
Để có thể vượt qua những khó khăn chồng chất đó, Trung Quốc cần có những nỗ lực tự thân của nền kinh tế, sự lao động quên mình của hàng trăm triệu con người…Nhưng những thứ đó chưa đủ, Trung Quốc cần có một nền kinh tế đối ngoại mới, có sức sống để đáp ứng yêu cầu khôi phục và xây dựng của nó Chỉ là một nước nông nghiệp lạc hậu có tính chất sản xuất nhỏ lại muốn đi vào xây dựng CNXH nên Trung Quốc cần vô vàn những nhập khẩu về vốn, máy móc, thiết bị, các loại nguyên liệu vật tư…Bởi lệnh cấm vận của Mỹ mà thế giới tư bản quay lưng lại với yêu cầu kinh tế của Trung Quốc Trong hoàn cảnh đó, thị trường các nước XHCN đối với Trung Quốc không chỉ là thị trường chủ yếu tiêu thụ các loại hàng hóa ấy, mà trong nhiều trường hợp còn là nguồn nhập khẩu duy nhất Mặt khác, một
bộ phận lớn nông phẩm, sản phẩm nghề phụ của Trung Quốc sẽ tìm được thị trường tiêu thụ ở các nước đó
Nhìn chung, trong những năm 1950, Trung Quốc thi hành chính sách kinh tế đối ngoại XHCN mà Liên Xô giữ vai trò trung tâm làm ưu tiên, đồng thời duy trì các mối quan hệ kinh tế với các nước TBCN và các nước khác trên cơ sở bình đẳng
và cùng có lợi Mối quan hệ kinh tế giữa Trung Quốc và Liên Xô trong những năm
1950 là sự bổ sung lẫn nhau giữa một bên là thị trường, nguồn nguyên liệu của
Trang 32Trung Quốc, một bên là kĩ thuật, máy móc của Liên Xô Mối quan hệ ấy cơ bản diễn ra theo chiều hướng có lợi cho Trung Quốc, có tác dụng thúc đẩy nền kinh tế Trung Quốc phát triển
Sau khi Trung Quốc bước lên con đường phát triển CNXH, một nhiệm vụ đặt ra đối với nước cộng hòa trẻ tuổi này là thực hiện những khả năng phân công lao động XHCN quốc tế đẩy mạnh nhịp độ phát triển kinh tế và thỏa mãn nhu cầu người lao động Vị trí địa lý của Trung Quốc rất thuận lợi vì có biên giới chung với Liên Xô và các nước XHCN châu Á Những quan hệ kinh tế của Trung Quốc với các nước XHCN nói chung và Liên Xô nói riêng được xây dựng trên những nguyên tắc của chủ nghĩa quốc tế vô sản và sự tương trợ anh em Vấn đề kinh tế đối ngoại
đã chiếm một vị trí quan trọng trong đường lối chung của ĐCS
Sau chiến thắng phát xít Nhật trong thế chiến thứ II, Liên Xô tuyên bố coi mọi xí nghiệp đã từng phục vụ quân đội Nhật Bản ở Mãn Châu là chiến lợi phẩm của Liên Xô và tiến hành giảm nhanh khả năng công nghiệp ở đó bằng cách tháo dỡ
và mang đi hầu hết thiết bị hiện đại Chưa đầy 5 năm sau đó một loạt các hiệp định được kí kết đặt cơ sở cho sự hợp tác Trung – Xô
Ngày 14/2/1950, giữa hai chính phủ Liên Xô và Trung Quốc kí “Hiệp định
về cung cấp tín dụng”, theo đánh giá, số thiết bị và nguyên liệu trị giá 300 triệu USD là Liên Xô cung cấp cho Trung Quốc rẻ hơn 20% so với việc phải mua từ các nước tư bản Số thiết bị này, Liên Xô cung cấp để cho Trung Quốc phục hồi, tái thiết và xây dựng mới 50 xí nghiệp Điều này bao gồm không chỉ là bàn giao các nhà máy mà còn giúp nghiên cứu và thiết kế phát triển sản xuất các loại hàng công nghiệp mới, lắp ráp và điều chỉnh các thiết bị…
