1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu một số nhân tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch cộng đồng tiểu vùng tây bắc

233 49 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 233
Dung lượng 8,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đặc biệt, trong thời gian vừa qua, một số địa phương đãchứng kiến bên cạnh những mặt tích cực của phát triển CBT là sự giao thoa, phai mờcác giá trị văn hóa, sự thay đổi lối sống của ngư

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

HÀ NỘI - 2020

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

HÀ NỘI - 2020

Trang 3

LỜI CAM KẾT

Tôi đã đọc và hiểu về các hành vi vi phạm sự trung thực trong học thuật Tôicam kết bằng danh dự cá nhân rằng nghiên cứu này do tôi tự thực hiện và không viphạm yêu cầu về sự trung thực trong học thuật

Hà nội, ngày tháng năm 2020

Tác giả luận án

Đặng Trung Kiên

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trước tiên tôi chân thành gửi lời cảm ơn đến Ban Giám hiệu Trường đại họcKinh tế Quốc dân, Trường đại học Tây Bắc đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thànhluận án này

Tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn đến người hướng dẫn khoa học của luận án đãgiúp tôi những quy chuẩn về nội dung, kiến thức và phương pháp nghiên cứu để hoànthành luận án này

Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn đến gia đình, bạn bè, những đồng nghiệp

đã tận tình hỗ trợ, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu

Xin gửi lời cảm ơn chân thành đến tất cả mọi người!

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM KẾT i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC BẢNG BIỂU vii

DANH MỤC HÌNH ix

DANH MỤC BIỂU ĐỒ x

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 8

1.1 Nghiên cứu về du lịch cộng đồng 8

1.1.1 Cộng đồng 8

1.1.2 Du lịch cộng đồng 10

1.2 Nghiên cứu về phát triển du lịch cộng đồng 13

1.2.1 Quan điểm về phát triển trong nghiên cứu 13

1.2.2 Phát triển du lịch cộng đồng 17

1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch cộng đồng 25

1.3.1 Sức hấp dẫn của điểm đến du lịch 25

1.3.2 Khả năng tiếp cận điểm đến du lịch 26

1.3.3 Tính tiện nghi của điểm đến du lịch 28

1.3.4 Sự tham gia của người dân địa phương 29

1.3.5 Kiến thức và kỹ năng về du lịch của người dân địa phương 30

1.3.6 Lãnh đạo cộng đồng 32

1.3.7 Sự hỗ trợ của các tổ chức trong cộng đồng 33

1.3.8 Hợp tác và hỗ trợ từ bên ngoài cộng đồng 34

1.4 Xác định khoảng trống nghiên cứu và định hướng nghiên cứu 35

Tiểu kết chương 1 38

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 39

2.1 Cơ sở lý thuyết liên quan đến nghiên cứu 39

2.1.1 Lý thuyết phát triển bền vững 39

Trang 6

2.1.2 Lý thuyết các bên liên quan 42

2.1.3 Lý thuyết kỳ vọng 45

2.2 Đề xuất mô hình và các giả thuyết nghiên cứu 47

2.2.1 Đề xuất mô hình nghiên cứu của luận án 47

2.2.2 Phát triển các giả thuyết nghiên cứu 54

Tiểu kết chương 2 59

CHƯƠNG 3: ĐẶC ĐIỂM KHU VỰC NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 60

3.1 Đặc điểm của khu vực nghiên cứu 60

3.1.1 Đặc điểm kinh tế - xã hội các tỉnh tiểu vùng Tây Bắc 60

3.1.2 Đặc điểm cơ sở vật chất - kỹ thuật và nguồn nhân lực phát triển du lịch cộng đồng 63

3.2 Phương pháp nghiên cứu 67

3.2.1 Thiết kế nghiên cứu 67

3.2.2 Quy trình nghiên cứu 68

3.2.3 Nghiên cứu định tính 71

3.2.4 Nghiên cứu định lượng 75

Tiểu kết chương 3 89

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 90

4.1 Kết quả nghiên cứu định tính 90

4.1.1 Đánh giá phát triển CBT tiểu vùng Tây Bắc 90

4.1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển CBT tiểu vùng Tây Bắc 93

4.1.3 Điều chỉnh mô hình và giả thuyết nghiên cứu 102

4.2 Kết quả nghiên cứu định lượng 105

4.2.1 Thống kê mô tả đặc điểm nhân khẩu của đối tượng khảo sát 105

4.2.2 Thống kê mô tả các biến liên quan đến nghiên cứu 108

4.2.3 Kiểm định độ tin cậy thước đo bằng hệ số Cronbach’s Alpha 114

4.2.4 Kiểm định phân tích nhân tố khám phá EFA 116

4.2.5 Kiểm định sự khác biệt trung bình các biến nhân khẩu với phát triển CBT 122 4.2.6 Phân tích tương quan Pearson và hồi quy tuyến tính bội 124

Tiểu kết chương 4 130

Trang 7

CHƯƠNG 5: THẢO LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ KHUYẾN NGHỊ.131

5.1 Thảo luận về kết quả nghiên cứu 131

5.1.1 Về đánh giá sự phát triển du lịch cộng đồng tiểu vùng Tây Bắc 131

5.1.2 Những nhân tố ảnh hưởng đáng kể đến phát triển CBT 132

5.1.3 Đánh giá ảnh hưởng của các nhân tố được lựa chọn đến phát triển CBT tiểu vùng Tây Bắc 135

5.2 Một số khuyến nghị 143

5.2.1 Đối với cơ quan quản lý Nhà nước 144

5.2.2 Đối với người dân địa phương 145

5.2.3 Đối với doanh nghiệp kinh doanh du lịch 148

Tiểu kết chương 5 149

KẾT LUẬN 150

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ 152

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 153

PHỤ LỤC 165

Trang 8

World Travel and Tourism Council Hội đồng Du lịch Thế giới

Trang 9

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1 Lợi ích tiềm năng của du lịch cộng đồng 12

Bảng 2.1: Tổng hợp những nghiên cứu về các bên liên quan trong phát triển CBT tìm thấy trong các nghiên cứu trước đây 44

Bảng 2.2: Kết quả hiệu chỉnh các chỉ tiêu đánh giá phát triển CBT và các nhân tố ảnh hưởng sau tham vấn ý kiến chuyên gia 53

Bảng 2.3: Tổng hợp các giả thuyết nghiên cứu và dự đoán mối quan hệ kỳ vọng 59

Bảng 3.1: Thống kê một số chỉ tiêu thuộc tiểu vùng Tây Bắc 60

Bảng 3.2: Thống kê lượng khách đến các điểm du lịch cộng đồng giai đoạn 2010 - 2017 .65

Bảng 3.3: Thống kê lượt khách du lịch đến các tỉnh tiểu vùng Tây Bắc giai đoạn 2010 - 2017 66

Bảng 3.4: Tiến độ thực hiện các nghiên cứu 68

Bảng 3.5: Thống kê đối tượng tham gia nghiên cứu định tính 72

Bảng 3.6: Thông tin đối tượng tham gia phỏng vấn sâu 73

Bảng 3.7: Cấp độ thang đo Likert sử dụng cho nghiên cứu định lượng 76

Bảng 3.8: Tổng hợp thước đo phát triển CBT 78

Bảng 3.9: Tổng hợp thước đo sức hấp dẫn của điểm CBT 79

Bảng 3.10: Tổng hợp thước đo khả năng tiếp cận điểm CBT 81

Bảng 3.11: Tổng hợp thước đo cơ sở hạ tầng và dịch vụ điểm CBT 82

Bảng 3.12: Tổng hợp thước đo kiến thức và kỹ năng về du lịch của người dân 83

Bảng 3.13: Tổng hợp thước đo hợp tác và hỗ trợ từ bên ngoài cộng đồng 84

Bảng 4.1: Thước đo cơ sở hạ tầng và dịch vụ điểm CBT điều chỉnh sau nghiên cứu định tính 99

Bảng 4.2: Tổng hợp các nhân tố và biến số sau nghiên cứu định tính 103

Bảng 4.3: Đặc điểm nhân khẩu của đối tượng khảo sát 105

Bảng 4.4: Thống kê mô tả biến sức hấp dẫn của điểm CBT 108

Bảng 4.5: Thống kê mô tả biến khả năng tiếp cận điểm CBT 109

Bảng 4.6: Thống kê mô tả biến cơ sở hạ tầng và dịch vụ của điểm CBT 110

Bảng 4.7: Thống kê mô tả biến kiến thức và kỹ năng về du lịch của người dân 111

Bảng 4.8: Thống kê mô tả biến hợp tác và hỗ trợ từ bên ngoài cộng đồng 112

Bảng 4.9: Thống kê mô tả biến phát triển CBT 113

Bảng 4.10: Kiểm định độ tin cậy bằng Cronbach’s Alpha cho các nhân tố 114

Trang 10

Bảng 4.11: Kiểm định độ tin cậy bằng Cronbach’s Alpha lần 2 cho biến Cơ sở hạ tầng

và dịch vụ bổ sung sau khi lọai thước đo CHB4 116

Bảng 4.12: Kết quả kiểm định KMO và Bartlett's Test 117

Bảng 4.13: Tổng hợp kết quả phân tích nhân tố khám phá cho các biến độc lập 118

Bảng 4.14: Tổng hợp các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển CBT sau phân tích nhân tố khám phá EFA 120

Bảng 4.15: Kết quả kiểm định KMO và Bartlett's Test cho biến PTT 121

Bảng 4.16: Tổng hợp kết quả phân tích nhân tố khám phá EFA cho biến phụ thuộc 121 Bảng 4.17: Kết quả kiểm định T-test cho biến giới tính 122

Bảng 4.18: Kết quả kiểm định T-test cho biến tình trạng hôn nhân 123

Bảng 4.19: Tổng hợp kết quả kiểm định One-Way ANOVA 123

Bảng 4.20: Phân tích tương quan Pearson cặp đôi từng biến độc lập với biến phụ thuộc phát triển CBT 125

Bảng 4.21: Hệ số tổng hợp mô hình hồi quy 125

Bảng 4.22: Hệ số phương sai 126

Bảng 4.23: Kết quả hệ số hồi quy tuyến tính bội 126

Bảng 4.24: Kết luận về các giả thuyết nghiên cứu 129

Bảng 5.1: Thứ tự vai trò các thước đo sử dụng đánh giá sự phát triển CBT 132

Bảng 5.2: Tổng hợp các nhân tố và thước đo ảnh hưởng đến phát triển CBT 134

5.1 Một số chỉ tiêu đánh giá phát triển CBT gắn với tăng trưởng kinh tế cộng đồng được các học giả đề cập trong nghiên cứu 179

5.2 Một số chỉ tiêu đánh giá phát triển CBT gắn với phát triển văn hóa - xã hội được các học giả đề cập trong nghiên cứu 180

5.3 Một số chỉ tiêu đánh giá phát triển CBT gắn với nhận thức về bảo vệ môi trường được các học giả đề cập trong nghiên cứu 181

5.4 Một số chỉ tiêu đánh giá mức độ thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch trong các nghiên cứu trước đây 182

6.1 Một số chỉ tiêu đánh giá sức hấp dẫn của điểm đến du lịch trong các nghiên cứu trước đây 183

6.2 Một số chỉ tiêu đánh giá khả năng tiếp cận điểm đến du lịch trong các nghiên cứu trước đây 185

6.3 Một số chỉ tiêu đánh giá tính tiện nghi của điểm đến du lịch trong các nghiên cứu trước đây 186

Trang 11

6.4 Một số chỉ tiêu đánh giá sự tham gia của người dân trong phát triển du lịch trong các

nghiên cứu trước đây 187

6.5 Một số chỉ tiêu đánh giá kiến thức và kỹ năng về du lịch của người dân trong phát triển du lịch trong các nghiên cứu trước đây 188

6.6 Một số chỉ tiêu đánh giá lãnh đạo cộng đồng trong quản lý phát triển du lịch trong các nghiên cứu trước đây 189

DANH MỤC HÌNH Hình 1.1: Xây dựng năng lực cộng đồng và sự tham gia của cộng đồng, sự chi phối bên ngoài và phát triển du lịch không bền vững. 31

Hình 2.1: Mô hình đề xuất nghiên cứu một số nhân tố ảnh hưởng đến phát triển CBT tiểu vùng Tây Bắc Việt Nam 54

Hình 3.1 Bản đồ hành chính các tỉnh tiểu vùng Tây Bắc 61

Hình 3.2 Quy trình nghiên cứu 69

Hình 4.1: Mô hình nghiên cứu điều chỉnh sau nghiên cứu định tính 104

Hình 4.2: Biểu đồ Histogram về phân phối chuẩn phần dư 128

Hình 4.3: Biểu đồ Scatterplot dò tìm giả định liên hệ tuyến tính 128

Hinh 5.1: Mô hình nghiên cứu điều chỉnh sau nghiên cứu định lượng 144

Trang 12

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3.1: Cơ cấu lao động theo độ tuổi trong kinh doanh CBT 64Biểu đồ 3.2: Tỷ lệ lượt khách CBT so với tổng lượt khách tiểu vùng Tây Bắc 67

Trang 13

2017, cụ thể: Nếu như năm 1990 Việt Nam đón khoảng 250 nghìn lượt khách quốc tế,thì đến năm 2017 gần 13 triệu lượt Tổng thu từ khách du lịch năm 2000 là 17,4 nghìn tỷđồng, đến năm 2017 là 510,9 nghìn tỷ đồng (Tổng cục Du lịch Việt Nam, 2018), gópphần không nhỏ vào việc thực hiện công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, cải thiện vànâng cao chất lượng đời sống của người dân.

