Xuất phát từ thực tiễn và xu hướng phát triển du lịch trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, Tác giả cho rằng cần thiết phải nghiên cứu xem những nhân tố nào có ảnh hưởng đáng kể
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của nghiên cứu
1.1 Về mặt thực tiễn
Theo Hội đồng Du lịch Thế giới (WTTC, 2011), du lịch được coi là một trong những
ngành công nghiệp lớn nhất Thế giới, chiếm khoảng 9% GDP toàn cầu, góp phần tăng trưởng
kinh tế, tạo cơ hội việc làm, đặc biệt ở những quốc gia đang phát triển Du lịch Việt Nam
đang có những bước chuyển biến rõ rệt, liên tục tăng trưởng trong nhiều năm với tỷ lệ trung
bình về lượng khách trên 17%/năm giai đoạn 1990 - 2017 Tổng thu từ khách du lịch năm
2000 là 17,4 nghìn tỷ đồng, đến năm 2017 là 510,9 nghìn tỷ đồng (Tổng cục Du lịch Việt
Nam, 2018), góp phần không nhỏ vào việc thực hiện công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước,
cải thiện và nâng cao chất lượng đời sống của người dân
Du lịch dựa vào cộng đồng (thường gọi là “du lịch cộng đồng”: Community-Based
Tourism (CBT)) xuất hiện ở Việt Nam từ những năm 1980 tại một số điểm như Mai Châu -
Hòa Bình, Sa Pa - Lào Cai; Hội An - Quảng Nam và một số tỉnh Đồng Bằng Sông Cửu Long
đã mang lại nhiều lợi ích kinh tế cho người dân địa phương
Tiểu vùng Tây Bắc, gồm các tỉnh Hòa Bình, Sơn La, Điện Biên và Lai Châu (Quyết
định 1064/QĐ-TTg, 2013) có nhiều tiềm năng cho phát triển loại hình CBT do sở hữu những
tài nguyên tự nhiên và văn hóa phong phú, đa dạng Tuy nhiên, những tiềm năng đó chưa
được khai thác hiệu quả cho phát triển du lịch, hầu hết các điểm CBT của vùng đều phát triển
manh mún, mang tính tự phát, cùng với sự hiểu biết hạn chế về du lịch của người dân địa
phương là những rào cản đối với phát triển hiệu quả loại hình du lịch này Xuất phát từ thực
tiễn và xu hướng phát triển du lịch trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, Tác giả cho
rằng cần thiết phải nghiên cứu xem những nhân tố nào có ảnh hưởng đáng kể đến phát triển
CBT tiểu vùng Tây Bắc, từ đó đề xuất những khuyến nghị cho các bên liên quan có những
giải pháp để phát triển CBT tiểu vùng Tây Bắc trong thời gian tới
1.2 Về mặt lý luận
Thứ nhất, phát triển từ những năm 1980 đến nay đã có nhiều nghiên cứu về CBT, tuy
nhiên chưa có một khái niệm mang tính phổ quát về CBT, phát triển CBT
Thứ hai, nghiên cứu về những nhân tố ảnh hưởng đến phát triển CBT ở các địa phương
khác nhau là không giống nhau, không mang tính đại diện, gắn với đặc điểm của từng quốc
gia, có thể nhân tố tác động thành công đối với CBT ở địa phương này nhưng không phải là
thành công cho địa phương khác
Thứ ba, các biến số, thước đo được sử dụng đánh giá phát triển CBT cũng không hoàn
toàn giống nhau, tùy thuộc vào đối tượng, trình độ và nhận thức của người được hỏi, cũng như
quan điểm nghiên cứu của các học giả
Do vậy, việc nghiên cứu những nhân tố ảnh hưởng đến phát triển CBT là cần thiết để bổ
sung vào cơ sở lý luận về CBT cũng như gợi ý những giải pháp nhằm triển khai thành công hơn
mô hình này tại các địa phương thuộc tiểu vùng Tây Bắc, Việt Nam
2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu chính của luận án là nghiên cứu một số nhân tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch cộng đồng tại tiểu vùng Tây Bắc, Việt Nam
3 Câu hỏi nghiên cứu
1 Đánh giá sự phát triển CBT tại tiểu vùng Tây Bắc dựa trên những chỉ tiêu nào?
2 Những nhân tố nào có ảnh hưởng đáng kể đến phát triển CBT tại tiểu vùng Tây Bắc?
3 Các nhân tố ảnh hưởng như thế nào và mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến phát triển CBT tiểu vùng Tây Bắc?
4 Từ kết quả nghiên cứu có thể đưa ra những khuyến nghị gì để phát triển CBT tại tiểu vùng Tây Bắc, Việt Nam?
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của luận án là phát triển CBT và một số nhân tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch cộng đồng
- Phạm vi nghiên cứu
+> Về không gian nghiên cứu
Nghiên cứu thực hiện tại bốn tỉnh thuộc tiểu vùng Tây Bắc, gồm: Hòa Bình; Sơn La; Điện Biên; Lai Châu
+> Về thời gian nghiên cứu
Đối với điều tra dữ liệu sơ cấp được thu thập trong khoảng thời gian từ tháng 6/2016 đến tháng 12/2017
Đối với dữ liệu thứ cấp được thu thập trong giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2017 của UBND các tỉnh; Tổng cục Du lịch, Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch, Cục Thống kê các tỉnh
để phân tích đánh giá
5 Khái quát về phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu định tính: Sử dụng thảo luận nhóm, phỏng vấn sâu, tham vấn chuyên gia, quan sát thực tế;
- Nghiên cứu định lượng: Được tiến hành thông qua phiếu điều tra có cấu trúc được rút ra từ nghiên cứu định tính
6 Đóng góp của luận án
Đóng góp về mặt lý luận
- Nghiên cứu đã thống nhất quan điểm, các chỉ tiêu đánh giá phát triển CBT cho khu vực nghiên cứu trên cơ sở kế thừa các nghiên cứu trước đây Kết quả nghiên cứu đã xây dựng được một bộ thước đo đánh giá sự phát triển CBT tiểu vùng Tây Bắc đảm bảo tính hệ thống
và phù hợp với sự phát triển CBT của tiểu vùng Tây Bắc
- Xác định năm nhân tố được xem là có ảnh hưởng đáng kể đến phát triển CBT của khu vực nghiên cứu Đồng thời điều chỉnh các biến số, thước đo cho phù hợp với bối cảnh nghiên cứu dựa trên kết quả nghiên cứu định tính
Trang 2Đóng góp về mặt thực tiễn
- Nghiên cứu đã chỉ ra những nhóm nhân tố và biến số có tác động ảnh hưởng đến phát
triển CBT tại tiểu vùng Tây Bắc
- Từ kết quả nghiên cứu, đề xuất một số khuyến nghị mang tính hàm ý với các bên liên
quan đến phát triển CBT tiểu vùng Tây Bắc,
7 Kết cấu của luận án
Để trình bày toàn bộ nội dung nghiên cứu, ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận án
được kết cấu thành 5 chương, cụ thể:
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu
Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu
Chương 3: Đặc điểm khu vực nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu
Chương 5: Thảo luận kết quả nghiên cứu và khuyến nghị
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
1.1 Nghiên cứu về du lịch cộng đồng
1.1.1 Cộng đồng
Cộng đồng địa phương đóng vai trò quan trọng trong phát triển du lịch, họ là đầu mối
cung cấp những cơ sở hạ tầng như chỗ ở, các dịch vụ ăn uống, thông tin, vận tải và các dịch
vụ khác Thuật ngữ “cộng đồng” được đề cập từ thế kỷ 19, đến nay đã có nhiều học giả quan
tâm nghiên cứu như như Hillery (1955); Keith và Ary (1998); Ivanovic (2009)… các nghiên
cứu thường xoay quanh ba vấn đề sau:
Thứ nhất, cộng đồng thường gắn với một khu vực địa lý cụ thể;
Thứ hai, cộng đồng gồm những người có thể cư trú gần nhau hoặc không gần nhau (không xác
định về mặt địa lý) nhưng có chung các đặc điểm hoặc sở thích (cộng đồng chức năng);
Thứ ba, cộng đồng ảo, xuất hiện cùng với sự phát triển của các phương tiện truyền
thông hiện đại trong những thập kỷ gần đây, quan niệm về cộng đồng đã vượt qua giới hạn
thời gian, không gian và địa lý
Trong phạm vi nghiên cứu của luận án, tác giả tiếp cận quan điểm về cộng đồng được
hiểu là những người sống trong một khu vực được xác định về mặt địa lý, có những mối quan
hệ văn hóa - xã hội với nhau và trách nhiệm với nơi họ sinh sống
1.1.2 Du lịch cộng đồng
Thuật ngữ “Du lịch cộng đồng” được đề cập từ những năm 1980 ở các nước thuộc khu
vực châu Âu, châu Mỹ và châu Úc Có rất nhiều tên gọi khác nhau liên quan đến hoạt động
du lịch có sự tham gia của cộng đồng địa phương Trong phạm vi nghiên cứu của luận án, tác
giả sử dụng thuật ngữ “du lịch cộng đồng” (CBT) để chỉ các loại hình “du lịch dựa vào cộng
đồng” nói chung
Dựa trên những quan điểm nghiên cứu khác nhau thì quan niệm về CBT không hoàn toàn giống nhau, tuy nhiên có một số điểm chung sau:
Thứ nhất, Cộng đồng địa phương là người kiểm soát các tài nguyên du lịch và hỗ trợ cho khách du lịch có cơ hội tìm hiểu và nâng cao nhận thức của họ khi có cơ hội tiếp cận hệ thống tài nguyên du lịch tại không gian sinh sống của cộng đồng;
Thứ hai, Khách du lịch là tác nhân bên ngoài, là tiền đề mang lại lợi ích kinh tế và sẽ
có những tác động nhất định kèm theo việc thụ hưởng các giá trị về môi trường sinh thái tự nhiên và văn hóa khi đến với một cộng đồng địa phương cụ thể;
Thứ ba, Cộng đồng địa phương sẽ nhận được lợi ích về mặt kinh tế, mở rộng tầm hiểu biết về đặc điểm, tính cách của du khách cũng như cơ hội nắm bắt các thông tin bên ngoài từ khách du lịch
Tổng hợp những quan điểm về CBT, trong phạm vi nghiên cứu của luận án, tác giả
tiếp cận quan niệm về CBT là một loại hình du lịch hướng đến tính chủ động của người dân địa phương trong tham gia, nâng cao các kỹ năng, kiến thức cũng như những hiểu biết của
họ đối với quy hoạch và phát triển du lịch Tạo điều kiện cho khách du lịch có được những trải nghiệm thỏa mãn nhu cầu, nâng cao nhận thức và tìm hiểu về di sản thiên nhiên, văn hóa của cộng đồng điểm đến.
1.2 Nghiên cứu về phát triển du lịch cộng đồng
1.2.1 Quan điểm về phát triển trong nghiên cứu
Tổng hợp những quan điểm nghiên cứu trước đây, tác giả tiếp cận quan điểm về phát
triển trong nghiên cứu được hiểu là quá trình thay đổi về lượng và chất của các vấn đề kinh tế
- xã hội, dựa trên cơ sở khai thác, sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên tự nhiên, kiểm soát vấn
đề ô nhiễm môi trường và phát triển các nguồn tài nguyên tái sinh.
1.2.2 Phát triển du lịch cộng đồng
Tổng hợp và kế thừa quan điểm của các nghiên cứu trước đây, trong phạm vi nghiên
cứu, tác giả tiếp cận quan điểm về phát triển CBT là quá trình biến đổi về lượng và chất của các vấn đề kinh tế - xã hội theo hướng tiến bộ, dựa trên sáng kiến của người dân địa phương trong lĩnh vực du lịch, nâng cao nhận thức của người dân và khách du lịch trong bảo vệ môi trường tự nhiên cũng như đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của du khách, đem lại hiệu quả kinh tế - xã hội ngày càng cao cho cộng đồng. Theo quan điểm này, việc đánh giá phát triển CBT gồm: (1) tăng trưởng kinh tế cộng đồng; (2) bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa - xã hội truyền thống cốt lõi của cộng đồng; (3) nâng cao nhận thức của người dân địa phương và khách du lịch trong bảo vệ môi trường sinh thái và (4) đáp ứng nhu cầu của khách du lịch
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch cộng đồng
1.3.1 Sức hấp dẫn của điểm đến du lịch
Điểm đến du lịch có thể được hiểu là một địa điểm mà khách du lịch lựa chọn đến và
ở lại trong một khoảng thời gian để tham quan, trải nghiệm (Leiper, 1995) Điểm đến du lịch không chỉ là nơi gải trí, thu hút khách du lịch, đem đến sự thỏa mãn cho họ mà còn là nơi người dân địa
Trang 3phương đang sinh sống và làm việc hàng ngày Việc nghiên cứu đánh giá sức hấp dẫn của điểm
đến để nắm bắt được cách người dân địa phương khác nhau tương tác hỗ trợ cho phát triển du lịch,
đồng thời duy trì những đặc tính có giá trị của địa phương và giải quyết các vấn đề tiêu cực trong
quá trình phát triển CBT là cần thiết
1.3.2 Khả năng tiếp cận điểm đến du lịch
Khả năng tiếp cận điểm đến du lịch có thể được hiểu là khả năng di chuyển đến điểm
du lịch và việc di chuyển giữa các điểm trong khu vực của điểm đến được thuận tiện, đơn
giản, nhanh chóng và an toàn Đây được xem là một trong những yếu tố đánh giá thuộc tính hấp
dẫn của điểm đến du lịch Khả năng tiếp cận điểm đến du lịch phụ thuộc vào hệ thống hạ tầng
giao thông (đường xá, bãi đỗ xe, phương tiện vận chuyển…); trang thiết bị giao thông (loại hình,
kích cỡ, tốc độ, phạm vi của loại hình vận tải…); các vấn đề liên qua đến điều hành vận tải (lịch
trình chuyến đi, hướng, đường đi…) và những quy định liên quan đến hoạt động vận tải (Hà Nam
