1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tiểu luận lsttct tìm hiểu tư tưởng của c mác về bản chất con người

44 94 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 44
Dung lượng 182 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Kể từ khi con người bước vào lịch sử đến nay, cùng với việc đi sâu tìm hiểu thế giới xung quanh, con người cũng đã không ngừng tìm hiểu về chính bản thân mình. Con người là gì, nó sinh ra từ đâu, quan hệ con người với con người cũng như với thế giới ra sao, mục đích cuộc sống con người là gì, thế nào là hạnh phúc, điều gì sẽ đến với con người sau khi chết…Biết bao nhiêu câu hỏi đã đặt ra và cũng đã có bao nhiêu cách trả lời về những câu hỏi ấy. Qua nhiều thời đại, với những chế độ xã hội kế tiếp nhau trong lịch sử, vấn đề con người vẫn không hề trở nên cũ trong nhận thức của con người. Là một hình thái ý thức xã hội, triết học bao giờ cũng trở lại với con người và coi con người như một đối tượng trung tâm của mình. Dù là duy vật hay duy tâm, dù có tuyên bố hay không tuyên là “triết học của con người”, “triết học về con người”, mọi trào lưu triết học ở thời cổ đại cũng như hiện đại đều đi vào lý giải một cách trực tiếp hay gián tiếp những vấn đề chung nhất của con người. Nhưng xuất phát từ những lập trường thế giới quan và phương pháp luận khác nhau của triết học, những lý giải ấy đã nhiều khi rất khác nhau hoặc đối lập hẳn nhau. Cuộc đấu tranh về lý luận và tư tưởng xung quanh vấn đề con người, bản chất con người cũng là một trong những nét độc đáo nhất của triết học. Chỉ đến khi chủ nghĩa Mác ra đời và phát triển một cách hệ thống, thì vấn đề con người mới được đặt ra và giải quyết một cách khoa học và cách mạng. Xem xét tư tưởng của C.Mác về bản chất con người (trong “luận cương về Phoiơbắc”) có liên hệ trực tiếp đến chiến lược phát triển con người của nước ta hiện nay. Nó đáp ứng cả về mặt lý luận và thực tiễn trong quá trình xây dựng và đào tạo con người mới. Thực tiễn ở Việt Nam trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa nay đòi hỏi phải có những con người toàn diện, hài hòa về mọi mặt, đặc biệt là sự phát triển hoàn thiện về nhân cách. Chính vì vậy chúng tôi quyết định chọn đề tài :“ Tìm hiểu tư tưởng của C.Mác về bản chất con người” với mong muốn là sáng tỏ một số cơ sở lý luận của C.Mác về bản chất con người từ đó đối chiếu với chiến lược xây dựng và đào tạo con người ở nứơc ta hiện nay. Trong thực tế và trên nhiều bình diện của cuộc sống vấn đề bản chất con người vẫn còn là một vấn đề tiếp tục làm sáng rõ hơn.

Trang 1

hệ con người với con người cũng như với thế giới ra sao, mục đích cuộcsống con người là gì, thế nào là hạnh phúc, điều gì sẽ đến với con ngườisau khi chết…Biết bao nhiêu câu hỏi đã đặt ra và cũng đã có bao nhiêucách trả lời về những câu hỏi ấy Qua nhiều thời đại, với những chế độ

xã hội kế tiếp nhau trong lịch sử, vấn đề con người vẫn không hề trởnên cũ trong nhận thức của con người

Là một hình thái ý thức xã hội, triết học bao giờ cũng trở lại vớicon người và coi con người như một đối tượng trung tâm của mình Dù

là duy vật hay duy tâm, dù có tuyên bố hay không tuyên là “triết họccủa con người”, “triết học về con người”, mọi trào lưu triết học ở thời

cổ đại cũng như hiện đại đều đi vào lý giải một cách trực tiếp hay giántiếp những vấn đề chung nhất của con người Nhưng xuất phát từ nhữnglập trường thế giới quan và phương pháp luận khác nhau của triết học,những lý giải ấy đã nhiều khi rất khác nhau hoặc đối lập hẳn nhau.Cuộc đấu tranh về lý luận và tư tưởng xung quanh vấn đề con người,bản chất con người cũng là một trong những nét độc đáo nhất của triếthọc