Bên cạnh những mặt tích cực đạt được thì sự phát triển của “du lịch đại chúng”(Mass tourism) đã tạo ra những tác động tiêu cực đến điều kiện kinh tế, xã hội và môitrường sống như việc di dân tái định cư, bất bình đẳng giới, khai thác bừa bãi các tàinguyên du lịch, không công bằng trong phân phối thu nhập, vấn đề quản lý chất thải hay

sự giao thoa, thay đổi văn hóa truyền thống của cộng đồng người dân bản địa…(Mingsarn Kaosa-ard, 2006) Nhiều tổ chức quốc tế nhận thức được những tác động tiêucực ngày càng tăng của “du lịch đại chúng” và cố gắng tìm ra một hướng đi mới chophát triển du lịch đảm bảo sự cân đối hài hòa với thiên nhiên, giá trị xã hội và cộngđồng, hình thức “du lịch thay thế” (Alternative tourism) đã được các học giả đề cập đếntrong những năm 1980 - 1990 Một số loại hình du lịch thay thế như du lịch sinh thái, dulịch trang trại nông nghiệp nông thôn, du lịch vì người nghèo, du lịch bản địa, du lịch cótrách nhiệm, du lịch dựa vào cộng đồng… đã được giới thiệu để đối phó với những tácđộng xã hội và môi trường của ngành du lịch thông thường trước đây

Du lịch dựa vào cộng đồng (thường gọi là “du lịch cộng đồng”:

Community-Based Tourism (CBT)) xuất hiện ở Việt Nam từ những năm 1980 tại một số điểm nhưMai Châu - Hòa Bình, Sa Pa - Lào Cai; Hội An - Quảng Nam và một số tỉnh Đồng BằngSông Cửu Long đã mang lại nhiều lợi ích kinh tế cho người dân địa phương Một số loạihình CBT tiêu biểu như tham quan các làng nghề cổ, tìm hiểu văn hóa, phong tục tập

Trang 14

quán các dân tộc bản địa, khám phá thiên nhiên Hiện mô hình này đang được áp dụngphổ biến tại các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam như Hòa Bình, Lào Cai, Hà Giang vàthu hút được nhiều khách du lịch đến thăm.

Tiểu vùng Tây Bắc, gồm các tỉnh Hòa Bình, Sơn La, Điện Biên và Lai Châu (Quyếtđịnh 1064/QĐ-TTg, 2013) có nhiều tiềm năng cho phát triển loại hình CBT do sở hữunhững tài nguyên tự nhiên phong phú, đa dạng như cấu trúc địa hình đồi núi cao đã tạo nênnhiều hang động đẹp (động Hoa Tiên, Hòa Bình; hang Dơi, Mộc Châu, Sơn La; động PaThơm, Điện Biên; động Tiên Sơn, Tam Đường, Lai Châu…), thích hợp cho một số loại hìnhCBT gắn với thể thao leo núi, thám hiểm hang động Khí hậu chia thành hai mùa theo độ

ẩm (mùa mưa và mùa khô), bốn mùa theo nhiệt độ (xuân, hè, thu, đông), nhiệt độ trungbình/năm khoảng 230C, độ ẩm trên 80%, lượng mưa trung bình từ 1.200 - 1.800mm; nhiềucao nguyên có độ cao trên 1.000m so với mực nước biển (Cao nguyên Mộc Châu, Sơn La(1.050m); Sìn Hồ, Lai Châu (1.500m); Sín Chải, Tủa Chùa, Điện Biên (1.596m)…, thíchhợp cho phát triển một số loại hình CBT trải nghiệm trong lĩnh vực nông nghiệp, nghỉdưỡng Hệ thống sông ngòi, lòng hồ, thác ghềnh phong phú như sông Mã; sông Đà; lòng hồthủy điện Hòa Bình, Sơn La, Lai Châu, rất thuận lợi cho phát triển loại hình CBT gắn với duthuyền, trải nghiệm cuộc sống của người dân địa phương vùng lòng hồ; nhiều thác nước đẹpnhư thác Dải Yếm (Mộc Châu), thác Tác Tình (Tam Đường, Lai Châu), tài nguyên sinh vậtkhá phong phú và đặc trưng, thích hợp cho phát triển những loại hình du lịch sinh thái cộngđồng Ngoài ra, tiểu vùng Tây Bắc còn có nhiều nguồn suối khoáng nóng nằm trong các khuvực cộng đồng dân cư sinh sống, rất thuận lợi cho phát triển loại hình CBT tắm nước nóng,nghỉ dưỡng như Kim Bôi (Hòa Bình); bản Mòng (Sơn La); xã Ngọc Chiến (Mường La, SơnLa); Hua Pe (Điện Biên); Vàng Pó (Phong Thổ, Lai Châu)

Những tiềm năng du lịch văn hóa như bản sắc văn hóa, phong tục tập quán, lễ hộiđộc đáo của khoảng 22 dân tộc thiểu số (Thái, Mường, Mông, Giao, Sinh Mun, KhơMú…), tạo nên sự khác biệt cho sản phẩm du lịch của vùng Nhiều ngành nghề truyềnthống dân tộc có giá trị cao cho phát triển CBT như nghề dệt thổ cẩm của người Thái,Mông, Lào, Lự…; nghề làm bánh dày, làm giấy, rèn, nấu rượu, trạm bạc… của ngườiMông… Văn hóa ẩm thực với nhiều món ăn mang đậm hương vị dân tộc như canh

“xổm lôm”; “chẳm chéo”; thịt hun khói; cá nướng “pỉnh tộp”; cơm lam… Các lễ hộidân tộc như lễ cúng Bản mới của người Cống; tết cơm mới của người La Hủ; lễ gội đầucủa người Thái… tất cả đã tạo nên một nền văn hóa đa sắc tộc đặc trưng, thích hợp chonhững loại hình CBT gắn với trải nghiệm văn hóa bản địa Bên cạnh đó, tiểu vùng TâyBắc cũng có nhiều điểm di tích lịch sử có ý nghĩa cho phát triển du lịch nói chung vàloại hình CBT nói riêng như di tích chiến trường Điện Biên; nhà ngục Sơn La; bia thờanh hùng Lò Văn Giá (bản Cọ, Sơn La), đề thờ Hoàng Công Chất (Điện Biên)…

Trang 15

Tuy nhiên, những tiềm năng đó chưa được khai thác hiệu quả cho phát triển dulịch, hầu hết các điểm CBT của vùng đều phát triển manh mún, mang tính tự phát, cùngvới sự hiểu biết hạn chế về du lịch của người dân địa phương là những rào cản đối vớiphát triển hiệu quả loại hình du lịch này Theo kết quả thống kê của Sở Văn hóa, Thểthao và Du lịch các tỉnh tiểu vùng Tây Bắc thì số lượng khách đến các điểm CBT cònrất khiêm tốn, chiếm khoảng 12% so với tổng lượt khách đến (Biểu đồ 3.2) Các sảnphẩm du lịch còn nghèo nàn, đơn điệu (chủ yếu mới chỉ dừng ở việc cung cấp một sốloại hình như văn hóa văn nghệ, ẩm thực và homestay), chưa tạo ra được sự khác bệt rõnét giữa các khu vực, điểm đến Đặc biệt, trong thời gian vừa qua, một số địa phương đãchứng kiến bên cạnh những mặt tích cực của phát triển CBT là sự giao thoa, phai mờcác giá trị văn hóa, sự thay đổi lối sống của người dân bản địa, sự xuống cấp về môitrường tự nhiên… Công tác quản lý, định hướng đầu tư, khai thác hoạt động du lịchchưa rõ ràng, do vậy, rất nhiều điểm CBT đang mất dần tính hấp dẫn đối với du khách,tài nguyên du lịch (cả về tài nguyên tự nhiên và tài nguyên văn hóa) đang bị xâm hại vàsuy thoái nhanh chóng (Nguyễn Huy Hoàng, 2014).

Xuất phát từ thực tiễn, xu hướng phát triển du lịch trên thế giới nói chung và ViệtNam nói riêng, nghiên cứu về CBT tại tiểu vùng Tây Bắc cho thấy nhiều tiềm năng pháttriển loại hình du lịch này Tuy nhiên, thực tế CBT tại các địa phương đến nay chưa pháttriển tương xứng với tiềm năng hiện có, các sản phẩm CBT còn nghèo nàn, đơn điệu,chưa thu hút và đáp ứng được nhu cầu của khách du lịch (Nguyễn Huy Hoàng, 2014).Tác giả cho rằng cần thiết phải nghiên cứu xem những nhân tố nào có ảnh hưởng đáng

kể đến phát triển CBT tiểu vùng Tây Bắc, từ đó đề xuất những khuyến nghị cho các bênliên quan có những giải pháp để phát triển CBT tiểu vùng Tây Bắc trong thời gian tới

1.2 Về mặt lý luận

Thứ nhất, phát triển từ những năm 1980 đến nay đã có nhiều nghiên cứu về CBT,

tuy nhiên chưa có một khái niệm mang tính phổ quát về CBT, phát triển CBT Đứngtrên quan điểm và mục đích nghiên cứu khác nhau, các khái niệm về CBT, phát triểnCBT không hoàn toàn giống nhau Do vậy, để phục vụ cho mục đích nghiên cứu củaluận án, tác giả cho rằng cần xem xét, đánh giá, kế thừa và điều chỉnh các khái niệm nàyphù hợp với bối cảnh nghiên cứu của tiểu vùng Tây Bắc, Việt Nam

Thứ hai, nghiên cứu về những nhân tố ảnh hưởng đến phát triển CBT ở các địa

phương khác nhau là không giống nhau, không mang tính đại diện, gắn với đặc điểm củatừng quốc gia, có thể nhân tố tác động thành công đối với CBT ở địa phương này nhưngkhông phải là thành công cho địa phương khác Ví dụ, Hiwasaki (2006), đã xác định 4 nhân

tố thành công trong phát triển CBT (trường hợp nghiên cứu tại vườn quốc gia Nhật Bản),gồm: (1) Thể chế; (2) các quy định liên quan đến bảo tồn tự nhiên; (3) nâng cao nhận thức

Trang 16

môi trường và (4) sự tồn tại của quan hệ đối tác Trong khi đó, Kibicho (2008) nghiên cứu

về phát triển CBT ở Kenya, đã đề cập đến 5 nhân tố là: (1) Các bên liên quan; (2) công nhậnlợi ích lẫn nhau giữa cá nhân và tập thể trong cộng đồng; (3) bổ nhiệm hợp pháp trong cộngđồng; (4) xây dựng các mục tiêu chiến lược; (5) quan niệm cho rằng quyết định đến sẽ đượcthực hiện Do vậy, tác giả cho rằng, cần thiết phải tổng hợp các nghiên cứu khác nhau vềnhững nhân tố ảnh hưởng đến phát triển CBT ở các quốc gia, các địa phương, từ đó xemxét, kế thừa và điều chỉnh cho khu vực nghiên cứu của luận án

Thứ ba, các biến số, thước đo được sử dụng đánh giá phát triển CBT cũng không

hoàn toàn giống nhau, tùy thuộc vào đối tượng, trình độ và nhận thức của người đượchỏi, cũng như quan điểm nghiên cứu của các học giả Ví dụ, Nopparat Satarat (2010)đánh giá sự phát triển CBT ở Thái Lan theo hướng bền vững, dựa trên 19 thước đo tácđộng tích cực và 24 thước đo tác động tiêu cực đối với ba biến số kinh tế, văn hóa - xãhội và môi trường Trong khi Suthamma Nitikasetsoontorn (2014), sử dụng 28 thước đođánh giá phát triển thành công của CBT tại Suphanburi và Klong Suan, tỉnhChachoengsao, Thái Lan đối với ba biến số trên Do đó, tác giả cho rằng cần tổng hợpcác biến số, thước đo và phương pháp đánh giá của các nghiên cứu trước đây, từ đó điềuchỉnh, bổ sung cho phù hợp với khu vực nghiên cứu của luận án

Tổng hợp những đánh giá trên cho thấy, trong những năm qua, nhiều nhà nghiêncứu cũng như thực tiễn đã chỉ ra mô hình CBT có thể là một trong những giải pháp khắcphục những hạn chế của du lịch đại chúng, cũng như các vấn đề về phát triển kinh tế địaphương, bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống bản địa, nâng cao ý thứccủa người dân, khách du lịch trong bảo vệ môi trường… Tuy nhiên, thực tế cho thấyCBT vẫn luôn gặp nhiều khó khăn trong quá trình triển khai thực hiện Do vậy, việcnghiên cứu những nhân tố ảnh hưởng đến phát triển CBT là cần thiết để bổ sung vào cơ

sở lý luận về CBT cũng như gợi ý những giải pháp nhằm triển khai thành công hơn môhình này tại các địa phương thuộc tiểu vùng Tây Bắc, Việt Nam

2 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu chính của luận án là nghiên cứu một số nhân tố ảnh hưởng đến pháttriển du lịch cộng đồng tại tiểu vùng Tây Bắc, Việt Nam

Từ mục tiêu chính trên, tác giả xác định những mục tiêu cụ thể sau:

Thứ nhất: Tổng quan tình hình nghiên cứu về cộng đồng; du lịch cộng đồng; phát

triển du lịch cộng đồng; các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch cộng đồng Nhữngnội dung này được sử dụng làm căn cứ để thiết kế mô hình nghiên cứu về một số nhân

tố ảnh hưởng đến phát triển CBT tiểu vùng Tây Bắc, Việt Nam;

Trang 17

Thứ hai: Xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố được lựa chọn đến phát

triển CBT tại tiểu vùng Tây Bắc, Việt Nam;

Thứ ba: Đề xuất những khuyến nghị cho các bên liên quan nhằm phát triển CBT

tiểu vùng Tây Bắc, Việt Nam

3 Câu hỏi nghiên cứu

Xuất phát từ mục tiêu nghiên cứu, luận án được thực hiện nhằm trả lời bốn câu hỏi nghiên cứu sau:

1 Đánh giá sự phát triển CBT tại tiểu vùng Tây Bắc dựa trên những chỉ tiêu nào?