Khánh Giao, 2011)
1.3.3 Tính tiện nghi của điểm đến du lịch
Tính tiện nghi của điểm đến du lịch là những yếu tố dịch vụ và cơ sở vật chất nằm ở
điểm đến hoặc gắn liền với điểm đến, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho du khách dễ dàng tiếp
cận, sử dụng Hà Nam Khánh Giao (2011);
“Tính tiện nghi của điểm đến” là yếu tố không mua được trực tiếp như các sản
phẩm/dịch vụ du lịch khác, nhưng giữ vai trò quan trọng trong kinh nghiệm của khách du
lịch Việc nghiên cứu ảnh hưởng của nhân tố tính tiện nghi của điểm đến đối với phát triển
CBT là cần thiết, góp phần tạo thêm những dịch vụ gia tăng cho cộng đồng, tạo những ấn
tượng và thỏa mãn những nhu cầu của khách CBT
1.34 Sự tham gia của người dân địa phương
Sự tham gia của người dân địa phương là yếu tố quan trọng trong quy hoạch phát triển
du lịch và sự hỗ trợ của cộng đồng là điều thiết yếu để đạt được sự phát triển du lịch bền vững
(Bramwell và Sharman, 1999 Hall, 2003, Tosun, 2006)
1.3.5 Kiến thức và kỹ năng về du lịch của người dân địa phương
Nghiên cứu của nhiều học giả (Frank & Smith, 1999; Bopp và cộng sự, 2000; Aref và
cộng sự, 2009; Moscardo, 2008) trước đây đều chỉ ra rằng để nâng cao năng lực cộng đồng trong
phát triển du lịch, người tham gia phải có kiến thức và kỹ năng, qua đó giúp họ có được những
suy nghĩ và hành động theo những cách thức phù hợp nhất Kỹ năng và kiến thức được coi là một
công cụ hỗ trợ hỗ trợ cho phát triển cộng đồng và là nhân tố quan trọng cho phát triển CBT, nó
thực sự cần thiết đối với bất kỳ đối tượng nào tham gia vào hoạt động CBT, từ cán bộ chính quyền
địa phương hay những nhà lãnh đạo trong cộng đồng đến những người dân địa phương (Bopp,
M., GermAnn, K., Bopp, J., Baugh p, M., GermAnn, K., Bopp, J., Baugh, 2000)
1.3.6 Lãnh đạo cộng đồng
Sự phát triển CBT thường bắt nguồn từ một nhóm nhỏ trong cộng đồng, tuy nhiên,
những sáng kiến phát triển CBT phải đực sự hỗ trợ của những người có kiến thức và kỹ năng
thích hợp trong quản lý các nguồn lực tài chính và con người (France, 1999), cũng như xây dựng kế hoạch, triển khai thực hiện Những công việc này thường do lãnh đạo cộng đông thực hiện, do vậy, lãnh đạo cộng đồng giữ vai trò quan trọng trong phát triển cộng đồng thành công
và đặc biệt, nó là một phần thiết yếu trong phát triển CBT (Aref và Redzuan, 2008)
1.3.7 Sự hỗ trợ của các tổ chức trong cộng đồng
Liên quan đến các tổ chức trong cộng đồng, về bản chất đó là các nhóm trong một cộng đồng, có quy mô nhỏ theo từng nhóm đối tượng tham gia chính thức hoặc không chính thức như Đoàn thanh niên, Hội phụ nữ, Hội nông dân… và một số tổ chức đoàn thể khác trong cộng đồng, ở đó các thành viên có cơ hội để bày tỏ quan điểm và trao đổi thông tin cho sự phát triển CBT
1.3.8 Hợp tác và hỗ trợ từ bên ngoài cộng đồng
Hợp tác và hỗ trợ từ bên ngoài cộng đồng được hiểu là sự liên kết, phối hợp cùng thực hiện CBT giữa cộng đồng địa phương với các cơ quan, tổ chức và doanh nghiệp khác bên ngoài cộng đồng Trong đó, các cơ quan, tổ chức bên ngoài cộng đồng chủ yếu hỗ trợ giúp cộng đồng trong việc quảng bá, xúc tiến du lịch; tư vấn, hỗ trợ, đào tạo giáo dục người dân trong việc nâng cao kỹ năng và kiến thức, tính chuyên nghiệp trong phát triển CBT
1.4 Xác định khoảng trống nghiên cứu và định hướng nghiên cứu
Thứ nhất, các nghiên cứu đánh giá phát triển du lịch nói chung và phát triển CBT nói riêng thường theo hướng phát triển bền vững, dựa trên ba tiêu chí là: kinh tế, văn hóa - xã hội
và môi trường Tuy nhiên, từ tổng quan cho thấy ngoài ba tiêu chí trên còn có các tiêu chí khác đánh giá sự phát triển du lịch như: giáo dục, sức khỏe, đáp ứng nhu cầu khách du lịch… tùy thuộc vào đối tượng, quan điểm và mục tiêu nghiên cứu khác nhau của các học giả Do vậy, tác giả cho rằng trên cơ sở kế thừa các nghiên cứu trước đây và mục đích nghiên cứu của luận án, cần thống nhất quan điểm, các tiêu chí đánh giá sự phát triển CBT cho khu vực nghiên cứu
Thứ hai, nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển CBT cũng như các chỉ tiêu đánh giá khá đa dạng, trên những góc độ khác nhau và ở các địa phương khác nhau là không giống nhau, không mang tính đại diện, gắn với đặc điểm của từng quốc gia, vùng miền
Do vậy, tác giả cho rằng trên cơ sở tổng hợp, kế thừa các nghiên cứu trước đây và mục đích nghiên cứu của luận án, cần xác định những nhân tố nào có ảnh hưởng đáng kể đến phát triển CBT của khu vực nghiên cứu
Thứ ba, tại tiểu vùng Tây Bắc Việt Nam là những địa phương giàu tiềm năng phát triển loại hình CBT do sở hữu những tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch văn hóa gắn liền với sự sinh sống của nhiều cộng đồng dân tộc thiểu số Tóm lại, trên cơ sở những đánh giá trên, tác giả thấy rằng cần thiết phải tiến hành nghiên cứu để:
- Xem xét điều chỉnh các quan điểm, tiêu chí đánh giá sự phát triển CBT tại tiểu vùng Tây Bắc, Việt Nam trên cơ sở kế thừa những nghiên cứu trước đây;
- Xác định những nhân tố ảnh hưởng đến phát triển CBT tại tiểu vùng Tây Bắc;
Trang 4- Xác định thước đo phù hợp để đo mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến phát triển
CBT tiểu vùng Tây Bắc trên cơ sở kế thừa những nghiên cứu trước đây;
- Kiểm định, đo lường, đánh giá mức độ tác động của các nhân tố đến phát triển CBT
tại tiểu vùng Tây Bắc;
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
2.1 Cơ sở lý thuyết liên quan đến nghiên cứu
2.1.1 Lý thuyết phát triển bền vững
Quan điểm về phát triển bền vững đã được thảo luận trong rất nhiều nghiên cứu của
các học giả ở các lĩnh vực khác nhau kể từ năm 1987, tại Hội nghị Ủy ban Thế giới về Môi
trường và Phát triển (WCED) công bố báo cáo “Tương lai chung của chúng ta” (Báo cáo
Brundtlant), thuật ngữ “Phát triển bền vững” đã chính thức được sử dụng để đưa ra cách nhìn
mới về việc hoạch định các chiến lược phát triển lâu bền
