Tuy nhiên, xét về tỷ lệ nhập học ở các cấp, càng lên cấp học cao thì số lượng học sinh đến trường càng giảm chủ yếu là học sinh nghèo; Khả năng trang trải các dịch vụ giáo dục của người
Trang 11
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Giáo dục và đầu tư vốn con người luôn được xem là một trong những nhân tố quan
trọng nhất trong sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia, đặc biệt là những quốc gia đang
phát triển trong đó có Việt Nam Ở mức độ vĩ mô, giáo dục giúp cho các cá nhân trong
xã hội đạt được những kiến thức, kỹ năng tốt hơn và là cách thức cơ bản để tích lũy vốn
con người nên tác động mạnh đến tăng trưởng kinh tế của quốc gia Ở cấp độ vi mô, đối
với các hộ gia đình, đầu tư vào giáo dục được coi là con đường chính giúp làm tăng thu
nhập, xóa đói, giảm nghèo Một yếu tố quan trọng khiến giáo dục luôn được đề cao liên
quan đến địa vị xã hội Những người có học thức cao nói chung luôn luôn được mọi người
tôn trọng trong xã hội Vì những nguyên nhân đó, giáo dục đã và đang phát triển cả về
lượng và chất Ở Việt Nam, quyền được học tập của người dân được quy định trong Hiến
pháp, Luật Giáo dục và các văn bản quy phạm pháp luật khác của Nhà nước Tại Đại hội
Đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng đã nhấn mạnh tầm quan trọng của giáo dục, coi
giáo dục là quốc sách hàng đầu và cần phải “hoàn thiện hệ thống giáo dục quốc dân theo
hệ thống giáo dục mở, học tập suốt đời và xây dựng xã hội học tập” (Báo cáo chính trị của
Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI trình bày tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ
XII, 2016)
Trong những năm gần đây, Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng trong
phát triển kinh tế - xã hội, đã trải qua hơn hai thập kỷ tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ và tạo
sự thay đổi gần như chưa từng có với tỷ lệ GDP tăng trung bình 7%/năm Mặc dù thế giới
đã và đang phải đối mặt với cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, xu hướng phát triển kinh
tế nói chung của Việt Nam vẫn rất tích cực Tỷ lệ giảm nghèo của Việt Nam trong thời
gian gần đây đạt mức khá lý tưởng: tỷ lệ nghèo giảm từ 57% năm 1990 xuống còn khoảng
13,5% năm 2014 (Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, 2016) Tuy nhiên, thành tựu của
sự tăng trưởng và giảm nghèo nói chung chưa hẳn đã phản ánh thực chất mọi vấn đề trong
xã hội Vấn đề bình đẳng và hòa nhập là điều mà những quốc gia đang phát triển đang
quan tâm Một điều dễ nhận thấy là những hậu quả của bất bình đẳng và thiếu sự hòa nhập
sẽ gia tăng áp lực lên hệ thống giáo dục Đối với nhiều người Việt Nam, con đường an
toàn nhất tiến tới vị trí và thu nhập cao hơn trong xã hội là thông qua giáo dục Nhu cầu
giáo dục và đào tạo của xã hội cũng rất cao, đó là còn chưa kể tới nhu cầu của nền kinh tế
tri thức hiện đang phát triển dưới tác động của toàn cầu hóa và cụ thể là tác động khi được
gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)
Việt Nam đã nỗ lực rất nhiều nhằm giải quyết một số những áp lực đang ngày càng
gia tăng như vậy Chính phủ đã thể hiện cam kết mạnh mẽ và có nhiều cố gắng trong việc
mở rộng cơ hội tiếp cận giáo dục cho mọi tầng lớp nhân dân, đặc biệt là trẻ em Cam kết
này được thể hiện qua những tiến bộ vượt bậc liên quan tới trình độ học vấn kể từ đầu
những năm 1990 Theo số liệu điều tra mức sống hộ gia đình (VHLSS), trong giai đoạn
2
2010 - 2016, tỷ lệ dân số trong độ tuổi 25 - 55 chưa đạt được bất kỳ trình độ học vấn nào giảm xuống còn dưới 1% Những tiến bộ này chủ yếu diễn ra ở cấp tiểu học và trung học
Tỷ lệ học sinh nhập học bậc tiểu học hiện nay đã gần đạt mức phổ cập, và tỷ lệ nhập học
ở bậc trung học cơ sở và trung học nói chung đang lần lượt gia tăng Tuy nhiên, xét về tỷ
lệ nhập học ở các cấp, càng lên cấp học cao thì số lượng học sinh đến trường càng giảm (chủ yếu là học sinh nghèo); Khả năng trang trải các dịch vụ giáo dục của người nghèo còn thấp, học phí và các khoản đóng góp trường lớp trở thành gánh nặng đối với gia đình; Học sinh nghèo ít có cơ hội đi học thêm, phải dành thời gian giúp đỡ gia đình và lao động kiếm sống… đã làm ảnh hưởng đến chất lượng học tập
Có thể nói, đời sống kinh tế gia đình có tác động lớn đến điều kiện trẻ em tiếp cận được với các dịch vụ giáo dục, đặc biệt là giáo dục có chất lượng cao Thu nhập của gia đình thấp sẽ cản trở việc học tập của trẻ em, trẻ em không có tiền đóng góp các khoản chi phí cho giáo dục để được đi học hoặc tiếp cận với các dịch vụ học tập có chất lượng Hơn nữa thu nhập thấp, kinh tế khó khăn buộc trẻ em phải tham gia lao động sớm với gia đình và không có điều kiện để đi học Bên cạnh đó, tình trạng học thêm đang ngày càng phổ biến ở các lớp, các cấp với nhiều hình thức, cách dạy, cách học… cũng là nguyên nhân làm giảm cơ hội tiếp cận dịch vụ giáo dục cho trẻ em trong các hộ gia đình Việt Nam
Do vậy, với mục tiêu phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến chi tiêu giáo dục của hộ gia đình Việt Nam ở các bậc học và tác động của chi tiêu giáo dục đến tỉ lệ đi học nhằm đưa ra các các thông tin và các khuyến nghị phù hợp cho các nhà hoạch định chính sách giáo dục Xuất phát từ lý do đó, tôi lựa chọn chủ đề “Các mô hình phân tích một số chỉ tiêu giáo dục Việt Nam” làm đề tài luận án tiến sĩ
2 Mục tiêu nghiên cứu của luận án
Mục tiêu tổng quát của luận án là sử dụng các mô hình để phân tích yếu tố ảnh hưởng đến một số chỉ tiêu giáo dục Việt Nam, cụ thể là chỉ tiêu: chi tiêu cho giáo dục của hộ gia đình và tác động của chi tiêu giáo dục đến tỉ lệ đi học các cấp
Bên cạnh đó luận án hướng tới các mục tiêu cụ thể như sau:
1 Phân tích thực trạng chi tiêu cho giáo dục của hộ gia đình Việt Nam giai đoạn
từ 2004 đến năm 2016 theo các các yếu tố ảnh hưởng đã được xác định trong mô hình lý thuyết và thực trạng tỷ lệ đi học của học sinh
2 Nghiên cứu mô hình lý thuyết và đề xuất mô hình nghiên cứu thực nghiệm phân tích các chỉ tiêu về chi tiêu cho giáo dục của hộ gia đình và tỉ lệ học sinh đi học cấp tỉnh
3 Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến tổng chi tiêu cho giáo dục của hộ gia đình; các yếu tố ảnh hưởng đến chi tiêu cho giáo dục bậc GDPT và bậc GDĐH của các hộ gia đình Ngoài ra nghiên cứu còn xem xét đến sự ảnh hưởng khác nhau của các yếu tố đến chi tiêu cho giáo dục của hộ gia đình ở hai khu vực sống là thành thị và nông thôn
4 Nghiên cứu tác động của chi tiêu giáo dục đến tỉ lệ học sinh đi học cấp tỉnh
Trang 23
5 Trên cơ sở các kết quả ước lượng mô hình thực nghiệm, Luận án xem xét đề
xuất và đưa ra một số khuyến nghị
Để thực hiện được các mục tiêu nghiên cứu trên, luận án tập trung trả lời các câu
hỏi nghiên cứu như sau:
Thực trạng chi tiêu cho giáo dục của các hộ gia đình Việt Nam trong những năm
qua như thế nào?
Những nhân tố nào ảnh hưởng đến chi tiêu cho giáo dục của hộ gia đình nói chung
và chi tiêu cho giáo dục phổ thông, giáo dục đại học của các hộ gia đình và ảnh hưởng
như thế nào?
