1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Các mô hình phân tích một số chỉ tiêu giáo dục việt nam

151 58 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 151
Dung lượng 4,64 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu nghiên cứu của luận án Mục tiêu tổng quát của luận án là nghiên cứu về mô hình phân tích các yếu tốảnh hưởng đến một số chỉ tiêu giáo dục Việt Nam, cụ thể là chỉ tiêu: chi tiêu

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

HOÀNG THANH NGHỊ

CÁC MÔ HÌNH PHÂN TÍCH MỘT SỐ CHỈ TIÊU GIÁO DỤC VIỆT NAM

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÀNH KINH TẾ HỌC

HÀ NỘI - 2020

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

HOÀNG THANH NGHỊ

CÁC MÔ HÌNH PHÂN TÍCH MỘT SỐ CHỈ TIÊU GIÁO DỤC VIỆT NAM

Chuyên ngành: TOÁN KINH TẾ

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi đã đọc và hiểu về các hành vi vi phạm sự trung thực trong học thuật Tôi camkết bằng danh dự cá nhân rằng nghiên cứu này do tôi tự thực hiện và không vi phạm yêucầu về sự trung thực trong học thuật

Hà Nội, ngày tháng năm 2020

Tác giả luận án

Hoàng Thanh Nghị

Trang 4

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Lãnh đạo, các thầy giáo, cô giáo trong Khoa ToánKinh tế - Trường Đại học Kinh tế Quốc dân đã truyền đạt những kiến thức chuyên ngànhnâng cao, giúp đỡ và có những đóng góp ý kiến để luận án được hoàn thành tốt hơn.

Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn tới Ban lãnh đạo, các cán bộ của Viện Đào tạo sau đạihọc – Trường Đại học Kinh tế Quốc dân đã tạo điều kiện về các thủ tục hành chính vàhướng dẫn các quy trình thực hiện trong toàn bộ quá trình học tập

Tôi xin gửi lời cảm ơn tới Ban Giám hiệu, các đồng nghiệp tại Trường Cao đẳngKinh tế - Kỹ thuật Điện Biên, nơi tôi đang công tác, đã tạo điều kiện thuận lợi, hỗ trợ vàchia sẻ trong suốt thời gian tôi làm nghiên cứu sinh

Tôi đặc biệt gửi lời tri ân tới gia đình, bạn bè và người thân đã luôn đồng hành,động viên khích lệ tôi trong suốt thời gian qua

Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày tháng năm 2020

Tác giả luận án

Hoàng Thanh Nghị

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC BẢNG BIỂU vii

DANH MỤC HÌNH VẼ ix

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 13

1.1 Một số lý thuyết làm nền tảng cho nghiên cứu 13

1.1.1 Lý thuyết vốn con người và vai trò của giáo dục đối với phát triển vốn con người 13

1.1.2 Lý thuyết hàm sản xuất hộ gia đình 20

1.2 Tổng quan nghiên cứu về chi tiêu giáo dục của hộ gia đình 22

1.3 Tổng quan nghiên cứu về tỉ lệ đi học 35

CHƯƠNG 2 MÔ HÌNH PHÂN TÍCH 39

2.1 Mô hình Toán học 39

2.2 Mô hình kinh tế lượng 43

2.2.1 Mô hình Tobit 43

2.2.2 Mô hình hồi quy số liệu mảng và số liệu mảng đa mức 47

2.3 Khung phân tích của luận án 56

2.3.1 Khung phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến chi tiêu giáo dục 56

2.3.2 Khung lý thuyết phân tích tác động đến tỉ lệ đi học 59

2.4 Mô hình phân tích thực nghiệm 60

2.4.1 Mô hình phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến chi tiêu cho giáo dục của hộ gia đình Việt Nam 60

2.4.2 Mô hình đa mức phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến chi tiêu cho giáo dục Phổ thông của hộ gia đình 61

Trang 6

2.4.3 Mô hình Tobit số liệu mảng phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến chi tiêu giáo

dục đại học của hộ gia đình 62

2.4.4 Mô hình phân tích tác động của chi tiêu giáo dục đến tỉ lệ nhập học 62

CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG CHI TIÊU CHO GIÁO DỤC CỦA CÁC HỘ GIA ĐÌNH 63

3.1 Một vài nét khái quát về giáo dục Việt Nam hiện nay 63

3.2 Tình hình chi tiêu công cho giáo dục 66

3.3 Tỉ lệ số hộ có trẻ em đang đi học và tình hình chi tiêu của các hộ gia đình 67

3.3.1 Tỉ lệ số hộ gia đình có trẻ em đang đi học 67

3.3.2 Tình hình chi tiêu của các hộ 68

3.4 Chi tiêu giáo dục cho trẻ em của hộ gia đình 70

3.4.1 Chi tiêu giáo dục của hộ gia đình theo một số đặc trưng kinh tế - xã hội 70

3.4.2 Chi tiêu giáo dục của hộ gia đình theo bậc học 79

3.4.3 Chi tiêu cho giáo dục của hộ gia đình theo khoản chi 81

CHƯƠNG 4 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHI TIÊU CHO GIÁO DỤC CỦA HỘ GIA ĐÌNH VIỆT NAM VÀ TÁC ĐỘNG CỦA CHI TIÊU GIÁO DỤC ĐẾN TỈ LỆ HỌC SINH NHẬP HỌC CẤP TỈNH 83

4.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến chi tiêu cho giáo dục của hộ gia đình việt nam 83 4.1.1 Số liệu nghiên cứu 83

4.1.2 Thang đo các biến số 83

4.1.3 Thống kê mô tả các biến trong mẫu nghiên cứu 86

4.1.4 Mô hình phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến chi tiêu giáo dục của hộ gia đình Việt Nam 93

4.1.5 Mô hình đa mức phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến chi tiêu cho giáo dục Phổ thông của hộ gia đình 103

4.1.6 Mô hình Tobit số liệu mảng phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến chi tiêu giáo dục đại học của hộ gia đình 107

4.2 Tác động của chi tiêu cho giáo dục đến tỉ lệ đi học cấp tỉnh 114

4.2.1 Số liệu và các biến số 114

Trang 7

4.2.2 Thống kê mô tả các biến trong mẫu nghiên cứu 1164.2.3 Tác động của chi tiêu cho giáo dục đến tỉ lệ đi học cấp tỉnh 118

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 122 DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN

ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 127 TÀI LIỆU THAM KHẢO 128 PHỤ LỤC 135

Trang 8

Mô hình tác động cố địnhGiáo dục đại học

Giáo dục nghề nghiệpTổng sản phẩm quốc nộiGiáo dục phổ thôngTổng cục Thống kêƯớc lượng biến giả bình phương tối thiểuNgân sách Nhà nước

Ngân sách Trung ương

Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tếBình phương tối thiểu nhỏ nhấtTiểu học

Trung học cơ sởTrung học phổ thông

Mô hình tác động ngẫu nhiênĐiều tra mức sống hộ gia đình Việt Nam

Trang 9

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 3.1 Số hộ và tỉ lệ số hộ có ít nhất 01 trẻ em đang đi học 67

Bảng 3.2 Chi tiêu bình quân của hộ gia đình phân theo nhóm chi tiêu qua các năm từ 2004 đến 2016 68

Bảng 3.3 Chi tiêu của hộ gia đình có ít nhất một trẻ em đang đi học và không có trẻ em đang đi học 69

Bảng 3.4 Tổng chi tiêu giáo dục của hộ gia đình phân theo giới tính chủ hộ và khu vực thành thị/nông thôn từ năm 2004 đến 2016 70

Bảng 3.5 Chi tiêu giáo dục của hộ gia đình theo nhóm tuổi chủ hộ 72

Bảng 3.6 Chi tiêu giáo dục của hộ gia đình theo dân tộc chủ hộ 75

Bảng 3.7 Chi tiêu giáo dục của hộ gia đình theo bằng cấp chủ hộ 76

Bảng 3.8 Chi tiêu giáo dục của các hộ gia đình phân theo nhóm thu nhập 77

Bảng 3.9 Chi tiêu giáo dục của các hộ gia đình phân theo khu vực vùng miền 78

Bảng 3.10 Chi tiêu GDPT và GDĐH của hộ gia đình từ năm 2004 đến 2016 79

Bảng 3.11 Chi tiêu giáo dục của hộ gia đình theo các khoản chi từ 2004 đến 2016 81

Bảng 4.1 Bảng tóm tắt các biến số trong mô hình nghiên cứu 83

Bảng 4.2 Mô tả các biến phụ thuộc trong mẫu nghiên cứu 87

Bảng 4.3 Thống kê mô tả giới tính của chủ hộ trong mẫu nghiên cứu 87

Bảng 4.5 Thống kê mô tả tuổi của chủ hộ trong mẫu nghiên cứu 89

Bảng 4.6 Thống kê mô tả tình trạng hôn nhân của chủ hộ trong mẫu nghiên cứu 89

Bảng 4.7 Thống kê mô tả dân tộc của chủ hộ trong mẫu nghiên cứu 90

Bảng 4.8 Thống kê mô tả nghề nghiệp của chủ hộ trong mẫu nghiên cứu 90

Bảng 4.9 Thống kê mô tả tổng chi tiêu của hộ gia đình trong mẫu nghiên cứu 91

Bảng 4.10 Thống kê mô tả quy mô của hộ gia đình trong mẫu nghiên cứu 91

Bảng 4.11 Thống kê mô tả nơi sinh sống của hộ trong mẫu nghiên cứu 91

Bảng 4.12 Thống kê mô tả biến trợ cấp giáo dục trong mẫu nghiên cứu 92

Bảng 4.13 Thống kê mô tả tổng số thành viên trong hộ gia đình đang đi học ở các loại hình trường học trong mẫu nghiên cứu 2010 - 2014 92

Bảng 4.14 Thống kê mô tả tổng số thành viên trong hộ gia đình đang đi học ở các loại hình trường học trong mẫu nghiên cứu năm 2016 93

Trang 10

Bảng 4.15 Thống kê mô tả biến vùng sinh sống của hộ gia đình trong mẫu nghiên cứu 93

Bảng 4.16 Số hộ và tỉ lệ số hộ có chi tiêu cho giáo dục từ 2010 đến 2014 94

Bảng 4.17 Số hộ và tỉ lệ số hộ có chi tiêu cho giáo dục năm 2016 94

Bảng 4.18 Kết quả ước lượng mô hình với mẫu đầy đủ 95

Bảng 4.19 Kết quả ước lượng mô hình cho hai khu vực thành thị và nông thôn 99

Bảng 4.20 Kết quả ước lượng mô hình tác động cố định và mô hình hồi quy số liệu mảng đa mức 104

Bảng 4.21 Kết quả tính sai số chuẩn theo nhóm 106

Bảng 4.22 Kết quả tính hệ số tương quan trong nhóm 107

Bảng 4.23 Kết quả ước lượng mô hình Tobit số liệu mảng và tác động biên 109

Bảng 4.24 Tác động biên của ước lượng mô hình tobit số liệu mảng cho chi tiêu giáo dục cao đẳng, đại học của hộ gia đình theo khu vực thành thị, nông thôn 111

Bảng 4.25 Bảng tóm tắt các biến số trong mô hình nghiên cứu 114

Bảng 4.26 Thống kê mô tả biến phụ thuộc 116

Bảng 4.27 Thống kê mô tả chi tiêu cho giáo dục 116

Bảng 4.28: Thống kê mô tả các biến về cơ sở vật chất trường học 117

Bảng 4.29 Thống kê mô tả biến số về giáo viên phổ thông các cấp 117

Bảng 4.30 Thống kê mô tả biến số về yếu tố kinh tế 118

Bảng 4.31 Kết quả ước lượng mô hình tác động đến tỉ lệ đi học các cấp 118

Trang 11

DANH MỤC HÌNH VẼ

Hình 2.1 Khung phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến chi tiêu giáo dục 56

Hình 2.2 Khung lý thuyết phân tích tác động đến tỉ lệ đi học 59

Hình 3.1 Sơ đồ cấu trúc hệ thống giáo dục Việt Nam 64

Hình 3.2 Chi tiêu cho giáo dục của hộ gia đình theo giới tính chủ hộ 71

Hình 3.3 Chi tiêu cho giáo dục của hộ gia đình theo thành thị/nông thôn 72

Hình 3.4 Chi tiêu cho giáo dục của hộ gia đình theo nhóm tuổi chủ hộ qua các năm từ 2004 đến 2016 73

Hình 3.5 Chi tiêu cho giáo dục của hộ gia đình theo nhóm tuổi chủ hộ 74

Hình 3.6 Chi tiêu cho giáo dục của hộ gia đình theo dân tộc chủ hộ 75

Hình 3.7 Chi tiêu giáo dục của hộ gia đình theo bằng cấp chủ hộ 76

Hình 3.8 Chi tiêu giáo dục của hộ gia đình theo nhóm thu nhập 78

Hình 3.9 Chi tiêu GDPT của hộ gia đình theo khu vực thành thị/nông thôn 80

Hình 3.10 Chi tiêu GDĐH của hộ gia đình theo khu vực thành thị/nông thôn 80

Trang 12

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Giáo dục và đầu tư vốn con người luôn được xem là một trong những nhân tốquan trọng nhất trong sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia, đặc biệt là những quốc giađang phát triển trong đó có Việt Nam Ở mức độ vĩ mô, giáo dục giúp cho các cá nhântrong xã hội đạt được những kiến thức, kỹ năng tốt hơn và là cách thức cơ bản để tíchlũy vốn con người nên tác động mạnh đến tăng trưởng kinh tế của quốc gia Ở cấp độ vi

mô, đối với các hộ gia đình, đầu tư vào giáo dục được coi là con đường chính giúp làmtăng thu nhập, xóa đói, giảm nghèo Còn một lý do khác nữa là liên quan đến địa vị xãhội, những người có học thức cao nói chung luôn luôn được mọi người tôn trọng trong

xã hội, từ đó giáo dục đã và đang phát triển cả về lượng và chất Ở Việt Nam, Quyềnđược học tập của người dân được quy định trong Hiến pháp, Luật Giáo dục và các vănbản quy phạm pháp luật khác của Nhà nước Tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIIcủa Đảng đã nhấn mạnh tầm quan trọng của giáo dục, coi giáo dục là quốc sách hàngđầu và cần phải “hoàn thiện hệ thống giáo dục quốc dân theo hệ thống giáo dục mở, họctập suốt đời và xây dựng xã hội học tập” (Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trungương Đảng khóa XI trình bày tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII, 2016)