Mặc dù còn những quan điểm khác nhau liên quan đến lý thuyết phát triển bền vững
trong lĩnh vực du lịch nói chung và CBT nói riêng Tổng hợp các quan điểm, nghiên cứu của
các học giả cho thấy, điểm mấu chốt của phát triển CBT bền vững cần đảm bảo bốn tiêu chí
cơ bản, gồm:
Thứ nhất, đảm bảo tính bền vững về văn hóa - xã hội:
Thứ hai, đảm bảo tính bền vững về kinh tế:
Thứ ba, đảm bảo tính bền vững về môi trường sinh thái:
Thứ tư, đáp ứng nhu cầu của khách du lịch và cộng đồng địa phương:
2.1.2 Lý thuyết các bên liên quan
Lý thuyết các bên liên quan được đề cập từ thế kỷ thứ 19, bắt nguồn từ những quan điểm
đánh giá vai trò quan trọng của hợp tác xã và sự tương hỗ (Clark, T, 1984) Tuy nhiên, khái niệm
về các bên liên quan được Viện nghiên cứu Stanford (SRI - Stanford Research Institute) đề cập lần
đầu tiên vào những năm 1960, theo đó, một công ty phải chịu trách nhiệm không chỉ đối với cổ
đông của mình mà còn cho các bên liên quan, sự hỗ trợ của họ được xem là quan trọng cho sự tồn
tại của công ty (Stoney, C., & Winstanley, D, 2001)
Trong lĩnh vực du lịch, một số học giả (Sautter và Leisen, 1999; Henning, 1974) đã
vận dụng lý thuyết các bên liên quan để phân tích đánh giá sự khác biệt về quan điểm của các
nhóm khác nhau tham gia vào hoạt động kinh doanh du lịch, đặc biệt ở khâu hoạch định chính
sách và lập kế hoạch
Trong phạm vi nghiên cứu của luận án, tác giả lựa chọn lý thuyết này phục vụ cho việc
xác định các bên liên quan đến phát triển CBT của khu vực nghiên cứu, gồm: người dân địa
phương, khách du lịch, các cơ quan quản lý chức năng của Nhà nước, doanh nghiệp kinh
doanh trong lĩnh vực du lịch
2.1.3 Lý thuyết kỳ vọng
Lý thuyết kỳ vọng được học giả Victor Vroom đề cập vào năm 1964, áp dụng vào bối cảnh tạo động lực lao động Lý thuyết kỳ vọng xoay quanh ba yếu tố chính là kỳ vọng kết quả cộng việc (Expectancy), niềm tin về phần thưởng (Instrumenttality) và sức hấp dẫn của phần thưởng có giá trị (Valence) Vroom đã đưa ra công thức xác định động lực cá nhân thể hiện mối quan hệ giữa ba yếu tố trên là: M = E x I x V
Trong đó: M (Motivation): Động lực làm việc
E (Expectancy): Kỳ vọng kết quả cộng việc
I (Instrumenttality): Niềm tin về phần thưởng
V (Valence): Sức hấp dẫn của phần thưởng có giá trị Trong lĩnh vực du lịch, lý thuyết kỳ vọng được Witt và Wright (1992) vận dụng để đánh giá kỳ vọng về động lực đi du lịch của khách du lịch
2.2 Đề xuất mô hình và các giả thuyết nghiên cứu
2.2.1 Đề xuất mô hình nghiên cứu của luận án
Sau khi tham khảo ý kiến chuyên gia về các chỉ tiêu đánh giá phát triển CBT và các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển CBT tại tiểu vùng Tây Bắc Tác giả tổng hợp các hiệu chỉnh,
bổ sung và thay đổi trong bảng 2.2 như sau:
Bảng 2.2: Kết quả hiệu chỉnh các chỉ tiêu đánh giá phát triển CBT và các nhân tố ảnh hưởng sau tham vấn ý kiến chuyên gia
TT Mô hình đề xuất Kết quả tham vấn ý kiến chuyên gia
1 Các chỉ tiêu đánh giá phát triển CBT
- Sử dụng 4 chỉ tiêu đánh giá là kinh tế; văn hóa -
xã hội; môi trường và nhu cầu của khách du lịch được thỏa mãn;
- Thống nhât tên gọi của biến là “Phát triển CBT tiểu vùng Tây Bắc Việt nam”
2 Sức hấp dẫn của điểm đến du lịch
- Đưa vào mô hình nghiên cứu;
- Điều chỉnh lại tên nhân tố là “Sức hấp dẫn của điểm CBT”;
- Đánh giá dựa trên ba chỉ tiêu là: Điểm tham quan
tự nhiên; Điểm tham quan văn hóa - lịch sử và Các hoạt động du lịch, giải trí
3 Khả năng tiếp cận điểm đến du lịch - Đưa vào mô hình nghiên cứu - Điều chỉnh lại tên gọi của nhân tố là “Khả năng
tiếp cận điểm CBT”
4 Tính tiện nghi của điểm đến du lịch
- Đưa vào mô hình nghiên cứu
- Điều chỉnh lại tên gọi của nhân tố là “Cơ sở hạ tầng
và dịch vụ của điểm CBT”
5 Sự tham gia của người dân đia phương - Không đưa vào mô hình nghiên cứu - Sử dụng trong nghiên cứu định tính
6 Kiến thức và kỹ năng về du lịch của người dân địa phương - Đưa vào mô hình nghiên cứu
Trang 5TT Mô hình đề xuất Kết quả tham vấn ý kiến chuyên gia
- Sử dụng trong nghiên cứu định tính
8 Hỗ trợ của các tổ chức trong cộng đồng - Không đưa vào mô hình nghiên cứu - Sử dụng trong nghiên cứu định tính
9 Hợp tác và hỗ trợ từ bên ngoài cộng đồng
- Đưa vào mô hình nghiên cứu
- Tách biệt thành ba đối tượng đánh giá và so sánh là: Hợp tác và hỗ trợ của chính quyền địa phương;
Doanh nghiệp và Tổ chức phi chính phủ
10 Bổ sung thêm biến kiểm soát - Thống nhất tên gọi của biến là “Đặc điểm nhân khẩu”
Nguồn: Tác giả tổng hợp
Hình 2.1: Mô hình đề xuất nghiên cứu một số nhân tố ảnh hưởng đến phát triển
CBT tiểu vùng Tây Bắc
Phát triển CBT tiểu vùng Tây Bắc Việt Nam
H1a
Sức hấp dẫn của điểm CBT
Điểm tham quan tự nhiên
H1b H1c
Các hoạt động du lịch giải trí
Điểm tham quan văn hóa - lịch sử
H2
Khả năng tiếp cận điểm CBT
H3
Cơ sở hạ tầng và dịch vụ của điểm CBT
H4
Hợp tác và hỗ trợ từ bên ngoài cộng đồng
H5a
Hợp tác và hỗ trợ của chính quyền địa phươg
H5b H5c
Kiến thức và kỹ năng về du lịch của người
dân địa phương
Hợp tác và hỗ trợ của doanh nghiệp
Hợp tác và hỗ trợ của tổ chức phi chính phủ
Đặc điểm nhân khẩu
2.2.2 Phát triển các giả thuyết nghiên cứu
Bảng 2.3: Tổng hợp các giả thuyết nghiên cứu và dự đoán mối quan hệ kỳ vọng
hiệu
Mối quan
hệ kỳ vọng
1 Sức hấp dẫn của các điểm tham quan tự nhiên -> Phát triển CBT H1a Thuận chiều
2 Sức hấp dẫn của các điểm tham quan văn hóa - lịch sử -> Phát
3 Các hoạt động du lịch giải trí tại mỗi điểm CBT -> Phát triển
5 Cơ sở hạ tầng và dịch vụ của điểm CBT -> Phát triển CBT H3 Thuận chiều
6 Kiến thức và kỹ năng về du lịch của người dân địa phương ->
7 Sự hỗ trợ và hợp tác của chính quyền địa phương -> Phát triển
8 Sự hỗ trợ và hợp tác của doanh nghiệp kinh doanh du lịch ->
9 Sự hỗ trợ và hợp tác của các tổ chức phi chính phủ -> Phát triển
Nguồn: Tác giả tự xây dựng
CHƯƠNG 3: ĐẶC ĐIỂM KHU VỰC NGHIÊN CỨU