Chỉ đến khi chủ nghĩa Mác ra đời và phát triển một cách hệthống, thì vấn đề con người mới được đặt ra và giải quyết một cáchkhoa học và cách mạng Xem xét tư tưởng của C.Mác về bản chất conngười (trong “luận cương về Phoiơbắc”) có liên hệ trực tiếp đến chiếnlược phát triển con người của nước ta hiện nay Nó đáp ứng cả về mặt

lý luận và thực tiễn trong quá trình xây dựng và đào tạo con người mới

Trang 2

Thực tiễn ở Việt Nam trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đạihóa nay đòi hỏi phải có những con người toàn diện, hài hòa về mọi mặt,đặc biệt là sự phát triển hoàn thiện về nhân cách Chính vì vậy chúng tôi

quyết định chọn đề tài :“ Tìm hiểu tư tưởng của C.Mác về bản chất con người” với mong muốn là sáng tỏ một số cơ sở lý luận của C.Mác về bản

chất con người từ đó đối chiếu với chiến lược xây dựng và đào tạo conngười ở nứơc ta hiện nay

Trong thực tế và trên nhiều bình diện của cuộc sống vấn đề bảnchất con người vẫn còn là một vấn đề tiếp tục làm sáng rõ hơn

2 Mục đích và nhiệm vụ

Mục đích:

Tiểu luận này nhằm nêu bật tư tưởng của C.Mác về bản chất của conngười, từ đó thấy được cái mới, có tính khoa học và cách mạng trong tư tưởngcủa C.Mác so với các nhà triết học trước đó

Nhiệm vụ:

Tiểu luận sẽ lý giải hai vấn đề cơ bản sau:

1.Hệ thống các tư tưởng về bản chất con người trong lịch sử triết họctrước C.Mác

2 Phân tích tư tưởng của C.Mác về bản chất con người từ đó liên

hệ với chiến lược xây dựng và đào tạo con người ở nước ta hiện nay

3 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận của đề tài là nguyên lý của chủ nghĩa duy vật biệnchứng- chủ nghĩa duy vật lịch sử của triết học Mác- Lênin Đồng thời

kế thừa kết quả nghiên cứu của các tác giả đi trước

Phương pháp nghiên cứu: Phân tích, tổng hợp, nghiên cứutài liệu, phương pháp logíc lịch sử

4.Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu chủ yếu của tiểu luậnlà quan niệm cơ bảncủa C.Mác về bản chất con người

Trang 3

Trong phần vận dụng thực tiễn chúng tôi di tập trung đối chiếuvới chiến lược xây dựng và đào tạo con người của nước ta hiện nay

5 ý nghĩa niên luận

Tiểu luậngóp phần nhận thức khái quát, làm sáng tỏ hệ thống lýluận trong việc xác định bản chất con người Từ đó tiểu luậntham giavào việc xác lập một số mục tiêu xây dựng chiến lược phát triển conngười ở nước ta hiện nay

6 Kết cấu

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nộidung tiểu luận gồm 3 phần chính:

Phần Mở ĐầuPhần Nội dungPhần kết luận

PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG 1

TƯ TƯỞNG VỀ CON NGƯỜI TRONG LỊCH SỬ

Trang 4

TRIẾT HỌC TRƯỚC MÁC

1.1 Tư tưởng về con người trong lịch sử triết học phương Đông

Triết học phương Đông đã ra đời từ rất sớm cùng với sự xuất hiệncủa rất nhiều học thuyết và trường phái Nội dung xuyên suốt và nổi bậttrong các học thuyết, tư tưởng đó chính là vấn đề con người Triết lýnhân sinh của người phương Đông hết sức phong phú, đa dạng, và vôcùng độc đáo, thâm thúy Con người là một nội dung chủ yếu của triếthọc học này

Việc luận bàn về con người trong lịch sử tư tưởng phương Đôngxuất hiện từ khá sớm Không phải đợi đến tư duy trừu tượng với nănglực khái quát thành tư tưởng học thuyết mà ngay từ các truyền thuyết,thần thoại, sử thi được lưu truyền lại từ thời cổ đại, trong kho tàng cáctruyện cổ tích…Chúng ta đã có thể tìm thấy không ít sự lý giải vềnguồn gốc của con người Đó là những quan niệm có tính chất triết lýnhân sinh đầu tiên về cuộc sống của con người