Các yếu tố ảnh hưởng đến chi tiêu giáo dục khác nhau như thế nào giữa khu vực
sống thành thị và nông thôn?
Nhân tố nào ảnh hưởng đến tỉ lệ học sinh nhập học và chi tiêu cho giáo dục có tác
động như thế nào tới tỉ lệ học sinh nhập học?
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là nghiên cứu các mô hình phân tích một số chỉ
tiêu giáo dục Việt Nam, cụ thể là các chỉ tiêu về chi tiêu cho giáo dục của Hộ gia đình và
tỉ lệ đi học các tỉnh, thành phố
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của luận án chỉ tập trung nghiên cứu hai chỉ tiêu cơ bản của
giáo dục Việt Nam, đó là: chi tiêu cho giáo dục của hộ gia đình và chỉ tiêu về tỉ lệ đi học
Trong đó sẽ làm rõ về yếu tố ảnh hưởng đến tổng chi tiêu cho giáo dục của hộ gia đình;
chi tiêu cho giáo dục bậc phổ thông của hộ gia đình và chi tiêu cho giáo dục bậc đại học
của hộ gia đình bằng các mô hình kinh tế lượng khác nhau và làm rõ tác động của chi tiêu
cho giáo dục (như học thêm, học phí ) và chi ngân sách nhà nước cho giáo dục đến tỉ lệ
học sinh nhập học các cấp của các tỉnh, thành phố
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng, sử dụng các mô hình kinh tế
lượng với dữ liệu được thu thập từ điều tra mức sống hộ gia đình và Niên giám Thống kê
của Tổng cục thống kê Việt Nam (GSO) Các kỹ thuật thống kê mô tả cũng được sử dụng
trong nghiên cứu
5 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, danh mục các tài liệu tham khảo,
luận án được kết cấu thành bốn chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận và tổng quan nghiên cứu
Chương 2: Các mô hình phân tích
Chương 3: Thực trạng chi tiêu cho giáo dục của các hộ gia đình
Chương 4: Các yếu tố ảnh hưởng tới chi tiêu cho giáo dục của Hộ gia đình và tác
động của chi tiêu giáo dục đến tỉ lệ đi học
4
6 Những đóng góp mới của luận án
Luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng, với các mô hình kinh tế lượng hiện đại, có độ tin cậy cao để giải quyết một số vấn đề khoa học có ý nghĩa quan trọng
về lý luận và thực tiễn Những điểm mới của luận án như sau:
(1) Luận án đã làm rõ cơ sở lý thuyết và tổng quan các nghiên cứu trước đây về chi tiêu giáo dục của hộ gia đình và chỉ ra được các yếu tố về đặc điểm chủ hộ, đặc điểm hộ gia đình và quy mô hộ gia đình có ảnh hưởng đến chi tiêu cho giáo dục của hộ gia đình Ngoài ra luận án đã đánh giá được tác động của chi tiêu giáo dục đến tỉ lệ đi học các cấp như thế nào? Trên cơ sở đó, luận án đã xây dựng khung lý thuyết nghiên cứu để làm căn
cứ cho các mô hình thực nghiệm của phần sau
(2) Luận án đã thực hiện kết hợp phương pháp thống kê mô tả nhằm phân tích rõ thực trạng chi tiêu cho giáo dục của hộ gia đình Việt Nam theo các phân lớp thống kê bằng số liệu điều tra mức sống hộ gia đình qua các năm từ 2004 đến 2016
(3) Luận án sử dụng đồng thời nhiều mô hình nghiên cứu định lượng hiện đại còn ít được sử dụng trong các nghiên cứu trước đây cho đề tài tương tự, đặc biệt là sử dụng dữ liệu mảng cho các mô hình này Mặt khác, nghiên cứu sử dụng mô hình phân tích số liệu mảng đa mức phù hợp với cấu trúc số liệu mảng có dạng phân lớp để phân tích ba hình thức chi tiêu cho giáo dục của hộ gia đình ở nhiều khía cạnh và nhiều cấp độ khác nhau
và phân tích tác động của chi tiêu cho giáo dục như chi cho học thêm, chi cho học phí, chi phí khác (quần áo, sách vở, các khoản đóng góp ) và chi ngân sách nhà nước cho giáo dục đến tỉ lệ đi học các cấp Nghiên cứu này sẽ là tài liệu tham khảo cho nhiều nghiên cứu tiếp sau với phương pháp tiếp cận của kinh tế lượng hiện đại như sử dụng các
mô hình số liệu mảng; mô hình số liệu mảng đa bậc, mô hình tobit với số liệu mảng, cho phép phân tích được sâu hơn
(4) Các kết quả nghiên cứu của luận án từ mô hình nghiên cứu thực nghiệm là cơ sở
để đề xuất một số khuyến nghị về chính sách liên quan đến chi tiêu cho giáo dục của khối
tư nhân, đặc biệt là của hộ gia đình
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1.1 Một số lý thuyết làm nền tảng cho nghiên cứu
1.1.1 Lý thuyết vốn con người và vai trò của giáo dục đối với phát triển vốn con người
1.1.1.1 Khái niệm vốn con người
Trong từ điển kinh tế, vốn (Capital) được định nghĩa là giá trị của tư bản hay hàng hoá đầu tư được sử dụng vào kinh doanh mang lại lợi ích Theo nghĩa này vốn là vốn hữu hình Theo Mincer Jacob và cộng sự (1974), muốn có vốn hữu hình thì con người phải đầu tư để tích luỹ thông qua giáo dục rèn luyện trong lao động và thuộc về mỗi người,
nó đem lại cho người sở hữu nó khoản thu nhập
Trang 35
1.1.1.2 Đầu tư vốn con người
a Mô hình đầu tư vốn con người của cha mẹ cho trẻ
Theo Yueh (2001) cuộc sống của mỗi cá nhân trải qua ba giai đoạn: giai đoạn đầu
tiên lợi ích mang lại cho cá nhân là sự đầu tư giáo dục của cha mẹ cho trẻ Giai đoạn thứ
hai, lúc này cá nhân đã trưởng thành có khả năng làm việc tạo thu nhập, khi đó một phần
thu nhập được phân phối trở lại cha mẹ họ Giai đoạn thứ ba, họ đã là người về hưu, thu nhập
của họ có được từ lợi nhuận của tài sản được tích lũy ở giai đoạn hai và một phần thu nhập
được phân phối lại từ con họ Như vậy, đầu tư giáo dục mang lại cho cha mẹ hai lợi ích, lợi
ích trực tiếp có được từ sự phân phối thu nhập tương lai của trẻ lúc trưởng thành, lợi ích gián
tiếp có được khi trẻ được đầu tư giáo dục tốt thì trình độ học vấn tốt nên khả năng kết hôn với
người có thu nhập cao sẽ tăng, từ đó tạo ra thu nhập tương lai tốt hơn cho gia đình
b Đầu tư vốn con người thông qua chi tiêu giáo dục
Giáo dục được xem là công cụ tích lũy vốn con người, nên các khoản đầu tư vốn con
người ban đầu cho giáo dục là các khoản chi phí trực tiếp khi học và thu nhập bị bỏ qua trong
quá trình học (Schultz, T.W., 1961; Becker, G.S., 1964) Ehrenberg và Smith (2011) cho rằng
đầu tư vốn con người đòi hỏi có sự phát sinh chi phí trong ngắn hạn và được kỳ vọng sẽ thu
lợi ích cao hơn trong tương lai, theo đó chi phí bổ sung vốn con người được chia thành ba
loại: (1) chi phí trực tiếp gồm chi phí nhập học, chi phí sách vở và chi phí khác; (2) thu nhập
bị bỏ qua; (3) tổn thất về tinh thần trong quá trình học tập
1.1.1.3 Vai trò của vốn con người
Vốn con người đóng vai trò ngày càng quan trọng trong quá trình phát triển kinh
tế: (1) đó là các kỹ năng được tạo ra bởi giáo dục và đào tạo, vốn con người là yếu tố của