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Đặc điểm của khu vực nghiên cứu
3.1.1 Đặc điểm kinh tế - xã hội các tỉnh tiểu vùng Tây Bắc
Theo Quyết định số 1064/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về “Phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng trung du và miền núi phía Bắc đến năm 2020”, tiểu vùng Tây Bắc gồm bốn tỉnh Hòa Bình; Sơn La; Điện Biên và Lai Châu Tổng diện tích tự nhiên khoảng 37.335 km2, dân số 3.161 nghìn người, khoảng 22 dân tộc sinh sống, hầu hết là các dân tộc thiểu số (bảng 3.1)
Trang 6Bảng 3.1: Thống kê một số chỉ tiêu thuộc tiểu vùng Tây Bắc
TT Chỉ tiêu Đơn vị tính
Địa bàn (tỉnh) Cộng
(trung bình) Hòa Bình Sơn La Điện Biên Châu Lai
Nguồn: Niên giám thống kê - Hòa Bình, Sơn La, Điện Biên, Lai Châu, 2019
3.1.2 Đặc điểm cơ sở vật chất - kỹ thuật và nguồn nhân lực phát triển CBT
3.1.2.1 Cơ sở vật chất phục vụ du lịch cộng đồng
- Hệ thống nhà ở có phòng cho khách du lịch thuê (homestay): Theo đánh giá của Sở
Văn hóa, Thể thao và Du lịch các tỉnh, nhìn chung các homestay có thể đáp ứng được nhu cầu
nghỉ ngơi của du khách, mỗi dân tộc đều có những đặc điểm riêng và do vậy, cách thức trang
trí homestay của các điểm du lịch cũng khác nhau, có sức thu hút khách du lịch Tuy nhiên,
chất lượng homestay chưa cao, mới chỉ đáp ứng được những nhu cầu tối thiểu của du khách,
các trang thiết bị còn thiếu và chưa đảm bảo vệ sinh
- Các cơ sở vui chơi giải trí, thể thao, dịch vụ phục vụ du khách còn nhiều hạn chế, gần như
các bản không có sân chơi thể thao (trừ sân bóng đá), các dịch vụ tắm thuốc, tắm nước nóng là thế
mạnh của vùng nhưng vẫn chưa được phát huy, điều này không những không kích thích nhu cầu
chi tiêu của khách mà còn không giữ được khách lưu trú lại
- Hệ thống hạ tầng giao thông về cơ bản đáp ứng được nhu cầu di chuyển, đi lại của
khách du lịch, hầu hết các điểm du lịch cộng đồng hệ thống giao thông đã được bê tông hóa,
tuy nhiên còn một số điểm tại một số bản CBT vẫn còn đường đất, gây ra những hạn chế nhất
định cho du khách trong việc di chuyển đi lại
3.1.2.2 Nguồn nhân lực phục vụ du lịch cộng đồng
Theo số liệu thống kê của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch các tỉnh, số lao động tại
các điểm du lịch cộng đồng tiểu vùng Tây Bắc có xu hướng tăng qua các năm
Biểu đồ 3.1: Cơ cấu lao động theo độ tuổi trong kinh doanh CBT
Nguồn: Báo cáo tổng kết Sở VH, TT và DL các tỉnh tiểu vùng Tây Bắc
Về trình độ lao động, chủ yếu là lao động phổ thông, các hộ tham gia kinh doanh du lịch ban đầu chủ yếu mang tính tự phát, người dân tự thực hiện các công việc không qua đào tạo nên trình độ lao động nhìn chung còn thấp Trình độ ngoại ngữ giao tiếp còn nhiều hạn chế, đây cũng là một trong những khó khăn đối với việc thu hút khách du lịch quốc tế (Báo cáo của Sở VH, TT và DL các tỉnh tiểu vùng Tây Bắc)
3.1.2.3 Số lượng khách du lịch cộng đồng
Được sự quan tâm đầu tư của Nhà nước và các cơ quan chức năng, những năm qua hoạt động CBT tiểu vùng Tây Bắc khá phát triển, thu hút được nhiều du khách đến thăm Khách du lịch nội địa luôn lớn hơn khách quốc tế, điều này cho thấy thị trường khách nội địa vẫn đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển CBT của các tỉnh tiểu vùng Tây Bắc
Biểu đồ 3.2: Tỷ lệ lượt khách CBT so với tổng lượt khách tiểu vùng Tây Bắc
Nguồn: Tác giả tổng hợp
3.2 Phương pháp nghiên cứu
3.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu một số nhân tố ảnh hưởng đến phát triển CBT tại tiểu vùng Tây Bắc, tác giả trải qua hai giai đoạn nghiên cứu là nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng
3.2.2 Quy trình nghiên cứu
7.23
67.54 22.48
2.75
Dưới 24 tuổi
Từ 24- 41 tuổi
Từ 41 - 55 tuổi
12%
Khách DL
Trang 7Quy trình nghiên cứu của luận án được trình bày khái quát trong hình gồm 4 bước
chính sau: (1) Xây dựng thước đo; (2) Nghiên cứu định tính; (3) Nghiên cứu định lượng sơ
bộ; (4) Nghiên cứu định lượng chính thức
3.2.3 Nghiên cứu định tính
3.2.3.1 Mục tiêu và đối tượng nghiên cứu định tính
- Bước đầu xác định sự phù hợp của các thước đo được sử dụng để đánh giá sự phát
triển CBT của tiểu vùng Tây Bắc;
- Lựa chọn, điều chỉnh các nhân tố, biến số ảnh hưởng đến phát triển CBT phù hợp với
đặc thù, bối cảnh của tiểu vùng Tây Bắc;
- Tiếp tục tham vấn ý kiến của các chuyên gia trong đánh giá tính hợp lý của các nhân
tố, biến số mà tác giả dự kiến đưa vào mô hình nghiên cứu chính thức
- Kết hợp với kết quả nghiên cứu định lượng để trả lời các câu hỏi nghiên cứu
3.2.3.2 Phương pháp thực hiện
Các dữ liệu định tính chính sử dụng trong nghiên cứu này được thu thập từ các thành viên
trong cộng đồng tại 8 điểm CBT thuộc 4 tỉnh tiểu vùng Tây Bắc Các điểm được lựa chọn là đại diện
cho những mức độ phát triển và thời gian hoạt động CBT khác nhau
3.2.3.3 Phân tích dữ liệu
Các dữ liệu định tính thu thập từ các cuộc thảo luận nhóm và phỏng vấn sâu được tổng
hợp, phân loại theo từng tiêu chí và nội dung nghiên cứu
3.2.4 Nghiên cứu định lượng
3.2.4.1 Mục tiêu và đối tượng nghiên cứu định lượng
- Thống kê mô tả những đặc điểm nhân khẩu của đối tượng khảo sát và các biến quan
sát liên quan đến nghiên cứu;
- Kiểm tra đánh giá trị hội tụ và phân biệt của các biến quan sát thông qua kiểm định
nhân tố khám phá EFA;
- Kiểm tra và đánh giá lại độ tin cậy thước đo của các nhân tố, biến số thông qua hệ số
Cronbach’s Alpha;
- Phân tích mối quan hệ tương quan Pearson, thực hiện hồi quy tuyến tính các nhân tố
ảnh hưởng đến phát triển CBT và kiểm định các giả thuyết nghiên cứu
3.2.4.2 Phương pháp thực hiện
Theo Nguyễn Đình Thọ (2013), nghiên cứu định lượng bao gồm hai phương pháp
chính là khảo sát (survey method) và thử nghiệm (experimetation) Dựa vào đặc điểm của
nghiên cứu và nội dung nghiên cứu, tác giả chọn phương pháp khảo sát, cũng theo Nguyễn