2 Những nhân tố nào có ảnh hưởng đáng kể đến phát triển CBT tại tiểu vùngTây Bắc?

3 Các nhân tố ảnh hưởng như thế nào và mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến phát triển CBT tiểu vùng Tây Bắc?

4 Từ kết quả nghiên cứu có thể đưa ra những khuyến nghị gì để phát triển CBT tại tiểu vùng Tây Bắc, Việt Nam?

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của luận án là phát triển CBT và một số nhân tố ảnh

hưởng đến phát triển du lịch cộng đồng

- Phạm vi nghiên cứu

+> Về không gian nghiên cứu

Nghiên cứu thực hiện tại bốn tỉnh thuộc tiểu vùng Tây Bắc theo Quyết định số1064/QĐ-TT, ngày 08 tháng 7 năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ về “Phê duyệt quyhoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng trung du và miền núi phía Bắc đến năm2020”, gồm: Hòa Bình; Sơn La; Điện Biên; Lai Châu

+> Về thời gian nghiên cứu

Đối với điều tra dữ liệu sơ cấp được thu thập trong khoảng thời gian từ tháng4/2016 đến tháng 12/2017

Đối với dữ liệu thứ cấp được thu thập trong giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2017của UBND các tỉnh; Tổng cục Du lịch, Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch, Cục Thống kêcác tỉnh thuộc tiểu vùng Tây Bắc để phân tích đánh giá

5 Khái quát về phương pháp nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu và thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu trên,luận án sử dụng kết hợp hai phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng, trong đó:

Trang 18

- Nghiên cứu định tính: Được sử dụng như một nghiên cứu thăm dò để xác địnhcác nhân tố được cho là có ảnh hưởng đến phát triển CBT tại tiểu vùng Tây Bắc, qua đógiúp điều chỉnh mô hình nghiên cứu, đồng thời giúp khám phá, điều chỉnh và bổ sungcác biến quan sát cho phù hợp với bối cảnh nghiên cứu Bên cạnh đó, nghiên cứu địnhtính cũng giúp xác định, điều chỉnh những biến số, thước đo phát triển CBT phù hợp vớibối cảnh nghiên cứu Nghiên cứu được thực hiện thông qua 20 cuộc phỏng vấn sâungười dân địa phương tại 8 bản CBT thuộc tiểu vùng Tây Bắc; 17 khách CBT và 03cuộc thảo luận nhóm (02 với lãnh đạo chính quyền, tổ chức đoàn thanh niên, hội phụ nữbản Bon, xã Mường Chiên; bản Mển, Điện Biên và 01 với khách du lịch) Thời gian thuthập thông tin từ tháng 4/2016 đến tháng 11/2016.

- Nghiên cứu định lượng: Được tiến hành thông qua phiếu điều tra có cấu trúc đượcrút ra từ nghiên cứu định tính, đối tượng khảo sát gồm cán bộ thôn bản (trưởng/phó bản; bíthư/phó bí thư chi bộ); cán bộ các tổ chức đoàn thể trong bản (hội hội phụ nữ; đoàn thanhniên…); người dân địa phương đại diện các hộ gia đình trực tiếp hoặc gián tiếp tham giahoạt động kinh doanh CBT tại các điểm khảo sát Quá trình thực hiện được chia thành 2 giaiđoạn, giai đoạn 1 điều tra sơ bộ nhằm phát hiện những lỗi mắc phải trong phiếu điều tra và

là căn cứ để tác giả điều chỉnh bảng hỏi cho phù hợp với điều kiện chung nhất của các đốitượng điều tra Số lượng mẫu điều tra cho giai đoạn này là 100 phiếu, tại một số điểm CBTthuộc tỉnh Sơn La và Điện Biên, thời gian thu thập từ tháng 3/2017 đến tháng 5/2017 Giaiđoạn 2, điều tra chính thức, được tiến hành sau khi điều chỉnh lại bảng hỏi cho phù hợp vớiđiều kiện chung nhất của các đối tượng điều tra Tổng số phiếu hợp lệ được sử dụng để phântích trong giai đoạn này là 518 phiếu phát trực tiếp tại 11 điểm CBT thuộc 4 tỉnh tiểu vùngTây Bắc, thời gian thu thập dữ liệu từ tháng 6/2017 đến tháng 12/2017 Kết quả điều trachính thức được phân tích thông qua phần mềm SPSS22 nhằm kiểm định các giả thuyếtnghiên cứu Những phát hiện từ phân tích định lượng này là cơ sở khẳng định tầm quantrọng và mối quan hệ giữa các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển CBT được phát hiện tronggiai đoạn nghiên cứu định tính

Nội dung chi tiết phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng được trình bày trong chương 3

6 Đóng góp của luận án

Đóng góp về mặt lý luận

- Dựa trên nền tảng lý thuyết phát triển bền vững; lý thuyết các bên liên quan, lýthuyết kỳ vọng, nghiên cứu đã thống nhất quan điểm, các chỉ tiêu đánh giá phát triểnCBT cho khu vực nghiên cứu trên cơ sở kế thừa các nghiên cứu trước đây Theo đó,

Trang 19

quan điểm phát triển CBT trong nghiên cứu được hiểu là quá trình biến đổi về lượng vàchất các vấn đề kinh tế, văn hóa - xã hội trong cộng đồng, cũng như ý thức của ngườidân trong giữ gìn vệ sinh môi trường, bảo vệ các nguồn tài nguyên tự nhiên và đáp ứngngày càng tốt hơn nhu cầu của khách du lịch Kết quả nghiên cứu đã xây dựng được một

bộ thước đo đánh giá sự phát triển CBT đảm bảo tính hệ thống và phù hợp với sự pháttriển CBT của tiểu vùng Tây Bắc

- Trên cơ sở tổng hợp, kế thừa các nghiên cứu trước đây, tác giả đã xác định năm nhân tố được xem là có ảnh hưởng đáng kể đến phát triển CBT của khu vực nghiên cứu Đồng thời điều chỉnh các biến số, thước đo cho phù hợp với bối cảnh nghiên cứu dựa trên kết quả nghiên cứu định tính Tổng hợp trong năm nhân tố đưa vào nghiên cứu, có 11 biến số và 44 thước đo đánh giá phát triển CBT Với cỡ mẫu đã chọn, kết quả kiểm định cho thấy việc điều chỉnh này có ý nghĩa cho khu vực nghiên cứu của luận án, thể hiện qua sự giải thích tới 55,4% sự biến thiên của phát triển CBT là do các nhân tố đưa vào nghiên cứu tác động đến.

Đóng góp về mặt thực tiễn

- Nghiên cứu đã chỉ ra những nhóm nhân tố và biến số có tác động ảnh hưởngđến phát triển CBT, đồng thời xác định thứ tự ảnh hưởng của các biến số, thước đo nàyđến phát triển CBT tại tiểu vùng Tây Bắc Qua đó giúp các bên liên quan có cách nhìn

rõ ràng hơn trong quá trình xây dựng kế hoạch, thực hiện triển khai cũng như kiểm trađánh giá phát triển CBT tại tiểu vùng Tây Bắc

- Từ kết quả nghiên cứu, kết hợp với những đặc thù của bối cảnh nghiên cứu,luận án đề xuất một số khuyến nghị mang tính hàm ý với các bên liên quan đến pháttriển CBT tiểu vùng Tây Bắc, làm luận cứ cho những giải pháp, chính sách phù hợpnhằm phát triển CBT, đáp ứng các nhu cầu khác nhau của khách du lịch, đảm bảo pháttriển hài hòa giữa kinh tế cộng đồng địa phương với việc bảo tồn, phát huy những giá trịvăn hóa, phong tục tập quán cũng như vấn đề bảo vệ môi trường sinh thái

7 Kết cấu của luận án

Để trình bày toàn bộ nội dung nghiên cứu, ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận

án được kết cấu thành 5 chương, cụ thể:

Chương 1: Tổng quan nghiên cứu

Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu

Chương 3: Đặc điểm khu vực nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu

Chương 4: Kết quả nghiên cứu

Chương 5: Thảo luận kết quả nghiên cứu và khuyến nghị

Trang 20

Thứ nhất, nhiều nghiên cứu đưa ra quan điểm về cộng đồng thường gắn với một khu

vực địa lý cụ thể, theo đó, một cộng đồng có thể được xác định và mô tả trên bản đồ địa lý,

có tên gọi, biên giới, cột mốc và những nét văn hóa, phong tục tập quán của mình (Ivanovic,2009) Hillery (1955) đã chỉ ra, có ít nhất chín mươi bốn định nghĩa khác nhau về cộngđồng, tuy nhiên, theo quan điểm của ông thì cộng đồng bao gồm những người có liên quanđến xã hội và văn hóa trong một khu vực địa lý và có một hoặc nhiều mối quan hệ chung.Keith và Ary (1998) (trích trong Võ Quế, 2006, tr.6) cho rằng “cộng đồng là một nhómngười, thường sinh sống trên cùng một khu vực địa lý, tự xác định mình thuộc về cùng mộtnhóm Những người trong cùng một cộng đồng thường có quan hệ huyết thống hay hônnhân, và có thể thuộc cùng một nhóm tôn giáo, một tầng lớp chính trị”

Thứ hai, một số nghiên cứu đề cập đến quan điểm về cộng đồng gồm những người

có thể cư trú gần nhau hoặc không gần nhau (không xác định về mặt địa lý) nhưng có chungcác đặc điểm hoặc sở thích (cộng đồng chức năng) Theo quan điểm này, cộng đồng có thểđược hiểu là một mạng lưới những mối quan hệ hiện có hoặc tiềm năng của các cá nhân,nhóm và tổ chức chia sẻ hoặc có khả năng chia sẻ những mục tiêu và mối quan tâm chung(Bush, R., Dower, J., & Mutch, A, 2002) Tô Duy Hợp, Lương Hồng Quang (2000) đã chỉ

ra cộng đồng là một thực thể xã hội có cơ cấu và tổ chức (chặt chẽ hoặc không chặt chẽ), làmột nhóm người cùng chia sẻ và chịu ràng buộc bởi các đặc điểm và lợi ích chung đượcthiết lập thông qua tương tác và trao đổi giữa các thành viên

Thứ ba, cộng đồng ảo, xuất hiện cùng với sự phát triển của các phương tiện

truyền thông hiện đại trong những thập kỷ gần đây, quan niệm về cộng đồng đã vượt

qua giới hạn thời gian, không gian và địa lý Cộng đồng ảo được hiểu là những nhómngười có cùng mối quan tâm chung, tương tác với nhau thông qua hệ thống các trangwebsite, mạng xã hội bằng cách sử dụng máy tính và công nghệ kỹ thuật số hiện đại,liên kết chung với các ranh giới địa lý nhất định hoặc liên kết của các dân tộc (HowardRheingold, 1993) Tuy nhiên, để cộng đồng ảo được coi là một cộng đồng thì chúng

Trang 21

cũng phải đáp ứng một số điều kiện sau: (1) Cộng đồng ảo bao gồm một nhóm người;(2) Cùng chia sẻ những sở thích; (3) Tương tác được đặc trưng bởi tính liên tục và tốc