quá trình sản xuất kết hợp với vốn hữu hình và các lao động “thô” (không có kỹ năng)
để tạo ra sản phẩm; (2) đó là kiến thức để tạo ra sự sáng tạo, một yếu tố cơ bản của phát
triển kinh tế.” (Mincer, 1981) Ngoài ra, người ta đã đưa vốn con người như một yếu tố
đầu vào để phân tích tăng trưởng kinh tế và đã chỉ ra ảnh hưởng tích cực của nó giống
như vốn hữu hình nhưng mức độ ngày càng lớn hơn
Tầm quan trọng về vai trò tích cực của vốn con người luôn được khẳng định nên
hầu hết các hộ gia đình đều đầu tư vào vốn con người thông qua giáo dục đào tạo cho trẻ,
bởi giáo dục được xem là hàng hóa công cộng cũng như là hàng hóa khuyến dụng mà
mọi người cần được tiêu dùng bất kể thu nhập như thế nào
1.1.1.4 Vai trò của giáo dục đối với phát triển vốn con người
Becker, G.S (1964) cho rằng giáo dục và đào tạo là khoản đầu tư quan trọng nhất
trong chiến lược phát triển vốn con người Borjas (2005) trong nghiên cứu về kinh tế lao
động khẳng định năng lực, kiến thức chuyên môn, các kỹ năng và cả những kinh nghiệm
của con người được hình thành và tích lũy thông qua quá trình đào tạo chính quy, quá
trình sống và làm việc Mức vốn con người được tích lũy nhiều hay ít tương ứng với năng
lực, lượng kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm mà mỗi người nhận được từ quá trình học
tập, đào tạo và lao động
6 Bùi Quang Bình (2009) cho rằng giáo dục đào tạo đem tới cho người ta những kiến thức kỹ năng kinh nghiệm của xã hội vốn đã được tích lũy lại và theo thời gian còn trang bị thêm, bổ sung cho người ta những kiến thức mới để đáp ứng yêu cầu cuộc sống
1.1.2 Lý thuyết hàm sản xuất hộ gia đình
Hàm sản xuất của hộ gia đình là một mô hình gia đình tập thể do Behrman, Pollack
và Taubman (1982) phát triển Theo Kutty (2008), trong mô hình hàm sản xuất hộ gia đình, hộ gia đình được xem là nơi tạo ra kết quả giáo dục, nhận thức và tình cảm xã hội cho con cái của họ bằng cách áp dụng các đầu vào cụ thể Những yếu tố đầu vào này bao gồm; trường học, tài liệu học, dạy kèm ngoài giờ, nhà ở, môi trường sống, thời gian và giám sát của phụ huynh và các kích thích nhận thức khác Mô hình cho rằng quyết định của hộ gia đình được phân tích tốt nhất bằng cách sử dụng mô hình hàm số hiệu dụng của hộ gia đình Hàm số hiệu dụng của hộ gia đình kết hợp được tối đa hóa lợi ích và các quyết định phân bổ nguồn lực được thực hiện thông qua quyết định của chủ hộ (Becker, 1995) Hộ gia đình tối đa hóa tính hữu dụng xuất phát từ giáo dục của chính mình và từ việc tiêu thụ các hàng hóa khác do các ràng buộc ngân sách
1.2 Tổng quan nghiên cứu về chi tiêu giáo dục của hộ gia đình
Các nghiên cứu trước đây dù được thực hiện ở các quốc gia khác nhau, với những đặc điểm kinh tế - xã hội có nhiều điểm khác biệt, nhưng kết luận về các yếu tố ảnh hưởng đến chi tiêu giáo dục của hộ gia đình vẫn có nhiều nét tương đồng, có thể kể đến nhóm các yếu tố như sau:
1) Đặc điểm của chủ hộ như: giới tính, tuổi, tình trạng hôn nhân, trình độ học vấn, dân tộc
2) Đặc điểm của hộ như: nơi sinh sống (thành thị, nông thôn), khu vực sống, quy
mô hộ, số thành viên đang đi học trong hộ
3) Đặc điểm kinh tế hộ như: tổng thu nhập của hộ, tổng chi tiêu của hộ trong năm
Nhóm yếu tố về đặc điểm chủ hộ gia đình
Giới tính chủ hộ: Nghiên cứu của Patrinos & Psacharopoulos (1997) cho thấy rằng
hộ gia đình có nữ làm chủ làm tăng khả năng đứa trẻ làm việc ở Peru, những người khác, như Lloyd & Gage-Brandon (1994) và Canagarajah & Coulombe (1998), nhận thấy rằng, tại tiểu vùng Sahara Châu Phi và ở Ghana, hộ gia đình có phụ nữ làm chủ cải thiện khả năng
đi học Các nghiên cứu của Aslam và Kingdon (2005), Huy Vu Quang (2012), Donkoh và Amgiuzuno (2011) cho thấy ảnh hưởng của giới tính chủ hộ đến chi tiêu giáo dục Trình độ học vấn của chủ hộ: Các nghiên cứu của Psacharopoulos & Arriagada (1989), Kingdon (2001) đều chỉ ra rằng việc học vấn của phụ huynh ảnh hưởng đến khả năng đứa trẻ sẽ đi học hay không Tuy nhiên, những người khác, chẳng hạn như Handa (1996), Rosenzweig & Wolngn (1994), Lillard & Willis (1994) và Unni (1998), cũng chỉ
ra rằng những ảnh hưởng của học vấn phụ huynh đối với trẻ là khác nhau theo giới tính Các nghiên cứu của Tilak (2002), Xiaolei Qian, và Russell Smith (2010) đều cho rằng trình độ học vấn của chủ hộ có ảnh hưởng đến chi tiêu giáo
Trang 47 Tuổi của chủ hộ: Nghiên cứu của Andreou (2012) cho thấy chủ hộ trên 30 tuổi có
mức quan tâm nhiều hơn so với chủ hộ dưới 30 tuổi Donkoh và Amgiuzuno (2011)
chứng minh chủ hộ lớn tuổi có xu hướng chi tiêu nhiều hơn chủ hộ trẻ tuổi
Nhóm yếu tố về đặc điểm hộ gia đình
Nghiên cứu của Aslam và Kingdon (2005), Andreou (2012) cho rằng những hộ gia
đình ở thành thị có mức chi tiêu cho giáo dục cao hơn các hộ gia đình ở nông thôn Các
nghiên cứu của Xiaolei Qian, và Russell Smith (2010), Andreou (2012) đã chứng minh
số thành viên đang đi học có quan hệ cùng chiều với chi tiêu giáo dục của hộ
Đặc điểm kinh tế hộ: Các nghiên cứu của Tilak (2002) và Andreou (2012) cũng đã
chứng minh thu nhập của hộ ảnh hưởng đến chi tiêu giáo dục của hộ
1.3 Tổng quan nghiên cứu về tỉ lệ đi học
Các nghiên cứu trên thế giới cho thấy điều kiện kinh tế có ảnh hưởng đến khả năng đi học
và nhu cầu giáo dục, điển hình là các nghiên cứu của Tansel (2002); MengZhao và Paul Glewwe
(2007); Mariara và Kirii (2006); Al-Samarra và Tessa (1992); Owen và Nerman (2011)
Đã có một số bằng chứng về các yếu tố tác động tới trình độ học vấn, tỷ lệ đi học và
hoàn thành bậc học ở Việt Nam Tuy nhiên, hầu hết những bằng chứng hiện có đều liên quan
tới ảnh hưởng của thu nhập đối với trình độ học vấn với những hiểu biết sâu sắc về tác động
của các yếu tố mang tính dài hạn Ví dụ, thu nhập được phát hiện là có mối quan hệ tương
quan với tuổi bắt đầu đi học, số năm trẻ đi học, trình độ học vấn và điểm kiểm tra
Cho tới nay, phân tích hoàn chỉnh nhất về những yếu tố tác động tới sự phát triển của
trường học là nghiên cứu của Glewwe năm 2004 Ông chỉ ra rằng những yếu tố tác động
quan trọng nhất đối với tỷ lệ hoàn thành bậc tiểu học là độ tuổi của trẻ (tỷ lệ nghịch),
trình độ học vấn của cha mẹ học sinh (tỷ lệ thuận), nhóm dân tộc (tỷ lệ nghịch), bằng cấp
của giáo viên (tỷ lệ thuận)
CHƯƠNG 2
MÔ HÌNH PHÂN TÍCH 2.1 Mô hình Toán học
Giả sử trong mỗi hộ gia đình, có tồn tại một ‘người ra quyết định’, quyết định bao