Con người- cá nhân được gắn chặt vào những cấu trúc siêu cánhân, các cấu trúc mang nguồn gốc xã hội thuần túy, cũng như là cáccấu trúc thiên nhiên hay cấu trúc “thế giới khác”, những cấu trúc siêunghiệm Những tư tưởng này tập trung trong quan niệm triết học củaTrung Quốc, của ấn Độ- hai trong số những nôi xuất hiện và phát triển

xã hội loài người

1.1.1.Vấn đề con người trong triết học Trung Hoa cổ đại

Các nhà tư tưởng của triết học Trung Hoa cổ đại hầu như đều tậptrung bàn đến con người Họ không muốn tách con người ra khỏi thếgiới; xem con người là một phần của tự nhiên, chú ý nhấn mạnh đếnmặt xã hội nhân sinh của con người Khi bàn đến nội dung này họ đềumong muốn lập một trật tự xã hội mới

Trong toàn bộ khổng giáo cổ đại, từ Khổng Tử, Tuân Tử, Lão Tử,Hàn Phi Tử…đều thể hiện sự thống nhất tính cộng đồng của con người,

Trang 5

trong sự ràng buộc của rất nhiều mối quan hệ xã hội Trong không íthọc thuyết, bản chất con người bắt đầu từ chở thiện và thể hiện ra đạođức của con người quân tử

Chữ “nhân” là hạt nhân trong học thuyết chính trị của Khổng con người đạo đức phong kiến phương Đông trong Nho giáo: “quân tửnhi bất nhân giả hữu hỉ, vị hữu tiểu nhân nhi nhân giả dã” Nghĩa là đạonhân chỉ là đạo của người quân tử, của giai cấp thống trị, còn nhân dânlao động kẻ tiểu nhân không có được đức nhân

Tử-Mặt khác khi bàn đến con người, Khổng Tử cho: “người là cáiđức của trời đất, trước hết là sự giao hợp của âm dương, là sự hội tụ củaquỷ thần, là khí tinh tú của ngũ hành”, có nghĩa là ông thừa nhận conngười là sản phẩm của tự nhiên nhưng con người ở đây lại xuất hiệnmột cách thần bí Theo ông, con người có số mệnh, số mệnh do trời quyđịnh “sống chết có mệnh, giàu sang tại trời”, con người chỉ biết hoàntoàn tuân theo số mệnh Sống-chết, phú quý- giàu nghèo của mỗi cánhân đều là do “thiên mệnh” quy định Khổng Tử nhấn mạnh đến bảntính thiện của con người; con người ngay từ khi mới lọt lòng đã có sẵntính thiện, đó là “thiên tính” Điều đáng chú ý ở đây là khi bàn đến mốiquan hệ giữa con người và xã hội, Khổng Tử nhấn mạnh đến lý luận,đạo đức, quan hệ tinh thần mà không chú ý đến quan hệ vật chất, quan

hệ kinh tế Nhưng ông cũng thấy được vai trò của học tập, giao tiếptrong việc quyết định bản tính con người

Cùng thời Khổng Tử, Lão Tử với quan niệm “đạo là vạn vật chitông” và người phải tuân theo quy luật của thế giới Ông cho rằng mọi

sự hình thành, biến hóa của vạn vật đều từ “đạo” mà ra “Đạo” cũng làcái có trước vạn vật, có trước hiện tượng đầu tiên: Đạo sinh ra một, mộtsinh ra hai, hai sinh ra ba và ba sinh ra vạn vật Như vậy Đạo của Lão

Tử là một thứ rất huyền bí, trần thoát, cái có tên là “mẹ đẻ của thiênhạ” Như vậy Lão Tử không thấy nguồn gốc đích thực sinh ra loài

Trang 6

người là sản phẩm của sự vận động cao nhất của tự nhiên mà lại chorằng con người và vật chất là do “Đạo” sinh ra Trong mối quan hệ conngười và xã hội thì Lão Tử lại xây dựng học thuyết con người vô vi, báttranh thụ động trước mọi thế lực thù địch

Lão Tử chủ trương conn người cần phải trở lại với trạng thái chấtphác của trẻ con “cần phải có trái tim ngu”, ông chủ trương “học nhữngngười không học” và cho rằng “viết bỏ Thánh trí nhân, nhân dân sẽ cólợi gấp trăm lần; vứt bỏ nhân nghĩa nhân dân sẽ trở lại hiếu từ” TứcLão Tử phủ định mọi quan hệ luân lý, quan niệm tốt xấu và mọi thứ vănhóa tinh thần của xã hội hiện thực mà trở lại với cái chất phác “vôdanh”, trở lại với cái ý thức trẻ con không phân biệt tốt xáu, phải trái

Từ đó ông cho rằng mọi sự sản xuất tinh thàn, mọi văn hóa tinh thầnđều là ý muốn thừa và hành vi vô dụng” ông đã phủ nhận tri thức mộtcách cực đoan, từ đó xem nhẹ vai trò của lý tính con người trong việcnhận thức thế giới, đề cao trạng thái tự nhiên của con người