độ phản ứng; (4) Phải có phương tiện và không gian để giao tiếp;

Tại Việt Nam, quan niệm về cộng đồng đầu tiên được đề cập trong ngành giáodục từ những năm 1950 ở các tỉnh phía Nam, sau đó lan rộng sang các lĩnh vực công tác

xã hội khác Từ những năm 1980 trở đi, quan điểm về cộng đồng được phát triển rộngrãi hơn thông qua các chương trình tài trợ của các tổ chức nước ngoài vào Việt Nam,theo đó sự tham gia của cộng đồng người dân là một nhân tố quyết định để các chươngtrình này thực hiện được và đạt hiệu quả (Võ Quế, 2006)

Đề cập đến sự tham gia của cộng đồng trong ngành du lịch, nghiên cứu củaMilne và cộng sự (2001) đã chỉ ra cộng đồng là một nhóm người sống trong cùng mộtđịa phương, có thể là thường trú hoặc không thường trú nhưng có chung một mối quantâm, chia sẻ, liên kết và tương tác với nhau Sự tham gia của cộng đồng trong việc lập

kế hoạch, duy trì và phát triển du lịch nhằm tạo ra một ngành công nghiệp bền vữnghơn, CBT được quản lý và sở hữu bởi cộng đồng, với mục đích cho phép du khách tớithăm có thêm những nhận thức, hiểu biết rõ hơn về cộng đồng và cuộc sống của họ

Telfer và Shrpley (2008) cho rằng, rất nhiều quan điểm có thể được áp dụng cho cáccộng đồng địa phương trong phát triển du lịch, cộng đồng địa phương có thể được coi làđiểm thu hút chính cho phát triển các kỹ năng và kiến thức, trong khi đó có những người coicộng đồng chỉ đơn giản là nơi diễn ra các hoạt động du lịch Các cộng đồng đang ngày càngthu hút các hoạt động du lịch không chỉ từ phía nhu cầu, bởi vì khách du lịch tìm kiếm cácđiểm đến và cộng đồng mới để trải nghiệm, mà còn từ phía cung, vì bản thân cộng đồngđang nhận thức được tiềm năng của những sản phẩm mà họ có thể cung cấp cho khách dulịch và những lợi ích kinh tế có thể đạt được thông qua các hoạt động đó

Tóm lại, dựa trên quan điểm và mục đích nghiên cứu khác nhau, quan niệm vềcộng đồng được đề cập không hoàn toàn giống nhau, tuy nhiên có một số điểm chungnhư: thường được dựa trên giá trị của sự gắn kết xã hội và trong một khung thời gianliên tục; thể hiện những mối quan hệ liên quan đến kinh tế, xã hội (cộng đồng làng xã,khu dân cư đô thị); đặc điểm về huyết thống (cộng đồng của các thành viên trong mộtdòng họ); theo mối quan tâm và quan điểm giống nhau (nhóm sở thích trong mộtchương trình phát triển); theo môi trường, văn hóa hay các đặc điểm khác như tổ chức,vùng địa lý… Đây là những tiền đề lý thuyết cơ bản để tác giả kế thừa, vận dụng vàothực tiễn phát triển CBT tại Việt Nam nói chung và tiểu vùng Tây Bắc nói riêng Trongphạm vi nghiên cứu của luận án, tác giả tiếp cận quan điểm về cộng đồng được hiểu là

những người sống trong một khu vực được xác định về mặt địa lý, có những mối quan

hệ văn hóa - xã hội với nhau và trách nhiệm với nơi họ sinh sống.

Trang 22

1.1.2 Du lịch cộng đồng

Thuật ngữ “Du lịch cộng đồng” được đề cập từ những năm 1980 ở các nướcthuộc khu vực châu Âu, châu Mỹ và châu Úc Khách du lịch đi tham quan các làng bản,tìm hiểu về văn hóa, phong tục tập quán lễ hội của người dân địa phương, khám phá hệsinh thái, cảnh quan thiên nhiên vẫn còn giữ được những nét tự nhiên, hoang dã Tại cácđiểm đến, khách du lịch cần có sự hỗ trợ, giúp đỡ của người dân địa phương như dẫnđường, ăn, nghỉ và các dịch vụ khác, đây là tiền đề cho phát triển loại hình du lịch cộngđồng (Võ Quế, 2006) Có rất nhiều tên gọi khác nhau liên quan đến hoạt động du lịch có

sự tham gia của cộng đồng địa phương như:

- Community-Based Tourism: (Du lịch dựa vào cộng đồng);

- Community-Development in Tourism (Phát triển cộng đồng dựa vào du lịch);

- Community-Based Ecotourism (Du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng);

- Community-Participation in Tourism (Du lịch có sự tham gia của cộng đồng);

-Community-Based Moutain Tourism (Phát triển du lịch núi dựa vào cộng đồng)

Tuy có nhiều tên gọi khác nhau nhưng vẫn có những điểm tương đồng giốngnhau về địa điểm, mục tiêu và phương pháp tổ chức Trong phạm vi nghiên cứu củaluận án, tác giả sử dụng thuật ngữ “du lịch cộng đồng” (CBT) để chỉ các loại hình “dulịch dựa vào cộng đồng” nói chung

Phát triển từ những năm 1980, đến nay đã có nhiều nghiên cứu về CBT, tuynhiên chưa có khái niệm mang tính phổ quát cho loại hình du lịch này Theo Carrard N

và Paddon P (2010), CBT được hiểu là một loại hình du lịch, ở đó cộng đồng trực tiếp

sở hữu và tham gia quản lý, vì mục tiêu phát triển chung trong cộng đồng Đây là loạihình du lịch thiên về các nhà cung cấp dịch vụ địa phương, tập trung truyền đạt về môitrường và văn hoá bản địa, nó được thực hiện và hỗ trợ bởi cộng đồng, chính quyền địaphương và các tổ chức Phi Chính phủ (NGOs)

Tổ chức du lịch Caribbean (trích dẫn trong Henry, G, 2009) cho rằng CBT là mộtcách tiếp cận hợp tác để làm du lịch, trong đó các thành viên trong cộng đồng thực hiệnkiểm soát thông qua việc tham gia tích cực vào thẩm định, phát triển, quản lý và/hoặclàm chủ một phần hoặc toàn bộ hoạt động kinh doanh Các doanh nghiệp mang lại lợiích kinh tế - xã hội cho các thành viên trong cộng đồng, bảo tồn tài nguyên thiên nhiên

và văn hóa, tạo thêm giá trị cho các trải nghiệm của du khách trong và ngoài nước

Trong khi đó, Viện Du lịch Cộng đồng Thái Lan (2012) (Thailand Community

Based Tourism Institute, 2012) cho rằng CBT coi trọng sự bền vững của môi trường, xã

hội và văn hoá Cộng đồng tham gia sở hữu và quản lý, vì cộng đồng, với mục

Trang 23

đích thúc đẩy du khách nâng cao ý thức và tìm hiểu về cộng đồng và lối sống của ngườidân địa phương Luật Du lịch Việt Nam (2017) cũng chỉ rõ CBT “là loại hình du lịchđược phát triển trên cơ sở các giá trị văn hóa của cộng đồng, do cộng đồng dân cư quản

lý, tổ chức khai thác và hưởng lợi” Theo Võ Quế (2006, tr.34) thì CBT “là phương thứcphát triển du lịch trong đó cộng đồng dân cư tổ chức cung cấp các dịch vụ để phát triển

du lịch, đồng thời tham gia bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và môi trường, đồng thờicộng đồng được hưởng quyền lợi về vật chất và tinh thần từ phát triển du lịch và bảo tồn

tự nhiên”

Tóm lại, dựa trên những quan điểm nghiên cứu khác nhau thì quan niệm về CBTkhông hoàn toàn giống nhau, tuy nhiên có một số điểm chung sau:

Thứ nhất, Cộng đồng địa phương là người kiểm soát các tài nguyên du lịch và hỗ

trợ cho khách du lịch có cơ hội tìm hiểu và nâng cao nhận thức của họ khi có cơ hội tiếpcận hệ thống tài nguyên du lịch tại không gian sinh sống của cộng đồng;

Thứ hai, Khách du lịch là tác nhân bên ngoài, là tiền đề mang lại lợi ích kinh tế

và sẽ có những tác động nhất định kèm theo việc thụ hưởng các giá trị về môi trườngsinh thái tự nhiên và văn hóa khi đến với một cộng đồng địa phương cụ thể;

Thứ ba, Cộng đồng địa phương sẽ nhận được lợi ích về mặt kinh tế, mở rộng tầm

hiểu biết về đặc điểm, tính cách của du khách cũng như cơ hội nắm bắt các thông tin bênngoài từ khách du lịch Đồng thời, cộng đồng địa phương ngày càng được tăng cường vềkhả năng tổ chức, vận hành và thực hiện các hoạt động, xây dựng các sản phẩm du lịchphục vụ khách du lịch, phát huy vai trò làm chủ của mình

Tổng hợp những quan điểm về CBT, trong phạm vi nghiên cứu của luận án, tác

giả tiếp cận quan niệm về CBT là một loại hình du lịch hướng đến tính chủ động của

người dân địa phương trong tham gia, nâng cao các kỹ năng, kiến thức cũng như những hiểu biết của họ đối với quy hoạch và phát triển du lịch Tạo điều kiện cho khách du lịch có được những trải nghiệm thỏa mãn nhu cầu, nâng cao nhận thức và tìm hiểu về

di sản thiên nhiên, văn hóa của cộng đồng điểm đến.

Liên quan đến những lợi ích mà CBT có thể đem lại, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra,CBT không chỉ đơn thuần là một hoạt động kinh doanh du lịch, mang lại lợi ích kinh tế,tối đa hóa lợi nhuận cho các nhà đầu tư Thay vào đó, CBT tập trung vào những tácđộng của du lịch với cộng đồng và môi trường, nếu biết vận dụng đúng cách thì CBT cóthể không chỉ giúp người dân địa phương kiểm soát được tác động của du lịch, mà còntạo thêm sinh kế, thu nhập và đa dạng hoá nền kinh tế địa phương (Tuffin, 2005)

Ngoài ra, còn có rất nhiều lợi ích về môi trường như: tạo ra nhận thức và pháttriển kỹ năng quản lý, khuyến khích quy hoạch và quản lý các vấn đề môi trường

Trang 24

(Anucha Leksakundilok, 2004); nâng cao nhận thức về sự cần thiết bảo tồn các nguồntài nguyên cho khách du lịch và người dân địa phương; đẩy mạnh quản lý, xử lý chấtthải (Nopparat Satarat, 2010).

Bảo tồn văn hóa địa phương cũng là một lợi ích khác của CBT, nếu người dânđịa phương hiểu được những giá trị văn hóa truyền thống của họ và duy trì, bảo tồn quacác thế hệ khác nhau sẽ góp phần thúc đẩy trao đổi, giao lưu văn hóa giữa các dân tộckhác nhau, nâng cao niềm tự hào và tự tôn dân tộc Ngoài ra, sự hợp tác với các cơquan, tổ chức bên ngoài cộng đồng, sự liên hệ chặt chẽ với khách du lịch và nâng caochất lượng cuộc sống cũng là những lợi ích xã hội có được từ CBT, góp phần nâng caotính tự chủ trong cộng đồng (Kontogeorgopoulos, Nick, 2005) Đồng thời, những khoảnquỹ thu được từ hoạt động CBT có thể góp phần cải thiện sức khỏe, giáo dục, giảmnghèo của người dân địa phương

Tổ chức du lịch sinh thái có trách nhiệm xã hội (2003) (REST: ResponsibleEcological Social Tours); Tuffin, Bill (2005) đã chỉ ra những lợi ích tiềm năng khácnhau của CBT được tác giả tổng hợp trong bảng 1.1

Bảng 1.1 Lợi ích tiềm năng của du lịch cộng đồng

Tạo được sự ấn tượng trong văn hóa địa phươngThúc đẩy trách nhiệm đối với môi trườngMôi trường Nâng cao nhận thức cho khách du lịch và người dân về sự cần thiết phải

bảo tồn tài nguyên tự nhiênĐẩy mạnh quản lý xử lý chất thải

Trang 25

Lợi ích tiềm năng của CBT

Thúc đẩy việc chuyển giao các kỹ năng làm việcTạo thêm những nghề mới trong làng bảnKhuyến khích sử dụng các kiến thức mới trong làng bảnTăng cường sự giao lưu các nền văn hóa khác nhau - thúc đẩy tôn trọng lẫn nhau

Thúc đẩy sự tôn trọng kiến thức và kỹ năng của người dân địa phươngCho phép sự tham gia của người dân địa phương

Tăng sức mạnh của cộng đồngĐảm bảo quyền quản lý tài nguyên thiên nhiên trong cộng đồng