nhiêu để chi tiêu và về những gì đang được thực hiện về cơ bản của hộ Người ra quyết
định của hộ gia đình h có một hàm lợi ích:
Trong đó: x ih (i= 1, …, I): hàng hóa và dịch vụ, bao gồm các loại hàng hóa như giáo
dục, y tế, tiêu thụ hàng hóa dịch vụ của hộ gia đình h; ĥ jh (j=1, …,J): hoạt động giáo dục
được thực hiện bởi số thành viên j của hộ gia đình h trong thời gian xem xét Theo
Rodriguez-Gutierrez (1992), học sinh có thể được coi như một đại lý sản xuất, người biến
đổi chi phí này thành trình độ chuyên môn, thông qua hàm sản xuất giáo dục sau đây:
ĥ jh = A h k
jh 0 < k <1 Mục đích của người ra quyết định là tối đa hóa lợi ích hộ gia đình trong đó:
(i) ràng buộc về chi tiêu đó cho hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng, bao gồm giáo dục,
không vượt quá thu nhập của gia đình; và
) , ˆ , (ih jh h
U
8 (ii) ràng buộc áp đặt bởi các hàm sản xuất giáo dục của cá nhân học sinh
Cầu về giáo dục được thể hiện trong bài toán tối đa hóa sau đây:
max U h (x ih ; ĥ jh ; E h)
một thước đo của thu nhập mà hộ gia đình nhận cho các hoạt động liên quan đến thị
trường lao động Thời gian chi tiêu của một hộ gia đình trên thù lao hoạt động L tỷ lệ
nghịch với thời gian hộ gia đình dành cho giáo dục của các thành viên của nó
2.2 Mô hình kinh tế lượng
Hàm cầu Marshall cho giáo dục:
2.2.1 Mô hình Tobit
2.2.1.1 Lý thuyết mô hình Tobit 2.2.1.2 Kỳ vọng có điều kiện E Y Y( | >0,X)
2.2.1.3 Ảnh hưởng của biến độc lập đối với E Y X( | )
2.2.2 Mô hình hồi quy số liệu mảng và số liệu mảng đa mức
2.2.2.1 Số liệu mảng và số liệu mảng đa mức 2.2.2.2 Mô hình hồi quy số liệu mảng đa mức Nhận xét: Một số ưu điểm của mô hình hồi quy số liệu mảng đa mức:
- Xem xét được cả tác động cố định và tác động ngẫu nhiên (mô hình hỗn hợp);
- Xem xét được các khác biệt theo nhóm; giảm thiểu được hiện tượng phương sai không đồng đều;
- Xem xét được các ảnh hưởng bên trong các nhóm và ảnh hưởng giữa các nhóm
- Không yêu cầu dữ liệu mảng cân bằng cả về không gian và thời gian;
- Chấp nhận trường hợp bị thiếu các quan sát Do vậy, chúng ta có thể linh hoạt trong sự lựa chọn các biến giải thích
2.2.2.3 Mô hình số liệu mảng
Mô hình tác động cố định
Mô hình hồi quy tác động cố định là một dạng mở rộng của mô hình hồi quy tuyến tính cổ điển được cho bởi:
1 1 2 2
it it it it it
Y = βX + β X +v + ε
Phương pháp ước lượng:
Có hai phương pháp ước lượng
i) Ước lượng hồi quy biến giả LSDV với mỗi biến giả là đại diện cho mỗi đối tượng quan sát của mẫu
ii) Ước lượng tác động cố định (Fixed effects estimator)
k jh jh
M
j jh M
j jh jh J
j jh i i ih
h A h
z L w h p x
ˆ
1 1 1
=
+
=
∑
=
=
=
∑
=
M
j jh
z
=
M
j jh
jh L w
1
( , , )
Trang 59
Mô hình tác động ngẫu nhiên
Mô hình tác động ngẫu nhiên được viết dưới dạng
1 1 2 2
it it it i it
Y = βX + β X +v + ε (2.35) với i=1 Nvà t= 1, 2, T
Phương pháp ước lượng: Để kết quả ước lượng không chệch và hiệu quả, chúng ta có thể
sử dụng ước lượng GLS khả thi (FGLS) để khắc phục hiện tượng sai số nhiễu tự tương quan
2.3 Khung phân tích của luận án
2.3.1 Khung phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến chi tiêu giáo dục
Từ tổng quan nghiên cứu cho thấy sự ảnh hưởng của các biến độc lập đến biến phụ
thuộc theo khung phân tích như sau:
Hình 2.1 Khung phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến chi tiêu giáo dục
2.3.2 Khung lý thuyết phân tích tác động đến tỉ lệ đi học
Hình 2.2 Khung lý thuyết phân tích tác động đến tỉ lệ đi học
Đặc điểm chủ hộ:
Dân tộc
Nghề nghiệp
Giới tính
Tuổi
Tình trạng hôn nhân
Trình độ học vấn
Đặc điểm kinh tế hộ:
Thu nhập của hộ
Đặc điểm hộ:
Quy mô hộ
Nơi sinh sống của hộ
Số thành viên đang đi học
theo loại trường học
Chi tiêu giáo dục của hộ:
Chi tiêu cho giáo dục của hộ gia đình Chi tiêu giáo dục bậc GDPT Chi tiêu giáo dục bậc GDĐH
Yếu tố kinh tế: GDP cấp tỉnh;
Thu nhập bình quân đầu người
Yếu tố về trường học
Số trường tiểu học
Số trường THCS
Số trường THPT
Số lớp tiểu học
Số lớp THCS
Số lớp THPT
Yếu tố về giáo việ
Số giáo viên tiểu học
Số giáo viên THCS
Số giáo viên THPT
Tỉ lệ đi học của trẻ
Chi tiêu giáo dục:
Chi tiêu công cho giáo dục Chi tiêu của hộ gia đình
Số dân trong tỉnh
10
2.4 Mô hình phân tích thực nghiệm
2.4.1 Mô hình phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến chi tiêu cho giáo dục của hộ gia đình Việt Nam
Do đặc điểm của số liệu điều tra không thể nối số liệu năm 2016 với mảng số liệu
2010 – 2014 nên nghiên cứu đã chia thành 2 mẫu khác nhau, với mẫu 1 là số liệu mảng
từ 2010 đến 2014 và mẫu 2 là số liệu chéo của năm 2016 Tương ứng như vậy, đối với mục tiêu phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến chi tiêu cho giáo dục của hộ gia đình nói chung, luận án sử dụng hai mô hình cho hai mẫu nghiên cứu
Mô hình 1: Mô hình số liệu mảng phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến chi tiêu cho
giáo dục của hộ gia đình Việt Nam từ năm 2010 đến 2014
0
p
Trong đó Y là biến phụ thuộc được tính bằng loga nêpe của tổng chi tiêu cho
giáo dục của hộ gia đình
p
X với là các biến độc lập
p
β với là hệ số của các biến độc lập
Mô hình 2: Mô hình Tobit phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến chi tiêu cho giáo
dục của hộ gia đình Việt Nam năm 2016
Vì các quan sát chi tiêu của hộ gia đình cho giáo dục cho thấy có tồn tại những hộ gia đình không có chi tiêu do đó mô hình Tobit với mẫu được kiểm duyệt sau đây được
sử dụng:
*
0 (**)
p i
Y
=
∑
Trong đó: trường hợp (*) nếu Y i*>0 và trường hợp (**) nếu Y i*≤0
Y là biến phụ thuộc được tính bằng loga tự nhiên của tổng chi tiêu cho giáo dục của hộ gia đình
X p là các biến độc lập
βp là hệ số của các biến độc lập
2.4.2 Mô hình đa mức phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến chi tiêu cho giáo dục Phổ thông của hộ gia đình
Nhìn chung, ở các hộ gia đình Việt Nam, ngoại trừ những hộ gia đình không có con nhỏ trong độ tuổi đi học phổ thông còn lại tất cả các hộ đều có chi tiêu giáo dục
cho bậc học này Với lý do trên kết hợp với đặc điểm số liệu được sử dụng trong nghiên
cứu này, chúng tôi lựa chọn mô hình số liệu mảng đa mức để thực hiện Mô hình này cho phép xử lý tốt hơn các vấn đề về tương quan trong các nhóm mà đặc điểm số liệu mang đến Mô hình cụ thể trong nghiên cứu này được xác định như sau:
Trang 6
0
p
∑
Trong đó:
- Y ijkl là biến phụ thuộc ở cấp thứ nhất (cấp hộ gia đình) được tính bằng loga tự nhiên
của chi tiêu cho giáo dục bậc phổ thông của hộ gia đình thứ i (i = 1, 2 nj), trong xã thứ j (j
= 1, 2, m k ) thuộc huyện thứ k (k = 1, 2, , r l ) trong tỉnh thứ l (l = 1, 2, …, 63)
- β0ijkl là hệ số chặn (cho hộ thứ i của xã thứ j thuộc huyện thứ k trong tỉnh thứ l)
- β0ijkl là độ dốc
- Sai số εijkl là yếu tố ngẫu nhiên có kỳ vọng trung bình bằng 0 và có phương sai
sai số không đổi
- γ0l là yếu tố ngẫu nhiên ở cấp tỉnh, giả sử có trung bình bằng 0, phương sai sai
số không đổi và độc lập với εijkl Tương tự f 0kl là yếu tố ngẫu nhiên của cấp huyện cũng
có trung bình bằng 0, phương sai sai số không đổi và độc lập với εijkl v 0 jkl là yếu tố ngẫu
nhiên của cấp xã cũng có trung bình bằng 0, phương sai sai số không đổi và độc lập với
ijkl
không đổi và độc lập với εijkl
huyện thứ k của tỉnh thứ l
2.4.3 Mô hình Tobit số liệu mảng phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến chi tiêu
giáo dục đại học của hộ gia đình
Để ước lượng chi tiêu cho giáo dục cao đẳng, đại học của các hộ gia đình Việt
Nam giai đoạn 2010 đến 2014, nghiên cứu sử dụng mô hình Tobit số liệu mảng với
mẫu kiểm duyệt (các hộ gia đình không có chi tiêu cho giáo dục được kiểm duyệt)
Mô hình cụ thể trong nghiên cứu này được xác định như sau:
*
0 (**)
p it
Y
=
∑
Trong đó: trường hợp (*) nếu Y it* > 0 và trường hợp (**) nếu Y it* ≤ 0
Y là biến phụ thuộc được tính bằng loga nêpe của tổng chi tiêu cho giáo
dục của hộ gia đình
X p với là các biến độc lập
β với là hệ số của các biến độc lập p
2.4.4 Mô hình phân tích tác động của chi tiêu giáo dục đến tỉ lệ nhập học
0
p
12
Trong đó Y là biến phụ thuộc được tính bằng loga nêpe của tổng số học sinh đi
học trong tỉnh
p
X với là các biến độc lập
p
β với là hệ số của các biến độc lập
CHƯƠNG 3
THỰC TRẠNG CHI TIÊU CHO GIÁO DỤC CỦA CÁC HỘ GIA ĐÌNH
VIỆT NAM THỜI KỲ 2010 – 2016 3.1 Một vài nét khái quát về giáo dục Việt Nam hiện nay
Hệ thống giáo dục Việt Nam được chia thành 3 loại hình: giáo dục chính quy, giáo dục nghề nghiệp và giáo dục thường xuyên; với 3 bậc giáo dục: giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông và giáo dục đại học
3.2 Tình hình chi tiêu công cho giáo dục
Lĩnh vực, giáo dục, đào tạo được ưu tiên đầu tư nguồn lực lớn từ ngân sách nhà nước (NSNN) Tỷ lệ chi ngân sách cho giáo dục hàng năm của Việt Nam ở mức xấp xỉ 20%, tương đương 5% GDP Đây là mức rất cao so với nhiều nước trên thế giới, kể cả các nước có trình độ phát triển kinh tế cao hơn Việt Nam rất nhiều
3.3 Tỉ lệ số hộ có trẻ em đang đi học và tình hình chi tiêu của các hộ gia đình
3.3.1 Tỉ lệ số hộ gia đình có trẻ em đang đi học
Năm 2004, tỉ lệ số hộ có ít nhất một thành viên đang đi học là 68.24% Tuy nhiên, kết quả khảo sát năm 2016, tỉ lệ số hộ có trẻ em đang đi học là 52.04%, ít hơn 16.2% so
với kết quả khảo sát năm 2004
3.3.2 Tình hình chi tiêu của các hộ
Chi tiêu bình quân của các hộ gia đình Việt Nam tăng dần qua các năm từ 2004 đến 2016 ở tất cả các nhóm chi tiêu Chi tiêu bình quân của các hộ tăng từ 19821.72 nghìn (năm 2004) lên 95178.15 nghìn đồng (năm 2016)
Những hộ gia đình có ít nhất một trẻ em đang đi học tại bất kỳ bậc học nào có xu hướng chi tiêu nhiều hơn so với những hộ gia đình hiện nay không có trẻ em đang đi học
3.4 Chi tiêu giáo dục cho trẻ em của hộ gia đình
3.4.1 Chi tiêu giáo dục của hộ gia đình theo một số đặc trưng kinh tế - xã hội
3.4.1.1 Theo giới tính chủ hộ và thành thị/nông thôn
Chi tiêu bình quân cho giáo dục của hộ gia đình năm 2016 là 4742.38 nghìn đồng
So với năm 2004, mức chi của hộ gia đình đã tăng lên đáng kể (tăng 4.22 lần, từ 1121,63 nghìn đồng lên 4742.38 nghìn), nhìn chung qua các năm từ 2004 đến 2016, ta thấy các
hộ gia đình đều có xu hướng chi tiêu dành cho giáo dục ngày càng cao
Từ năm 2004 đến năm 2016, các hộ gia đình ở thành thị có mức chi tiêu cho giáo dục cao hơn rất nhiều so với các hộ gia đình ở nông thôn
3.4.1.2 Theo nhóm tuổi chủ hộ
Trang 713 Những gia đình có tuổi chủ hộ nhỏ hơn 26 thường chi tiêu giáo dục ít hơn so với
các hộ gia đình có tuổi chủ hộ lớn hơn Chủ hộ nằm trong nhóm tuổi từ 40 đến 54 tuổi
chi tiêu nhiều hơn cả so với các nhóm còn lại Mối quan hệ giữa nhóm tuổi chủ hộ với
chi tiêu giáo dục của hộ gia đình là mối quan hệ phi tuyến
3.4.1.3 Theo dân tộc của chủ hộ
Các hộ gia đình có chủ hộ là dân tộc Kinh chi tiêu cho giáo dục nhiều hơn so với
các dân tộc khác, trong khi chủ hộ là dân tộc Hoa cũng có mức chi tiêu cao, nhưng thấp
hơn so với chủ hộ là dân tộc Kinh (năm 2006 và 2016 chi tiêu cho giáo dục của các hộ
gia đình người Hoa lại cao hơn các dân tộc còn lại) Các hộ gia đình có chủ hộ là các dân
tộc thiểu số khác có mức chi tiêu giáo dục khá thấp
3.4.1.4 Theo bằng cấp chủ hộ
Chủ hộ không có bằng cấp dành khoản chi tiêu cho giáo dục rất thấp so với chủ hộ
có bằng tốt nghiệp từ cao đẳng trở lên và khoảng cách này được nới rộng qua các năm
3.4.1.5 Theo thu nhập của hộ
Qua các năm từ 2004 đến 2016 ta thấy ở tất cả các nhóm thu nhập, mức chi cho
giáo dục của các hộ gia đình đều có xu hướng tăng lên rõ rệt (chỉ duy nhất ở nhóm thu
nhập cao nhất, năm 2012 các hộ này có mức chi cho giáo dục cao hơn năm 2014 và thấp
hơn so với năm 2016) Ở các nhóm thu nhập cao hơn thường dành khoản chi lớn hơn cho
giáo dục của con cái
3.4.1.6 Theo khu vực vùng miền
Trung du và Miền núi phía Bắc là khu vực là khu vực có mức chi giáo dục thấp
nhất cả nước, tiếp theo đến là khu vực Đồng bằng song Cửu Long Từ năm 2004 đến
2008, Tây Nguyên có mức chi cho giáo dục cao hơn cả khu vực Đồng bằng sông Hồng,
nhưng từ năm 2010 đến 2016, con số này đã ngược lại
Nhìn chung từ các năm 2004 đến 2016, ở tất cả các vùng miền đều có mức đầu tư
cho giáo dục tăng dần, tăng mạnh mẽ nhất là khu vực Đồng bằng sông Hồng (từ 1188.219
nghìn đồng lên 5447.582 nghìn đồng)
3.4.2 Chi tiêu giáo dục của hộ gia đình theo bậc học
Trước năm 2008, các hộ gia đình dành khoản chi cho bậc GDPT nhiều hơn so với
chi cho bậc GDĐH (thậm chí năm 2004 và 2006 còn cao hơn rất nhiều), nhưng đến 2010,
chi cho GDĐH có dấu hiệu tăng dần và các hộ gia đình dành khoản chi cho GDĐH nhiều
hơn là GDPT
3.4.3 Chi tiêu cho giáo dục của hộ gia đình theo khoản chi
Trong các khoản chi tiêu cho giáo dục, chi học phí chiếm tỉ lệ cao nhất, con số này