Nhìn chung cả Khổng Tử và Lão Tử chỉ đề cập đến mặt tinh thầncủa con người mà không nói gì đến mặt vật chất cái để đáp ứng nhu cầusinh học, điều kiện để con người tồn tại Đặt trong bối cảnh lịch sử thờiđại ông thì mục đích xây dựng mẫu người như vậy là cần tiết, songphương pháp thực hiện mục đích đó lại là thiên lệch

Bên cạnh Khổng Tử, Lão Tử, ở thời Xuân Thu chiến Quốc còn cóMặc Tử với thuyết “làm ái” ông là người đầu tiên đã lấy lao động làmcái để phân biệt sự khác nhau giữa con người và con vật, đồng thời ôngcũng là người đầu tiên chủ trương xây dựng một hình tượng con ngườivới đầy đủ với các mối quan hệ kinh tế lẫn tinh thần trong đời sống xãhội Dù còn nhiều ảo tưởng và duy tâm, song học thuyết về con ngườicủa Mặc Tử có nhiều tiến bộ

Cuối thời chiến Quốc, xã hội Trung Hoa bước vào giai đoạn suytàn đến cực độ Các vương quốc nhỏ tiến hành chiến tranh một cách tàn

Trang 7

xử thế của con người Nhưng nếu không biết nuôi dưỡng, lại chịu ảnhhưởng của tập quán xấu thì sẽ xa dần cái tốt Với ông tu dưỡng và giáohóa sẽ giúp con người hiểu được lẽ phải và giữ được mình không xavào cái xấu Tuy có nhiều tiến bộ, nhưng Mạnh Tử không hiểu đượcđạo đức của con người chỉ là sản phẩm sinh hoạt xã hội của họ và mỗigiai cấp đều có đạo đức riêng Do đó con người trong triết học Mạnh

Tử cuối cùng vẫn không thoát khỏi duy tâm

Ngược với Mạnh Tử, Tuân Tử lại cho rằng “nhân tôi sơ tính bảnác” con người sinh ra vốn ác Bản năng con người vốn là đi tìm sự thỏamãn dục vọng sinh lý, nên hoạt động tự nhiên theo bản tính ấy thì trong

xã hội sẽ có trộm cướp, vô luân Do vậy Tuân Tử đã chủ trương xâydựng con người, lễ nghĩa…điểm tích cực trong học thuyết của Tuân Tử

là ông rất chú ý đến vai trò của giáo dục, thông qua giáo dục có thể cảitiến cái xấu, cái ác để trở thành người thiện Thế nhưng, con người củaông lại là con người đẳng cấp và ông cho “thánh nhân là người tíchnhiều đức hạnh”

Như vậy cả Mạnh Tử và Tuân Tử đều thấy được vai trò của hoàncảnh sống, của giáo dục, giáo hóa đến việc hình thành nhân cách conngười

Có thể nói triết học Trung Hoa cổ đại chú ý đến con người xã hộihơn con người tự nhiên, con người đạo đức hơn con người trí tuệ Vấn

Trang 8

đề con người được bàn đến ở đây chủ yếu đều thiên về mặt đời sốngtinh thần Tuy có nhiều mặt tiến bộ, song nó không thoát khỏi đường lốitriết học duy tâm, do đó không đem lại cách giải thoát cho con người

1.1.2.Vấn đề con người trong triết học ấn Độ cổ đại

Trong triết học ấn Độ cổ đại, vấn đề con người cũng đóng vai tròtrung tâm, được thể hiện rõ ràng ở hệ thống không chính thống, trong

đó Phật giáo là một khuynh hướng nổi tiếng của ấn Độ

Người sáng lập ra phật giáo Budda (sinh năm 623 trước côngnguyên) Phật giáo ra đời là sự phản kháng chống lại tình trạng phânbiệt đẳng cấp một cách nghiệt ngã của Đạo Balamon, nhằm tạo ra sựbình đẳng giữa người và người Theo Budda: không có đẳng cấp trongdòng nước mắt cùng chảy như nhau và cũng không có sự khác biệttrong dòng máu đỏ như nhau

Con người trong quan niệm phật giáo được sinh ra do cấu tạo củahai yếu tố ! vật chất gồm hai yếu tố tạo thành là sắc (vật chất) và thụ(cảm giác); tinh thần (danh) gồm tưởng (ấn tượng), hành (tư duy), Thức(ý thức)