Cùng ngày, Hiệp định về đường sắt Trường Xuân cũng được kí kết giữa hai nước mà nội dung là Liên Xô sẽ chuyển giao lại cho Trung Quốc không phải đền bù tất cả các quyền của mình trong cơ quan quản lí kiên tịch đường sắt Trường Xuân cùng với tất cả các tài sản và hạng mục liên quan thuộc đường sắt này thời hạn cho công tác chuyển giao không qua 1952
Trang 33Ngoài ra, một hiệp định thương mại được kí ngày 27/2/1950 ở Moskva qua
đó Liên Xô sẽ cung cấp cho Trung Quốc xăng, dầu, paraphin, dầu máy, máy móc, phụ tùng, thiết bị vận tải, bông, nguyên liệu và các vật tư khác cần thiết cho công cuộc khôi phục kinh tế ở Trung Quốc
Về trao đổi thương mại, năm 1952 Liên Xô đã chiếm tới 50,2% tổng kim ngạch ngoại thương của Trung Quốc
Đến năm 1952, có gần 1000 chuyên gia Liên Xô ở Trung Quốc Các chuyên gia Liên Xô tham gia vào công tác thực tế và điều khiển các xí nghiệp, họ cũng góp phần đào tạo rất nhiều người Trung Quốc Trong thời gian này, nhiều nhóm kĩ sư và
kĩ thuật viên cũng như hàng nghìn công nhân Trung Quốc được đào tạo tại Liên Xô
Trong giai đoạn này, quan hệ kinh tế Trung – Xô có ý nghĩa đặt nền tảng cho những sự hợp tác cao hơn ở giai đoạn sau Sự viện trợ và kinh nghiệm của Liên Xô
có tầm quan trọng nhất định trong việc làm cho Trung Quốc vượt qua được những khó khăn của thời kì khôi phục kinh tế và cải cách dân chủ 1950 – 1953 và chuyển sang kế hoạch xây dựng CNXH
Ngay trong thời kì khôi phục kinh tế, từ mùa thu 1952, Trung Quốc đã cho thành lập Ủy ban kế hoạch Nhà nước để dự thảo một kế hoạch 5 năm đầu tiên dựa theo mô hình của Liên Xô Cao Cương người đứng đầu Đảng bộ và chính quyền vùng Đông bắc được chỉ thị làm chủ tịch Ủy ban này Đến năm 1954 Ủy ban kế hoạch nhà nước được tổ chức lại thành Hội đồng kinh tế Nhà nước do Lý Phú Xuân làm chủ tịch Năm 1955, Hội đồng này mới hình thành việc dự thảo kế hoạch 5 năm lần thứ nhất của Trung Quốc (1953 – 1957)
Kế hoạch 5 năm lần thứ nhất 1953 – 1957 đã được thảo ra với sự giúp đỡ của các chuyên gia Liên Xô và có tính viện trợ về kinh tế và khoa học kỹ thuật của Liên
Xô và các nước XHCN Vấn đề là cần phải xây dựng cho Trung Quốc một nền công nghiệp hoàn chỉnh, nền công nghiệp cho phép sản xuất được ở trong nước những loại thiết bị và nguyên liệu quan trọng nhất và về cơ bản thỏa mãn được nhu cầu sản xuất mở rộng về những sản phẩm ấy, cũng như nhu cầu của xây dựng lại về kĩ thuật tất cả các ngành của nền kinh tế quốc dân Để phục vụ như thế, xây dựng công
Trang 34nghiệp là trọng tâm của kế hoạch này mà trọng tâm là xây dựng 156 đơn vị công nghiệp do Liên Xô giúp đỡ Những xí nghệp do Liên Xô giúp đỡ, đều là những xí nghiệp cỡ lớn về công nghiệp nặng có tính chất nòng cốt của công nghiệp hóa XHCN Bởi thế, Liên Xô có vai trò tối quan trọng trong thời kì bước đầu đặt cơ sở vật chất cho CNXH 1953 – 1957 ở Trung Quốc
Quan hệ kinh tế giữa hai nước năm 1956 – 1957 tiếp tục phát triển Ngày 7/4/1956, phó thủ trưởng thứ nhất của Liên Xô - Anastas Mikoyan hội đàm với Chủ tịch Mao Trạch Đông, hai người đi đến thỏa thuận Liên Xô giúp đỡ Trung Quốc xây dựng thêm 55 xí nghiệp công nghiệp mới ngoài 156 cơ sở đã được xây dựng theo các hiệp định trước 55 cơ sở này bao gồm các xí nghiệp luyện kim cơ khí hóa học, sợi tổng hợp và chất dẻo, điện và vô tuyến điện, nhà máy nhiên liệu tổng hợp, nhà máy điện, cũng như viện nghiên cứu và công nghiệp hàng không