Đình Thọ (2011) thì đây là dạng thiết kế để thu thập dữ liệu phổ biến nhất trong nghiên cứu
định lượng, đặc biệt là các nghiên cứu về kinh tế và quản trị kinh doanh trong các thị trường chưa phát triển, dữ liệu thứ cấp không có hoặc không đầy đủ, độ tin cậy không cao
3.2.4.3 Phương pháp phân tích số liệu
Để đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển sản phẩm CBT, nghiên cứu định lượng được thực hiện qua hai bước, nghiên cứu sơ bộ và nghiên cứu chính thức
Giai đoạn nghiên cứu định lượng sơ bộ được thực hiện nhằm phát hiện những lỗi mắc phải trong điều tra và là căn cứ để tác giả điểu chỉnh bảng câu hỏi đảm bảo tính dễ hiểu và tính nhất quán, đồng bộ, phù hợp với điều kiện chung nhất của các đối tượng khảo sát
Giai đoạn nghiên cứu định lượng chính thức dùng để kiểm định thước đo và mô hình
lý thuyết, thông qua hai kỹ thuật chính là phương pháp hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha (Cronbach, 1951) và phương pháp phân tích yếu tố khám phá EFA với sự hỗ trợ của phần mềm SPSS22 để loại bỏ các biến quan sát có chất lượng kém
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 4.1 Kết quả nghiên cứu định tính
4.1.1 Đánh giá phát triển CBT tiểu vùng Tây Bắc
Sau khi tham khảo ý kiến chuyên gia, mười hai thước đo được sử dụng để đánh giá sự phát triển CBT tại tiểu vùng Tây Bắc được sử dụng trong nghiên cứu định tính, tác giả đã tiến hành các cuộc thảo luận nhóm, phỏng vấn sâu hai đối tượng là người dân địa phương và khách du lịch:
4.1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển CBT tiểu vùng Tây Bắc
Sau khi xác định những thước đo được sử dụng để đánh giá phát triển CBT tại tiểu vùng Tây Bắc trong nghiên cứu, các cuộc phỏng vấn, thảo luận nhóm với người dân địa phương và khách du lịch tiếp tục được trao đổi xoay quanh năm nhóm nhân tố tác động ảnh hưởng đến phát triển CBT trong mô hình nghiên cứu
4.1.3 Điều chỉnh mô hình và giả thuyết nghiên cứu sau kết quả nghiên cứu định tính
Nghiên cứu định tính là giai đoạn đầu tiên, được sử dụng để thăm dò nhằm kiểm tra
mô hình lý thuyết, đồng thời khám phá, điều chỉnh và bổ sung các biến quan sát dùng trong nghiên cứu định lượng Từ đó có cơ sở điều chỉnh, bổ sung hoặc khẳng định sự phù hợp của
mô hình nghiên cứu và các giả thuyết có được từ tổng quan trước đó Các chuyên gia đều cho rằng các thước đo đưa vào nghiên cứu là hợp lý, có thể đo lường các khái niệm nghiên cứu
và các đối tượng khảo sát có thể đưa ra thông tin về những nội dung này Trên cơ sở đó, mô hình nghiên cứu cũng được điều chỉnh lại sau nghiên cứu định tính (hình 4.1):
Trang 8Hình 4.1: Mô hình nghiên cứu điều chỉnh sau nghiên cứu định tính
Nguồn: Tác giả tổng hợp
Đặc điểm nhân khẩu
Sức hấp dẫn của điểm CBT
H 1a
Điểm tham quan tự nhiên
H 1b
H 1c
Điểm tham quan văn hóa - lịch sử
Các hoạt động du lịch giải trí
H 2 Khả năng tiếp cận điểm CBT
H 4
Hợp tác và hỗ trợ từ bên ngoài cộng đồng
H 5a
Hợp tác và hỗ trợ của chính quyền địa phươg
H 5b
Hợp tác và hỗ trợ của doanh nghiệp
Phát triển CBT tiểu vùng Tây Bắc Việt Nam
Cơ sở hạ tầng và dịch vụ của điểm CBT
Cơ sở hạ tầng và dịch vụ cơ bản
Cơ sở hạ tầng và dịch vụ lưu trú du lịch
H 3a
H 3b
H 3c
Cơ sở hạ tầng và dịch vụ bổ sung
H 5c
Hợp tác và hỗ trợ của tổ chức phi chính phủ
Kiến thức và kỹ năng về du lịch
của người dân địa phương
4.2 Kết quả nghiên cứu định lượng
4.2.1 Thống kê mô tả đặc điểm nhân khẩu của đối tượng khảo sát
Sau khi phát đi 600 phiếu điều tra, tác giả đã thu về được tổng cộng 534 phiếu, tuy nhiên có nhiều phiếu không hợp lệ, một số lỗi mắc như người được hỏi điền không đầy đủ các thông tin cần thiết; trả lời một phương án đối với các câu hỏi hoặc trả lời không đủ các phương án Tác giả đã tiến hành làm sạch dữ liệu, kết quả còn lại 518 phiếu được đưa vào phân tích thống kê mô tả mẫu để kiểm tra tính phù hợp và khả năng đại diện của mẫu
4.2.2 Thống kê mô tả các biến liên quan đến nghiên cứu
4.2.2.1 Thống kê mô tả biến sức hấp dẫn của điểm CBT
Nhân tố sức hấp dẫn của điểm CBT gồm 13 thước đo, được đánh giá trên ba khía cạnh
là sức hấp dẫn điểm tham quan tự nhiên (STT); sức hấp dẫn điểm tham quan văn hóa - lịch
sử (SVL) và sức hấp dẫn của các hoạt động du lịch giải trí (SHG) Thang đo Likert 5 điểm từ
1 (rất không đồng ý) đến 5 (rất đồng ý), mức điểm trung gian là 3
4.2.2.2 Thống kê mô tả biến khả năng tiếp cận điểm CBT
Bảng 3.5 trình bày kết quả thống kê mô tả nhân tố khả năng tiếp cận điểm CBT (ký hiệu: KTC) gồm 4 thước đo từ KTC1 đến KTC4, tổng cỡ mẫu là 518
4.2.2.3 Thống kê mô tả biến cơ sở hạ tầng và dịch vụ của điểm CBT
Kết quả thống kê mô tả biến cơ sở hạ tầng và dịch vụ của điểm CBT gồm 12 thước đo đánh giá trên ba khía cạnh là Cơ sở hạ tầng và dịch vụ cơ bản (ký hiệu CHC); Cơ sở hạ tầng và dịch vụ lưu trú du lịch (ký hiệu CHL) và Cơ sở hạ tầng và dịch vụ bổ sung (ký hiệu CHB) Sử dụng thang đo Likert 5 điểm từ 1 (rất không đồng ý) đến 5 (rất đồng ý), mức điểm trung gian là
3, với số mẫu là 518
4.2.2.4 Thống kê mô tả biến kiến thức và kỹ năng về du lịch của người dân
Kết quả thống kê mô tả biến kiến thức và kỹ năng về du lịch của người dân địa phương (ký hiệu: KKT) gồm 7 biến quan sát, được đo lường bằng thang đo Likert 5 điểm từ (1) = hoàn toàn không đồng ý đến (5) = hoàn toàn đồng ý, tổng số mẫu là 518
4.2.2.5 Thống kê mô tả biến hợp tác và hỗ trợ từ bên ngoài cộng đồng
Biến hợp tác và hỗ trợ từ bên ngoài cộng đồng được đánh giá qua ba biến số là hợp tác và
hỗ trợ từ phía chính quyền (ký hiệu: HCQ); hợp tác và hỗ trợ từ phía doanh nghiệp (ký hiệu: HDN) và hợp tác và hỗ trợ từ phía các tổ chức phi chính phủ (ký hiệu: HPC)
4.2.2.6 Thống kê mô tả biến phát triển CBT
Biến phát triển CBT gồm 12 biến quan sát, ký hiệu từ PTT1 đến PTT12, đo lường bằng thang đo Likert 5 điểm, tổng số mẫu là 518
4.2.3 Kiểm định độ tin cậy thước đo bằng hệ số Cronbach’s Alpha