Điểm hạn chế khi lý giải nguồn gốc cá nhân của con người trongtriết học Phật giáo là chưa nhận thấy nguồn gốc của con người thoátthai từ động vật Phật giáo không thừa nhận con người là một thực tạikhách quan vì nó là “vô thường”, “vô ngã” là “giả tượng” Lý giảinguồn gốc con người nguồn gốc con người Phật giáo cho con người đầutiên xuất hiện ở cõi thứ sáu, sau đó con người ăn phải loại thức ăn thựcvật thiên nhiên, từ đó con người trở nên nặng nề, không bay được nữanên ở lại trái đất Chính cách lý giải này đã không hiểu được con người

là sản phẩm cao nhất của quá trình vận động và phát triển của giới tựnhiên Bên cạnh đó, Phật giáo nhìn cuộc đời con người với một chuỗikhổ đau vô hạn “đời là bể khổ” được tóm lại trong “bát khổ”: sinh, lão,bệnh, tử, thụ biệt ly khổ (yêu thương nhau mà phải xa nhau), cán tăng

Trang 9

hội khổ (ghét nhau mà phải tụ hội với nhau), sở cầu bất khổ (muốn màkhông được) Ngũ thụ uẩn khổ (khổ vì có sự tồn tại của thân xác) Đểgiải thoát cuộc đời, con người phải đi theo con đường “bát chính đạo”.Chỉ có như vậy con người mới giải thoát nỗi khổ và nhập vào cõi “niếtbàn” chấm dứt sinh tử luân hồi, hoàn toàn yên tĩnh sáng suốt đạt đượcđại đạo - tư tưởng này mang tính chất duy tâm thần bí

Nói chung, quan niệm của Phật giáo có nhiều điểm tích cực Songquan niệm của Phật giáo về con người và cuộc đời con người mangmàu sắc duy tâm thần bí Vậy cái gì tạo ra “vật chất”, “tinh thần” với tưcách là khởi nguyên? Phật giáo không giải thích được cuộc đời conngười là do chính con người tạo ra, vì vậy Phật giáo khuyên con ngườichấp nhận số phận một cách thụ động Phật giáo nêu lên tư tưởng giảiphóng con người nhưng thực sự lại không giải phóng được số phận củacon người trong đời sống hiện thực của nó Đạo Phật cũng đã khônggiải quyết triệt để vấn đề mà triết học lâu nay thường đặt ra: bản chấtcon người là gì? Trả lời bản chất con người là gì, triết học không phảichỉ xem xét con người với tư cách là những cá nhân được sinh ra, lànhững con người cụ thể hiện có, mà phải xam xét con người trong sựxuất hiện về giống, loài của nó và cả sự tồn tại coi như là phức hợp củanhững yếu tố vật chất, tinh thần

1.2 Tư tưởng về con người trong triết học Phương Tây

1.2.1 Vấn đề con người trong triêt học Hy lạp – Cổ đại

Các nhà triết học La Mã cổ đại dã có sự nhìn nhận “ duy vật” vềcon người duù là còn ở mức độ mộc mạc, chất phác, thô sơ Họ quy bảnnguyên của mọi vật trong thế giới về những dạng vật chất cụ thể, họquan niệm con người cũng là một dạng biểu hiện cụ thể của dạng vậtchất cảm tính

Chẳng hạn Xôcrát đã khẳng định “ con người hãy nhận thức chínhbản thân mình” và cho rằng “ con người là thước đo của tất thảy mọi

Trang 10

vật Cụ thể hơn, Talét coi bản chất của con người là “ nước” , Hêracritcho rằng bản chất con người là “lửa”,hoặc có quan điểm cho rằng đó làkhông khí, thậm chê rất chung chung về một dạng vật chất, không cụthể vô định hình gọi là “Aperon”, hoặc chỉ là các con số theo quan niệmcủa Pitago Ở mức độ cụ thể và phức tạp hơn, Đêmôcrit cho rằng bảnchất của con người la nguyên tử Đây là một quan đIểm rất tiến bộ vì sovới trình độ khoa học vào thời kỳ đó thì cấp độ nguyên tử là cấp độ vậtchất nhỏ nhất mà con người phát hiện ra Theo Đêmôcrit con ngườikhác với động vật ở chổ có linh hồn Linh hồn theo ông không phảI làhiện tượng tinh thần mà là hiện tượng vật chất, linh hồn có cấu tạo từnguyên tử dạng hinh cầu, linh động như ngọn lửa, chuyển động với vậntốc nhanh, sinh ra nhiệt, làm cho cơ thể vận động Linh lồn không bất

tử sẽ chết cùng với cáI chết của thể xác Hạn chế của Đêmôcrit ở chỗông cho rằng linh hồn cũng là các nguyên tử tạo thành