tăng vọt từ năm 2010 so với các năm trước Ngoài ra kết quả cho thấy, các hộ gia đình
dành một khoản không nhỏ trong cơ cấu chi tiêu giáo dục cho việc học thêm của học
sinh, năm 2016 tỉ lệ chi cho học thêm chiếm 18,11% trong cơ cấu chi tiêu giáo dục của
hộ gia đình
14
CHƯƠNG 4
CÁC MÔ HÌNH PHÂN TÍCH YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHI TIÊU
GIÁO DỤC CỦA HỘ GIA ĐÌNH VIỆT NAM 4.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến chi tiêu cho giáo dục của hộ gia đình việt nam
4.1.1 Số liệu nghiên cứu
Nguồn số liệu trong chương này được trích xuất từ kết quả số liệu cuộc Điều tra mức sống Hộ gia đình Việt Nam (Vietnam Households Living Standard Survey - VHLSS) các năm 2010, 2012, 2014 và 2016 được thực hiện bởi Tổng cục thống kê Việt Nam (GSO) Các dữ liệu xuất ra tương ứng với các nhân tố có khả năng ảnh hưởng đến chi tiêu cho giáo dục của hộ gia đình cho giáo dục đã được trình bày trong chương 1 Do tính chất của bộ
số liệu không ghép dữ liệu các năm từ 2010 đến 2016 thành dữ liệu mảng được nên nghiên cứu thực hiện ghép số liệu các năm 2010, 2012 và 2014 thành số liệu mảng để phân tích, đối với năm 2016 nghiên cứu thực hiện phân tích riêng
4.1.2 Thang đo các biến số
Tất cả các biến trong mô hình nghiên cứu được định nghĩa như sau:
Biến phụ thuộc:
(Y) TONGCHIGIAODUC: là tổng chi tiêu cho giáo dục trong 12 tháng của hộ Đơn
vị tính: nghìn đồng
(Y1) CHIPHOTHONG: Chi tiêu giáo dục cho trẻ bậc GDPT Đơn vị tính: nghìn đồng
(Y2) CHIDAIHOC: Chi tiêu giáo dục cho trẻ bậc GD ĐH Đơn vị tính: nghìn đồng Các biến độc lập:
X1: GIOITINH_CH : Giới tính chủ hộ, biến giả nhận giá trị bằng 1 nếu chủ hộ là nam, nhận giá trị bằng 0 nếu chủ hộ là nữ
X2: BANGCAP_CH2: nhận giá trị bằng 1 nếu chủ hộ không có bằng cấp, nhận giá trị bằng 2 nếu chủ hộ đã tốt nghiệp Tiểu học, nhận giá trị bằng 3 nếu chủ hộ đã tốt nghiệp THCS, nhận giá trị bằng 4 nếu chủ hộ đã tốt nghiệp THPT, nhận giá trị bằng 5 nếu chủ hộ đã tốt nghiệp CĐ, ĐH trở lên
X3: TUOI_CH: Tuổi của chủ hộ, biến liên tục: đơn vị: năm
X4: TUOI_CH^2: Bình phương tuổi chủ hộ, biến liên tục
X5: HONNHAN_CH1: Chủ hộ chưa có vợ/chồng, biến giả nhận giá trị = 1 nếu chưa có vợ/chồng, = 0 trong trường hợp khác
X6: HONNHAN_CH3: Chủ hộ góa vợ/chồng, biến giả nhận giá trị = 1 nếu là góa vợ/chồng, = 0 trong trường hợp khác
X7: HONNHAN_CH4: Chủ hộ đã ly hôn, biến giả nhận giá trị = 1 nếu chủ hộ đã ly hôn,
= 0 trong trường hợp khác
X8: HONNHAN_CH5: Chủ hộ sống ly thân, biến giả nhận giá trị = 1 nếu đang sống ly thân, = 0 trong trường hợp khác
X9: DANTOC_CH: Dân tộc của chủ hộ, biến giả Nhận giá trị = 1 nếu chủ hộ là dân tộc kinh, = 0 trong trường hợp khác
Trang 8nếu là làm công ăn lương, bằng 0 trong trường hợp khác
nhận giá trị bằng 1 nếu làm trong lĩnh vực nông, lâm thủy sản, bằng 0 trong trường hợp khác
nhận giá trị bằng 1 nếu làm trong lĩnh vực kinh doanh dịch vụ, bằng 0 trong trường hợp khác
X13: TONGCHITIEU: Tổng chi tiêu trong 1 năm của hộ, Biến liên tục Đơn vị: nghìn đồng
X14: QUYMOHO: Tổng số thành viên trong hộ gia đình Biến liên tục Đơn vị: người
X15: NOISONG: Khu vực sống của hộ, Biến giả nhận giá trị = 1 nếu sống ở thành thị,
giá trị = 0 nếu sống ở nông thôn
X16: TROCAP1: Hộ có thành viên được trợ cấp giáo dục, Biến giả nhận giá trị = 1 nếu
hộ có ít nhất 01 thành viên được hưởng trợ cấp, bằng 0 trong trường hợp khác
của hộ Biến liên tục Đơn vị: người
hộ Biến liên tục Đơn vị: người
hộ Biến liên tục Đơn vị: người
X20: VUNG2: Trung du và miền núi phía bắc, biến giả bhận giá trị = 1 nếu hộ đang sống
ở khu vực Trung du và miền núi phía bắc, bằng 0 trong trường hợp khác
X21: VUNG3: Bắc trung bộ và duyên hải miền trung, biến giả nhận giá trị = 1 nếu hộ
đang sống ở khu vực Bắc trung bộ và duyên hải miền trung, bằng 0 trong trường hợp khác
X22: VUNG4: Tây nguyên, biến giả nhận giá trị = 1 nếu hộ đang sống ở khu vực Tây
nguyên, bằng 0 trong trường hợp khác
X23: VUNG5: Đông Nam bộ, biến giả nhận giá trị = 1 nếu hộ đang sống ở khu vực Đông
Nam bộ, bằng 0 trong trường hợp khác
X24: VUNG6: Đồng bằng sông cửu long, biến giả nhận giá trị = 1 nếu hộ đang sống ở
khu vực Đồng bằng sông cửu long, bằng 0 trong trường hợp khác
X25: NHOMTHUNHAP: Nhận giá trị = 1 nếu hộ nằm trong nhóm thu nhập thứ 1, Nhận
giá trị = 2 nếu hộ nằm trong nhóm thu nhập thứ 2, Nhận giá trị = 3 nếu hộ nằm trong nhóm thu
nhập thứ 3, Nhận giá trị = 4 nếu hộ nằm trong nhóm thu nhập thứ 4, Nhận giá trị = 5 nếu hộ
nằm trong nhóm thu nhập thứ 5
4.1.2 Thống kê mô tả các biến trong mẫu nghiên cứu
4.1.2.1 Biến phụ thuộc
4.1.2.2 Các biến độc lập
a Giới tính chủ hộ
b Trình độ học vấn của chủ hộ
c Tuổi chủ hộ
d Tình trạng hôn nhân của chủ hộ
e Dân tộc của chủ hộ
f Nghề nghiệp chủ hộ
16
g Tổng chi tiêu của hộ gia đình trong 12 tháng
h Quy mô hộ gia đình
i Nơi sinh sống thành thị/nông thôn
j Trợ cấp giáo dục
k Tổng số thành viên đang đi học theo loại trường học
l Khu vực sinh sống
4.1.3 Mô hình phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến chi tiêu giáo dục của hộ gia đình Việt Nam
Đầu tiên, nghiên cứu tiến hành ước lượng mô hình với mẫu nghiên cứu thứ nhất (dữ liệu mảng qua các năm 2010 đến 2014) Trước khi ước lượng kết quả mô hình, nghiên cứu tiến hành các kiểm định cần thiết như: Kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến, kiểm định hiện tượng tự tương quan, kiểm định hiện tượng phương sai sai số thay đổi Để khắc phục các khuyết tật trong mô hình nghiên cứu nói trên, nghiên cứu sử dụng phương pháp hồi quy bình phương tối thiểu tổng quát có trọng số để ước lượng Đối với mẫu số liệu năm 2016, nghiên cứu sử dụng mô hình Tobit để ước lượng
Giới tính chủ hộ có ảnh hưởng đến chi tiêu của hộ gia đình, kết quả cho thấy chủ
hộ là nam giới lại có xu hướng chi tiêu ít hơn so với chủ hộ là nữ giới
Bằng cấp cao nhất của chủ hộ là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến chi tiêu giáo dục của hộ gia đình, chủ hộ có bằng cấp cao hơn sẽ quyết định dành khoản chi tiêu cho giáo dục nhiều hơn và bản thân chủ hộ cũng mong muốn mọi thành viên trong gia đình đều đạt được những thành tựu tốt trong học tập,ngược lại khi chủ hộ
có bằng cấp thấp hoặc không có bằng cấp thường xem nhẹ vấn đề học tập và đầu tư cho học tập của thành viên trong gia đình mà bản thân họ lại quan tâm và dành thời gian, tiền bạc cho các chi tiêu khác