Trong những năm gần đây, Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọngtrong phát triển kinh tế - xã hội, đã trải qua hơn hai thập kỷ tăng trưởng kinh tế mạnh

mẽ và tạo sự thay đổi gần như chưa từng có với tỷ lệ GDP tăng trung bình 7%/năm Mặc

dù thế giới đã và đang phải đối mặt với cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, xu hướngphát triển kinh tế nói chung của Việt Nam vẫn rất tích cực Tỷ lệ giảm nghèo của ViệtNam trong thời gian gần đây đạt mức khá lý tưởng: tỷ lệ nghèo giảm từ 57% năm 1990xuống còn khoảng 13,5% năm 2014 (Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, 2016) Tuynhiên, thành tựu của sự tăng trưởng và giảm nghèo nói chung chưa hẳn đã phản ánhthực chất mọi vấn đề trong xã hội Sự quan tâm tới vấn đề bình đẳng và hòa nhập là điềuthường thấy ở những quốc gia đang phát triển Một điều không còn xa lạ là một trongnhững hậu quả của nó là sự gia tăng áp lực lên hệ thống giáo dục Đối với nhiều ngườiViệt Nam, con đường an toàn nhất tiến tới vị trí và thu nhập cao hơn trong xã hội làthông qua giáo dục Nhu cầu giáo dục và đào tạo của xã hội cũng rất cao, đó là còn chưa

kể tới cầu của nền kinh tế tri thức hiện đang phát triển dưới tác động của toàn cầu hóa

và cụ thể là tác động khi được gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)

Trang 13

Việt Nam đã nỗ lực rất nhiều nhằm giải quyết một số những áp lực đang ngàycàng gia tăng như vậy Chính phủ đã thể hiện cam kết mạnh mẽ và có nhiều cố gắngtrong việc mở rộng cơ hội tiếp cận giáo dục cho mọi tầng lớp nhân dân, đặc biệt là trẻ

em Cam kết này được thể hiện qua những tiến bộ vượt bậc liên quan tới trình độ họcvấn kể từ đầu những năm 1990 Theo số liệu điều tra mức sống hộ gia đình (VHLSS),trong giai đoạn 2010 - 2016, tỷ lệ dân số trong độ tuổi 25 - 55 chưa đạt được bất kỳ trình

độ học vấn nào giảm xuống còn dưới 1% Những tiến bộ này chủ yếu diễn ra ở cấp tiểuhọc và trung học Tỷ lệ học sinh nhập học bậc tiểu học hiện nay đã gần đạt mức phổcập, và tỷ lệ nhập học ở bậc trung học cơ sở và trung học nói chung đang lần lượt giatăng Tuy nhiên, xét về tỷ lệ nhập học ở các cấp, càng lên cấp học cao thì số lượng họcsinh đến trường càng giảm (chủ yếu là học sinh nghèo); Khả năng trang trải các dịch vụgiáo dục của người nghèo còn thấp, học phí và các khoản đóng góp trường lớp trở thànhgánh nặng đối với gia đình; Học sinh nghèo ít có cơ hội đi học thêm, phải dành thời giangiúp đỡ gia đình và lao động kiếm sống… đã làm ảnh hưởng đến chất lượng học tập

Có thể nói, đời sống kinh tế gia đình có tác động lớn đến điều kiện trẻ em tiếpcận được với các dịch vụ giáo dục, đặc biệt là giáo dục có chất lượng cao Thu nhập củagia đình thấp sẽ cản trở việc học tập của trẻ em, trẻ em không có tiền đóng góp cáckhoản chi phí cho giáo dục để được đi học hoặc tiếp cận với các dịch vụ học tập có chấtlượng Hơn nữa thu nhập thấp, kinh tế khó khăn buộc trẻ em phải tham gia lao độngsớm với gia đình và không có điều kiện để đi học Bên cạnh đó, tình trạng học thêmđang ngày càng phổ biến ở các lớp, các cấp với nhiều hình thức, cách dạy, cách học…cũng là nguyên nhân làm giảm cơ hội tiếp cận dịch vụ giáo dục cho trẻ em trong các hộgia đình Việt Nam

Do vậy, với mục tiêu phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến chi tiêu giáo dục của hộgia đình Việt Nam ở các bậc học và tác động của chi tiêu giáo dục đến tỉ lệ đi học nhằmđưa ra các các thông tin và các khuyến nghị phù hợp cho các nhà hoạch định chính sáchgiáo dục Xuất phát từ lý do đó, tôi lựa chọn chủ đề “Các mô hình phân tích một số chỉtiêu giáo dục Việt Nam” làm đề tài luận án tiến sĩ

2 Mục tiêu nghiên cứu của luận án

Mục tiêu tổng quát của luận án là nghiên cứu về mô hình phân tích các yếu tốảnh hưởng đến một số chỉ tiêu giáo dục Việt Nam, cụ thể là chỉ tiêu: chi tiêu cho giáodục của hộ gia đình và tác động của chi tiêu giáo dục đến tỉ lệ đi học

Bên cạnh đó luận án hướng tới các mục tiêu cụ thể như sau:

Trang 14

1 Phân tích thực trạng chi tiêu cho giáo dục của hộ gia đình Việt Nam giai đoạn

từ 2004 đến năm 2016 theo các các yếu tố ảnh hưởng đã được xác định trong mô hình lýthuyết và thực trạng tỷ lệ đi học của học sinh

2 Nghiên cứu mô hình lý thuyết và đề xuất mô hình nghiên cứu thực nghiệmphân tích các chỉ tiêu về chi tiêu cho giáo dục của hộ gia đình và tỉ lệ học sinh đi họccấp tỉnh

3 Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến tổng chi tiêu cho giáo dục của hộ giađình; các yếu tố ảnh hưởng đến chi tiêu cho giáo dục bậc GDPT và bậc GDĐH của các

hộ gia đình Ngoài ra nghiên cứu còn xem xét đến sự ảnh hưởng khác nhau của các yếu

tố đến chi tiêu cho giáo dục của hộ gia đình ở hai khu vực sống là thành thị và nôngthôn

4 Nghiên cứu tác động của chi tiêu giáo dục đến tỉ lệ học sinh đi học cấp tỉnh

5 Trên cơ sở các kết quả ước lượng mô hình thực nghiệm, Luận án xem xét đề xuất và đưa ra một số khuyến nghị

Để thực hiện được các mục tiêu nghiên cứu trên, luận án tập trung trả lời các câuhỏi nghiên cứu như sau:

Thực trạng chi tiêu cho giáo dục của các hộ gia đình Việt Nam trong những nămqua như thế nào?

Những nhân tố nào ảnh hưởng đến chi tiêu cho giáo dục của hộ gia đình nóichung và chi tiêu cho giáo dục phổ thông, giáo dục đại học của các hộ gia đình và ảnhhưởng như thế nào?

Các yếu tố ảnh hưởng đến chi tiêu giáo dục khác nhau như thế nào giữa khu vựcsống thành thị và nông thôn?

Nhân tố nào ảnh hưởng đến tỉ

tác động như thế nào tới tỉ lệ học sinh

lệ học sinh nhập học và chi tiêu cho giáo dục có nhập học?

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là nghiên cứu các mô hình phân tích một sốchỉ tiêu giáo dục Việt Nam, cụ thể là các chỉ tiêu về chi tiêu cho giáo dục của Hộ giađình và tỉ lệ đi học các cấp của các tỉnh, thành phố

Trang 15

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của luận án chỉ tập trung nghiên cứu hai chỉ tiêu cơ bản củagiáo dục Việt Nam, đó là: chi tiêu cho giáo dục của hộ gia đình và chỉ tiêu về tỉ lệ đihọc Trong đó sẽ làm rõ về yếu tố ảnh hưởng đến tổng chi tiêu cho giáo dục của hộ giađình; chi tiêu cho giáo dục bậc phổ thông của hộ gia đình và chi tiêu cho giáo dục bậcđại học của hộ gia đình bằng các mô hình kinh tế lượng khác nhau và nghiên cứu tácđộng của chi tiêu cho giáo dục (như học thêm, học phí ) và chi ngân sách nhà nướccho giáo dục đến tỉ lệ học sinh nhập học các cấp của các tỉnh, thành phố

4 Phương pháp nghiên cứu

4.1 Một số khái niệm liên quan đến luận án

Phần này trình bày định nghĩa các khái niệm chính gần như được đề cập suốttrong cả nghiên cứu nhằm cung cấp một cơ sở chung cho việc giải thích mối quan hệgiữa các biến được nghiên cứu

4.1.1 Khái niệm hộ gia đình

Theo Tổng cục Thống kê (GSO), Hộ gia đình là một hoặc một nhóm người ănchung, ở chung trong một chỗ ở từ 6 tháng trở lên trong 12 tháng qua và có chung quĩthu chi Thời gian 12 tháng qua tính từ thời điểm tiến hành phỏng vấn trở về trước

Hộ gia đình mà các thành viên có tài sản chung, cùng đóng góp công sức để hoạtđộng kinh tế chung trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất,kinh doanh khác do pháp luật quy định là chủ thể khi tham gia quan hệ dân sự thuộc cáclĩnh vực này, Điều 106, Bộ Luật Dân sự (2005)

Có nhiều kiểu hộ dân cư:

- Hộ dân cư 2 thế hệ, gồm bố mẹ và các con của họ

- Hộ dân cư nhiều thế hệ, cấu thành từ chủ hộ, vợ và các con của chủ hộ; bố/mẹchủ hộ, cháu và những người khác, mà họ có thể có quan hệ huyết thống hoặc không,cùng ăn ở chung trong một chỗ ở với thời gian 6 tháng trở lên trong 12 tháng

- Hộ dân cư gồm hai, ba cặp vợ chồng và không có con cái

- Hộ độc thân

4.1.2 Thành viên hộ gia đình

Theo Tổng cục Thống kê (GSO), Thành viên hộ gia đình là những người được coi là thành viên của hộ phải có hai điều kiện sau:

Trang 16

1 Cùng ăn, ở chung trong hộ 6 tháng trở lên trong 12 tháng qua.

2 Có chung quỹ thu chi, nghĩa là mọi khoản thu nhập của thành viên đều đượcđóng góp vào ngân sách chung của hộ và mọi khoản chi tiêu của họ đều lấy từ ngânsách đó

Tuy nhiên, có 7 trường hợp ngoại lệ dưới đây khi xác định một người nào đó có phải là thành viên của hộ hay không, cụ thể:

1 Người được xác định là chủ hộ luôn được coi là thành viên của hộ, ngay cả khingười đó không ăn, ở trong hộ dân cư hơn 6 tháng

2 Trẻ em sinh ra chưa đầy 6 tháng vẫn được coi là thành viên của hộ

3.Những người tuy mới ở trong hộ chưa đủ 6 tháng nhưng tương lai sẽ ở lâu dàitrong hộ, kể cả có/chưa có giấy chứng nhận (giấy đăng ký kết hôn, giấy chuyển đến, giấyxuất ngũ về với gia đình ) Những người này bao gồm: con dâu về nhà chồng, con rể vềnhà vợ, người đi làm việc, học tập, lao động ở nước ngoài, hoặc các cơ quan xí nghiệp trongnước trở về hộ, người từ lực lượng vũ trang trở về, về nghỉ hưu, nghỉ mất sức, v.v

vẫn được coi là thành viên của hộ

4 Học sinh, sinh viên, cán bộ đi học ở nơi khác trong nước và những người đichữa bệnh trong/ngoài nước trên 6 tháng nhưng hộ phải nuôi thì vẫn được coi là thànhviên của hộ

5 Khách, họ hàng đến chơi đã ở trong hộ 6 tháng trở lên và hộ phải nuôi toàn bộ thì được coi là thành viên của hộ

6 Những người giúp việc (ôsin) có gia đình riêng sống ở nơi khác thì mặc dù ởchung trong một mái nhà và ăn chung với hộ nhưng không được tính là thành viên của

hộ (vì họ có quĩ thu chi riêng)

7 Những người chuyển khỏi hộ có tính chất lâu dài và người chết trong 12 thángqua không tính là thành viên của hộ, mặc dầu họ đã sống trong hộ hơn 6 tháng

4.1.3 Chủ hộ

Chủ hộ là người có vai trò điều hành, quản lý gia đình, giữ vị trí chủ yếu, quyếtđịnh những công việc của hộ Thông thường (nhưng không nhất thiết) chủ hộ là ngườithường có thu nhập cao nhất trong hộ, nắm được tất cả các hoạt động kinh tế và nghềnghiệp của các thành viên khác của hộ Đa số chủ hộ theo khái niệm này trùng với chủ

hộ theo đăng ký hộ khẩu, nhưng cũng có chủ hộ khác với chủ hộ theo đăng ký hộ khẩu.(Tổng cục Thống kê – Điều tra mức sống hộ gia đình)