Bên cạnh đó còn có quan niệm nhị nguyên tiêu biểu la Aritốt Quanniệm này cho rằng thể xác và linh hồn là hai mặt của một thực thể duy nhất.Linh hồn gắn với cáI sinh vật, là cáI bản nguyên, cái phụ thuộc Tuy nhiênArixtốt cũng xem xét con gnười là một “ động vật chinh trị” hay “ động vật xãhội” - đây là mquan niệm chứa đựng đIểm tiến bộ , đúng dắn ,duy vật ở đâyAritotmuốn khẳng định dặc tính con người ở bình diện chính trị của nó

Tư tưởng biện chứng về con người là sự kết tinh của tính tự nhiên

và xã hội - động vật chính trị - đã đưỡcem là quan niệm tiến bộ và cáchmạng của thời kỳ cổ đại, quan niệm đó sau này được các nhà triết họcPhục Hưng , Khai Sáng và cận đại kế thừa và phát triển, nhất là các nhàtriết học Mác sau này

1.2.1 Vấn đề con người trong triết học thời Trung Cổ Tây Âu

Xã hội Tây Âu thời Trung Cổ diễn ra sự biến đổi sâu sắc trênmọi mặt linh vực kinh tế, chính trị, xã hội, văn hoá… Đặc biệt về vềmặt tinh thần, thời Trung Cổ là sự thông trị của tôn giáo, thần học và

Trang 11

chủ nghĩa kinh viện nhà thờ con người bị ràng buộc trong quan niệmmang đậm tính chất duy tâm tôn giáo Người bị áp đặt trong một cuốcsống đã được Thượng Đế an bài sẵn Giáo lý Kitô quan niệm con người

về bản chất là kẻ có tội – tội tông đồ – những diều con người vi phạmcào cac điều cấm của chúa đều bị trừng phạt Con người không chỉ cóthể xác mà còn có linh hồn Thể xác sẽ mất đi nhưng linh hồn thì cònlại Con người phải cứu lấy của mình Linh hồn hay tinh thần là phầncao quý của con người Cho nên ta phải chăm lo phần linh hồn chính vì

sự thống trị của tôn giáo và nhà thờ, nhất là về mặt tinh thần nên khoahọc và triêt học đã không tìm được cho mình một con đường độc lập.Bởi chính các nhà bác học và thần học khi đó kho co thể vượt qua sựbình luận và giải thích kinh thánh “ những tín đIều nhà thờ là điểm xuấtphát của mọi tư duy”

Tư tưởng về con người thời kỳ này còn được biểu hiện thông quahọc thuyết của các tác giả tiểu biểu như :Tô mát đa canh; Ôguýt xtanh Ôguýtxtanh đề cao vai trò con người đến mức cho rằng con ngườisống suy đến cùng chỉ là linh hồn Ông cho rằng cuộc sống trần thế làtội và tạm thời , còn cuộc sống ở thiên đường mới là hạnh phúc vĩnhviễn

Khác với Ôguýt xtanh, Tô mát đa canh lại xem con người là sựthống nhất giữa thể xác và linh hồn Ông nhấn mạnh con người là thựcthể trung gian giữa động vật và thiên thần con người là hình ảnh củachúa và linh hồn bất tử là con người bản thân con người tất cả đềuđược chúa sắp xếp trong một trật tự thế giới .mặc dù sự sắp xếp ấyngoài ý muốn của con người

Sống và nghiên cứu khoa học ,triết học trong hoàn cảnh như thếcho nên chúng ta không thể đưa ra những lý lgiảI đúng đắn về conngười và vai trò của con người Chính vì sự thống trị của quan niệm ấy

mà xã hội Tây Âu và con người đã bị nhấn chìm trong bóng tối của “

Trang 12

đêm trường trung cổ” Chỉ đến các nhà triết học thời kỳ Phục Hưng –Khai Sáng mới đủ sức vượt qua tường rào của tôn giáo, thần học - để cóđược những tư tưởng mới, đúng đắn về thế giới và về bản chất conngười