Kết quả kiểm định độ tin cậy của các nhân tố cho thấy các nhân tố được đo bởi các thước
đo được đề xuất hầu hết là có độ tin cậy tốt, giá trị Cronbach’s Alpha đều lớn hơn 0,6 Riêng nhân
tố sức hấp dẫn điểm tham quan tự nhiên có hệ số Cronbach’s Alpha = 0,672
Trang 9Trong biến cơ sở hạ tầng và dịch vụ bổ sung có thước đo CHB4 (Các sản phẩm quà lưu
niệm nhỏ gọn, thuận tiện để khách du lịch có thể vận chuyển mang về nhà) có hệ số tương quan
biến - tổng (Item - Total Correlation) = 0,077 < 0,3 do đó tác giả quyết định loại thước đo này
ra khỏi biến CHB4, khi đó hệ số Cronbach’s Alpha của biến tổng sẽ tăng từ 0,720 lên 0,826
4.2.4 Kiểm định phân tích nhân tố khám phá EFA
4.2.4.1 Phân tích nhân tố khám phá EFA cho các biến độc lập
Kết quả phân tích nhân tố khám phá EFA cho thấy kết quả kiểm định tương đối tốt
(phụ lục 5) Hệ số KMO = 0,810 > 0,5 nên việc sử dụng bộ dữ liệu này để phân tích nhân tố
là thích hợp (Kaiser, 1974) Kiểm định Bartlett’s Test dùng để xem xét các biến quan sát trong
nhân tố có tương quan với nhau không, giá trị này cũng đạt khi giá trị Sig của kiểm định =
0,000 < 0,5, do đó các biến quan sát có quan hệ với nhau và đủ điều kiện để phân tích nhân
tố bằng EFA (bảng 4.12)
Bảng 4.12: Kết quả kiểm định KMO và Bartlett's Test
Kaiser-Meyer-Olkin Measure of Sampling Adequacy .810
Bartlett's Test of Sphericity Approx Chi-Square 12125.972
Nguồn: Kết quả phân tích dữ liệu điều tra của tác giả
Điểm dừng của phân tích nhân tố được đặt trên cơ sở hệ số Eigenvalue, số lượng nhân
tố tối đa được lựa chọn khi hệ số này có giá trị nhỏ nhất > 1 và phần trăm tích lũy lớn hơn
50% Với các điều kiện trên, có 11 nhân tố được rút trích ra tại Initial Eigenvalues là 1,250 >
1, tổng phương sai trích được là 68,810% > 50% cho thấy 11 nhân tố trích được trong EFA
phản ánh được 68,810% sự biến thiên của tất cả các thước đo được đưa vào mô hình
Kết quả cuối cùng của phân tích nhân tố khám phá các thước đo của biến độc lập, 44
biến quan sát được tải về 11 nhân tố
4.2.4.2 Phân tích nhân tố khám phá EFA cho biến phụ thuộc
Kết quả phân tích nhân tố khám phá EFA lần thứ nhất cho biến phụ thuộc, xem nhanh
qua bảng ma trận xoay Rolated Component Matrix (phụ lục 4) cho thấy biến phụ thuộc không
hội tụ vào một nhân tố Có 2 nhân tố được rút trích, trong đó xuất hiện vấn đề ở các biến quan
sát PTT1; PTT3; PTT4; PTT7; PTT12 cùng tải lên ở hai nhóm biến số 1 và số 2 Đồng thời,
biến PTT11 hoàn toàn không tải về nhân tố mong muốn (nhóm biến số 1) cùng các biến quan
sát trong thước đo phát triển CBT
Kết quả chạy EFA lần thứ hai sau khi loại biến PTT11 cho thấy kết quả kiểm định
tương đối tốt Hệ số KMO = 0,900 > 0,5 nên việc sử dụng bộ dữ liệu này để phân tích nhân
tố là thích hợp (Kaiser, 1974) Kiểm định Bartlett’s Test cũng đạt khi giá trị Sig của kiểm
định = 0,000 < 0,5, do đó các biến quan sát có quan hệ với nhau và đủ điều kiện để phân tích
nhân tố bằng EFA
4.2.5 Kiểm định sự khác biệt trung bình các biến nhân khẩu với phát triển CBT
Để kiểm tra sự khác biệt trung bình về phát triển CBT của khu vực nghiên cứu với những giá trị khác nhau của biến nhân khẩu trong mô hình, tác giả sử dụng hai kiểm định T-test và kiểm định ANOVA
Tổng hợp kết quả kiểm định sự khác biệt trung bình các biến nhân khẩu với sự phát triển CBT với số mẫu là 518 tại khu vực nghiên cứu cho thấy có 2 biến (tình trạng hôn nhân
và vai trò tham gia đối với hoạt động CBT) có sự khác biệt trung bình về mức độ ảnh hưởng của từng đối tượng tham gia đối với phát triển CBT
4.2.6 Phân tích tương quan Pearson và hồi quy tuyến tính bội
4.2.6.1 Phân tích tương quan Pearson
Mười biến còn lại có hệ số Sig từ 0,000 đến 0,04 (nhỏ hơn 0,05), có ý nghĩa thống kê trong phân tích tương quan tuyến tính với biến phụ thuộc (PTT), đủ điều kiện chuyển sang phân tích hồi quy tuyến tính bội
Xét mối quan hệ tương quan tuyến tính từng nhân tố với biến PTT cho thấy biến HCQ (hợp tác và hỗ trợ từ phía chính quyền) có tương quan tuyến tính ngược chiều với biến PTT (kết quả Pearson Correlation = -0,092) Các biến còn lại đều cho kết quả có tương quan tuyến tính thuận chiều với biến PTT, trong đó giá trị tương quan tuyến tính thuận chiều mạnh nhất là biến HVX (có
hệ số Pearson Correlation = 0,515) và biến có hệ số tương quan tuyến tính thuận chiều nhỏ nhất là CHC (có hệ số Pearson Correlation = 0,090)
42.6.2 Phân tích hồi quy các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển CBT và kiểm định các giả thuyết nghiên cứu
Từ các kết quả trên có thể rút ra phương trình hồi quy tuyến tính bội biểu diễn mối quan hệ giữa các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển CBT như sau:
PTT = 0,261*SVL + 0,136*KKT + 0,226*SHG + 0,203*CHC + 0,150*CHB + 0,124*HDN - 0,113*HCQ + 0,128*KTC + 0,140*CHL + 0,244*STT
Bảng 4.24: Kết luận về các giả thuyết nghiên cứu Giả
thuyết Nhân tố/Biến số
Kỳ vọng tác động
Kết quả thực nghiệm
H1a Sức hấp dẫn của của điểm tham quan tự nhiên Thuận chiều Chấp nhận giả thuyết
H1b Sức hấp dẫn của các điểm tham quan văn
H1c Sức hấp dẫn của các hoạt động du lịch giải
H3b Cơ sở hạ tầng và dịch vụ lưu trú du lịch Thuận chiều Chấp nhận giả thuyết
Trang 10Giả
thuyết Nhân tố/Biến số
Kỳ vọng tác động
Kết quả thực nghiệm
H4 Kiến thức và kỹ năng về du lịch của người
H5a Sự hỗ trợ và hợp tác của cơ quan Nhà
Chưa đủ cơ sở để chấp nhận giả thuyết
H5b Sự hỗ trợ và hợp tác của doanh nghiệp kinh
H5c Sự hỗ trợ và hợp tác của các tổ chức phi
Chưa đủ cơ sở để chấp nhận giả thuyết
Nguồn: Kết quả phân tích dữ liệu của tác giả
CHƯƠNG 5: THẢO LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ KHUYẾN NGHỊ
5.1 Thảo luận về kết quả nghiên cứu
5.1.1 Về đánh giá sự phát triển du lịch cộng đồng tiểu vùng Tây Bắc
Câu hỏi đầu tiên nghiên cứu đặt ra là “Đánh giá sự phát triển CBT tại tiểu vùng Tây
Bắc dựa trên những chỉ tiêu nào?”.