Trang 17

Theo Ủy ban Châu Âu (2010), chủ hộ là người mà căn cứ các đặc điểm cá nhâncủa họ, người ta có thể phân loại và phân tích các thông tin thu thập được từ hộ gia đình

do người đó làm chủ hộ Đây có thể là người có thu nhập lớn nhất trong hộ, chủ sở hữucăn nhà hoặc là người đàn ông lớn tuổi nhất trong hộ

Theo Bộ Luật Dân sự (2005) của Việt Nam, chủ hộ là đại diện của hộ gia đìnhtrong các giao dịch dân sự vì lợi ích chung của hộ Cha, mẹ hoặc một thành viên khác đãthành niên có thể làm chủ hộ

Như vậy, chủ hộ là người có đủ điều kiện cung cấp các thông tin cần thiết về cácđặc điểm nhân khẩu học, tình trạng kinh tế và các hoạt động diễn ra trong hộ gia đình

Vì vậy, những thông tin thu thập về các thành viên khác trong hộ và về chủ hộ được chủ

hộ cung cấp có thể được sử dụng đại diện trong các nghiên cứu về hộ gia đình

1 Thu từ tiền công, tiền lương;

2 Thu từ sản xuất nông, lâm nghiệp, thuỷ sản (đã trừ chi phí sản xuất và thuếsản xuất);

3 Thu từ sản xuất ngành nghề phi nông, lâm nghiệp, thuỷ sản (đã trừ chi phí sảnxuất và thuế sản xuất);

4 Thu khác được tính vào thu nhập (không tính tiền rút tiết kiệm, bán tài sản, vay thuần tuý, thu nợ và các khoản chuyển nhượng vốn nhận được)

Thu nhập Tổng thu Tổng chi phí vật chất và dịch vụ sử

-của hộ dụng cho hoạt động SVID của hộ

4.1.6 Chi tiêu của hộ

Chi tiêu của hộ gia đình là tổng số tiền chi trong 12 tháng cho các khoản: chigiáo dục; chi y tế; chi lương thực thực phẩm; chi hàng hóa lâu bền; hàng hóa vật chất –phi vật chất

Trang 18

4.1.7 Chi tiêu cho giáo dục của hộ

Chi tiêu của hộ gia đình cho giáo dục là phần ngân sách của hộ gia đình dùng để phục vụ cho các thành viên trong hộ được tham gia các hoạt động giáo dục và đào tạo

Theo Lassibille (1994), chi tiêu cho giáo dục của hộ gia đình gồm các phần cơ bản như sau:

1 Các khoản chi được quy ước thành tiền mặt: bao gồm học phí phải đóng chotrường học, cơ sở đào tạo; chi cho các loại hình bảo hiểm; những khoản đóng góp bắtbuộc hoặc tự nguyện từ phía phụ huynh;

2 Các khoản chi mua những đồ dùng phục vụ trực tiếp cho học tập như: sáchgiáo khoa, sách tham khảo, tập vở, máy tính, dụng cụ vẽ; các dụng cụ hỗ trợ khác như:cặp sách, đồng phục, quần áo thể dục, dụng cụ thể thao…

3 Các khoản chi mua dịch vụ phụ trợ gồm có: chi phí đưa đón di chuyển làkhoản tiền chi cho việc đi lại của người học hoặc của người đưa đón; chi phí cho cácbữa ăn tại lớp và nơi ở nội trú, bán trú: đây là chi phí cần phải được tính toán nếu ngườihọc tham gia các loại hình nội trú, bán trú hoặc phải đi học xa nhà;

4 Khoản chi trả lãi vay trong trường hợp gia đình phải đi vay tiền để chi cho việchọc của các thành viên trong hộ

Theo Ủy ban Châu Âu (2010), chi tiêu giáo dục phát sinh của các hộ gia đình có thểđược phân thành ba loại: chi phí trực tiếp, chi phí gián tiếp và chi phí cơ hội, cụ thể như sau:

1 Chi phí trực tiếp gồm có: học phí, lệ phí đăng ký các khóa học, phí chăm sóc nhà trẻ, phí học thêm, phí mua sách vở, đồ dùng học tập, phí mua đồng phục;

2 Chi phí gián tiếp là những khoản chi mở rộng không nằm trong chi phí trựctiếp trong quá trình học, bao gồm: Phí di chuyển trong quá trình đi học, phí mua thức ăn

và ở lại nội trú, bán trú, phí mua các đồ dùng học tập để tự học, mua sắm máy tính cánhân, chi phí quà tặng cho người khác ngoài hộ gia đình vì mục đích học tập;

3 Chi phí cơ hội được thể hiện qua những công việc hoặc các hoạt động nghỉ ngơi mà các cá nhân phải bỏ lỡ để dành thời gian đầu tư cho học tập

Theo Tổng cục Thống kê – Điều tra mức sống hộ gia đình, chi giáo dục đào tạobình quân một người đi học trong 12 tháng qua được tính bằng tổng chi cho việc đi họctrong 12 tháng của các thành viên đang đi học chia cho số người đi học theo từng cấphọc Chi tiêu cho giáo dục của hộ gia đình được tính bằng tổng chi cho việc đi học củatất cả các thành viên đang đi học của hộ

Trang 19

Chỉ số này giám sát sự phổ cập của hệ thống giáo dục và sự phát triển học sinh

và đánh giá sự hình thành nguồn nhân lực cũng như đánh giá sự hiệu quả và chất lượngcủa hệ thống giáo dục

4.2 Dữ liệu nghiên cứu

Nhằm thu thập các thông tin làm căn cứ đánh giá mức sống, đánh giá tình trạngnghèo đói và phân hoá giàu nghèo để phục vụ công tác hoạch định các chính sách, kếhoạch và các chương trình mục tiêu quốc gia của Đảng và Nhà nước để không ngừngnâng cao mức sống dân cư trong cả nước, các vùng và các địa phương; đồng thời cungcấp số liệu để tính quyền số của chỉ số giá tiêu dùng (CSGTD), cũng như thu thập thôngtin phục vụ nghiên cứu, phân tích một số chuyên đề về quản lý điều hành và quản lý rủi

ro và phục vụ tính toán tài khoản quốc gia, tính đến nay, Tổng cục thống kê đã tiến hành

9 cuộc điều tra mức sống lớn với 2 tên gọi khác nhau: Khảo sát mức sống dân cư ViệtNam - VLSS vào các năm 1993-1994, 1997-1998 và Khảo sát mức sống hộ gia đìnhViệt Nam - VHLSS (Vietnam Households Living Standard Survey ) vào các năm 2002,năm 2004, năm 2006, năm 2008, năm 2010, năm 2012, năm 2014 và năm 2016

Khảo sát mức sống hộ gia đình Việt Nam được thực hiện 2 năm một lần nhằmtheo dõi và giám sát một cách có hệ thống mức sống các tầng lớp dân cư Việt Nam,đồng thời thực hiện trách nhiệm giám sát, đánh giá việc thực hiện Chiến lược toàn diện

về tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo được quy định trong Văn kiện Chiến lược đãđược Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Ngoài ra, cuộc điều tra này cũng sẽ góp phầnđánh giá kết quả thực hiện các Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ và các Mục tiêu pháttriển kinh tế xã hội của Chính phủ Việt Nam đã đề ra

Cuộc khảo sát này sử dụng hai loại phiếu phỏng vấn: loại phiếu phỏng vấn hộ giađình và loại phiếu phỏng vấn xã Loại phiếu phỏng vấn hộ gia đình gồm: Phiếu phỏng vấnthu nhập chi tiêu (áp dụng cho mẫu thu nhập chi tiêu) bao gồm tất cả các thông tin của nộidung khảo sát; Phiếu phỏng vấn thu nhập và quyền số chỉ số giá tiêu dùng (áp dụng chomẫu thu nhập và quyền số CSGTD) gồm các thông tin của nội dung khảo sát trừ các thôngtin về chi tiêu của hộ và thêm thông tin để tính quyền số CSGTD; và Phiếu quyền số

Trang 20

CSGTD (áp dụng cho mẫu chỉ thu thập thông tin để tính quyền số CSGTD) Phiếuphỏng vấn được thiết kế tương đối chi tiết giúp điều tra viên ghi chép thuận lợi, đồngthời tránh bỏ sót các khoản mục và tăng tính thống nhất giữa các điều tra viên, từ đónâng cao chất lượng số liệu khảo sát.

Thông tin thu thập từ các cuộc khảo sát này gồm những nội dung chủ yếu phảnánh mức sống của các hộ gia đình trên cả nước và những điều kiện kinh tế xã hội cơ bản(đặc điểm của xã/phường…) có tác động đến mức sống của người dân nơi họ sinh sống,bao gồm một số nội dung cụ thể như sau:

Đối với hộ gia đình:

(1) Một số đặc điểm về nhân khẩu học của các thành viên trong hộ, gồm: Tuổi, giới tính, dân tộc, tình trạng hôn nhân

(2) Thu nhập của hộ gia đình, gồm: Mức thu nhập; thu nhập phân theo nguồn thu(tiền công, tiền lương; hoạt động sản xuất tự làm nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản;hoạt động ngành nghề sản xuất kinh doanh dịch vụ tự làm của hộ gia đình; thu khác);thu nhập phân theo khu vực kinh tế và ngành kinh tế

(3) Chi tiêu hộ gia đình: mức chi tiêu, chi tiêu phân theo mục đích chi và khoảnchi (chi cho ăn, mặc, ở, đi lại, giáo dục, y tế, văn hoá, v.v… và chi khác theo danh mụccác nhóm / khoản chi tiêu để tính quyền số chỉ số giá tiêu dùng)

(4)Trình độ học vấn, trình độ chuyên môn kỹ thuật của từng thành viên hộ gia đình.(5) Tình trạng ốm đau, bệnh tật và sử dụng các dịch vụ y tế

(6) Tình trạng việc làm, thời gian làm việc

(7) Tài sản, nhà ở và các tiện nghi như đồ dùng, điện, nước, điều kiện vệ sinh.(8) Tham gia chương trình xoá đói giảm nghèo, tình hình tín dụng

(9) Quản lý điều hành và quản lý rủi ro

Đối với cấp xã:

(1) Một số tình hình chung về nhân khẩu, dân tộc

(2) Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội chủ yếu, gồm: hiện trạng điện, đường, trường học, trạm y tế, chợ, bưu điện, nguồn nước

(3) Tình trạng kinh tế, gồm: Tình hình sản xuất nông nghiệp (đất đai, xu hướng

và nguyên nhân tăng giảm sản luợng các cây trồng chính, các điều kiện hỗ trợ phát triểnsản xuất như tưới tiêu, khuyến nông); cơ hội việc làm phi nông nghiệp

Trang 21

(4) Một số thông tin cơ bản về trật tự an toàn xã hội và bảo vệ môi trường.

Cuộc khảo sát áp dụng phương pháp phỏng vấn trực tiếp Điều tra viên đến hộ,gặp chủ hộ và những thành viên trong hộ có liên quan để phỏng vấn và ghi thông tin vàophiếu phỏng vấn hộ gia đình Đội trưởng đội khảo sát phỏng vấn lãnh đạo xã và các cán

bộ địa phương có liên quan và ghi thông tin vào phiếu phỏng vấn xã

Dữ liệu nghiên cứu của luận án được trích xuất từ bộ số liệu khảo sát mức sống

hộ gia đình các năm từ 2004 đến 2016 của Tổng cục Thống kê Việt Nam (GSO) và Niêngiám Thống kê các năm 2012, 2014 và 2016 Các dữ liệu được xuất ra tương ứng vớicác nhân tố có khả năng ảnh hưởng tới chi tiêu giáo dục của các hộ gia đình Các thôngtin liên quan đến hộ gia đình được trích lọc cho nghiên cứu gồm tổng thu nhập của hộ,tổng chi tiêu của hộ gia đình, chi tiêu giáo dục cho các bậc học, các đặc điểm liên quanđến chủ hộ như: giới tính, tuổi, dân tộc, trình độ học vấn, tình trạng hôn nhân và các đặcđiểm của hộ gia đình như: nơi sinh sống (thành thị, nông thôn), quy mô hộ, số thànhviên đang đi học, khu vực sinh sống

Ngoài ra, tác giả cũng đã mã hóa lại một số kiểu thể hiện giá trị thống kê so với

số liệu gốc, cụ thể như sau:

(1) Cột dữ liệu thể hiện giới tính của chủ hộ thiết lập của dữ liệu gốc là nam = 1,

nữ = 2 được đổi lại thành nam = 1, nữ = 0

(2) Cột dữ liệu thể hiện dân tộc của chủ hộ được mã hóa lại thành Kinh = 1, dân tộc khác = 0

(3)Cột dữ liệu thể hiện nơi sinh sống của hộ, thiết lập của dữ liệu gốc là thành thị

= 1, nông thôn = 2 được mã hóa lại là thành thị = 1, nông thôn = 0

(4) Cột dữ liệu thể hiện trình độ học vấn của chủ hộ, thiết lập dữ liệu gốc là quyước theo thang đo được mã hóa lại là =0 nếu chủ hộ chưa có bằng cấp, bằng 1 nếu chủ

hộ tốt nghiệp Tiểu học, bằng 2 nếu chủ hộ tốt nghiệp THCS, bằng 3 nếu chủ hộ tốtnghiệp THPT, bằng 4 nếu chủ hộ tốt nghiệp cao đẳng trở lên

Số liệu về cơ sở vật chất trường học, số giáo viên, học sinh các tỉnh, thành phố được lấy từ Niên giám Thống kê của Tổng cục Thống kê Việt Nam

4.3 Phân tích và xử lý số liệu

Luận án sử dụng phần mềm Stata 14 để xử lý số liệu trong dữ liệu nghiên cứu.Phương pháp phân tích số liệu được chia thành hai phần:

Trang 22

Phần 1: Phân tích thống kê mô tả các biến trong mô hình nghiên cứu; phân tíchthực trạng chi tiêu giáo dục của các hộ gia đình Việt Nam bao gồm phân tích đặc điểmcủa các hộ có ít nhất một trẻ em đang theo học tại bất kỳ cấp học nào (từ Tiểu học trởlên); tỉ lệ số hộ có trẻ em đang đi học tại các bậc học Phân tích chi tiêu giáo dục của hộgia đình theo các yếu tố ảnh hưởng Phân tích thực trạng tình hình đi học các cấp theotỉnh, thành phố Các phương pháp so sánh tổng hợp và thống kê mô tả bằng các bảng vàbiểu đồ được sử dụng trong phần này để giải thích kết quả.