Tổng giá trị của thiết bị và giúp đỡ khí thuật của Liên Xô lúc này đạt đến 2,5
tỷ rouble Tất cả những con số đó nói lên vai trò quan trọng của Liên Xô trong công cuộc công nghiệp hóa XHCN ở Trung Quốc trong thời gian này
Sau khi cơ bản hoàn thành kế hoạch 5 năm lấn thứ nhất với thời hạn sớm hơn trước một năm, Đại hội lần thứ VIII ĐCS Trung Quốc hội nghị lần 1 (tháng 9/1956)
đã đưa ra một cương lĩnh khá hoàn chỉnh hiện đại hóa Trung Quốc theo CNXH Đại hội đã bác bỏ ý đồ muốn xây dựng CNXH trong “một sớm một chiều” với những chủ trương duy ý chí của Mao Trạch Đông và thông qua cương lĩnh: trong một thời gian khá dài thực hiện từng bước công nghiệp hóa XHCN, hình thành dần từng bước công nghiệp hóa XHCN, hình thành dần từng bước công cuộc cải tạo công nghiệp, thủ công nghiệp và công thương nghiệp XHCN
Tuy nhiên, đến Hội nghị lần thứ hai Đại hội VIII ĐCS Trung Quốc vào tháng 5/1958, những nhiệm vụ của kế hoạch 5 năm lần thứ hai bị coi là bảo thủ, sai lầm
“buông chậm tốc độ kiến thiết” Đại hội thông qua đường lối chung: “Dốc hết lòng hăng hái, cố gắng vươn lên hàng đầu, xây dựng CNXH nhiều, nhanh, tốt, rẻ và nêu cao mục tiêu khiến cho công nghiệp nước ta trong thời gian 15 năm hay ngắn hơn nữa hay đuổi kịp hoặc vượt qua nước Anh về sản lượng gang thép và các sản phẩm
Trang 35công nghiệp chính khác”23 Thế là cả đất nước Trung Quốc bước vào một cuộc phiêu lưu mới
Bất chấp những đảo lộn trong đường lối kinh tế đối nội, quan hệ kinh tế với Liên Xô vẫn được khẳng định trong chính sách đối ngoại Đại hội VIII ĐCS Trung Quốc hội nghị lần 1 (9/1956) nêu: “Nước ta muốn dựng lên một hệ thống công nghiệp hoàn chỉnh vẫn cần sự viện trợ của Liên Xô và các nước dân chủ nhân dân trong một thời gian lâu dài”24
Trên thực tế, quan hệ kinh tế giữa hai nước tiếp tục được đẩy mạnh Ngày 23/4/1958, bản Hiệp định thương mại và hàng hải giữa Liên Xô - Trung Quốc, và nghị định thư về trao đổi hàng hóa được kí kết đã góp phần lớn vào sự hợp tác kinh
tế Trung – Xô Bản hiệp định ghi rõ các bên cam kết dành cho nhau “chế độ tối huệ quốc” trong vấn đề thương mại, hàng hải và nhiều khía cạnh khác trong quan hệ kinh tế giữa hai nước Nghị định thư về trao đổi hàng hóa giữa hai bên, quy định Liên Xô cung cấp cho Trung Quốc thiết bị công nghiệp, khí cụ đo lường, công cụ, máy kéo, máy cơ giới nông nghiệp, dầu khí và sản phẩm dầu, kim loại đen, kim loại màu, cáp điện, sản phẩm hóa học…Đổi lại Trung Quốc cung cấp Liên Xô thiếc, thủy ngân, vonfram, đồng sợi, lưu huỳnh, lông động vật, tơ sống, kim khâu, đồng luyện, đồ may mặc, chè, lá cây thuốc lá, dầu trẩu, đỗ, táo…
Đến ngày 7/2/1959, một hiệp định giữa hai chính phủ Xô – Trung được kí kết qua đó Liên Xô giúp đỡ xây dựng cho Trung Quốc thêm 34 nhà máy công nghiệp
Về quan hệ thương mại, trong 2 năm 1958 – 1959, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu giữa hai nước đạt mức cao nhất trong những năm 50
Sự hợp tác tiếp tực diễn ra trên lĩnh vực khoa học kĩ thuật Tháng 1/1958, một đoàn đại biểu Trung Quốc do Chủ tịch Viện hàn lâm khoa học Trung Quốc - Quách Mạt Nhược dẫn đầu đi thăm Liên Xô trong 3 tháng Đoàn Trung Quốc đã