Nâng cao ý thức người dân về giữ gìn vệ sinh, đảm bảo sức khỏe cộng đồng

Số lượng lương thực thực phẩm cung cấp cho khách du lịch phong phú

và đa dạng hơn, góp phần cải thiện tình trạng dinh dưỡng

Nguồn: Tác giả tổng hợp từ REST, 2003; Tuffin, 2005

Việc tổng hợp những lợi ích tiềm năng của CBT có thể mang lại cho cộng đồngđịa phương là những gợi mở rất quan trọng để tác giả kế thừa, vận dụng khi xây dựngcác chỉ tiêu đánh giá sự phát triển CBT tại tiểu vùng Tây Bắc

Trang 26

1.2.1 Quan điểm về phát triển trong nghiên cứu

Phát triển là một thuật ngữ được sử dụng trong nhiều lĩnh vực và được đo bằngnhững chỉ số khác nhau tùy theo lĩnh vực nghiên cứu Theo Mason (1990), giai đoạntrước những năm 1970, quan niệm về phát triển thường được đo thông qua các chỉ tiêukinh tế như tổng sản phẩm quốc dân, cơ cấu lao động, tỷ lệ tăng trưởng kinh tế và sảnxuất lương thực Tuy nhiên, từ sau những năm 1970, quan niệm về phát triển đã có sựthay đổi không chỉ trong lĩnh vực kinh tế mà y tế và giáo dục cũng được xem là nhữngyếu tố quan trọng trong phát triển cá nhân và sự phát triển của xã hội Phát triển nhữngnghiên cứu trước đây, Hicks và Streeten (1979) chỉ ra rằng trong giai đoạn trước chỉ sốthu nhập bình quân đầu người được cho là thước đo tốt nhất đánh giá sự phát triển Tuynhiên, nghiên cứu cho thấy sự phát triển kinh tế càng làm gia tăng khoảng cách giàunghèo trong xã hội, nghiên cứu đã điều chỉnh bổ sung thêm các chỉ tiêu liên quan đếnviệc đáp ứng các nhu cầu của con người Do đó, các chỉ số xã hội khác như chỉ số pháttriển con người (Human Development Index - HDI); chỉ số tự do của con người (Human

Trang 27

Freedom Index - HFI)… để đo lường sự phát triển của sức khỏe, dinh dưỡng, phân phốithu nhập và các khía cạnh khác của sự phát triển văn hóa, xã hội.

Trên thực tế, chưa có một khái niệm mang tính phổ quát về phát triển, theo TrầnTiến Dũng (2007, tr.8), “phát triển được hiểu là một quá trình tăng trưởng của nhiều yếu

tố cấu thành khác nhau về kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, khoa học - kỹ thuật…”.Mục tiêu của phát triển nhằm nâng cao điều kiện và chất lượng cuộc sống của conngười, tạo lập một xã hội công bằng và bình đẳng giữa các thành viên

Ủy ban thế giới về môi trường và phát triển (1987) (WCED: World Commission onEnvironment and Development) ủng hộ quan điểm cho rằng phát triển được coi là một quátrình thay đổi và cải tiến theo hướng tích cực, nó ảnh hưởng đến tất cả mọi người ở tất cảcác quốc gia Theo Todaro (1989), phát triển không chỉ là quá trình tăng trưởng kinh tế màcòn thể hiện toàn bộ sự thay đổi của hệ thống xã hội, điều chỉnh theo nhu cầu và mongmuốn cơ bản đa dạng của các nhóm cá nhân và hệ thống xã hội đó, được coi là tốt hơn vềmặt vật chất và tinh thần Trong Báo cáo phát triển con người của UNDP (1990) thì pháttriển là sự mở rộng các lựa chọn của con người để có một cuộc sống lâu dài, khỏe mạnh,tiếp thu kiến thức và tiếp cận với những nguồn lực cần thiết cho một mức sống tốt hơn

Tổng hợp các quan điểm khác nhau, Ingham (1993) định nghĩa về sự phát triển làdựa trên cách hiểu ngày nay về những kinh nghiệm đã trải qua và mối quan tâm mới củachúng ta (Based on present-day interpretations of the old wisdoms and our newerconcerns) Trên cơ sở đó, tác giả đã thảo luận về 9 nội dung của sự phát triển, gồm: (1)

Sự tăng trưởng và phát triển trong bối cảnh lịch sử; (2) Phát triển như là sự thay đổi về

cơ cấu; (3) Sự phát triển là quá trình hiện đại hóa; (4) Phát triển và sự thay đổi chính trị;(5) Phát triển gắn với phân cấp và tham gia; (6) Phân phối lại nhu cầu cơ bản; (7) Pháttriển là phát triển con người; (8) Phát triển bền vững và (9) Vấn đề đạo đức trong pháttriển Đây có thể coi là những nội dung cơ bản liên quan đến quan niệm về phát triểntrong xã hội hiện tại, là những gợi mở quan trọng để tác giả vận dụng trong xây dựngcác biến số, thước đo đánh giá sự phát triển CBT trong nghiên cứu

Xét theo các bộ phận cấu thành, phát triển được xem là sự kết hợp một cách chặtchẽ quá trình hoàn thiện các vấn đề kinh tế và xã hội ở một khu vực cụ thể (Phạm NgọcLinh, Nguyễn Thị Kim Dung, 2008; Nguyễn Ngọc Sơn, 2012), theo cách hiểu này, nộidung của phát triển có thể được khái quát theo bốn tiêu chí sau:

Thứ nhất, phát triển thể hiện quá trình biến đổi về lượng, như sự gia tăng về thu

nhập và tiềm lực của nền kinh tế;

Thứ hai, phát triển thể hiện sự thay đổi về chất, bao gồm quá trình thay đổi cấu

trúc bên trong các vấn đề kinh tế - xã hội (chuyển dịch cơ cấu) theo hướng tiến bộ, cókhả năng phát huy tốt nhất hiệu quả sử dụng các nguồn lực sẵn có

Trang 28

Thứ ba, phát triển gắn với thúc đẩy tiến bộ, công bằng xã hội, góp phần xóa đói,

giảm nghèo, đảm bảo khả năng tiếp cận các nguồn lực, dịch vụ công cộng

Thứ tư, phát triển phải dựa trên cơ sở khai thác, sử dụng hợp lý các nguồn lực tài

nguyên tự nhiên, kiểm soát vấn đề ô nhiễm môi trường và phát triển các nguồn tàinguyên tái sinh

Trong lĩnh vực du lịch, quan điểm phát triển không chỉ dừng ở những chỉ tiêuthông thường như sự gia tăng lượng khách tại điểm đến, thu nhập của những người kinhdoanh du lịch… mà nhấn mạnh đến phát triển du lịch bền vững (Godfrey, P, 1996), tức

là phát triển du lịch cần phải quan tâm dung hòa những mâu thuẫn liên quan đến lợi ích

và mục tiêu cũng như việc phối hợp giữa các bên tham gia nhằm đáp ứng những mongmuốn và lợi ích chung cho cộng đồng địa phương điểm đến, theo đó những lợi ích cánhân sẽ bị hạn chế để tập trung vào những lợi ích chung và mục tiêu cho phát triển bềnvững Theo Saarinen (2006), quan niệm về phát triển bền vững trong du lịch bắt nguồn

từ khái niệm phát triển bền vững được đề cập trong tác phẩm “tương lai chung củachúng ta” hay còn được gọi là báo cáo Brundtlant (WCED, 1987) Theo đó, du lịch bềnvững là việc phát triển các hoạt động du lịch có suy tính đầy đủ đến những ảnh hưởngkinh tế, xã hội và môi trường cả trong hiện tại và tương lai, đến nhu cầu của khách dulịch, của ngành du lịch, của môi trường và sự phát triển các cộng đồng (UNWTO,2005) David L Edgel (2006) cho rằng, sự thành công của phát triển du lịch phụ thuộcvào việc duy trì sự cân bằng giữa tăng trưởng kinh tế với bảo tồn văn hóa, tôn trọngcộng đồng và bảo vệ môi trường sinh thái Tuy nhiên, một số học giả (Wheeler, 1993;Butler, 1999; Sharpley, 2000) lại cho rằng, không thể có được sự phát triển du lịch bềnvững một cách tổng thể, thay vào đó, nó có thể được hình thành như một sự cân bằngthiết yếu giữa những thành tựu đạt được trong các lĩnh vực khác nhau Theo quan điểmnày, việc đạt được mục tiêu phát triển kinh tế thông qua phát triển du lịch, có thể phảiđòi hỏi sự hy sinh của các yếu tố văn hóa, xã hội và môi trường

ở các mức độ khác nhau

Tổ chức du lịch Nam Úc (Tourism South Australia) (trích dẫn theo Hall, 1998), đưa

ra quan niệm về phát triển du lịch như là sự tăng cường kinh nghiệm của du khách về cácnguồn lực để thu được những lợi ích kinh tế, xã hội và môi trường cho các cá nhân, Nhànước, các nhà kinh doanh và cộng đồng Trước đó, Pearce, D.G (1989) đã chỉ ra phát triển

du lịch không chỉ dừng ở những chỉ tiêu thông thường, mà còn bao gồm những mối liên kếtphức tạp giữa các thành viên và quan hệ cung - cầu trên thị trường Theo đó, năm cách khácnhau liên quan đến quan niệm phát triển, gồm: (1) Sự tăng trưởng về kinh tế;

(2) Quá trình hiện đại hóa; (3) Sự công bằng trong phân phối; (4) Quá trình chuyển đổi kinh tế - xã hội và (5) Tái tổ chức không gian

Trang 29

Kế thừa những chỉ tiêu sử dụng đánh giá về chỉ số phát triển con người củaUNDP, Basu (2001) đã xây dựng hệ thống chỉ số du lịch bền vững (Sustainable TourismIndex - STI) và nhấn mạnh rằng chỉ số du lịch bền vững có thể được sử dụng để đánhgiá vai trò quan trọng trong phát triển tương lai của ngành du lịch theo quan điểm pháttriển bền vững, chỉ số này bao gồm bốn chỉ tiêu sau:

Thứ nhất, những thành tựu về kinh tế, được phản ánh thông qua việc chi tiêu

bình quân đầu người trong lĩnh vực du lịch, nó được xác định bằng tổng chi phí cho du

lịch chia cho dân số của quốc gia hay khu vực;

Thứ hai, những điều kiện về môi trường, được đo bằng sự tồn tại các quy định ở

những khu vực cần bảo vệ, số lượng các loài động, thực vật quý hiếm hay có nguy cơtuyệt chủng; cường độ khai thác sử dụng điểm đến trong thời gian cao điểm (người/ha);

Thứ ba, tình trạng xã hội, được đo bằng tỷ lệ khách du lịch đến các địa phương

(thời kỳ cao điểm và giai đoạn giai đoạn bình thường); số vụ tội phạm du lịch liên quan;

Thứ tư, tình trạng văn hóa, được đo bằng mức độ hài lòng của du khách tại các

điểm tham quan du lịch; mức độ hài lòng của người dân địa phương

Daniela Drumbrăveanu (2006) trong cuốn “nguyên tắc và thực hành kế hoạch du

lịch bền vững” (Principles and practice of sustainable tourism planning) đã chỉ ra những

khác biệt trong phát triển du lịch bền vững và du lịch đại chúng, đồng thời tác giả hệ thống

và đề xuất 6 nhóm nguyên tắc của của phát triển du lịch bền vững, gồm: (1) giảm thiểu tácđộng đến môi trường để đảm bảo sự bền vững về sinh thái; (2) giảm thiểu tác động tiêu cựcđến cộng đồng địa phương để bảo đảm tính bền vững về xã hội; (3) giảm thiểu tác động tiêucực đến văn hóa, truyền thống của các địa phương để bảo đảm sự bền vững về văn hóa; (4)tối đa hóa lợi ích kinh tế của các địa phương để có được sự bền vững về kinh tế; (5) thôngtin, giáo dục nhận thức đến doanh nghiệp, du khách, chính quyền và người dân địa phương

để cải thiện thái độ của các chủ thể đối với môi trường và giảm thiểu tác động tiêu cực từhành vi của chủ thể đến môi trường, xã hội; (6) phát huy vai trò tham gia, kiểm soát củacộng đồng địa phương đối với các hoạt động du lịch ở điểm đến

Tóm lại, mặc dù còn nhiều quan niệm khác nhau và chưa có một khái niệm nàomang tính phổ quát cho phát triển, điều quan trọng trong nghiên cứu này là làm rõ ý nghĩacủa phát triển liên quan đến phát triển CBT Tổng hợp những quan điểm nghiên cứu trước

đây, tác giả tiếp cận quan điểm về phát triển trong nghiên cứu được hiểu là quá trình thay đổi về lượng và chất của các vấn đề kinh tế - xã hội, dựa trên cơ sở khai thác, sử dụng hợp

lý các nguồn tài nguyên tự nhiên, kiểm soát vấn đề ô nhiễm môi trường và phát triển các nguồn tài nguyên tái sinh Quan điểm này cũng phù hợp với xu hướng phát triển của ngành

du lịch nói chung và tại Việt Nam nói riêng, Điều 3, Luật Du lịch

Trang 30

(2017) cũng chỉ rõ “Phát triển du lịch bền vững là sự phát triển du lịch đáp ứng đồngthời các yêu cầu về kinh tế - xã hội và môi trường, bảo đảm hài hòa lợi ích của các chủthể tham gia hoạt động du lịch, không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu về dulịch trong tương lai”.