Phần 2: Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến chi tiêu cho giáo dục của hộ gia đình

và phân tích tác động của chi tiêu giáo dục đến tỉ lệ đi học

Để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến chi tiêu cho giáo dục của hộ gia đình nóichung và tại các bậc học khác nhau, tuy theo cấu trúc số liệu và mục tiêu nghiên cứu.Luận án sử dụng các mô hình tương ứng để phân tích Với đặc điểm số liệu theo cấutrúc phân tầng hay lồng nhau (các hộ gia đình được lồng trong các xã, các xã được lồngtrong các huyện, các huyện lại được lồng trong các tỉnh, các tỉnh lồng trong các khu vực

…), và hầu như ở Việt Nam các hộ gia đình có con đến tuổi đi học đều cho con đi họctại trường, do đó nghiên cứu sử dụng mô hình số liệu mảng đa mức để phân tích nhằmtìm ra có hay không các yếu tố ảnh hưởng đến chi tiêu cho giáo dục phổ thông của hộgia đình Ưu điềm của mô hình hồi quy đa mức là cho phép xem xét được cả tác động

cố định và tác động ngẫu nhiên; không yêu cầu dữ liệu mảng cân bằng cả về không gian

và thời gian; chấp nhận các trường hợp bị thiếu quan sát Do vậy có thể linh hoạt trongviệc lựa chọn các biến giải thích Đối với phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến chi tiêugiáo dục nói chung và tác động của chi tiêu giáo dục đến tỉ lệ đi học nghiên cứu sử dụng

mô hình dữ liệu mảng Đối với phân tích chi tiêu cho giáo dục bậc đại học, luận án sửdụng mô hình Tobit số liệu mảng để ước lượng và phân tích

Số liệu nghiên cứu được tính toán xử lý bằng phần mềm Stata 14 trên bộ số liệuVHLSS và số liệu thứ cấp thu thập từ Niên giám Thống kê: Đối với phân tích thực trạngchi tiêu cho giáo dục của hộ, luận án sử dụng dữ liệu chéo quan các năm từ 2004 đến2016; đối với phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến chi tiêu giáo dục của hộ gia đình, luận

án sử dụng dữ liệu mảng thu được từ VHLSS các năm 2010; 2012 và 2014 và số liệuchéo năm 2016 nhằm trích xuất ra những nhân tố phù hợp với các biến số của nghiêncứu; đối với phân tích tác động của chi tiêu giáo dục đến tỉ lệ đi học, nghiên cứu sửdụng kết hợp số liệu VHLSS với số liệu từ Niên giám Thống kê

Trang 23

5 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, danh mục các tài liệu tham khảo,luận án được kết cấu thành bốn chương như sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận và tổng quan nghiên cứu

Chương 2: Các mô hình phân tích

Chương 3: Thực trạng chi tiêu cho giáo dục của các hộ gia đình

Chương 4: Các yếu tố ảnh hưởng tới chi tiêu cho giáo dục của Hộ gia đình và tácđộng của chi tiêu giáo dục đến tỉ lệ đi học

6 Những đóng góp mới của luận án

Luận án sử dụng chủ yếu là phương pháp nghiên cứu định lượng, với các mô hìnhkinh tế lượng hiện đại, có độ tin cậy cao để giải quyết một số vấn đề khoa học có ýnghĩa quan trọng về lý thuyết và thực tiễn Những điểm mới của luận án như sau:

(1) Luận án đã làm rõ cơ sở lý thuyết và tổng quan các nghiên cứu trước đây vềchi tiêu giáo dục của hộ gia đình và chỉ ra được các yếu tố về đặc điểm chủ hộ, đặc điểm

hộ gia đình và quy mô hộ gia đình có ảnh hưởng đến chi tiêu cho giáo dục của hộ giađình Ngoài ra luận án đã đánh giá được tác động của chi tiêu giáo dục đến tỉ lệ đi họccác cấp như thế nào? Trên cơ sở đó, luận án đã xây dựng khung lý thuyết nghiên cứu đểlàm căn cứ cho các mô hình thực nghiệm của phần sau

(2) Luận án đã thực hiện kết hợp phương pháp thống kê mô tả nhằm phân tích rõthực trạng chi tiêu cho giáo dục của hộ gia đình Việt Nam theo các phân lớp thống kêbằng số liệu điều tra mức sống hộ gia đình qua các năm từ 2004 đến 2016

(3) Luận án sử dụng đồng thời nhiều mô hình nghiên cứu định lượng hiện đại còn

ít được sử dụng trong các nghiên cứu trước đây đặc biệt là sử dụng dữ liệu mảng chocác mô hình này Mặt khác, nghiên cứu còn tận dụng cấu trúc số liệu mảng có dạngphân lớp phù hợp với mô hình được lựa chọn để phân tích ba hình thức chi tiêu cho giáodục của hộ gia đình ở nhiều khía cạnh và nhiều cấp độ khác nhau và phân tích tác độngcủa một số loại hình chi tiêu cho giáo dục như chi cho học thêm, chi cho học phí, chi phíkhác (quần áo, sách vở, các khoản đóng góp ) và chi ngân sách cho giáo dục đến tỉ lệ

đi học các cấp Hy vọng nghiên cứu này là tiền đề cho nhiều nghiên cứu tiếp sau vớiphương pháp tiếp cận của kinh tế lượng hiện đại như các mô hình số liệu mảng; mô hình

số liệu mảng đa bậc, mô hình tobit với số liệu mảng, cho phép phân tích được sâu hơn.(4) Các kết quả nghiên cứu của luận án từ mô hình nghiên cứu thực nghiệm là cơ

sở để đề xuất một số khuyến nghị về chính sách liên quan đến chi tiêu cho giáo dục củakhối tư nhân, đặc biệt là của hộ gia đình

Trang 24

CHƯƠNG 1.

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

Chương này trình bày tổng quan lý thuyết và tổng quan khảo sát các nghiên cứuthực nghiệm được thực hiện bởi những nhà nghiên cứu khác nhau và định hướng chocác yếu tố ảnh hưởng dựa trên lý thuyết Tổng quan lý thuyết cung cấp mô tả và tóm tắtcác lập luận khác nhau, giải thích mối quan hệ giữa các biến được nghiên cứu Tổngquan lý thuyết thực nghiệm trình bày mô tả và tóm lược các nghiên cứu trước đây liênquan đến các vấn đề, so sánh và khái niệm của nghiên cứu hiện tại trong mối quan hệvới các nghiên cứu trước đó

1.1 Một số lý thuyết làm nền tảng cho nghiên cứu

Phần này trình bày một số lý thuyết mà luận án sử dụng trong nghiên cứu.Nghiên cứu này sử dụng chủ yếu hai lý thuyết, đó là Lý thuyết vốn con người và lýthuyết hàm sản xuất hộ gia đình Những lý thuyết này cung cấp cơ sở để hiểu rõ mốiquan hệ giữa các biến được nghiên cứu trong luận án

1.1.1 Lý thuyết vốn con người và vai trò của giáo dục đối với phát triển vốn con người

1.1.1.1 Khái niệm vốn con người

Theo từ điển kinh tế vốn (Capital) được định nghĩa là giá trị của tư bản hay hànghoá đầu tư được sử dụng vào kinh doanh để mang lại lợi ích Theo nghĩa này vốn đượccoi là vốn hữu hình Tuy nhiên vốn con người theo Mincer Jacob và cộng sự (1974),cũng giống như vốn hữu hình, vốn con người muốn có thì con người phải đầu tư để tíchluỹ thông qua giáo dục, rèn luyện trong lao động và thuộc về mỗi người, nó đem lại chocon người sở hữu nó khoản thu nhập Nguyễn Văn Ngọc (2006) cho rằng vốn con người

là khái niệm để chỉ toàn bộ hiểu biết của con người về phương thức tiến hành các hoạtđộng kinh tế xã hội

Như vậy vốn con người được xem là những kiến thức, kinh nghiệm và kỹ năngtích lũy trong quá trình giáo dục, đào tạo và trong cuộc sống lao động hàng ngày Cụ thểvốn con người được cấu thành từ ba thành tố chính: (1) khả năng bẩm sinh hay năng lựcban đầu của cá nhân khi sinh ra; (2) trình độ chuyên môn và kiến thức tích lũy thôngqua giáo dục chính thức; (3) Kỹ năng, năng lực và kinh nghiệm có được từ công việc(Blundell, R và cộng sự, 1999) Năng lực ban đầu nhận được từ cha mẹ và các điềukiện của gia đình và xã hội khi chăm lo cho bà mẹ mang thai và sinh nở Khi đi học để

có năng lực con người phải bỏ ra chi phí học hành và cuối cùng những trải nghiệm trongcuộc sống làm việc nhiều trường hợp người ta phải trả giá rất cao

Trang 25

Bùi Quang Bình (2009) cho rằng năng lực ban đầu được thừa hưởng từ di truyềncủa cha mẹ và sự chăm sóc thai nhi gắn liền với điều kiện kinh tế gia đình, sự cấu thànhcho yếu tố thứ hai là quá trình đầu tư giáo dục cho trẻ của cha mẹ thông qua chi tiêugiáo dục, yếu tố thứ ba là quá trình tự tích lũy của bản thân cá nhân trong cuộc sống Do

đó năng lực ban đầu và trình độ chuyên môn được xem là nền tảng cho năng lực và kinhnghiệm trong cuộc sống Cũng theo Bùi Quang Bình (2009), vốn con người là vốn vôhình, khác biệt với các loại vốn khác là không thể bán hoặc thế chấp, và đặc biệt nókhông thể tách rời khỏi cá nhân hình thành nên vốn, do đó trong quá trình đầu tư tíchlũy vốn con người, nếu không cập nhật kiến thức thường xuyên và tích lũy kinh nghiệmthì vốn con người có thể bị hao mòn bởi yếu tố khách quan như kiến thức mới, tiến bộkhoa học kỹ thuật và yếu tố chủ quan như sự quên lãng kiến thức của cá nhân Becker,G.S (1964) cho rằng vốn con người như một phương tiện vật chất của sản xuất, có hữudụng trực tiếp và làm tăng năng suất lao động, tất cả các hoạt động có ảnh hưởng đếnthu nhập thực tế trong tương lai đều thông qua đầu tư các nguồn lực trong con người,hơn nữa đầu tư vào vốn con người giống như đầu tư vào vốn vật chất nhằm khai thác tỷsuất lợi nhuận trong tương lai, những yếu tố như giáo dục đào tạo và sức khỏe được xemnhư những khoản đầu tư quan trọng nhất cho vốn con người Hơn nữa vốn con người có

ý tưởng cho rằng dù có hay không có liên quan đến chi phí và lợi ích đầu tư thì các quyết định vẫn được phân tích theo kinh tế tư nhân và kinh tế công cộng (Mincer, J, 1981)

Như vậy vốn con người là những kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm tích luỹtrong mỗi con người nhờ quá trình học tập, rèn luyện và lao động được thể hiện trongquá trình sử dụng trong sản xuất Vốn con người cũng hao mòn và phải tốn chi phí đềđầu tư hình thành và là nguồn vốn quan trọng nhất để phát triển của mỗi doanh nghiệp

và quốc gia

1.1.1.2 Đầu tư vốn con người

a Mô hình đầu tư vốn con người của cha mẹ cho trẻ

Theo Yueh (2001) cuộc sống của mỗi con người trải qua ba giai đoạn, giai đoạnthứ nhất đang còn là một đứa trẻ, giai đoạn thứ hai là người trưởng thành có gia đình vàcon cái, giai đoạn cuối cùng là người già đã nghỉ hưu và có cháu Cụ thể, ở giai đoạnđầu tiên lợi ích mang lại cho cá nhân là sự đầu tư cho giáo dục của cha mẹ của trẻ, ở giaiđoạn thứ hai, khi các cá nhân đó đã trưởng thành, lập gia đình và trở thành cha, mẹ cókhả năng làm việc tạo thu nhập, khi đó một phần thu nhập được phân phối trở lại cha mẹ

họ Giai đoạn thứ ba, họ đã là người về hưu, thu nhập của họ có được từ lợi nhuận củatài sản được tích lũy ở giai đoạn thứ hai và một phần thu nhập được phân phối lại