1.2.3 Vấn đề con người trong triết học thời kỳ Phục Hưng – Khai Sáng.

Thời kỳ Phục Hưng – Khai Sáng bắt đầu từ thế kỷ XV ở Tây Âu Đây làthời kỳ có sự chuyển mình to lớn của xã hội Phương Tây, với rất nhiều phátminh , phát kiến lớn thuộc các lĩnh vực linh tế , khoa học kĩ thuật , văn hoá xãhội… Chế độ phong kiến với các đạo luật hà khắc , Trung cổ bắt đầu tan rã

và đã được thay thế bằng nền dân chủ chủ nghĩa Rất nhiều các cuộc cáchmạng tư sản nổ ra ở Anh, Hà Lan, Pháp… các cuộc cách mạng ấy đã ảnhhưởng rất lớn đến thế giới quan của các nhà triét học lúc bấy gìờ như Bêcơn;Hôpxơ; Lôckơ đặc biệt là tư tương của các nhà khai sáng Pháp thế kỉ XVIII,như Môngtexkiơ; Rutxô; Vônte; Điđơrô…

Tiền đề nhận thức của triết học Tây Âu thời kì này chính là nhữngthành tựu về mặt tư tưởng , Văn hoá Hi lạp- La mã cổ đại Về điều nàyĂnghel nói: “ không có các cơ sở cuả nền văn minh Hi Lạp và đế chế

La mã thì không có Châu Âu hiện đại”

Sự thống trị của tôn giáo cũng ảnh hưởng đến tư tưởng triết họcthời kì này, xong xu thế chung của khoa học và triết học thời Phụchưng- Khai sáng là đấu tranh chống lại các quan điểm , quan niệm tôngiáo thần bí, tiêu cực , thậm chí chính dưới cái vỏ bọc thần học ấy ,nhiều nhà tư tưởng đã xây dựng những quan niệm sâu sắc như : NikôlaiKuzan, Lép nít … và ngay ở một số quan niệm của tôn giáo cũng đề caogià trị và sức mạnh của con ngưổitng nhận thức và cảI tạo thế giới.Một trong những đặc điểm của triết học thời kì này là gắn liền vớivấn đề con người và giảI phóng con người Thời Trung Cổ đời sốngcon người đã bị hạ thấp chỉ như đời sống của một sinh vật thụ động Sự

Trang 13

phát triển to lớn của sản xuất , của khoa học kĩ thuật và rất nhiều thànhtựu văn hoá tư tương khác đã chứng minh cho sức mạnh vĩ đại của conngười Vì vậy thời kì này ở Italia xuất hiện khẩu hiệu” con người hãythờ phụng chính bản thân mình Chiêm ngưỡng cía đẹp của mình” Con người được nhìn thấy ở đó là những con người tràn đầy sức sống

và hoài bão tự do Vấn đề mối liên hệ giữa con người và thế giới trởthành trung tâm của các quan niệm triết học Khi mầm mống của chủnghĩa Tư bản xuất hiện đã thúc đẩy con người tìm đến tự do cá nhân

Mở đầu cho quan niệm con người thời kì này là Nikôlai Kuzan cho rằngcon người là sản phẩm tối cao và tinh tuý nhất trong sự sáng tạo củaThượng đế, theo ông , von người chính là thế giới bao quát dưới dạngtiềm tàng toàn bộ Thượng dế và thế giới Con người lúc này đã tácđộng thường xuyên vào tự nhiên và cải tạo tự nhiên Đây là hạt nhânduy vật và nhận thức sâu sắc sức mạnh của con người ẩn dưới vỏ bọc tựnhiên thần luận của N.Kuzan

Tômát Hốpxơ, nhà duy vật tiêu biểu của nước Anh thế kỉ XVI đãkhẳng định con người là thực thể sinh vật xã hội “và con người ngay từkhi sinh ra, đã sống thành tập đoàn và cần đến nhau trong sự tồn tại ,trong sự phát triển của mình Với ông , triết học là hoạt động trí tuệcủa con người nhằm khám phá ra bản chất của sự vật và của chính bảnthân , nên vấn đề trung tâm của triết học là vấn đè con người, con ngườichỉ có thể sống không phải lo sợ gì khi gắn bản thân trong quan hệ xãhội cộng đồng”

Các nhà duy vật Pháp cũng đã khẳng định bản chất con người là tựnhiên Rút xô coi lịch sử của nhân loại là kết quả hoạt động của conngười chứ không phải bàn tay Thợng đế sắp đặt Ông khẳng định bảnchất con người là tự do nhưng con người bị kìm hãm sự phát triển trongcác thể chế xã hội Điđờrô cũng khẳng định nhân cách của con người làcủa hoàn cảnh và môI trường xung quanh Tuy nhiên, các nhà duy vật

Trang 14

lí tưởng Điều này trong “Utôpia” của Tomat More và “Thành phố mặttrờicủa Kăm Panena Trong xã hội lý tưởng đó con người được hạnhphúc; không có tình trạng biến con người thành cái máy trong guồngquay của xã hội quyền tự nhiên được sống làm việc của con người đượcđảm bảo.