1.2.2 Phát triển du lịch cộng đồng

Quan niệm về phát triển CBT được Jafari (2000) đề cập trong tác phẩm

“Encyclopedia of Tourism”, theo đó: phát triển CBT là một quá trình phát triển kinh tế

và xã hội dựa trên các sáng kiến của người dân địa phương Tác giả cho rằng, phát triển

du lịch có thể dẫn đến các vấn đề tích cực hay tiêu cực liên quan đến cộng đồng, nhưngviệc quy hoạch và phát triển có thể góp phần bồi dưỡng, nâng cao nhận thức của ngườidân trong phân tích vấn đề, cơ hội cũng như việc đưa ra các quyết định của mình; đàotạo cho người dân biết cách quản lý, cung cấp nhiều hơn các sản phẩm, dịch vụ củacộng đồng có chất lượng tốt và tạo điều kiện cho các tổ chức cộng đồng phát triển cũngnhư tạo được sự gắn kết với nhau tốt hơn Bùi Thị Hải Yến (2012) đề cập đến CBT nhưmột phương thức phát triển du lịch bền vững, trong đó cộng đồng địa phương là nhữngngười trực tiếp tham gia trong các giai đoạn phát triển của hoạt động du lịch.Theo Wall

và Mathieson (2006), để đánh giá sự phát triển CBT cần xem xét khả năng đáp ứng yêucầu của khách du lịch tại các cơ sở kinh doanh; những tác động đến kinh tế, môi trường

và phúc lợi xã hội cho cộng đồng địa phương

Quan điểm phát triển CBT ở Việt Nam được đề cập lần đầu tiên tại Hội thảo chia

sẻ bài học kinh nghiệm phát triển CBT năm 2003, tại Hà Nội (trích trong Võ Quế,2006), theo đó phát triển CBT nhằm:

- Đảm bảo phát triển tài nguyên tự nhiên và tài nguyên văn hóa bền vững, cụ thể:

+ Phát triển CBT cân bằng với các tiêu chuẩn kinh tế, văn hóa - xã hội và môi trường; + Khai thác hợp lý các nguồn tài nguyên tự nhiên và tài nguyên văn hóa;

+ Bảo vệ môi trường sinh thái và cảnh quan;

+ Bảo tồn, giữ gìn và phát triển các bản sắc văn hóa truyền thống bản địa, tôn

trọng văn hóa địa phương, thúc đẩy các ngành nghề truyền thống;

+ Cần có sự tham sự tham gia của người dân địa phương nhằm nâng cao ý thức

bảo vệ tài nguyên, môi trường sinh thái, vệ sinh trong cộng đồng, bản sắc văn hóa;

- Sở hữu thuộc về cộng đồng:

+ Cộng đồng là những người quản lý các tài nguyên du lịch, có phong cách, lối

sống riêng cần được tôn trọng;

+ Cộng đồng có quyền sở hữu các nguồn tài nguyên và có quyền tham gia vào

các hoạt động du lịch.

Trang 31

- Thu nhập có được do cộng đồng quản lý:

+ Những khoản lợi nhuận thu được từ hoạt động kinh doanh du lịch được chia

sẻ cộng bằng cho cộng đồng;

+ Các khoản lợi nhuận và lợi ích kinh tế có được từ hoạt động kinh doanh du

lịch được sử dụng để tái đầu tư cho địa phương ngoài phần hỗ trợ của Nhà nước.

- Nâng cao nhận thức của cộng đồng:

+ Cộng đồng nâng cao được trình độ chuyên môn nghiệp vụ, bảo vệ môi trường

và bảo tồn hệ sinh thái;

+ Nâng cao ý thức bảo vệ di sản văn hóa cộng đồng, chống các trào lưu du

nhập, giao thoa văn hóa.

- Tăng cường quyền lực cho cộng đồng:

+ Các hoạt động kinh doanh phát triển CBT là do cộng đồng tổ chức, quản lý; + Cộng đồng dâ cư được quyền tự chủ, thực hiện các dịch vụ và quản lý phát

triển du lịch.

- Tăng cường hỗ trợ của các tổ chức phi chính phủ và cơ quan quản lý Nhà nước:

+ Có sự hỗ trợ về kinh nghiệm và vốn đầu tư của các tổ chức phi chính phủ; + Được sự hỗ trợ về cở sở vật chất và ưu tiên về các chính sách cho cộng đồng

trong việc phát triển du lịch và phát triển cộng đồng.

Như vậy, quan niệm về phát triển CBT xoay quanh các vấn đề về nâng cao nhậnthức của người dân địa phương để họ có thể chủ động trong thảo luận, lập kế hoạch, đầu

tư, thực hiện, quản lý và cung cấp các sản phẩm, dịch vụ của cộng đồng cho phát triển

du lịch Qua đó góp phần cải thiện kinh tế của người dân địa phương, duy trì, bảo tồn vàphát huy những giá trị văn hóa, phong tục tập quán truyền thống bản địa, nâng cao ýthức trong giữ gìn bảo vệ môi trường sống trong cộng đồng Tổng hợp và kế thừa quanđiểm của các nghiên cứu trước đây, trong phạm vi nghiên cứu, tác giả tiếp cận quan

điểm về phát triển CBT là quá trình biến đổi về lượng và chất của các vấn đề kinh tế

-xã hội theo hướng tiến bộ, dựa trên sáng kiến của người dân địa phương trong lĩnh vực

du lịch, nâng cao nhận thức của người dân và khách du lịch trong bảo vệ môi trường tự nhiên cũng như đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của du khách, đem lại hiệu quả kinh tế - xã hội ngày càng cao cho cộng đồng Theo quan điểm này, việc đánh giá phát

triển CBT gồm: (1) tăng trưởng kinh tế cộng đồng; (2) bảo tồn, phát huy những giá trị

văn hóa - xã hội truyền thống cốt lõi của cộng đồng; (3) nâng cao nhận thức của ngườidân địa phương và khách du lịch trong bảo vệ môi trường sinh thái và (4) đáp ứng nhucầu của khách du lịch

Trang 32

1.2.2.1 Phát triển CBT gắn với tăng trưởng kinh tế cộng đồng

Nhiều nghiên cứu đã ghi nhận những tác động tích cực của phát triển CBT gắnvới quá trình tăng trưởng kinh tế cho cộng đồng địa phương, tạo thêm cơ hội việc làm,sinh kế trong lĩnh vực du lịch, góp phần tăng thu nhập cho người dân trong cộng đồngthông qua việc chi tiêu của khách du lịch khi đến thăm bản làng

Xem xét quá trình biến đổi về lượng các vấn đề kinh tế trong phát triển CBT có thể

kể đến như thu nhập của người dân được tăng lên thông qua những khoản chi tiêu của khách

du lịch, giảm tỷ lệ đói nghèo, giảm thiểu việc di cư ra thành phố lớn tìm kiếm việc làm để cóthêm thu nhập; cộng đồng có thêm nhiều nguồn thu từ thuế, phí và các khoản quỹ được trích

ra từ hoạt động kinh doanh CBT (Andereck và cộng sự, 2005; Lai và Nepal, 2006; Lepp,2007; Tasci và cộng sự, 2013) góp phần cải thiện cở sở hạ tầng, hỗ trợ trang thiết bị cở sởvật chất kỹ thuật, góp phần thay đổi diện mạo địa phương theo hướng tích cực (Phạm HồngLong, Nguyễn Thị Thanh Kiều, 2019) Theo đó, các ngành nghề truyền thống của địaphương như nông nghiệp, công nghiệp nhẹ, thủ công mỹ nghệ, chế biến thực phẩm… cũngđược quan tâm, phát triển, mở rộng theo hướng hiện đại hóa, tạo ra những sản phẩm có giácao hơn do nhu cầu phát triển của thị trường địa phương (Nopparat Satarat, 2010)

Phát triển CBT gắn với tăng trưởng về chất các vấn đề kinh tế cũng được các họcgiả (Marsh, 1998; Neto, 2002; Tosun, 2002…) đề cập đến như sự chuyển dịch cơ cấukinh tế trong cộng đồng từ hoạt động nông, lâm, thủ công nghiệp sang dịch vụ du lịch,người dân được nâng cao kiến thức kinh doanh, kỹ năng quản lý và nhiều kinh nghiệmkinh doanh mới từ việc phát triển CBT…, chất lượng cuộc sống được nâng cao

Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực của phát triển CBT gắn với quá trìnhphát triển kinh tế cộng đồng, nhiều nghiên cứu cũng chỉ ra những tác động tiêu cực đếnkinh tế địa phương như vấn đề tăng giá của đất đai, hàng hóa, dịch vụ (Garland, 1984);gánh nặng thuế cho người dân địa phương hay vấn đề rò rỉ kinh tế ra bên ngoài (Ashley

và Roe, 1998; Mowforth và Munt, 2003) Ngoài ra, nghiên cứu của Akis và cộng sự,(1996) cũng chỉ ra rằng, nhiều người dân địa phương tham gia vào các hoạt động kinhdoanh du lịch thường được sắp xếp, bố trí ở những công việc phổ thông và có vị trí thấphơn so với nhân viên được tuyển từ bên ngoài cộng đồng Thêm vào đó là vấn đề phânphối không đều những phúc lợi từ phát triển du lịch đối với người dân mà thường tậptrung ở một nhóm nhỏ trong cộng đồng

Trần Tiến Dũng (2007) không đo lường cụ thể những chỉ tiêu kinh tế khi đánh giá sựphát triển du lịch bền vững ở Phong Nha, Kẻ Bàng, nhưng nghiên cứu cũng đã chỉ ra bêncạnh những mặt tích cực của phát tiển du lịch như đóng góp cho kinh tế địa phương; tạosinh kế và việc làm cho người dân trong lĩnh vực du lịch; góp phần giảm nghèo, nâng

Trang 33

cao thu nhập cho người dân thì phát triển du lịch cũng để lại một số hạn chế như chưatạo việc làm, góp phần tăng thu nhập cho cộng đồng các dân tộc ít người; chưa tận dụnghết những lợi thế tài nguyên của địa phương cho phát triển kinh tế.

Tóm lại, việc đánh giá sự phát triển CBT gắn với tăng trưởng kinh tế cộng đồngthường được đo lường thông qua các chỉ tiêu như chi tiêu của khách du lịch; thu nhậpcủa người dân, cộng đồng, việc làm, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong cộng đồng Tácgiả sẽ tiếp tục kế thừa những chỉ tiêu này, vận dụng đo lường với bối cảnh nghiên cứucủa tiểu vùng Tây Bắc

Tác giả tóm tắt những chỉ tiêu đánh giá phát triển CBT gắn với tăng trưởng kinh

tế cộng đồng được các học giả đề cập trong nghiên cứu trước đây tại phụ lục 5.1

1.2.2.2 Phát triển CBT gắn với phát triển văn hóa - xã hội

Nghiên cứu của nhiều học giả đã chỉ ra sự phát triển CBT gắn với các khía cạnhvăn hóa - xã hội như: Các giá trị văn hóa, phong tục tập quán truyền thống của ngườidân được bảo tồn; Nâng cao năng lực của cộng đồng trong quản lý du lịch; Phát triểnnguồn nhân lực và các kỹ năng của người dân Một số nghiên cứu quan tâm đến pháttriển CBT gắn với sự hợp tác, hỗ trợ của các cá nhân, tổ chức trong cộng đồng, tạo ranhững cam kết cho mục tiêu chung của cộng đồng địa phương

Vấn đề thứ nhất, liên quan đến bảo tồn các giá trị văn hóa, phong tục tập quán

truyền thống, nghiên cứu của Akis và cộng sự (1996) chỉ ra rằng, sự phát triển CBT gắn

với việc bảo tồn những giá trị văn hóa truyền thống cốt lõi/nguyên bản (authenticity)

trước những áp lực của quá trình đô thị hóa như những ngôi nhà mang kiến trúc truyềnthống, phong tục tập quán của người dân địa phương; cải thiện các dịch vụ xã hội,phương tiện giải trí và các hoạt động văn hóa trong cộng đồng thông qua các hoạt độnggiao lưu, trao đổi, triển lãm văn hóa, lịch sử Tuy nhiên, Rosenow và Pulsipher (1979)cho rằng nếu phát triển du lịch với tốc độ nhanh nhưng quy hoạch và quản lý kém thìcộng đồng sẽ mất đi bản sắc văn hóa truyền thống