Trang 36thảo luận với hơn 600 nhà khoa học và chuyên gia hàng đầu của Liên Xô, đã kí kết một hiệp định về việc Liên Xô giúp đỡ trong công tác nghiên cứu, đào tạo khoa học
kĩ thuật, cung cấp thiết bị và dụng cụ vật tư mà Trung Quốc cần để thực hiện kế hoạch 12 năm về khoa học kĩ thuật Hiệp định cũng quy định phối hợp nghiên cứu
122 vấn đề về khoa học kĩ thuật cơ bản của Trung Quốc đến năm 1962 Nhìn chung trong thời kì 1958 – 1959, sự hợp tác kinh tế Xô – Trung diễn ra khá chặt chẽ
Tiểu kết
Tóm lại, thập kỉ 1950 đã ghi nhận thời kì quan hệ thân thiện hợp tác giữa hai nước Trung – Xô, hai nước liên tục trao đổi các phái đoàn cấp cao, kí kết các hiệp định về chính trị, kinh tế…, các thông cáo chung thể hiện sự thống nhất về quan hệ hai nước và các quan hệ quốc tế Đây là dòng chủ đạo trong quan hệ Trung – Xô trong giai đoạn này Tuy vậy, những bất đồng giữa hai nước cũng xuật hiện trong những năm 1950, đặc biệt là từ Đại hội XX ĐCS Liên Xô
Trước tiên hai Đảng có quan điểm trái ngược nhau về Stalin Về phía ĐCS Trung Quốc, bênh vực Stalin là một chuyện, nhưng còn vấn đề có tầm quan trọng hơn nhiều là đường lối của Stalin Từ đó cũng nảy sinh những ý kiến bất đồng giữa hai ĐCS về một vần đề sống còn của thế giới: khả năng chung sống hòa bình giữa các chế độ khác nhau Dù vậy, những luận giải khác nhau về đường lối ấy còn mang tính chất nội bộ, chưa bộc lộ công khai, sâu sắc để ảnh hưởng đến quan hệ hai nước Nhìn chung, quan hệ chính trị Xô – Trung giai đoạn này là tốt đẹp
Trang 37Chương 2 QUAN HỆ TRUNG QUỐC – LIÊN XÔ TỪ NĂM 1959 ĐẾN 1979
2.1 BỐI CẢNH QUỐC TẾ VÀ NHỮNG CHUYỂN BIẾN NỘI TẠI Ở HAI QUỐC GIA
2.1.1 Vài nét về bối cảnh quốc tế
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, Mỹ và Liên Xô ra sức tranh giành ảnh hưởng của mình với thế giới, thiết lập thế giới hai cực, cuộc chiến chạy đua vũ trang giữa hai nước lên tới đỉnh cao Cùng với việc cạnh tranh chạy đua vũ trang giữa hai nước, Mỹ và Liên Xô đã thành lập các khối quân sự và tiến hành chạy đua vũ trang
Về phía Mỹ đã thành lập khối quân sự NATO vào năm 1949 Hiệp ước này được 12 nước (Mỹ, Anh, Pháp, Italia, Canada, Hà Lan, Na Uy, Đan Mạch, Bỉ, Lucxembua,
Bồ Đào Nha, Aixơlen, Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kì, Cộng hòa liên bang Đức) kí kết ở Oasinhton ngày 4/4/1949 và có hiệu lực từ ngày 4/8/1949, trong thời hạn 20 năm Việc thành lập khối NATO là bước tiến mới và cũng là một bộ phận quan trọng trong kế hoạch thống trị thế giới của Mỹ Mỹ muốn biến NATO thành lực lượng xung kích chống lại Liên Xô và các nước Đông Âu xã hội chủ nghĩa Liên Xô cũng không hề chịu thua kém khi thành lập ngay được một khối quân sự đối đầu với Mỹ Khối Vácxava bao gồm các nước Anbani, Hunggari, Cộng hòa dân chủ Đức, Ba Lan, Rumani, Liên Xô, Tiệp khắc đã kí Hiệp ước hữu nghị, hợp tác và tương trợ Vácxava ngày14/5/1955 với thời hạn 20 năm, nhằm gữ gìn an ninh của các nước hội viên, duy trì hòa bình ở châu Âu, củng cố hơn nữa tình hữu nghị và sự hợp tác vững bền giữa các nước hội viên Sau khi thành lập, cả hai khối quân sự đều ra sức chạy đua vũ trang, trang bị những vũ khí hết sức hiện đại để tăng cường sức mạnh của khối mình