Dấu hệ số của biến tuổi chủ hộ mang dấu dương, điều này cho thấy khi tuổi của chủ hộ gia tăng, hộ gia đình có xu hướng chi tiêu cho giáo dục nhiều hơn, tuy nhiên dấu
hệ số của biến tuổi bình phương chủ hộ mang dấu âm, điều đó giải thích rằng, khi tuổi chủ hộ tăng đến một độ tuổi nhất định khi đó xu hướng chi tiêu cho giáo dục của hộ lại giảm dần
Tình trạng hôn nhân của chủ hộ có ý nghĩa thống kê ở mô hình 1 Kết quả ước lượng hồi quy số liệu mảng cho thấy (ở đây chủ hộ có vợ/chồng đang sinh sống cùng nhau làm nhóm tham chiếu) trong điều kiện các yếu tố khác không đổi, chủ hộ chưa lập gia đình có xu hướng chi tiêu cho giáo dục ít hơn cả và chi tiêu ít hơn 21.9% so với chủ
hộ có vợ/chồng đang sinh sống cùng nhau, chủ hộ đang ở góa chi ít hơn 6.0% Chủ hộ
đã ly hôn chi ít hơn 12.3% Không có bằng chứng cho rằng chủ hộ đang trong tình trạng
ly thân chi tiêu cho giáo dục nhiều hơn hay ít hơn so với chủ hộ có vợ/chồng đang sinh sống cùng nhau
Dân tộc chủ hộ có ảnh hưởng tới đến chi tiêu giáo dục của hộ gia đình Khi lấy chủ hộ là người dân tộc thiểu số làm tham chiếu, kết quả cho thấy chủ hộ là người dân
Trang 917 tộc Kinh chi tiêu cho giáo dục nhiều hơn so với chủ hộ là người dân tộc trong điều kiện
các yếu tố khác không đổi
Nhóm các biến về đặc điểm hộ gia đình cũng có ảnh hưởng đến chi tiêu giáo dục
của hộ Nơi sinh sống của hộ là thành thị hay nông thôn có ảnh hưởng đến chi tiêu giáo
dục Kết quả này cũng hoàn toàn phù hợp với thực tiễn khi mà ở thành thị các dịch vụ về
giáo dục đa dạng hơn, có nhiều khoản chi không bắt buộc hơn và đặc biệt có nhiều hệ
thống trường tư thục và trường dân lập hơn, các trường này thường có khoản thu khá cao
so với các trường công lập
Những hộ gia đình mà có thành viên đang đi học được hưởng các khoản từ các tổ
chức trợ giúp cho giáo dục có xu hướng chi tiêu cho giáo dục ít hơn so với các hộ gia
đình không được hưởng các khoản trợ cấp giáo dục Kết quả cho thấy công tác xã hội
hóa giáo dục là vấn đề hết sức quan trọng góp phần phát triển giáo dục hiện nay
Số lượng thành viên đang đi học trong hộ ở các loại trường học khác nhau có ảnh
hưởng dương đến chi tiêu giáo dục của hộ gia đình Kết quả cho thấy cứ tăng một trẻ đi
học ở trường dân lập và tư thục thì gia đình đó tăng mức chi cho giáo dục cao hơn nhiều
so với tăng thêm một thành viên học ở các trường công lập
Kết quả hồi quy cho thấy các hộ gia đình sống ở khu vực đồng bằng Sông Hồng
có mức chi tiêu cho giáo dục cao hơn so với các hộ gia đình sinh sống ở các khu vực
khác ở cả hai mô hình
Thu nhập của hộ gia đình có ảnh hưởng đến chi tiêu cho giáo dục của hộ Những
hộ gia đình nằm ở nhóm thu nhập càng cao thì càng chi tiêu cho giáo dục nhiều hơn so
với các hộ gia đình ở nhóm thu nhập thấp nhất đối với cả hai Mô hình
Tiếp theo để xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến chi tiêu giáo dục của hộ gia đình
ở thành thị và nông thôn, nghiên cứu tiến hành ước lượng hai mô hình như trên với từng
mẫu được ra thành hai khu vực nghiên cứu là thành thị và nông thôn Kết quả cho thấy,
biến giới tính chủ hộ chỉ có ý nghĩa thống kê ở khu vực thành thị đối với cả hai mô hình
và chủ hộ là nam giới vẫn có kết quả chi tiêu cho giáo dục ít hơn so với chủ hộ là nữ giới,
kết quả này cũng tương đồng đối với toàn quốc
Bằng cấp của chủ hộ có ý nghĩa thống kê ở cả hai mô hình Kết quả hồi quy cho
thấy ở khu vực thành thị khi chủ hộ có bằng cấp càng cao thì có xu hướng chi tiêu cho
giáo dục nhiều hơn so với ở khu vực nông thôn
Biến tuổi chủ hộ cũng cho kết quả tương tự Có sự khác biệt giữa khu vực thành
thị và nông thôn đối với những chủ hộ đang sống ly thân đối với Mô hình 2, ở thành thị,
chủ hộ sống ly thân lại chi tiêu cho giáo dục nhiều hơn so với chủ hộ chưa có vợ/chồng,
nhưng ở khu vực nông thôn thì kết quả lại hoàn toàn ngược lại, chủ hộ sống ly thân chi
tiêu giáo dục ít hơn so với chủ hộ chưa có vợ/chồng
Biến dân tộc chủ hộ không có ý nghĩa thống kê đối với khu vực thành thị ở Mô
hình 1, nhưng lại có tác động đến chi tiêu giáo dục đối với khu vực nông thôn Có thể
thấy, ở khu vực thành thị thì các hộ gia đình có chủ hộ là người kinh hay người dân tộc
18 khác cũng không ảnh hưởng đến việc gia đình đó đầu tư vào giáo dục cho các thành viên trong gia đình như thế nào
Ở khu vực thành thị, chính sách trợ cấp xã hội cho giáo dục không có ý nghĩa thống
kê đối với cả hai mô hình, trong khi đó ở nông thôn, chính sách trợ cấp cho giáo dục có ảnh hưởng đến chi tiêu cho giáo dục của hộ, những hộ gia đình có ít nhất một thành viên được hưởng các chính sách trợ cấp về giáo dục thường chi tiêu ít hơn so với các hộ không
có thành viên nào được hưởng các chính sách trợ cấp về giáo dục
Các hộ gia đình ở thành thị hay nông thôn có thêm một thành viên đi học kể cả ở trường công lập hay trường dân lập, tư thục đi học đều chi tiêu tăng thêm mức chi tiêu cho giáo dục, kết quả này đúng cho cả hai mô hình và tương đồng với kết quả nghiên cứu trên mẫu đầy đủ
Khu vực sinh sống của hộ gia đình theo 6 vùng kinh tế - xã hội ở cả khu vực thành thị và nông thôn đối với cả hai mô hình đều cho thấy khu vực đồng bằng sông Hồng có mức chi tiêu cho giáo dục của hộ gia đình cao hơn so với các khu vực còn lại
4.3.2 Mô hình đa mức phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến chi tiêu cho giáo dục Phổ thông của hộ gia đình
Kết quả nghiên cứu như sau:
Đầu tiên ta ước lượng mô hình hồi quy tuyến tính theo số liệu mảng:
0
p
Y =β +∑β X +ε
với các biến độc lập tương ứng
Do đặc điểm số liệu có cấu trúc phân tổ (lồng nhau) theo xã, huyện, tỉnh và khả năng có những khác biệt theo nhóm, do đó chúng ta xem xét một phương pháp ước lượng hiệu quả hơn cho các số liệu dạng này, đó là phương pháp hợp lý cực đại với tác động hỗn hợp, áp dụng cho mô hình hồi quy đa mức
Kết quả hồi quy cho thấy các biến về giới tính chủ hộ, tình trạng hôn nhân chủ hộ, nghề nghiệp chủ hộ và biến trợ cấp cho giáo dục không có ý nghĩa thống kê, các biến độc lập còn lại có ý nghĩa thống kê cao và có dấu của hệ số phù hợp với kỳ vọng ban đầu
Đối với các biến số thuộc về đặc điểm chủ hộ ta thấy, hệ số của biến dân tộc chủ hộ mang dấu dương, điều này cho thấy chủ hộ là dân tộc kinh có xu hướng chi tiêu cho giáo dục con em của họ nhiều hơn so với chủ hộ là người dân tộc khác (ở đây chủ hộ là dân tộc khác là tham chiếu trong mô hình hồi quy)