Việc bảo tồn các di sản văn hóa là điều quan trọng không chỉ vì ý nghĩa lịch sửcủa nó, mà còn là tiềm năng trong việc góp phần tạo thêm thu nhập cho người dân địaphương Điều này được chứng minh bởi sự thành công của một số dự án như Grampians

và Gap Halls tại Victoria, Australia hay điểm du lịch Làng Kim Bồng (Hội An); BảnLác (Mai Châu, Hòa Bình) (Bùi Thanh Hương và cộng sự, 2007), các dự án này đã nhấnmạnh đến việc tận dụng tối đa các nguồn lực địa phương trong phát triển du lịch như: sửdụng các nguồn nguyên liệu địa phương, lương thực thực phẩm, vật liệu xây dựng haynhững kiến trúc, các giá trị văn hóa bản địa cũng như huy động tối đa nguồn nhân lựctại địa phương để phát triển du lịch

Trang 34

Vấn đề thứ hai, liên quan đến nâng cao năng lực của cộng đồng trong quản lý du

lịch, nhiều nghiên cứu thực nghiệm cũng chỉ ra, để phát triển CBT thì các thành viêntrong cộng đồng cần được chủ động tham gia, chia sẻ ý tưởng và tập hợp các nguồn lựctrong việc quản lý CBT, tạo mối liên hệ bền chặt, củng cố niềm tin và sự đoàn kết trongcộng đồng Thực tế, một số nghiên cứu được tiến hành ở Bắc Mỹ, Châu Âu, Caribbean,Châu Á và khu vực Thái Bình Dương đã chỉ ra phát triển CBT chưa thể hiện được vaitrò của nó trong phát triển cộng đồng Nhiều dự án CBT, ban đầu được đề cập như bànđạp để phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội, góp phần vào bảo tồn các nguồn tài nguyên

tự nhiên và tạo việc làm cho người dân địa phương, nhưng thực tế sau đó diễn ra ngượclại Nghiên cứu của Simpson và Wall (1999) ở khu Paradise Beach Resort, tại Sulawesi(Indonesia) đã chỉ ra việc phát triển du lịch ở đây có xu hướng bỏ qua những lợi ích củangười dân địa phương và kết quả đó đã có những tác động tiêu cực đến môi trường tựnhiên và xã hội, cụ thể:

- Trong quá trình phát triển khu Paradise Beach Resort, tại Sulawesi đã không có diễn đàn cho người dân địa phương tham gia;

- Vấn đề bồi thường đền bù đất đai cho người dân không được thỏa đáng;

- Nhiều loài cây ở vùng ngập mặn và cây dừa của địa phương bị phá bỏ;

- Hầu hết các nguồn lực lao động liên quan đến xây dựng hạ tầng được huy động

từ những khu vực khác chứ không phải từ địa phương;

- Khoảng 250 nhân viên khách sạn là người Indonesia, nhưng chỉ khoảng 5%trong số đó được huy động từ người dân bản địa Tuy nhiên, phần lớn các công nhânngười địa phương làm việc trong các vị trí quét dọn lau chùi và làm vườn thông thường,

họ không được đào tạo và được nhận mức lương rất thấp;

- Người dân địa phương không có cơ hội để bán trực tiếp những sản phẩm thủ công truyền thống mà họ tự làm cho các khách sạn, khách du lịch;

- Nhiều người dân địa phương cho biết, trong thời gian dài họ sẽ không còn đất

để trồng rau hoặc trồng dừa;

- Các đội văn nghệ của địa phương không được huy động để tham gia trình diễn,

mà thay vào đó là những đội từ các làng, địa phương khác

Bùi Thanh Hương và cộng sự (2007) đã chỉ ra những hạn chế, vướng mắc liênquan đến việc khai thác các nguồn tài nguyên du lịch tại địa phương Các hoạt động nàythường được chỉ đạo, sở hữu và điều hành bởi các chủ sở hữu hay các doanh nghiệp bênngoài cộng đồng, họ thường cung cấp các tour du lịch chọn gói và sự tham gia duy nhấtcủa người dân địa phương là việc sử dụng các nguồn tài nguyên tự nhiên và văn hóa của

họ ở mức tối thiểu hoặc không nhận được kinh phí từ phía các nhà điều hành Các hoạt

Trang 35

động liên quan đến công việc của người dân địa phương bị áp đặt theo phương pháp tiếpcận từ trên xuống, các hộ kinh doanh lại thiếu nhân lực, đặc biệt là lao động trẻ và nữ;thu nhập từ hoạt động kinh doanh du lịch quá thấp do công ty áp đặt giá nên không đủtrang trải những chi phí cơ bản, không thúc đẩy việc tái đầu tư; các hộ gia đình bị ràngbuộc bởi hợp đồng độc quyền của công ty nên không có cơ hội đón tiếp các đoàn kháchcủa các công ty lữ hành khác, ngay cả đối với khách du lịch riêng lẻ, điều này tạo ra sựkìm hãm mức tăng lượng khách sử dụng dịch vụ tại nhà dân.

Từ những phân tích trên cho thấy, CBT phát triển theo đúng nghĩa của nó khi cácthành viên trong cộng đồng có thể phát huy khả năng của mình và tham gia quản lý hoạtđộng kinh doanh du lịch để tối đa hóa lợi ích Đồng thời phát huy những kỹ năng vàkiến thức để giải quyết vấn đề, giảm thiểu sự phụ thuộc vào các cơ quan bên ngoài

Vấn đề thứ ba, liên quan đến phát triển nguồn nhân lực và các kỹ năng của người

dân, nghiên cứu của Tasci và cộng sự (2013) cũng chỉ ra, phát triển CBT gắn với việcnâng cao chất lượng cuộc sống cho các cá nhân và cộng đồng không chỉ riêng thu nhập

và việc làm, mà còn các vấn đề xã hội khác như y tế, giáo dục, giải trí và bình đẳng giới,phát triển nguồn nhân lực và các kỹ năng cho người dân địa phương Thông qua pháttriển CBT, người dân có thêm nhiều kiến thức kinh doanh, kỹ năng quản lý và kinhnghiệm mới từ giao tiếp với khách du lịch (Jones, K, 1995) Hơn nữa, CBT là loại hình

du lịch thường gắn với các tài nguyên văn hóa và tài nguyên tự nhiên trong cộng đồng,bằng những kỹ năng và kiến thức của mình, người dân địa phương giới thiệu những nétvăn hóa, phong tục tập quán, cảnh quan thiên nhiên cho du khách Khách du lịch sẽ tìmhiểu văn hóa địa phương bằng cách tham gia các hoạt động giao lưu, lao động sản xuấtcùng người dân bản địa, qua đó thúc đẩy các hoạt động kinh tế, tạo cơ hội việc làm, tăngthu nhập cho người dân và góp phần bảo vệ, gìn giữ môi trường tự nhiên, văn hóa - xãhội Do đó, những người được hưởng lợi chính của CBT không phải là khách du lịchhay các nhà kinh doanh CBT, mà là chính các thành viên trong cộng đồng

Tóm lại, tổng hợp các nghiên cứu phát triển CBT về khía cạnh văn hóa - xã hộicho thấy, có ba nội dung chính được các học giả đề cập trong nghiên cứu của mình là:(1) phát triển CBT gắn với việc bảo tồn, phục hồi các giá trị văn hóa, phong tục tập quántruyền thống của người dân bản địa; (2) người dân được chủ động tham gia, chia sẻ ýtưởng và tập hợp các nguồn lực trong việc quản lý CBT, tạo mối liên hệ bền chặt, củng

cố niềm tin và sự đoàn kết trong cộng đồng; (3) phát triển nguồn nhân lực và các kỹnăng cho người dân địa phương Tác giả tóm tắt những chỉ tiêu đo lường sự phát triểnCBT gắn với văn hóa - xã hội tìm thấy trong các nghiên cứu trước đây tại phụ lục 5.2

Trang 36

1.2.2.3 Phát triển CBT gắn với việc nâng cao nhận thức của người dân và khách

du lịch trong bảo vệ môi trường

Phát triển CBT nói riêng và du lịch nói chung hướng đến mục tiêu phát triển bềnvững, do đó vấn đề nâng cao nhận thức của người dân địa phương, khách du lịch và cácbên liên quan đối với bảo vệ tài nguyên du lịch, cũng như bảo vệ môi trường, cảnh quantrong cộng đồng cũng là một trong những tiêu chí đánh giá phát triển CBT và được thểhiện trên các khía cạnh sau:

Một là, khai thác, sử dụng hợp lý gắn với bảo vệ các nguồn tài nguyên du lịch

trong cộng đồng là một phần thiết yếu, tạo nên sức hấp dẫn của điểm đến Nghiên cứucủa Akis và cộng sự (1996) ở ba cộng đồng người Cypriot; Nunkoo và Ramkissoon(2010) tại Port Luis, Mauritius đã chỉ ra việc đánh giá phát triển CBT không chỉ là việcbảo tồn/phục hồi các công trình kiến trúc (kiến trúc nhà, công trình xây dựng dựng nhântạo của người dân phục phụ cho lao động, sinh hoạt…) mà còn bảo tồn tài nguyên thiênnhiên, động thực vật hoang dã và các di tích văn hóa, lịch sử

Hai là, khai thác sử dụng tài nguyên du lịch gắn với bảo vệ môi trường sinh thái.

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra những tác động của du lịch có ảnh hưởng tiêu cực đến môitrường trong cộng đồng như ô nhiễm không khí (bao gồm khí thải từ xe cộ và cácphương tiện khác), ô nhiễm nước (bao gồm nước thải, phân bón, thuốc trừ sâu…); sựcạn kiệt các tài nguyên thiên nhiên (Andereck và cộng sự, 2005 Liu & Var, 1986); pháhủy hệ thực vật, môi trường cảnh quan địa phương, nạn phá rừng, cháy rừng (Andereck

và cộng sự, 2005; Nguyễn Thị Mỹ Hạnh, 2016), rác thải, ùn tắc giao thông, ô nhiễmtiếng ồn… Do vậy, việc đánh giá phát triển CBT cũng cần xem xét giảm thiểu tác độngtiêu cực của hoạt động du lịch đến môi trường, nâng cao nhận thức của người dân địaphương về bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường trọng cộng đồng (NopparatSatarat, 2010; Suthamma Nitikasetsoontorn, 2014)

Ngoài ra, một số nghiên cứu chỉ ra cần có hệ thống thu gom, xử lý rác tải vànước thải phù hợp tại các điểm du lịch (Trần Tiến Dũng, 2007); nâng cao ý thức trong

vệ sinh thôn bản, góp phần cải thiện môi trường sinh thái (Nguyễn Thị Mỹ Hạnh, 2016);qua tâm đến việc tái tạo và phát triển một số tài nguyên có khả năng tái sinh như rừng,thảm thực vật, các sông, hồ ở các điểm du lịch trong cộng đồng (Dương Hoàng Hương,2017)

Tóm lại, tổng hợp các nghiên cứu cho thấy có ba vấn đề liên quan đến đánh giá pháttriển CBT gắn với nâng cao nhận thức của người dân và khách du lịch trong bảo vệ môitrường là: (1) khai thác, sử dụng hợp lý gắn với bảo vệ các nguồn tài nguyên du lịch trongcộng đồng; (2) khai thác sử dụng tài nguyên du lịch gắn với bảo vệ môi trường sinh

Trang 37

thái và (3) quản lý tốt vấn đề rác thải, nước thải trong cộng đồng Đây là những gợi mở

có ý nghĩa quan trọng để tác giả kế thừa, đánh giá cho khu vực nghiên cứu (phụ lục 5.3)

1.2.2.4 Phát triển CBT gắn với đáp ứng nhu cầu của khách du lịch

Telfer và Sharpley (2008) đã chỉ ra rất nhiều dự án CBT bị thất bại vì số lượngkhách du lịch đến quá ít, không đủ để đảm bảo mức thu nhập cho cộng đồng Một trongnhững nguyên nhân là do những nhà quản lý CBT trong cộng đồng chưa phân đoạn thịtrường khách CBT để đáp ứng nhu cầu của họ, do vậy không thể tập trung các hoạtđộng marketing vào những đối tượng khách du lịch này Egmond (2007) đã chỉ ra rằngviệc hiểu được các đoạn thị trường mục tiêu và cung cấp các sản phẩm để thỏa mãnchúng là chìa khóa thành công trong phát triển du lịch

Oelkers (2007) cho rằng định hướng khách hàng là chìa khóa thành công trong kinhdoanh, do vậy nhà kinh doanh cần phải quan tâm đến nhu cầu và nhận thức của khách hàngđối với sản phẩm mình kinh doanh Tuy nhiên, trong kinh doanh CBT việc xác định nhu cầu

và đáp ứng được nhu cầu của khách du lịch còn phụ thuộc vào điều kiện thực tế của ngườidân địa phương trong cung cấp các sản phẩm, dịch vụ du lịch Tuy nhiên, UNEP (1999)nhấn mạnh rằng việc đáp ứng nhu cầu của khách du lịch nên được duy trì để đảm bảo rằngnhững điểm đến tiếp tục thu hút và duy trì đực tiềm năng thương mại của nó, đồng thời sựphát triển du lịch đem lại những lợi ích rộng rãi cho các thành viên trong xã hội