Trang 26

chính từ con cái của họ Khi đó cha mẹ sẽ giảm các khoản chi tiêu cơ bản và quyết địnhđầu tư vào vốn con người qua chi tiêu giáo dục cho trẻ, được thúc đẩy bởi lợi nhuận từthu nhập tương lai của trẻ và thu nhập của gia đình vợ chồng trẻ Hiển nhiên cha mẹkhông đầu tư giáo dục vào vợ hoặc chồng của con họ, nhưng thu nhập của họ nhận đượctrong giai đoạn thứ ba, có được từ sự phân phối một phần thu nhập tương lai trong giađình vợ chồng trẻ Như vậy, đầu tư giáo dục mang lại cho cha mẹ hai lợi ích, lợi ích trựctiếp có được từ sự phân phối thu nhập tương lai của trẻ lúc trưởng thành, lợi ích giántiếp có được khi trẻ được đầu tư giáo dục tốt thì trình độ học vấn tốt nên khả năng kếthôn với người có thu nhập cao sẽ tăng hơn, từ đó tạo ra thu nhập tương lai tốt hơn chogia đình vợ chồng trẻ cũng như phần thu nhập phân phối cho cha mẹ ở giai đoạn ba sẽnhiều hơn Năng suất từ khoản đầu tư giáo dục của cha mẹ thường không ổn định nhưcác hình thức đầu tư tài sản khác bởi con người phải luôn cập nhật những kiến thức mới,tích lũy kỹ năng hàng ngày để có thu nhập ổn định, hơn nữa, giống như những hình thứcđầu tư vốn vật chất, nó cũng đem lại rủi ro về thu nhập tương lai của cha mẹ khi vợchồng trẻ phân phối thu nhập chi tiêu giáo dục cho con họ nhiều hơn giành cho cha mẹ.

b Đầu tư vốn con người thông qua chi tiêu cho giáo dục

Các tiêu chuẩn đo lường vốn con người thường được chia thành ba phương pháptiếp cận: (1) tiếp cận theo đầu ra như tỉ lệ nhập học, thành tựu giáo dục hoặc số năm đihọc trung bình; (2) tiếp cận theo chi phí dựa trên tính toán chi phí dùng để chi trả chothu thập kiến thức; (3) tiếp cận theo thu nhập dựa trên quan hệ chặt chẽ với lợi ích củamỗi cá nhân đạt được từ đầu tư giáo dục và đào tạo (Kwon Dae-Bong, 2009)

Mức độ kỳ vọng của cha mẹ đối với trẻ khác nhau giữa các xã hội nhưng đều cóđiểm chung là có tầm nhìn về lợi ích tương lai của trẻ Becker (1964) xác định vai tròquan trọng của cha mẹ trong phát triển vốn con người và đầu tư vào vốn con người củatrẻ dưới sự hạn chế tín dụng thì nhất thiết đòi hỏi hộ gia đình phải bỏ qua một số tiêudùng khác để đầu tư giáo dục cho trẻ Để vốn con người được đầu tư một cách tối ưu thìnhu cầu đặt ra không chỉ quan tâm đến năng lực con người và tài chính của hộ gia đình

mà còn chú ý đến việc tận dụng tiềm năng tích lũy vốn, theo đó những kỳ vọng tươnglai của hộ gia đình và hoạt động cá nhân là các yếu tố quyết định mức độ, hình thức đầu

tư vốn con người (Mincer, J và Polachek, S., 1974)

Giáo dục được xem là công cụ tích lũy vốn con người, nên các khoản đầu tư vốncon người ban đầu cho giáo dục là các khoản chi phí trực tiếp khi học và thu nhập bị bỏqua trong quá trình học (Schultz, T.W., 1961; Becker, G.S., 1964) Ehrenberg và Smith(2011) cho rằng đầu tư vốn con người đòi hỏi có sự phát sinh chi phí trong ngắn hạn vàđược kỳ vọng sẽ thu lợi ích cao hơn trong tương lai, theo đó chi phí bổ sung vốn con

Trang 27

người được chia thành ba loại: (1) chi phí trực tiệp gồm chi phí nhập học, chi phí sách

vở và chi phí khác; (2) thu nhập bị bỏ qua; (3) tổn thất về tinh thần trong quá trình họctập, theo đó Mincer, J (1981) cho biết thu nhập bị bỏ qua trong quá trình đầu tư vốn conngười cao hơn chi phí trực tiếp cho giáo dục, đồng thời vốn con người cũng như vốn vậtchất khác vì khi có được lợi nhuận sẽ kích thích đầu tư thông qua gia tăng nhu cầu giáodục nhưng khi thua lỗ sẽ kết thúc nhu cầu này, hơn nữa đầu tư vào vốn con người thôngqua giáo dục cho mỗi cá nhân có các hạng mục theo chu kỳ thời gian khác nhau baogồm nguồn lực giành cho trẻ và sự phát triển trẻ thông qua các khoản chi tiêu trước khitrẻ đến trường, kế đến là đầu tư giáo dục chính thức cũng như đầu tư vào thị trường laođộng sau giáo dục để lựa chọn việc làm cùng với các hoạt động đầu tư cho sức khỏenhằm duy trì nguồn vốn con người trong suốt quá trình lao động

Schultz, T.W (1961) cho rằng kiến thức và kỹ năng chiếm phần lớn trong đầu tưđầu tư vốn con người và sự khác biệt trong thu nhập có quan hệ mạnh với sự chênh lệch

về giáo dục và sức khỏe Mincer, J (1981) xác định giáo dục có mối quan hệ mạnh mẽđến thu nhập trong tương lai và không bị ảnh hưởng từ thu nhập của cha mẹ mặc dùthực tế thu nhập của cha mẹ ảnh hưởng đến số lượng và chất lượng giáo dục mà trẻ nhậnđược, theo đó đầu tư giáo dục tạo ra lợi nhuận trong tương lai khi lao động, cá nhân cóhọc vấn cao hơn sẽ có mức lương cao hơn so với cá nhân học vấn thấp vì kỹ năng, năngsuất và kinh nghiệm làm việc vượt trội hơn Thật vậy, người lao động có học vấn caohơn thì thu nhập cao hơn và sự gia tăng thu nhập cũng nhanh hơn so với người có họcvấn thấp, đồng thời nhận thấy người lao động trẻ tuổi tích lũy vốn con người nhiều hơnngười lao động lớn tuổi (Borjas, G.J., 2013)

1.1.1.3 Vai trò của vốn con người

Trong điều kiện nền kinh tế tri thức và quá trình toàn cầu hoá hiện nay, yếu tốvốn hữu hình tuy còn giữ vài trò quan trọng nhưng không như trong giai đoạn côngnghiệp hoá, thay vào đó vai trò của vốn vô hình mà đặc biệt là vốn con người ngày cànglớn hơn Đây là nguồn vốn rất quan trọng với các công ty vì được tính vào giá trị của họ,

và hình thành nên vốn vô hình của quốc gia Vốn con người đóng vai trò ngày càngquan trọng trong quá trình phát triển kinh tế: (1) đó là các kỹ năng được tạo ra bởi giáodục và đào tạo, vốn con người là yếu tố của quá trình sản xuất kết hợp với vốn hữu hình

và các lao động “thô” (không có kỹ năng) để tạo ra sản phẩm; (2) đó là kiến thức để tạo

ra sự sáng tạo, một yếu tố cơ bản của phát triển kinh tế (Mincer, 1981) Ngoài ra, người

ta đã đưa vốn con người như một yếu tố đầu vào để phân tích tăng trưởng kinh tế và đãchỉ ra ảnh hưởng tích cực của nó giống như vốn hữu hình nhưng mức độ ngày càng lớnhơn Tuy nhiên, nếu đầu tư hình thành vốn con người

Trang 28

chưa tốt không hiệu quả thì nguồn vốn này không tác động tích cực mà lại làm giảmtăng trưởng Theo cách tiếp cận thu nhập GDP của nền kinh tế bằng tổng thu nhập củamọi người trong nền kinh tế, khi thu nhập của mọi người tăng lên cũng làm tăng chỉ tiêunày Borjas, G.J (2013) thông qua mô hình giáo dục chỉ ra ảnh hưởng tích cực của giáodục tới thu nhập.

Thực tế phát triển kinh tế của nhiều nước trên thế giới đã cho thấy tầm quantrọng của vốn con người Sự phát triển nhanh chóng của kinh tế Nhật Bản sau chiếntranh, hay sự phục hồi kinh tế nhanh của Tây Âu nhờ vào nguồn nhân lực chất lượngcao chứ không phải tài nguyên Với các nước đang phát triển dù có nhiều tài nguyênnhưng thiếu lao động có chất lượng nên sự phát triển chậm Mặt khác, các nước đangphát triển cố gắng thu hút thêm nguồn vốn hữu hình từ bên ngoài để tăng cường cơ sởvật chất cho sự phát triển, tuy nhiên do trình độ quản lý yếu kém và do thiếu nhân lựcchất lượng cao nên hiệu quả sử dụng vốn huy động thấp đã dẫn đến sự phát triển kinh tếkhông được nhanh

Vốn con người được Schultz, T.W (1961) cho là một trong những yếu tố gópphần tăng trưởng kinh tế và nó không có sẵn trong quá trình sản xuất như vốn vật chấtnên có thể gây cản trở đến tăng trưởng kinh tế nếu nó không được khai thác qua giáodục đào tạo Quá trình nghiên cứu cơ bản và ứng dụng cũng như sự lan truyền kiến thứcthông qua giáo dục và đào tạo nghề sẽ làm tăng cường nền tảng kiến thức quốc gia, bêncạnh đó vốn con người đem lại hiệu quả kinh tế qua sáng tạo các sản phẩm mới và cảitiến công nghệ từ đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế (Nguyễn Văn Ngọc, 2006) Bên cạnh,vốn con người là nguồn kiến thức mới đại diện cho kỹ năng thay đổi quá trình sản xuất

và vai trò của nó khi kết hợp với các yếu tố sản xuất sẽ làm tăng trưởng kinh tế quốcgia, nếu theo cấp độ vĩ mô thì vốn con người được xem như trung tâm của quá trìnhtăng trưởng kinh tế, trong khi cấp độ vi mô cho thấy sự khác biệt về cấu trúc tiền lương

và phân phối thu nhập của cá nhân sẽ bị chi phối do sự khác biệt trong vốn con người ởmỗi cá nhân cũng như sự tích lũy vốn của họ, hơn nữa trong các nước đang phát triển tỷsuất lợi nhuận trên vốn con người cao hơn vốn vật chất và sự khan hiếm vốn con ngườicũng lớn hơn (Mincer, J., 1981)

Tầm quan trọng về vai trò tích cực của vốn con người luôn được khẳng định nênhầu hết các hộ gia đình đều đầu tư vào vốn con người thông qua giáo dục đào tạo chotrẻ, bởi giáo dục được xem là hàng hóa công cộng cũng như là hàng hóa khuyến dụng

mà mọi người cần được tiêu dùng bất kể thu nhập như thế nào Trong thời đại hội nhậpquốc tế như hiện nay giáo dục được hầu hết các nước công nhận là một nhu cầu cơ bảncho các chính sách phát triển nguồn nhân lực và kinh tế của mỗi

Trang 29

nước Vai trò quan trọng của giáo dục trong mối quan hệ giảm nghèo, tăng thu nhậpcũng như cải thiện chất lượng cuộc sống ngày càng được thể hiện rõ ràng hơn, ngoài ragiáo dục còn ảnh hưởng tích cực đến sức khỏe và tình trạng dinh dưỡng của con ngườihay nâng cao ý thức cải thiện tốc độ tăng dan số và giảm tỉ lệ tội phạm, theo đó giáo dụccũng được xem là một trong những công cụ hiệu quả cho xóa đói giảm nghèo, tiến bộ xãhội và nâng cao vị thế con người, quan trọng hơn, nó góp phần phân bổ lại nguồn nhânlực, cải thiện công bằng cũng như giảm bất bình đẳng trong giáo dục (Tilak, 2009).

1.1.1.4 Vai trò của giáo dục đối với phát triển vốn con người

Trong nghiên cứu về vốn con người, Becker, G.S (1964) cho rằng giáo dục vàđào tạo là khoản đầu tư quan trọng nhất trong chiến lược phát triển vốn con người Ôngcũng cho rằng hoạt động giáo dục đào tạo không hẳn chỉ diễn ra trong phạm vi trườnghọc mà còn được thực hiện trong môi trường làm việc, môi trường xã hội Khi mộtngười tốt nghiệp đại học thì không phải lúc nào cũng có đủ các điều kiện mà thị trườnglao động yêu cầu Trong quá trình làm việc, người đó phải không ngừng học hỏi hoặcđược tổ chức huấn luyện đào tạo Tương tự như vậy, Borjas (2005) trong nghiên cứu vềkinh tế lao động khẳng định năng lực, kiến thức chuyên môn, các kỹ năng và cả nhữngkinh nghiệm của con người được hình thành và tích lũy thông qua quá trình đào tạochính quy, quá trình sống và làm việc Mức vốn con người được tích lũy nhiều hay íttương ứng với năng lực, lượng kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm mà mỗi người nhậnđược từ quá trình học tập, đào tạo và lao động

Bùi Quang Bình (2009) cho rằng giáo dục đào tạo đem tới cho người ta nhữngkiến thức kỹ năng kinh nghiệm của xã hội vốn đã được tích lũy lại và theo thời gian còntrang bị thêm, bổ sung cho người ta những kiến thức mới để đáp ứng yêu cầu của cuộcsống Becker (1964) cũng cho rằng có những tính toán đã cho thấy thậm chí nhữngkhoản đầu tư cho huấn luyện đào tạo ở nơi làm việc còn nhiều hơn chi phí cho giáo dục

ở trường lớp chính quy Tuy nhiên, cũng tùy vào đặc điểm của từng tổ chức mà khoảnchi phí huấn luyện, đào tạo khi làm việc có thể do tổ chức hoàn toàn bỏ ra hoặc cá nhânđược đào tạo chia sẻ một phần khoản đầu tư đó

Cũng theo Bùi Quang Bình (2009), giáo dục đào tạo cùng với chất lượng của nó

là quá trình đem tới cho mỗi người học vốn kiến thức kỹ năng và kinh nghiệm và giúp

họ không ngừng hoàn thiện và gia tăng tích lũy chúng Mức vốn con người phụ thuộcvào thời gian và chi phí đầu tư để học hành trong hệ thống giáo dục và từng trải trongcuộc sống Giáo dục đào tạo quyết định lượng vốn con người và vốn con người quyết

Trang 30

định thu nhập của mỗi người Như vậy, người ta càng có thêm sự cân nhắc khi đầu tưvào giáo dục đào tạo với kỳ vọng về một mức thu nhập tốt hơn trong tương lai.