Sau nghiên cứu định lượng, một chỉ tiêu (PTT11: Số ngày lưu trú bình quân/đầu khách
du lịch tăng lên theo thời gian) bị loại do không thỏa mãn điều kiện kiểm định nhân tố khám
phá (EFA) Như vậy, còn 11 chỉ tiêu được sử dụng đánh giá sự phát triển CBT cho nghiên
cứu tại tiểu vùng Tây Bắc, kết quả phân tích nhân tố khám phá (EFA) trong bảng 4.13 cũng
chỉ ra thứ tự vai trò của các biến quan sát từ lớn đến nhỏ trong phát triển CBT
5.1.2 Những nhân tố ảnh hưởng đáng kể đến phát triển CBT
Câu hỏi thứ hai của nghiên cứu là “Những nhân tố nào có ảnh hưởng đáng kể đến phát
triển CBT tại tiểu vùng Tây Bắc?”. Kết quả, có 01 chỉ tiêu bị loại là CHB4 (Các sản phẩm
quà lưu niệm nhỏ gọn, thuận tiện để khách du lịch có thể vận chuyển mang về nhà), còn lại
44 chỉ tiêu được xem là có ý nghĩa thống kê, phù hợp đưa vào phân tích hồi quy, đánh giá ảnh
hưởng đến phát triển CBT tại tiểu vùng Tây Bắc
5.1.3 Đánh giá ảnh hưởng của các nhân tố được lựa chọn đến phát triển CBT tiểu
vùng Tây Bắc
Câu hỏi thứ ba trong nghiên cứu là: “Các nhân tố ảnh hưởng như thế nào và mức độ
ảnh hưởng của các nhân tố đến phát triển CBT tiểu vùng Tây Bắc?”
Thứ nhất, để đánh giá các nhân tố ảnh hưởng như thế nào đến phát triển CBT tiểu vùng
Tây Bắc, kết quả phân tích tương quan Pearson và hồi quy tuyến tính bội (mục 4.2.6) đã chỉ
ra: Trong 11 biến số đại diện được đưa vào mô hình, có 10 biến tác động ảnh hưởng đến phát triển CBT tiểu vùng Tây Bắc, trong đó 9 biến có tác động ảnh hưởng thuận chiều, 1 biến có tác động ảnh hưởng ngược chiều
Thứ hai, để đánh giá mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến phát triển CBT tiểu vùng Tây Bắc, tác giả tập trung thảo luận dựa trên kết quả số liệu thống kê bằng phần mềm SPSS22, theo mức độ ảnh hưởng giảm dần của từng nhân tố, cụ thể như sau:
5.1.3.1 Nhân tố Sức hấp dẫn của điểm CBT
Theo kết quả hồi quy (bảng 4.23), biến SVL có tác động ảnh hưởng mạnh nhất đến PTT, hệ số Sig = 0,000 < 0,05, do đó có ý nghĩa thống kê cao; hệ số Beta chuẩn hóa = 0,261 cho thấy biến có tác động ảnh hưởng thuận chiều đến phát triển CBT
Sức hấp dẫn của điểm tham quan tự nhiên (STT) có tác động ảnh hưởng thứ hai đến phát triển CBT, hệ số Sig = 0,000 < 0,05, do đó có ý nghĩa thống kê cao; hệ số Beta chuẩn hóa = 0,244 cho thấy biến có tác động ảnh hưởng thuận chiều đến phát triển CBT
Sức hấp dẫn của hoạt động du lịch giải trí (SHG) có tác động ảnh hưởng thứ ba đến phát triển CBT, hệ số Sig = 0,000 < 0,05, do đó có ý nghĩa thống kê cao; hệ số Beta chuẩn hóa = 0,226 cho thấy biến có tác động ảnh hưởng thuận chiều đến phát triển CBT
5.1.3.2 Nhân tố Cơ sở hạ tầng và dịch vụ điểm CBT
Kết quả phân tích hồi quy bội chỉ ra biến CHC có tác động ảnh hưởng mạnh nhất đến PTT, hệ số Sig = 0,000 < 0,05, do đó có ý nghĩa thống kê cao; hệ số Beta chuẩn hóa = 0,203 cho thấy biến có tác động ảnh hưởng thuận chiều đến phát triển CBT
5.1.3.3 Nhân tố kiến thức và kỹ năng về du lịch của người dân địa phương
Nhân tố ảnh hưởng thứ ba đến phát triển CBT là kiến thức và kỹ năng về du lịch của người dân địa phương (ký hiệu: KKT), hệ số Sig = 0,000 < 0,05 cho ý nghĩa thống kê cao; hệ số Beta chuẩn hóa = 0,136 cho thấy biến có tác động ảnh hưởng thuận chiều đến phát triển CBT
5.1.3.4 Nhân tố khả năng tiếp cận điểm CBT
Nhân tố có tác động ảnh hưởng lớn thứ tư đến phát triển CBT tại tiểu vùng Tây Bắc là khả năng tiếp cận điểm CBT gồm 4 biến quan sát (ký hiệu từ KTC1 đến KTC4), có hệ số Sig
= 0,000 < 0,05, cho ý nghĩa thống kê cao; hệ số Beta chuẩn hóa = 0,128 cho thấy biến có tác động ảnh hưởng thuận chiều đến phát triển CBT Trong đó, biến KTC3 cho hệ số tải nhân tố cao nhất (0,777), tiếp đó là KTC2 (0,761) và KTC1 (0,735) Biến KTC4 có hệ số tải nhân tố thâp nhất (0,626)
5.1.3.5 Nhân tố hợp tác và hỗ trợ từ bên ngoài cộng đồng
Nhân tố Hợp tác và hỗ trợ của doanh nghiệp (HDN) có hệ số Sig = 0,000 < 0,05, cho ý nghĩa thống kê cao; hệ số Beta chuẩn hóa = 0,124 cho thấy hợp tác và hỗ trợ của doanh nghiệp bên ngoài cộng đồng có tác động tích cực đến phát triển CBT tiểu vùng Tây Bắc