Một số học giả (Oliver, R, 1999; Reichheld, 1990) đánh giá mực độ thỏa mãnnhu cầu của khách du lịch dựa trên thái độ nhận thức của khách đối với một hành vi cụthể nào đó cho rằng, mức độ thỏa mãn nhu cầu của khách hàng có thể được đánh giámột cách hiệu quả bằng việc “sẵn sàng giới thiệu” thông qua truyền miệng của họ, cáctác giả cho rằng, khi nhu cầu của khách hàng được thỏa mãn, họ sẽ hài lòng về sảnphẩm/dịch vụ nào đó và thường truyền tin cho những người khác để lôi kéo họ về vớisản phẩm/dịch vụ Do vậy, việc đánh giá sự sẵn sàng giới thiệu của khách hàng chongười khác là một trong những cách xác định mực độ thỏa mãn nhu cầu của khách

Để đánh giá sự phát triển CBT gắn với đáp ứng nhu cầu của khách du lịch, tổchức du lịch thế giới (UNWTO) đã xây dựng bộ chỉ tiêu đánh giá mức độ phát triển củamột điểm đến du lịch cụ thể gồm 4 tiêu chí là nhu cầu của du khách được đáp ứng caođộ; vấn đề kinh tế; văn hóa - xã hội và môi trường Trong đó, có chỉ tiêu về đáp ứng nhucầu của khách du lịch, được đo lường thông qua (1) tỷ lệ (%) số khách trở lại/tổng sốkhách; (2) số ngày lưu trú bình quân/đầu khách; (3) tỷ lệ (%) các rủi ro về sức khỏe(bệnh tật, tai nạn do du lịch/số lượng khách)

Ngoài ra, một số học giả đo lường khả năng đáp ứng nhu cầu của khách du lịchthông qua kiểm tra thái độ của du khách đối với một số chỉ tiêu như thời gian lưu trú

Trang 38

(Iwasaki và Havitz, 1998); Thời gian dành cho việc mua sắm, sử dụng hoặc tham giavào các hoạt động giải trí mỗi ngày/tuần/tháng/năm (Iwasaki và Havitz, 1998); số lần/sốlượng khách du lịch quay trở lại điểm đến (Bowen và Chen, 2001); việc giới thiệu điểmđến, các dịch vụ du lịch cho người khác (Chen và Tsai, 2007) Đây là những gợi mởquan trọng để tác giả vận dụng, kế thừa và phát triển bổ sung phù hợp với nội dung cũngnhư khu vực nghiên cứu của luận án, phụ lục 5.4 tóm tắt những chỉ tiêu đánh giá mức

độ thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch được tìm thấy trong các nghiên cứu trước đây

1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch cộng đồng

Có nhiều nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch nói chung

và CBT nói riêng, có thể chia thành hai hướng nghiên cứu chính:

Một là, các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển CBT mang tính vĩ mô như: năng lực

và hiệu quả quản lý của Nhà nước; môi trường chính trị, kinh tế - xã hội của mỗi quốc

gia, khu vực; các vấn đề toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế và biến đổi khí hậu;

Hai là, các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển CBT thuộc phạm vi cộng đồng địa

phương như: sức hấp dẫn của điểm du lịch; khả năng tiếp cận điểm đến; cơ sở hạ tầngvật chất kỹ thuật hay những kỹ năng và kiến thức về du lịch của người dân địa phương;vấn đề hợp tác và hỗ trợ trực tiếp từ bên ngoài cộng đồng

Trong phạm vi nghiên cứu này, luận án chỉ đề cập nội dung các nhân tố ảnhhưởng đến phát triển CBT thuộc phạm vi cộng đồng địa phương của điểm đến

1.3.1 Sức hấp dẫn của điểm đến du lịch

Điểm đến du lịch có thể được hiểu là một địa điểm mà khách du lịch lựa chọnđến và ở lại trong một khoảng thời gian để tham quan, trải nghiệm (Leiper, 1995) TheoUNWTO (2007) thì điểm đến du lịch bao gồm một số các thành phần cơ bản thu hútkhách du lịch đến với điểm đến và thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch khi họ đã đến.Theo Holloway và Humphrey (2012), điểm đến du lịch bao gồm tất cả các tài nguyên cósức hấp dẫn, thu hút, khuyến khích khách du lịch đến tham quan, theo nhóm tác giả sứchấp dẫn của điểm đến du lịch gồm bốn khía cạnh là các địa điểm tự nhiên, các địa điểmxây dựng, các sự kiện tự nhiên và các sự kiện xây dựng Điểm đến du lịch có sức hấpdẫn được xem là một trong những yếu tố quan trọng thu hút sự quan tâm của khách dulịch, đồng thời có thể là động lực cho khách du lịch ra quyết định đi du lịch Một số họcgiả (Goodall, 1988; Gartner, 1989) đã chỉ ra mối quan hệ giữa sức hấp dẫn của điểm đến

du lịch với quyết định lựa chọn của du khách, theo đó các điểm đến có nhiều hình ảnhhấp dẫn sẽ có khả năng được khách du lịch ra quyết định lựa chọn

Abdulla M Alhemoud và Edward G Armstrong (1996) nghiên cứu về sức hấpdẫn của điểm đến du lịch ở Kuwwait đã chia thành bốn nhóm gồm: (1) các điểm tham

Trang 39

quan tự nhiên (núi, khu vực có rừng, sông, hồ, sa mạc…); (2) các điểm tham quan lịch

sử (các tòa nhà, lâu đài cổ, khu di tích hay các địa điểm được xây dựng khác đã đượcxây dựng trong quá khứ); (3) các điểm tham quan văn hóa (các giá trị văn hóa, phongtục tập quán truyền thống của người dân địa phương tại điểm du lịch) và (4) các điểmtham quan liên quan đến hoạt động lao động sản xuất của người dân bản địa Kết quảnày cũng được Suthathip Suanmali (2014) chỉ ra trong một nghiên cứu thực nghiệm ởphía Bắc Thái Lan về các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách du lịch, theo tácgiả có ba yếu tố tạo nên sức hấp dẫn của điểm đến du lịch, ảnh hưởng đến sự hài lòngcủa khách là (1) sức hấp dẫn về tài nguyên tự nhiên; (2) sự đa dạng về văn hóa bản địa

và (3) các hoạt động giải trí

Nopparat Satarat (2010) khi phân tích các sản phẩm du lịch trong nghiên cứu vềquản lý CBT bền vững ở Thái Lan đã đề cập đến hai yếu tố liên quan đến sức hấp dẫncủa điểm đến là (1) các điểm tham quan tự nhiên (địa hình đồi núi, sự đa dạng về thựcvật, động vật hoang dã; thác nước, suối…); (2) các điểm tham quan văn hóa - lịch sử(các giá trị văn hóa, phong tục truyền thống, âm nhạc của người dân địa phương; cácngôi đền cổ) Ngoài ra, các hoạt động du lịch như leo núi ngắm cảnh, chèo thuyền, họckhiêu vũ, sản xuất sản phẩm địa phương và quà lưu niệm cũng được xem là một nhân tốảnh hưởng đến hoạt động quản lý CBT bền vững Một nghiên cứu khác của Ni MadeErnawati (2015) về định hướng thị trường của các sản phẩm CBT ở ba ngôi làng tạiBaLi cũng chỉ ra sức hấp dẫn của điểm đến du lịch gồm (1) môi trường tự nhiên (củavùng nông thôn, thác nước tự nhiên); (2) các di tích lịch sử (hang Voi và các trạm khắcbằng đá thời trung cổ); (3) văn hóa truyền thống của người dân BaLi (nghi lễ tôn giáo,lối sống truyền thống) và (4) các hoạt động (sản xuất dừa; canh tác lúa gạo, cà phê; đi

bộ quanh làng, qua các cánh đồng lúa)

Như vậy, điểm đến du lịch không chỉ là nơi gải trí, thu hút khách du lịch, đemđến sự thỏa mãn cho họ mà còn là nơi người dân địa phương đang sinh sống và làm việchàng ngày Việc nghiên cứu đánh giá sức hấp dẫn của điểm đến để nắm bắt được cáchngười dân địa phương khác nhau tương tác hỗ trợ cho phát triển du lịch, đồng thời duytrì những đặc tính có giá trị của địa phương và giải quyết các vấn đề tiêu cực trong quátrình phát triển CBT là cần thiết Tổng hợp những chỉ tiêu đánh giá sức hấp dẫn củađiểm đến du lịch của các nghiên cứu trước đây được trình bày trong phụ lục 6.1

1.3.2 Khả năng tiếp cận điểm đến du lịch

Khả năng tiếp cận điểm đến du lịch có thể được hiểu là khả năng di chuyển đếnđiểm du lịch và việc di chuyển giữa các điểm trong khu vực của điểm đến được thuậntiện, đơn giản, nhanh chóng và an toàn Đây được xem là một trong những yếu tố đánhgiá thuộc tính hấp dẫn của điểm đến du lịch Khả năng tiếp cận điểm đến du lịch phụ

Trang 40

thuộc vào hệ thống hạ tầng giao thông (đường xá, bãi đỗ xe, phương tiện vận chuyển…);trang thiết bị giao thông (loại hình, kích cỡ, tốc độ, phạm vi của loại hình vận tải…); cácvấn đề liên qua đến điều hành vận tải (lịch trình chuyến đi, hướng, đường đi…) và nhữngquy định liên quan đến hoạt động vận tải (Hà Nam Khánh Giao, 2011).

Theo Holloway & Humphrey (2012), khả năng tiếp cận điểm đến du lịch không chỉdừng ở mức độ thuận tiện của khách du lịch từ khi rời nhà đến nơi đã chọn mà còn liên quanđến việc di chuyển giữa các điểm du lịch bên trong điểm đến Điều này liên quan đến việc

sử dụng các phương tiện vận tải đường bộ, đường thủy hay đường không khác nhau Tuynhiên, đối với hoạt động CBT, khách du lịch thường thích các phương thức vận tải thânthiện với môi trường, đặc biệt là vận chuyển trong khu vực của điểm đến (Butcher, 1996)

Christina Geng-Qing Chi và cộng sự (2008), khi nghiên cứu đánh giá mối quan

hệ giữa hình ảnh điểm đến, sự hài lòng của khách du lịch và lòng trung thành của khách

đã chỉ ra khả năng tiếp cận điểm đến cũng có tác động đến sự hài lòng của khách dulịch, nhóm tác giả đã phân tích dựa trên 4 chỉ tiêu, gồm: (1) lưu lượng giao thông hoạtđộng tốt và có điểm đậu xe; (2) có bãi đỗ xe tại các khu trung tâm; (3) dễ dàng tiếp cậnđiểm đến và (4) có hệ thống xe đẩy hỗ trợ vận chuyển trong điểm đến với giá cả phảichăng Tuy nhiên, Suthathip Suanmali (2014), lại đánh giá khả năng tiếp cận điểm đếntrong phát triển CBT không chỉ riêng vấn đề giao thông đi lại mà còn khả năng tiếp cậnvới các dịch vụ y tế và chính quyền địa phương Tác giả cũng đưa ra 4 chỉ tiêu đánh giá,gồm: (1) có sẵn các thông tin và tài liệu liên quan đến điểm đến; (2) thuận tiện trongviệc đi lại; (3) dễ dàng tiếp cận với các dịch vụ y tế cơ bản và (4) có khả năng tiếp cậnvới chính quyền địa phương

Khác với các nghiên cứu trên, khi nghiên cứu phát triển các chỉ số đánh giá sựphát triển du lịch nông thôn bền vững, Duk-Byeong Park và cộng sự (2011) đánh giákhả năng tiếp cận điểm đến trên ba chỉ tiêu là (1) hệ thống đặt phòng nghỉ trên website;(2) có sách hướng dẫn du lịch và bản đồ phù hợp và (3) có trang bị bảng chỉ dẫn đến làng trong phạm vi 5 km

Tóm lại, tổng quan các nghiên cứu cho thấy, khả năng tiếp cận điểm đến du lịchđược xem là một trong những nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến phát triển CBT cũngnhư đánh giá sự hài lòng và lòng trung thành của khách du lịch Đứng trên những quanđiểm, khu vực nghiên cứu khác nhau thì quan niệm về khả năng tiếp cận điểm đến củacác nghiên cứu cũng không giống nhau Tuy nhiên, có 2 nội dung các nghiên cứu đề cậpđến trong nhân tố này là khả năng tiếp cận điểm đến bằng các phương tiện giao thông vàkhả năng tiếp cận điểm đến thông qua các dịch vụ được cung cấp cho khách du lịchtrước và trong quá trình thực hiện chuyến đi Việc tổng quan nghiên cứu nhân tố khảnăng tiếp cận điểm đến du lịch có ý nghĩa quan trọng cho tác giả lựa chọn biến số và

Ngày đăng: 01/08/2020, 06:43

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w