Borjas (2005) cho rằng người lao động quyết định học hành nghề gì và chi tiêuđến mức nào giống như đưa ra quyết định chi tiêu gắn với giả thuyết cơ bản trong kinh

tế học là mọi người đều tối đa hóa lợi ích Quyết định đầu tư vào giáo dục cần phải đượccân nhắc một cách thận trọng, khi đó người ta phải xem xét dòng thu nhập quy về giá trịhiện tại dòng giữa các phương án khác nhau: đi học ngành nghề nào đó hay không vàchọn nghành nghề nào giữa các ngành nghề khác nhau Phương án đi học và học ngànhnghề nào sẽ được lựa chọn khi nó đem tới dòng thu nhập cao nhất có thể

Vốn hữu hình của các doanh nghiệp trong nền kinh tế thay đổi do hoạt động đầu

tư và khấu hao Trong Kinh tế vĩ mô, đầu tư là hoạt động mua sắm trang bị thêm máymóc thiết bị, xây dựng thêm nhà xưởng… nên đã làm tăng vốn hữu hình Ngược lại,khấu hao làm giảm vốn hữu hình Sự gia tăng lượng vốn hữu hình khi đầu tư lớn hơnkhấu hao và điều đó giúp cho các doanh nghiệp phát triển

Năng lực, kiến thức chuyên môn, các kỹ năng và cả những kinh nghiệm của conngười được hình thành và tích luỹ thông qua quá trình đào tạo chính quy, quá trình sống

và làm việc Mức vốn con người được tích luỹ nhiều hay ít tương ứng với năng lực,lượng kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm mà mỗi người nhận được từ quá trình học tập,đào tạo và lao động Chúng thường được biểu hiện qua số năm đi học và số năm từngtrải trên thị trường lao động (Mincer, J., 1974 và Borjas, G., 2005) Hệ thống giáo dụcđào tạo là một trong những nơi người ta tổng kết những tri thức, hiểu biết của con người

về phương thức tiến hành các hoạt động kinh tế xã hội với mục đích truyền đạt lại chonhững người đi sau Ngoài ra bản thân xã hội cũng còn phương thức truyền đạt thông tinkiến thức kinh nghiệm trực tiếp thông qua các phương thức khác như truyền nghề giatruyền Giáo dục đào tạo đem tới cho người ta những kiến thức kỹ năng kinh nghiệmcủa xã hội được tích luỹ lại và không dừng ở đó theo thời gian còn trang bị thêm bổsung cho ngươi ta những kiến thức mới để đáp ứng những yêu cầu của cuộc sống

Để có được những năng lực này người ta cần phải bỏ ra chi phí nhất định để họchành trong các trường học cuối cùng những trải nghiệm trên đường đời, nhiều trường hợpngười ta phải trả giá rất cao – chi phí đầu tư Các loại chi phí này có thể bao gồm chi phínuôi dạy của gia đình và xã hội từ khi mới sinh, để học hành từ mẫu giáo cho đến hết phổthông trung học, để đào tạo nghề Ngoài ra còn những chi phí do thất bại hay để có thànhcông trong cuộc sống… Những khoản chi phí này sẽ giúp cho con người tích luỹ được kiếnthức, kỹ năng và kinh nghiệm để rồi làm việc hoàn thành tốt công việc được giao và đem lạilợi ích lớn hơn Ảnh hưởng lớn nhất tới mức tích luỹ vốn con

Trang 31

người là giáo dục đào tạo chính quy và quá trình rèn luyện trong lao động Như vậy vốncon người là kết quả của quá trình đầu tư Cũng như vốn hữu hình, vốn con người cũngphải thường xuyên được đầu tư bổ sung và làm mới thay thế những kiến thức kỹ năng

cũ không còn phù hợp tức vốn đã “bị hao mòn” Để tích luỹ nhiều vốn con người thìphải có thời gian tích luỹ nhiều hơn và cũng chi phí cao hơn

Với các nhận định như vậy, rõ ràng đầu tư vào giáo dục đào tạo giống như việcchi tiêu một loại hàng hóa thiết yếu không có hàng hóa thay thế Khoản chi tiêu nàyluôn có mặt trong danh mục chi tiêu của bất kỳ hộ gia đình nào để góp phần tăng nguồnvốn nhân lực của gia đình

1.1.2 Lý thuyết hàm sản xuất hộ gia đình

Hàm sản xuất của hộ gia đình là một mô hình gia đình tập thể do Behrman,Pollack và Taubman (1982) phát triển Đây là khuôn mẫu trong đó một đơn vị gia đìnhđược giả thuyết sử dụng đầu vào để cung cấp giáo dục cho con em trong gia đình (Kutty2008) Theo Kutty (2008), trong mô hình hàm sản xuất hộ gia đình, hộ gia đình đượcxem là nơi tạo ra kết quả giáo dục, nhận thức và tình cảm xã hội cho con cái của họbằng cách áp dụng các đầu vào cụ thể Những yếu tố đầu vào này bao gồm; trường học,tài liệu học, dạy kèm ngoài giờ, nhà ở, môi trường sống, thời gian và giám sát của phụhuynh và các kích thích nhận thức khác Mô hình cho rằng quyết định của hộ gia đìnhđược phân tích tốt nhất bằng cách sử dụng mô hình hàm số hiệu dụng của hộ gia đình

Hộ gia đình sẽ mua hàng hóa hoặc dịch vụ miễn là họ tăng hàm số hiệu dụng chung.Các cá nhân được giả định tham gia vào quá trình thương lượng dẫn đến việc phân bổtrong hộ gia đình là tối ưu (Pollak, 2002) Hơn nữa, phương pháp tiếp cận hàm sản xuất

hộ gia đình giả định rằng hộ gia đình hoạt động như một đơn vị ra quyết định khi đưa raquyết định về tiêu thụ và sản xuất Giả định là hộ gia đình tạo ra hiệu dụng từ việc tiêuthụ hàng hóa và mỗi hàm số hiệu dụng của hộ gia đình bao gồm các hiệu dụng của mỗithành viên trong hộ (Pollack, 2002) Sự phân bố quyền trong hộ gia đình là một yếu tốquan trọng trong việc xác định phân bổ nguồn lực hộ gia đình

Hàm số hiệu dụng của hộ gia đình kết hợp được tối đa hóa lợi ích và các quyếtđịnh phân bổ nguồn lực được thực hiện thông qua quyết định của chủ hộ (Becker, 1995).Sen (1990) lập luận rằng quyền thương lượng về quyết định đi học trong hộ gia đìnhphụ thuộc vào tính cách cá nhân

Vì vậy, nó là các thuộc tính của các thành viên khác trong gia đình cũng như chủ

hộ mà xác định việc phân bổ nguồn lực trong giáo dục Ví dụ, nếu người mẹ được giáodục sẽ có khả năng cải thiện quyền thương lượng của mình trong gia đình và ý kiến về

Trang 32

vấn đề giáo dục của con sẽ đóng một vai trò lớn hơn khi đưa ra quyết định gửi con đếntrường (Al-Samarral & Tessa, 1992).

Phương pháp tiếp cận hàm sản xuất hộ gia đình ngụ ý rằng đầu tư tối ưu cho giáodục của mỗi trẻ tương đương với giá trị hiện tại của phí tổn biên kế và lợi ích dự kiếncủa hộ gia đình (Dimoso, 2012) Chi phí sẽ phát sinh trong suốt thời gian đi học của trẻ.Chi phí này bao gồm chi phí trực tiếp (ví dụ học phí và đóng góp) và chi phí cơ hội củathời gian dành cho trẻ (ví dụ như việc nhà được miễn khi ở trường) Lợi ích cho các hộgia đình đến từ giáo dục sẽ phụ thuộc vào số tiền gửi do gia đình dự kiến khi con họ rờinhà, xác suất con cái họ sẽ đi làm, cách mỗi trẻ có thể quy đổi giáo dục thành năng suấtđược cải thiện và sở thích theo thời gian của hộ gia đình (Dimoso, 2012)

Hộ gia đình sẽ chi tiêu cho giáo dục miễn là họ tăng mức hiệu dụng chung Phụhuynh cân nhắc xem liệu lợi ích của việc đưa trẻ đến trường có vượt quá lợi ích giữ trẻ

ở nhà hay không, sau đó phụ huynh đăng ký cho con mình đi học và ngược lại (Gertler

& Glewwer, 1990) Theo hàm sản xuất hộ gia đình, chi tiêu dành cho giáo dục trong hộgia đình hướng đến các sản phẩm hoặc dịch vụ cụ thể đáp ứng nhu cầu giáo dục tốt.Mặc dù mức đầu tư tối ưu trong giáo dục được xác định bởi mỗi hộ gia đình, xuất hiệncủa các chi phí ngụ ý rằng có thể không thể đạt được số tiền tối ưu dành cho giáo dục(Dimoso, 2012)

Hộ gia đình tối đa hóa tính hữu dụng xuất phát từ giáo dục của chính mình và từviệc tiêu thụ các hàng hóa khác do các ràng buộc ngân sách Tính hữu dụng được xácđịnh theo sở thích của hộ gia đình, được xác định bởi các yếu tố nhân khẩu học và kinh

tế xã hội Giáo dục là một nguồn vốn cổ phần bền vững và được yêu cầu như tiêu dùng

và đầu tư khôn ngoan Bao nhiêu hộ gia đình có đủ khả năng chi trả tùy thuộc vào thunhập, giá cả và đặc điểm kinh tế xã hội của cá nhân như tuổi tác, giáo dục, nghề nghiệp

và môi trường địa lý (Kutty, 2008) Một mô hình hộ gia đình rất có ích trong việc xácđịnh cách hộ gia đình chọn nhà cung cấp dịch vụ giáo dục và chất lượng để tối đa hóatính hữu dụng của hộ gia đình với mức tài nguyên của mình Mô hình đưa ra một cáinhìn sâu sắc trong việc phân tích hành vi chung của hộ gia đình với các mục tiêu đượcxác định rõ

Người tiêu cũng như nhà đầu tư cho nguồn vốn con người tạo ra đầu tư với đầuvào từ nguồn lực của chính họ Vì vậy, một số đầu ra của hàm sản xuất hộ gia đình trựctiếp nằm trong hàm số hiệu dụng, trong khi một số đầu ra khác xác định thu nhập hoặc

sự thịnh vượng trong bối cảnh vòng đời Mặt khác giáo dục thực hiện cả hai (Grossmas,2000) Lý thuyết vốn con người xác định sự mong đợi của các hộ gia đình trong việcđầu tư vào giáo dục Mô hình hàm sản xuất hộ gia đình có ích trong việc phân tích hành

Trang 33

vi hộ gia đình để xác định các yếu tố quyết định của họ đối với chi tiêu giáo dục Trong

mô hình vốn con người, các quyết định về đầu tư vào giáo dục được thực hiện chủ yếutrên cơ sở xem xét tính hiệu quả Trong mô hình hàm sản xuất hộ gia đình, có những cânnhắc khác bao gồm công bằng giữa các trẻ, định kiến và thiên vị (Tilak, 2002) Mô hìnhhàm sản xuất hộ gia đình của hành vi người tiêu dùng được sử dụng để lấp đầy khoảngtrống giữa giáo dục như đầu ra và chi phí giáo dục như một trong nhiều yếu tố đầu vàocủa sản xuất

1.2 Tổng quan nghiên cứu về chi tiêu giáo dục của hộ gia đình

Chi tiêu của hộ gia đình cho giáo dục đào tạo đã và đang là vấn đề nghiên cứuthu hút được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học trong nước và trên thế giới trong cácnăm qua Các nghiên cứu dù được thực hiện ở các quốc gia khác nhau, với những đặcđiểm kinh tế - xã hội có nhiều điểm khác biệt, nhưng kết luận về các yếu tố ảnh hưởngđến chi tiêu giáo dục của hộ gia đình vẫn có nhiều nét tương đồng, có thể kể đến nhómcác yếu tố như sau:

1) Đặc điểm của chủ hộ như: giới tính, tuổi, tình trạng hôn nhân, trình độ học vấn, dân tộc

2) Đặc điểm của hộ như: nơi sinh sống (thành thị, nông thôn), khu vực sống, quy

mô hộ, số thành viên đang đi học trong hộ

3)Đặc điểm kinh tế hộ như: tổng thu nhập của hộ, tổng chi tiêu của hộ trong năm.Thu nhập của hộ gia đình có tác động mạnh đến chi tiêu của hộ cho giáo dục lànhận định mà nhiều nghiên cứu đã đề cập đến Hashimoto và Health (1995) đã kiểm tracác yếu tố quyết định đến chi tiêu cho giáo dục bằng cách sử dụng dữ liệu từ các hộ giađình Nhật Bản, họ phát hiện ra rằng độ co giãn của thu nhập và chi tiêu giáo dục là caonhất trong các hộ gia đình có thu nhập trung bình và thấp hơn ở các hộ gia đình có thunhập thấp, nhưng ngược lại đối với các hộ gia đình có thu nhập cao nhất

Al-Samarra và Tessa (1992) đã sử dụng mô hình logit để phân tích dữ liệu khảo sát

hộ gia đình được thu thập ở nông thôn Tanzania năm 1992 với mục đích đánh giá thành tựu

và đặc điểm giáo dục Nghiên cứu tập trung vào cách mà thông tin được thu thập về các đặcđiểm của hộ gia đình và cá nhân ảnh hưởng đến việc một đứa trẻ có đi học tiểu học, hoànthành tiểu học và học trung học hay không Nghiên cứu cho thấy rằng khi xem xét quyếtđịnh có đăng ký cho con học tiểu học hay không, trình độ giáo dục của người cha có ảnhhưởng lớn hơn đối với con trai và ngược lại trình độ giáo dục của mẹ có ảnh hưởng lớn hơnđối với con gái Hơn nữa, giáo dục của người mẹ đã kết hôn

Trang 34

có thể làm tăng xác suất đi học trung học phổ thông của con gái lên 9,7% cho giáo dụctiểu học và 17,6% cho giáo dục trung học trong khi đó không có ảnh hưởng đáng kể đếnviệc đi học của con trai Những kết quả này chỉ ra rằng các bà mẹ quan tâm đến giáodục của con gái họ hơn và giáo dục giúp họ hoặc tăng quyền ra quyết định trong hộ giađình hoặc cải thiện tình trạng kinh tế của hộ gia đình.