Mỹ tiếp tục thành lập các khối quân sự, liên minh quân sự ở các khu vực khác nhằm hỗ trợ cho khối NATO và bao vây Liên Xô, các nước XHCN: Hiệp định
an ninh Mỹ - Nhật (9.1951), khối ANZUS (Mỹ - Ôxtrâylia – Niu Dilen, tháng
Trang 389/1951), khối SEATO ở Đông Nam Á (tháng 9/1954), khối CENTO ở Trung Đông (năm 1959) Mỹ đưa hàng chục nghìn quân Mỹ đóng rải rác ở 2000 căm cứ quân sự
Phía Liên Xô cũng đưa hàng chục vạn quân ra đóng ở các nước Đông Âu (tập trung ở Đông Đức), ở Mông Cổ và biên giới Trung – Xô Cuộc chạy đua vũ trang giữa hai nước Mỹ - Xô và hai khối NATO và Vácxava diễn ra rất quyết liệt
Ngoài ra, những cuộc xung đột ở các khu vực trong thời kì này như: chiến tranh cục bộ ở Triều Tiên (1950 – 1953), vụ quốc hữu hóa kênh đào Xuyê và cuộc chiến tranh xâm lược Ai Cập của Anh, Pháp, Ixaren (1956), việc kí kết Hiệp định an ninh Mỹ - Nhật (tháng 9 – 1951), thất bại của Mỹ trong âm mưu can thiệp và mở rộng chiến tranh xâm lược ở Đông Dương (tháng 7 – 1954), sự cạnh tranh gay gắt giữa các cường quốc khu vực Trung Đông từ cuối thập niên 40 nhằm tranh chấp độc quyền thăm dò và khai thác dầu lửa, sự liên kết của phong trào giải phóng dân tộc ở châu Á và châu Phi tại Hội nghị Băng Đung (Indonexia, tháng 4/1955) đều có liên quan đến sự đối đầu của hai cực Xô – Mỹ và lôi cuốn nhiều nước trên thế giới tham gia
Nhưng đến cuối thập kỉ 50, Liên Xô đưa ra chính sách hòa hoãn với Mỹ Bí thư thứ nhất Đảng cộng sản Liên Xô Khrushchev đã đi tiên phong với ý tưởng
“cùng chung sống hòa bình” giữa các quốc gia cộng sản và tư bản Đây là sự kiện
mở đầu cho một thời kì hòa hoãn giữa hai cực của thế giới, một thời kì chiến tranh lạnh được biết đến như là “The Thaw” (tan băng)
Thời kì này , thế giới cũng chứng kiến những cuộc khủng hoảng đầu tiên của một số nước XHCN, đó là Ba Lan và Hunggari sau khi Stalin mất (tháng 3/1953) Thời kì này ở các nước xã hội chủ nghĩa nhân dân Đông Âu xuất hiện sự “phân lập quyền lực” nghĩa là các chức vụ chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng và Bí thư thứ nhất của Đảng do hai người khác nhau nắm giữ, cùng với đó là do sự lạc hậu về lí luận và đường lối cụ thể đã xảy ra khủng hoảng trong xây dụng CNXH ở hai nước Ba Lan
và Hunggari Bạo loạn xảy ra ở trên toàn quốc, ở Hunggari thậm chí đã thiết lập được chính quền mới, từ bỏ đường lối XHCN Sau đó, Liên Xô phải đưa quân đội vào hai nước này để lập lại trật tự, xây dựng lại chính quyền cộng sản ở hai nước
Trang 39này Điều này chứng tỏ, sau một thời giân xây dựng, chế độ xã hội chủ nghĩa đã bắt đầu bộc lộ những khuyết điểm của mình
2.1.2 Những chuyển biến nội tại ở Liên Xô và Trung Quốc
2.1.2.1 Diễn biến chính trị ở Liên Xô
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, Liên Xô bước vào công cuộc khôi phục kinh
tế và kế hoạch 5 năm lần thứ IV khôi phục và phát triển nền kinh tế quốc dân (1946 – 1950) Công nghiệp và nông nghiệp đều phát triển mạnh, đến năm 1950, sản lượng công nghiệp đã tăng lên 73%, nông nghiệp đạt mức trước chiến tranh, Liên