Khi xét đến số lượng thành viên đang đi học trong hộ gia đình theo các loại hình trường học, chúng ta thấy, khi tăng một thành viên học ở trường công lập trong hộ gia đình thì chi tiêu giáo dục của hộ tăng lên 45,6%, khi tăng một thành viên đi học ở trường dân lập, chi tiêu tăng 76,03%, khi tăng thêm một thành viên đi học ở trường tư thục, chi tiêu cho giáo dục phổ thông của hộ đó tăng 65,4%
Thu nhập của hộ gia đình trong mẫu nghiên cứu được chia thành 5 nhóm thu nhập theo ngũ phân vị (bao gồm 20% hộ có thu nhập thấp nhất, 20% hộ có thu nhập trung bình
Trang 1019 thấp, 20% hộ có thu nhập trung bình, 20% hộ có thu nhập trung bình cao và 20% hộ có
thu nhập cao nhất), kết quả hồi quy cho thấy các hộ có thu nhập càng cao thì càng chi
nhiều hơn cho trẻ em về giáo dục và con số này là 19.04%
Kết quả cũng cho thấy các hộ gia đình ở khu vực đồng bằng sông Hồng có mức
chi tiêu cho giáo dục phổ thông cao hơn các khu vực còn lại
Kết quả tính toán hệ số tương quan theo nhóm cho thấy, tương quan bên trong các
xã trong cùng một huyện và bên trong các huyện trong cùng một tỉnh thể hiện khá mạnh,
điều này thể hiện mức chi tiêu giáo dục giữa các hộ gia đình bên trong tỉnh có sự khác
nhau một cách có ý nghĩa, do đó, mô hình số liệu mảng đa mức được sử dụng tốt hơn sẽ
tốt hơn so với mô hình hồi quy thông thường
4.3.3 Mô hình Tobit phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến chi tiêu giáo dục đại
học của hộ gia đình
Theo kết quả ước lượng các yếu tố ảnh hưởng đến chi tiêu giáo dục bậc cao đẳng, đại
học của hộ gia đình và tác động biên của các biến độc lập lên biến phụ thuộc kết quả cho thấy
các biến về chủ hộ chưa có vợ/chồng, chủ hộ góa, nghề nghiệp chủ hộ và quy mô hộ
không có ý nghĩa thống kê Chủ hộ có bằng cấp càng cao thì chi tiêu cho giáo dục càng cao
Giới tính chủ hộ có ý nghĩa thống kê, theo kết quả nghiên cứu, chủ hộ là nam có
mức chi tiêu cho giáo dục thấp hơn chủ hộ là nữ
Biến tuổi và tuổi bình phương của chủ hộ cho thấy có ý nghĩa thống kê, theo đó
tuổi chủ hộ càng cao thì mức chi cho giáo dục càng tăng lên Nghề nghiệp của chủ hộ
cũng có tác động tích cực đến chi tiêu cho giáo dục cao đẳng, đại học của hộ
Nơi sinh sống của hộ có tác động đến chi tiêu cho giáo dục bậc cao đẳng, đại học
của hộ gia đình Hộ gia đình sống ở nông thôn chi tiêu ít hơn một khoản khoảng 492
nghìn đồng so với các hộ ở thành thị
Các hộ có ít nhất 01 thành viên được hưởng các khoản trợ cấp có mức chi tiêu cho
giáo dục ít hơn so với các hộ không có thành viên đang đi học nào được nhận, mức chi
tiêu ít hơn khoảng 435 nghìn đồng
Biến dân tộc chủ hộ có ý nghĩa thống kê và mang dấu dương, điều này hàm ý rằng
chủ hộ là người dân tộc kinh sẽ chi tiêu nhiều hơn cho giáo dục bậc CĐ, DDH so với chủ
hộ là dân tộc khác, theo kết quả nghiên cứu cho thấy con số này là hơn 924 nghìn đồng
trong một năm trong điều kiện các yếu tố khác không đổi
Kết quả ước lượng cũng cho thấy khi tăng số thành viên của hộ đang theo học các
trường công lập sẽ làm tăng mức chi cho giáo dục bậc cao đẳng, đại học của hộ gia đình
đó thấp hơn so với các hộ có thêm thành viên đang học các trường dân lập và tư thục
Kết quả cho thấy các hộ gia đình sinh sống ở khu vực đồng bằng sông Hồng vẫn
có mức chi tiêu giáo dục cao nhất so với các hộ sinh sống ở các vùng còn lại trên cả nước
Không có bằng chứng tìm thấy chủ hộ chưa lập gia đình chi nhiều hơn hay ít hơn
cho giáo dục bậc CĐ, ĐH so với chủ hộ đang có vợ/chồng Nhưng chủ hộ đang trong
20 tình trạng ly hôn, góa hay ly thân đều có mức chi ít hơn cho giáo dục bậc CĐ, ĐH so với chủ hộ chưa có vợ/chồng
Để xem xét cụ thể tác động của các yếu tố ảnh hưởng đến mức chi trên tại thành thị và nông thôn, ta chia mẫu nghiên cứu thành 2 mẫu con rồi tiến hành ước lượng mô hình tobit số liệu mảng cho 2 mẫu con đó và tính tác động biên của các biến độc lập lên trung bình biến phụ thuộc ta có kết quả như sau: chênh lệch chi tiêu giữa chủ hộ là nam với nữ ở thành thị nhiều hơn so với nông thôn Đối với các biến về nghề nghiệp chủ hộ cũng cho thấy ở các thành thị dành khoản chi giáo dục nhiều hơn so với ở nông thôn đối với cùng một tham chiếu
Bằng cấp chủ hộ có ý nghĩa thống kê đối với cả khu vực thành thị và nông thôn Các hộ ở khu vực thành thị mà chủ hộ có trình độ giáo dục cao lại tăng mức chi ít hơn so với các hộ ở nông thôn
Tổng số thành viên đang đi học ở các loại hình trường học khác nhau có ý nghĩa thống kê đối với cả hai khu vực thành thị và nông thôn
Hộ có ít nhất một thành viên được hưởng trợ cấp xã hội chỉ có ý nghĩa đối với khu vực thành thị và kết quả cũng cho thấy khi hộ có ít nhất một thành viên được hưởng các khoản trợ cấp thì chi tiêu cho giáo dục bậc cao đẳng, đại học của hộ gia đình cũng có xu hướng giảm hơn
Biến dân tộc chủ hộ chỉ có ý nghĩa ở khu vực nông thôn, chủ hộ là người dân tộc kinh có xu hướng chi tiêu cho giáo dục bậc cao đẳng, đại học cao hơn so với chủ hộ là người dân tộc khác Thu nhập của hộ gia đình chỉ có ý nghĩa thống kê đối với khu vực nông thôn
Nguồn số liệu được trích xuất từ kết quả Điều tra mức sống Hộ gia đình Việt Nam các năm từ 2012 đến 2016 và số liệu từ Niên giám Thống kê các năm 2012 đến 2016 Các yếu tố về thu nhập bình quân đầu người, chi tiêu cho giáo dục của hộ gia đình, chi học thêm, học phí được lấy từ bộ số liệu VHLSS các năm 2012 đến 2016; các số liệu
về số học sinh đi học các cấp, số trường học các cấp, số giáo viên các cấp được lấy từ Niên giám Thống kê các năm 2012 đến 2016 Sau đó nghiên cứu thực hiện ghép hai nguồn dữ liệu tạo thành dữ liệu mảng bao gồm các năm 2012, 2014 và 2016 với 189 quan sát là các tỉnh
Tất cả các biến trong mô hình nghiên cứu được định nghĩa như sau:
Y1: tỉ lệ nhập học tiểu học: Tỉ lệ học sinh học tiểu học/dân số trong độ tuổi học tiểu học
Y2: tỉ lệ nhập học THCS: Tỉ lệ học sinh học THCS/dân số trong độ tuổi học THCS
Y3: tỉ lệ nhập học THPT: Tỉ lệ học sinh học THPT/dân số trong độ tuổi học THPT
X1: Chingansachgiaoduc_tinh: Ngân sách nhà nước cấp tỉnh chi cho giáo dục
X2: Chicap1_tinh: Chi tiêu bình quân cho giáo dục của hộ gia đình cho bậc tiểu học
X3:Chicap2_tinh: Chi tiêu bình quân cho giáo dục của hộ gia đình cho bậc THCS
X4: chicap3_tinh: Chi tiêu bình quân cho giáo dục của hộ gia đình cho bậc THPT