Maudlin T và cộng sự (2001) với dữ liệu khảo sát chi tiêu tiêu dùng năm 1996được thực hiện bởi Cục điều tra Dân số Hoa Kỳ với quy mô mẫu 1158 hộ gia đình,trong đó có 331 hộ có chi tiêu giáo dục và 827 hộ không có chi tiêu giáo dục cho trẻ cấptiểu học và trung học Nghiên cứu sử dụng mô hình double – hurdle gồm mô hình hồiquy Probit ban đầu để ước lượng xác suất quyết định tham gia chi tiêu giáo dục của hộgia đình, sau đó hồi quy biến bị chặn cũng được thực hiện cho ước lượng quyết địnhphân bổ mức chi tiêu này Kết quả cho thấy thu nhập sau thuế của hộ gia đình có mốiquan hệ đến xác suất quyết định tham gia chi tiêu giáo dục và sự phân bổ chi tiêu này,nghĩa là những hộ có thu nhập sau thuế cao hơn thì xác suất tham gia và mức chi tiêugiáo dục sẽ cao hơn so với những hộ có mức thu nhập sau thuế thấp hơn Các bậc cha

mẹ trong nghiên cứu nhận thức được rằng nếu họ đầu tư nhiều tiền cho việc học của conmình thì chính con của họ sẽ nhận được kết quả tốt đẹp trong tương lai về tri thức, chấtlượng cuộc sống Trình độ học vấn và tuổi chủa cha mẹ cũng có mối quan hệ đến xácsuất quyết định tham gia chi tiêu giáo dục cũng như quyết định phân bổ chi tiêu này,theo đó khi cha mẹ có học vấn tốt nghiệp trung học trở xuống sẽ có xác suất quyết địnhtham gia và mức chi tiêu giáo dục thấp hơn so với cha mẹ có bằng cấp cử nhân trở lên,trong khi tuổi của cha mẹ trên 29 tuổi có xác suất quyết định tham gia và mức chi tiêugiáo dục cao hơn cha mẹ có tuổi dưới 30 Hơn nữa, xác suất quyết định tham gia chi tiêugiáo dục của hộ gia đình sống ở nông thôn không có sự khác biệt nhiều so với thành thị,tuy nhiên khi hộ gia đình thành thị nếu có chi tiêu giáo dục thì sẽ có xu hướng chi tiêulớn hơn so với hộ gia đình nông thôn

Tansel (2002) đã kiểm tra yếu tố quyết định trình độ học vấn của nam và nữ ởThổ Nhĩ Kỳ ở cấp tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông Các yếu tố riêng lẻcủa hộ gia đình như thu nhập, trình độ giáo dục của cha mẹ và nghề nghiệp đều đượcxem xét Kết quả của nghiên cứu cho thấy rằng học vấn có một mối quan hệ chặt chẽvới thu nhập của hộ gia đình, do đó điều này hàm ý rằng việc học tập cũng được coi làmột loại hàng hoá thông thường Hơn nữa, các phát hiện cho thấy rằng các hộ gia đình

có nguồn lực hạn chế ở mức thu nhập càng cao thì kết quả học tập càng cao Tuy nhiên,ảnh hưởng của thu nhập đối với việc học tập của nữ lớn hơn của nam Hơn nữa, giáo

Trang 35

dục của cha mẹ cũng có quan hệ với thành tích học tập của cả hai giới tính của con cáimặc dù giới tính nữ bị ảnh hưởng nhiều hơn.

Tilak, Jandhyala B.G (2002), nghiên cứu các yếu tố tác động đến chi tiêu chogiáo dục của các hộ gia đình nông thôn ở Ấn Độ bằng cách sử dụng dữ liệu khảo sátNCAER về phát triển con người ở nông thôn Ấn Độ (HDI) được bổ sung bởi các nguồnkhác của Hội đồng quốc gia về Nghiên cứu kinh tế ứng dụng năm 1994 Theo đó Tilak

đã ước lượng chi tiêu cho giáo dục cho đứa trẻ của các gia đình nông thôn Ấn Độ phụthuộc vào các yếu tố như thu nhập của hộ, trình độ giáo dục và nghề nghiệp của chủ hộ,giới tính của trẻ, quy mô hộ gia đình, đẳng cấp và tôn giáo của hộ, các chỉ số phát triểnlàng xã nơi hộ gia đình sống và các khoản trợ cấp Kết quả nghiên cứu cho thấy, giớitính chủ hộ được kỳ vọng là một trong các yếu tố rất quan trọng quyết định đến chi tiêucủa hộ gia đình đối với giáo dục Tuy nhiên, nghiên cứu này sử dụng phương pháp ướclượng OLS đã chỉ ra rằng không có sự khác biệt về giới tính trong chi tiêu dành cho giáodục của hộ gia đình Đặc điểm của hộ gia đình đặc biệt là thu nhập của hộ gia đình vàtrình độ học vấn của chủ hộ được coi là yếu tố quan trọng quyết định chi tiêu cho giáodục Hơn nữa, kết quả cho thấy rằng chi tiêu hộ gia đình thay đổi theo mức thu nhập của

hộ gia đình Thông qua nghiên cứu này, người ta cũng thấy rằng trình độ học vấn củachủ hộ là yếu tố quan trọng quyết định chi tiêu cho giáo dục trong một gia đình Hệ số

có ý nghĩa về mặt thống kê ở mức độ tin cậy 1% cho thấy những hộ gia đình với chủ hộ

có trình độ học vấn cao hơn chi tiêu nhiều hơn cho giáo dục con cái của họ Hơn nữa,kết quả cũng cho thấy số lượng trẻ em có ảnh hưởng tích cực đến chi tiêu cho giáo dụccủa hộ và có ý nghĩa thống kê cao Số lượng trẻ em có chi phí dành cho giáo dục tăngmặc dù số trẻ em trung bình trong gia đình là 2,68 Hồi quy cho thấy số lượng trườnghọc trong khu dân cư có ảnh hưởng đáng kể về mặt thống kê ở mức 1 phần trăm cho cáctrường công lập nhưng không ảnh hưởng đến chi tiêu cho các trường tư Hệ số co giãncho thấy chi tiêu của chính phủ và chi tiêu hộ gia đình không thay thế lẫn nhau, mà thayvào đó là bổ sung cho nhau

Psacharopoulos và Papakonstantinou (2005) nghiên cứu thấy chi tiêu cho mụcphụ đạo riêng là một khoản không thể thiếu trong ngân sách tiêu dùng ở Hi Lạp Kết quảkhác nhau được cho là do phương pháp nghiên cứu và chọn mẫu khác nhau Ví dụ như,Hashimoto và Health (1995) tính độ co giãn, Psacharopoulos và Papakonstantinou(2005) sử dụng phương pháp bình phương nhỏ nhất (OLS) và Tansel và Bircan (2006)

áp dụng mô hình Tobit Trong khi đó, mẫu của Psacharopoulos và Papakonstantinou(2005) khác so với các nghiên cứu còn lại ở chỗ mẫu được lựa chọn từ các sinh viên đạihọc Có sự thống nhất cao giữa các quốc gia về kết quả của các nghiên cứu khảo sát mối

Trang 36

liên quan giữa nền tảng gia đình và chi tiêu cho giáo dục Nói thẳng ra, tác động tích cực

và chủ yếu của thành tích học tập của các bậc phụ huynh đến việc học của con cái là tấtyếu (Binder, 1998)

Tansel và Bircan (2006) khảo sát các yếu tố quyết định đến nhu cầu phụ đạo riêng

ở Thổ Nhĩ Kỳ, dựa trên khảo sát chi tiêu hộ gia đình năm 1994 Kết quả chỉ ra các hộgia đình có thu nhập cao và trình độ giáo dục của các bậc phụ huynh cao và các hộ giađình ở khu vực thành thị dành nhiều nguồn lực hơn cho việc phụ đạo riêng của con cái.Nghiên cứu còn chỉ ra các bà mẹ đơn thân chi tiêu nhiều hơn cho việc phụ đạo riêng Sửdụng số liệu từ các hộ gia đình ở Nhật Bản, Hashimoto và Heath (1995) chỉ ra độ cogiãn thu nhập của chi tiêu cho giáo dục đạt đỉnh ở phần giữa của dãy phân phối thunhập, mà không nằm ở dưới dãy phân phối đối với các hộ thu nhập thấp, cũng không bị

âm đối với các nhóm có thu nhập cao Ngược lại với nghiên cứu của Tansel và Bircan’s(2006) về co giãn đơn vị của chi tiêu cho khoản mục phụ đạo riêng ở Thổ Nhĩ Kỳ, vàkết quả nghiên cứu của Hashimoto và Heath’s (1995) là các hộ gia đình trung lưu ởNhật Bản có độ co dãn thu nhập lớn nhất về giáo dục

Mariara và Kirii (2006) đã nghiên cứu các yếu tố quyết định nhu cầu giáo dục

ở Kenya Các phương pháp hồi quy probit và probit thứ tự đã được sử dụng vào môhình tuyển sinh và trình độ học vấn tương ứng giữa các vùng bằng cách sử dụng đặcđiểm của trẻ em và hộ gia đình, chỉ số phúc lợi hộ gia đình và biến cộng đồng Các kếtquả nghiên cứu cho thấy đặc điểm, chất lượng và chi phí học tập của hộ gia đình lànhững yếu tố quan trọng quyết định nhu cầu về dịch vụ giáo dục ở Kenya Ngoài ra, kếtquả cho thấy có sự khác biệt về khu vực và giới tính trong đáp ứng nhu cầu học tập.Nhu cầu ở khu vực nông thôn thể hiện nhanh hơn khi có những thay đổi chính sách sovới khu vực thành thị, trong khi nữ bị ảnh hưởng nhiều hơn bởi những thay đổi chínhsách so với nam

Kambhampati (2008) đã phân tích liệu số tiền mà hộ gia đình chi tiêu cho giáodục có phụ thuộc vào suất sinh lợi cho giáo dục phổ biến tại khu vực mà họ sinh sốnghay không Dữ liệu được sử dụng để phân tích được lấy từ vòng thứ 52 của Khảo sátmẫu quốc gia (NSS) của Ấn Độ được thực hiện vào năm 1995 - 1996 Tỷ suất lợi nhuậncủa giáo dục được ước tính riêng cho nam và nữ ở 33 tiểu bang ở Ấn Độ Tỷ lệ lợinhuận này sau đó được đưa vào mô hình chi tiêu dành cho giáo dục Kết quả cho thấy tỷ

lệ lợi nhuận trong giáo dục đóng vai trò quan trọng và có ý nghĩa thống kê cao trongviệc tăng số tiền dành cho giáo dục của một hộ gia đình cho cả nam và nữ Tuy nhiên,kết quả nghiên cứu cũng cho thấy các biến số có tác động lớn hơn nhiều ở cấp trung học

cơ sở và cho đối tượng nữ

Trang 37

Trong một nghiên cứu khác, Aslam và Kingdon (2008) sử dụng dữ liệu từ vòngthứ tư của cuộc điều tra hộ gia đình tổng hợp Pakistan năm 2001 đến 2002, trong đó có

14680 hộ gia đình với tiêu chí có ít nhất một trẻ từ độ tuổi 5 đến 24 Kết quả hồi quycho thấy logarit tự nhiên chi tiêu của hộ gia đình theo đầu người có tác động âm đếnngân sách chi tiêu giáo dục của hộ, trong khi bình phương yếu tố này lại có tác độngdương Giới tính chủ hộ có quan hệ cùng chiều đến chi tiêu giáo dục của hộ, những giađình có chủ hộ là nữ có xu hướng dành ngân sách chi tiêu giáo dục cao hơn so với chủ

hộ là nam, trong khi quy mô hộ gia đình có tác động dương đến ngân sách cho giáo dục

và có thể được hiểu khi hộ gia đình có quy mô lớn thì khả năng có nhiều con trong độtuổi đi học sẽ cao hơn nên đây là lý do hộ có quy mô lớn sẽ chi tiêu giáo dục nhiều hơn

hộ có quy mô nhỏ Chủ hộ có học vấn với hơn 10 năm đi học sẽ có ngân sách chi tiêucho giáo dục cao hơn so với các trường hợp khác và nghề nghiệp của chủ hộ có tác độngđến thu nhập nên hộ có nghề nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ, quản

lý có ngân sách chi tiêu cao hơn cho giáo dục so với chủ hộ làm nông nghiệp hoặc làmthuê Những gia đình có chủ hộ đang còn trong mối quan hệ hôn nhân vợ chồng sẽ cóngân sách chi tiêu giáo dục cao hơn những chủ hộ còn độc thân, trong khi những hộ sinhsống ở thành thị cũng chi tiêu giáo dục nhiều hơn những hộ sống ở nông thôn