Xô trở thành nước có tiềm lực kinh tế hùng mạnh
Về chính trị, Liên Xô đã tiến hành bầu cử quốc hội Xô Viết các cấp Kì họp đầu tiên của Xô Viết tối cao Liên Xô khóa mới (tháng 3/1946) đã thông qua đạo luật về cải tổ Hội đồng ủy viên nhân dân thành Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô Năm
1952, diễn ra Đại hội lần thứ XIX của Đảng Đại hội cuối cùng có Stalin tham dự Đại hội quyết định đổi tên Đảng cộng sản (B) Liên Xô thành Đảng cộng sản Liên
ra những sự kiện “đàn áp, khủng bố” dưới thời Stalin và mở đầu cho sự chia rẽ to lớn trong phong trào cộng sản quốc tế
Mùa hè 1957, Ban lãnh đạo Đảng và chính phủ nhận thấy Khrushchev đi quá
xa trong việc phê phán Stalin, gây chia rẽ trong nước cũng như làm giảm sút uy tín của Nhà nước và Đảng cộng sản Liên Xô trên trường quốc tế đã thông qua nghị quyết loại Khrushchev ra khỏi chức vụ Bí thư thứ nhất Ban chấp hành trung ương Khrushchev không tán thành, ủng hộ Khrushchev có một số thành viên Ban chấp hành Trung ương Những người chống đối Khrushchev dần dần bị thay thế hoặc chuyển công tác
Trang 40Kết quả, năm 1958, Khrushchev vẫn giữ chức vụ Bí thư thứ nhất Ban chấp hành trung ương Đảng kiêm Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng Liên Xô Năm 1956, Đại hội lần thứ XX của Đảng cộng sản Liên Xô đã giao cho Ban chấp hành Trung ương
dự thảo đề án cương lĩnh mới của Đảng – Cương lĩnh xây dựng chủ nghĩa cộng sản
ở Liên Xô
Cũng tại đại hội Đảng lần thứ XX này, chính sách cùng tồn tại hòa bình giữa các chế độ khác nhau đã gây một tiếng vang lớn trong dư luận thế giới Điều đáng chú ý tại Đại hộ này, Khrushchev tuyên bố cùng tồn tại hòa bình là một nguyên tắc
cơ bản chứ không phải một biện pháp tạm thời của nhà nước Xô Viết Khrushchev đặt vấn đề cùng tồn tại hòa bình là nhiệm vụ số một trong chính sách đối ngoại của Liên Xô, sau đó mới đến củng cố quan hệ với các nước XHCN Điều mà thời Stalin trước đó và Brêgiơnhep sau này không thể làm
2.1.2.2 Cuộc khủng hoảng chính trị ở Bắc Kinh
Suốt thập niên 1950, Trung Quốc được một số đông các cố vấn Liên Xô hướng dẫn đã theo mô hình phát triển của Liên Xô, đặt trọng tâm vào công nghiệp nặng với vốn trích ra từ thặng dư của nông dân trong lúc coi sản xuất hàng hóa tiêu thụ là ưu tiên thứ hai Tuy nhiên vào cuối thập niên 1950, Mao Trạch Đông bắt đầu phát triển ý tưởng mới về cách làm sao cho Trung Quốc tiến ngay lên chủ nghĩa xã hội qua việc huy động các lực lượng lao động khổng lồ của Trung Quốc, các ý tưởng này dẫn đến phong trào Đại nhảy vọt
Sau kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, Mao Trạch Đông kêu gọi phát triển một
“chủ nghĩa xã hội triệt để” trong nỗ lực đưa đất nước sang xã hội cộng sản tự cung
tự cấp Mao thiết lập các “Xã nhân dân đặc biệt” (thường gọi là “công xã nhân dân”) ở nông thôn thông qua việc sử dụng lao động tập thể và vận động quần chúng Nhiều cộng đồng dân cư đã được huy động để sản xuất một mặt hàng duy nhất đó là thép Và Mao Trạch Đông tuyên bố sẽ tăng sản lượng nông nghiệp lên gấp đôi mức năm 1957 Nhưng trên thực tế, sản lượng nông nghiệp thời kì đó của Trung Quốc còn không bằng thời vua Càn Long và thời nhà Tống