Owen và Nerman (2010) sử dụng dữ liệu từ hai dữ liệu khảo sát ngân sách hộ giađình đại diện trên toàn quốc bao gồm vùng đất liền của Tanzania năm 2001 và 2007 đểđiều tra yếu tố quyết định nhu cầu giáo dục tại Tanzania Dữ liệu được sử dụng để kiểmtra liệu yếu tố quyết định nhu cầu giáo dục có thay đổi trong thời gian chính phủTanzania đẩy mạnh giáo dục phổ cập tiểu học (UPE) vào năm 2000 hay không Dựa trêncác tài liệu lý thuyết và thực nghiệm hiện có, ba giả thuyết chính liên quan đến nhu cầugiáo dục ở Tanzania đã được thử nghiệm: nhu cầu giáo dục được thúc đẩy bởi chi phígiáo dục, lợi ích của giáo dục,và bởi sự quan tâm về giáo dục Lợi ích giáo dục đượcđánh giá như là lợi nhuận tài chính có thể được quan sát đối với giáo dục trong bối cảnhkinh tế của hộ gia đình Nghiên cứu cho thấy mặc dù số lượng học sinh đi học tăng lên

do việc bãi bỏ học phí, nhưng chi phí dường như có sự khác biệt hạn chế về ý nghĩakinh tế và đáng kể về mặt cấu trúc trong nhu cầu giáo dục.Trẻ em trong hoàn cảnh kémthuận lợi hơn vẫn đi học ít hơn trẻ em trong hoàn cảnh tốt hơn Nghiên cứu cũng thấyrằng nghề nghiệp cũng đóng vai trò không đáng kể trong việc dự đoán nhu cầu giáodục.Người có thu nhập hoặc một công việc kinh doanh riêng là những yếu tố quyết địnhđáng kể về nhu cầu giáo dục trong năm 2001 nhưng những yếu tố này lại ít có ảnhhưởng hơn trong năm 2007

Trang 38

Owen và Nerman (2010) sử dụng dữ liệu từ hai dữ liệu khảo sát ngân sách hộ giađình đại diện trên toàn quốc bao gồm vùng đất liền của Tanzania năm 2001 và 2007 đểđiều tra yếu tố quyết định nhu cầu giáo dục tại Tanzania Dữ liệu được sử dụng để kiểmtra liệu yếu tố quyết định nhu cầu giáo dục có thay đổi trong thời gian chính phủTanzania đẩy mạnh giáo dục phổ cập tiểu học (UPE) vào năm 2000 hay không Dựa trêncác tài liệu lý thuyết và thực nghiệm hiện có, ba giả thuyết chính liên quan đến nhu cầugiáo dục ở Tanzania đã được thử nghiệm: nhu cầu giáo dục được thúc đẩy bởi chi phígiáo dục, lợi ích của giáo dục,và bởi sự quan tâm về giáo dục Lợi ích giáo dục đượcđánh giá như là lợi nhuận tài chính có thể được quan sát đối với giáo dục trong bối cảnhkinh tế của hộ gia đình Nghiên cứu cho thấy mặc dù số lượng học sinh đi học tăng lên

do việc bãi bỏ học phí, nhưng chi phí dường như có sự khác biệt hạn chế về ý nghĩakinh tế và đáng kể về mặt cấu trúc trong nhu cầu giáo dục.Trẻ em trong hoàn cảnh kémthuận lợi hơn vẫn đi học ít hơn trẻ em trong hoàn cảnh tốt hơn Nghiên cứu cũng thấyrằng nghề nghiệp cũng đóng vai trò không đáng kể trong việc dự đoán nhu cầu giáodục.Người có thu nhập hoặc một công việc kinh doanh riêng là những yếu tố quyết địnhđáng kể về nhu cầu giáo dục trong năm 2001 nhưng những yếu tố này lại ít có ảnhhưởng hơn trong năm 2007

Choudhury (2011) đã kiểm tra mô hình và yếu tố quyết định đến chi tiêu của hộgia đình đối với giáo dục kỹ thuật ở Delhi-Ấn Độ Các dữ liệu được thu thập từ mộtcuộc khảo sát sinh viên năm cuối đang theo học các khóa học công nghệ thông tin trongnăm học 2008-2009 Các mô hình chi tiêu hộ gia đình theo các đặc điểm kinh tế xã hội

và các đặc điểm đào tạo của sinh viên được phân tích Bằng cách sử dụng kỹ thuật bìnhphương tối hiểu, yếu tố quyết định đến chi tiêu cho giáo dục của hộ gia đình đã đượckiểm tra Các phát hiện cho thấy, chi tiêu cho giáo dục kỹ thuật nhiều hơn không phải là

do học phí cao và các chi phí khác do trường thu Nguyên nhân nằm ở các chi tiêu phátsinh trên các khoản không tính phí và chi phí bổ sung Do đó, chi tiêu của hộ gia đìnhđối với giáo dục không tuân theo hướng nhận thức chung rằng một phần đáng kể chitiêu cho giáo dục của hộ gia đình là dành cho học phí

Donkoh và Amikuzuno (2011) đã sử dụng mô hình logit để tìm ra các yếu tố quyếtđịnh về mặt kinh tế xã hội đến xác suất tham gia chi tiêu của hộ gia đình cho giáo dục Dữliệu được sử dụng là Khảo sát mức sống năm 2006/2007 của Ghana vòng 5 (GLSS-V) vớiquy mô mẫu 3941 hộ gia đình do dịch vụ thống kê Ghana và Ngân hàng thế giới thu thập.Mục tiêu chính của nghiên cứu này là để tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến chi tiêu của hộgia đình đối với giáo dục Mô hình logit được ước lượng với biến

Trang 39

phụ thuộc là xác suất chi tiêu cho giáo dục Bản chất không phải là để giải thích các yếu tốquyết định về chi tiêu dành cho giáo dục mà để nắm được khu vực nào của cộng đồngGhana có khả năng chi tiêu nhiều hơn cho giáo dục nhằm nhắm đến và hỗ trợ những ngườitrong khu vực đó Nghiên cứu tìm thấy hai nhóm hộ gia đình có xác suất chi tiêu lớn hơncho giáo dục Nhóm thứ nhất bao gồm các hộ gia đình có chủ hộ tương đối trẻ và các hộ cóchủ hộ là người có giáo dục chính quy cũng như quyền sở hữu đất đai, xe buýt và các tài sảnbền vững khác Nhóm thứ hai bao gồm các hộ gia đình có chủ hộ là nữ, các hộ có số trẻ em

ở lứa tuổi đi học nhiều hơn; hộ gia đình ở nông thôn và hộ gia đình sống cách xa thủ đô.Nghiên cứu cho rằng chủ hộ là nam có xác suất phát sinh chi tiêu giáo dục thấp hơn khi chủ

hộ là nữ và tuổi của chủ hộ tác động âm đến xác suất phát sinh chi tiêu này, trong khi tuổibình phương lại tác động dương, từ đó cho thấy chủ hộ trẻ tuổi có xu hướng chi giáo dụcthấp hơn chủ hộ lớn tuổi hay chủ hộ trẻ tuổi chưa quan tâm lắm đến chi tiêu giáo dục củatrẻ Bên cạnh đó, học vấn của chủ hộ có mối quan hệ cùng chiều và có hệ số tác động dươngđến mức chi tiêu này, hộ gia đình sống ở thành thị có xu hướng xác suất phát sinh chi tiêuthấp hơn so với hộ gia đình sống ở nông thôn

Sulaiman, Ismail và Othman (2012) chi tiêu cho giáo dục của 3309 hộ gia đìnhtrên 10 bang của Malaysia bằng cách sử dụng phương pháp OLS Trong nghiên cứu, yếu

tố quyết định nhu cầu giáo dục bao gồm các đặc điểm của cha mẹ hoặc gia cảnh hộ giađình như thu nhập và trình độ học vấn của phụ huynh và thông tin về các chỉ số cho chitiêu giáo dục do tác động của toàn cầu hóa Nghiên cứu cho thấy thu nhập hộ gia đình

có liên quan đáng kể và tích cực đến chi tiêu dành cho giáo dục Kết quả là khi thu nhậpcủa hộ gia đình tăng 1%, chi tiêu cho giáo dục cũng tăng khoảng 1%, điều này chỉ rarằng cầu cho giáo dục là co giãn đơn nhất, nó không phải là hàng hóa thiết yếu và cũngkhông phải là một mặt hàng xa xỉ trong ngân sách của người tiêu dùng Chi phí cho giáodục tăng với tỉ lệ giảm dần Độ tuổi và độ tuổi bình phương của chủ hộ đều có

ý nghĩa thống kê ở mức 1% và có ảnh hưởng tích cực đến chi tiêu cho giáo dục của hộ, tuynhiên kết quả cụ thể cho thấy tuổi của người mẹ có tác động ngược chiều đến chi tiêu giáodục Điều này ngụ ý rằng chi phí giáo dục tăng theo tuổi của chủ hộ với tỷ lệ tăng giảm dần

và hộ gia đình có chủ hộ trẻ hơn có xác suất tham gia chi tiêu giáo dục thấp hơn Nghiêncứu cho thấy rằng chi tiêu giáo dục có khả năng đạt mức cao nhất vào khoảng thời giantrung niên khi chủ hộ có khả năng có con với trình độ giáo dục cao hơn Hơn nữa, số năm đihọc của chủ hộ và người mẹ không có ý nghĩa thống kê Nghiên cứu chỉ ra rằng trình độ họcvấn của các chủ hộ có tương quan tích cực nhưng không đáng kể trong khi số năm đi họccủa các bà mẹ có tương quan tiêu cực với chi tiêu giáo dục Điều này chỉ ra rằng các hộ giađình có trình độ học vấn thấp hơn quan tâm nhiều

Trang 40

hơn đến việc giáo dục con cái của họ, do đó họ chi tiêu nhiều hơn cho giáo dục Nhậnthức của cha mẹ về toàn cầu hóa có ảnh hưởng tích cực ở mức 1 phần trăm, điều nàyngụ ý rằng chi tiêu cho giáo dục tăng cùng với sự gia tăng nhận thức của cha mẹ về tácđộng của toàn cầu hóa.

Nghiên cứu của Andreous (2012) thông qua dữ liệu từ cuộc điều tra chi tiêu hộgia đình đã nghiên cứu khoản chi tiêu của hộ gia đình về giáo dục ở Cộng hoà Síp Môhình Heckman được áp dụng để phân tích dữ liệu từ các cuộc điều tra chi tiêu hộ giađình các năm 1996 - 1997, 2002 - 2003 và 2008 - 2009 Trong phân tích thực nghiệm,nghiên cứu tìm thấy các yếu tố ảnh hưởng sâu sắc nhất đến mức chi tiêu là thu nhập, sốtrẻ em trong hộ gia đình, vùng cư trú và tuổi và trình độ học vấn của chủ hộ Nghiên cứucủa tác giả cho rằng chi tiêu giáo dục bị ảnh hưởng lớn bởi thu nhập của gia đình vàmức chi tiêu này tăng theo thu nhập của hộ, hơn nữa chi tiêu giáo dục dạy kèm ở cấptiểu học và trung học cũng tăng hơn so với các cấp học khác Những hộ gia đình có trẻ

đi học từ 13 – 30 tuổi có mức chi giáo dục cao hơn so với nhóm tuổi 0 – 5 tuổi Trongkhi tuổi chủ hộ từ 30 tuổi trở lên có xu hướng chi tiêu giáo dục cao hơn so với nhóm chủ

hộ có độ tuổi 30 trở xuống Thêm vào đó học vấn chủ hộ có tác động dương đến chi tiêugiáo dục, lúc này học vấn chủ hộ có cấp học càng cao thì chi tiêu giáo dục càng lớn sovới chủ hộ có cấp học càng thấp Hơn nữa, những hộ gia đình sống ở thành thị chi tiêugiáo dục cao hơn những hộ gia đình sống ở nông thôn

Dimoso (2012) đã sử dụng kỹ thuật ước lượng probit phân tích để đánh giá xemviệc đi học và tiến bộ của trẻ em ở trường tiểu học nông thôn theo khía cạnh giới tính có

bị ảnh hưởng ngược do suy thoái tài nguyên môi trường ở vùng nông thôn miền namPare ở Tanzania không Sử dụng dữ liệu sơ cấp cắt ngang thu được vào 07/ 2006, nghiêncứu cho thấy rằng mức độ biết chữ của người mẹ có tác động tích cực và quan trọng đốivới trình độ học vấn của các con bất kể giới tính.Trong khi trình độ học vấn trung họccủa mẹ tăng đáng kể xác suất tiến bộ ở trường của cả con gái và con trai, trình biết chữ

cơ bản của người mẹ ở cấp tiểu học chỉ làm tăng đáng kể trình độ học vấn của con trai.Ngoài ra, nghiên cứu cũng cho thấy rằng học vấn của bố không ảnh hưởng gì đến cả congái và con trai.Theo đó, giáo dục của người mẹ có ảnh hưởng mạnh mẽ đến giáo dụccủa trẻ

Theo Rojas Villamil (2012) cho nghiên cứu phân tích của 3013 hộ gia đình có chitiêu giáo dục bình quân cơ bản cho trẻ em dưới 14 tuổi và dữ liệu được lấy từ khảo sát hộgia đình quốc gia với sự thực hiện của cục thống kê quốc gia Colombia năm 2008 Kết quảnghiên cứu cho thấy trình độ học vấn của chủ hộ càng cao thì mức độ chi tiêu giáo dục bìnhquân càng cao, trong khi quy mô hộ gia đình có tác động âm đến chi tiêu

Ngày đăng: 01/08/2020, 06:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w