Như vậy Triết học thời kỳ này đã phần nào nhận rõ vai trò của conngười trong việc xây dựng và cảI tạo thế giới Hệ thống tư tưởng về conngười trong xã hội Cộng sản “không tưởng” là những mầm mống phôIthai của triết học Mác Xit sau này

Trong thời cận đại, nhận thức về bản chất cong ngwoif phản ánhnhững vấn đề mới mẻ do thời đại đặt ra

1.2.4 vấn đề con người trong triết học cổ điển Đức

Trong tình hình kinh tế-xã hội ở các nước Tây Âu cuối thế kỷXVIII-đầu thế kỷ XIX có những biến đổi vượt bậc là do sự phát triểnkinh tế của hàng loạt các nước đi theo con đưòng Tư bản chủ nghĩa kéotheo sự biến đổi trong đời sống kinh tế của xã hội Tư bản thì ở Đức vẫn

là một nước phong kiến cát cứ, nền kinh tế còn lạc hậu, điều đó đã ảnhhưởng lớn tới sự phát triển của đất nước Đức nói chung, các tư tưởngtriết học nói riêng thời đó Song nét đặc thù của Đức là truyền thốngvăn hoá phát triển cao “nước Đức không những sống bằng tồn tại Đức

Trang 15

Tư tưởng của I Cantơ thực sự là cuộc đảo lộn Copecnich: hướngtriết học từ nghiên cứu tự nhiên tới nghiên cứu con người như một chủthể hoạt động

Con người với tư cách là chủ thể thống nhất cả về hoạt động lýluận và thực tiễn, tức là bao hàm cả con người nhận thức và con ngườibằng hoạt động thực tiễn đã tác động “vật tự nó”, đươc I Cantơ coi làchủ thể tiên nghiệm Đây là toàn bộ sự kết tinh những giá trị trong hoạtđộng của con người, đồng thời là mục đích cuối cùng của triết học I.Cantơ đặt ra câu hỏi: “con người là gi?” vấn đề xuyên suốt toàn bộ triếthọc phê phán của I.Cantơ và ông đã trả lời cho câu hỏi “chúng ta có đầy

đủ cơ sở để xem xét con người không chỉ là mục đích của tự nhiên nhưnhững sinh vật khác nhưng ở đây, trên trái đất, là mục đích cuối cùngcủa tự nhiên” Điều cơ bản nhất trong con người là toàn bộ nền vănhoá,văn minh do con người tạo ra Con người là chủ thể đồng thời làkết quả của quá trình hoạt động của mình

Một đại biểu tiếp theo của triết học cổ điển Đức, nhà biện chứngduy tâm lỗi lạc-Hêghen cho rằng con người được sáng tạo bởi “tinhthần tuyệt đối” con người là sản phẩm là giai đoạn cao nhất của tinhthần tuyệt đối Tinh thần tuyệt đối thực hiện sự tự phủ định Lần phủđịnh thứ nhất tạo thành giới tự nhiên, lần phủ định thứ 2 tạo thành conngười Con người theo Hêghen do đó là sự thống nhất giữa tự nhiên vậtchất và con người ý thức Con người là sản phẩm của lịch sử đồng thờicũng là chủ thể của lịch sử

Trang 16

Con người ngày càng tham gia hoạt động bao nhiêu thì ý thức càngmang bản chất xã hội bấy nhiêu Hêghen đã nhận ra vai trò của hoạtđộng trong sự hình thành ý thức bản chất con người Tuy vậy nó vẫnnúp dưới vỏ bọc duy tâm thần bí về cái gọi là “tinh thần thế giới” hay

“ý niệm tuyệt đối”

Đối lập với Hêghen là Phoi ơ Bắc Ông coi con người là trung tâm,

là cốt lõi xuyên suốt toàn bộ hệ thống triết học của mình ông chống lạicác quan điểm tách rời thể xác và linh hồn trong quan niệm về conngười Ông cho rằng con người là sản phẩm của tự nhiên, là cái gương

vũ trụ, thông qua tự nhiên ý thức và nhận thức chính bản thân mình.Bản chất con người là tổng thể nhu cầu, khát vọng, ham muốn và cả khảnăng tưởng tượng của anh ta nữa Ông khẳng định “on người là sảnphẩm của văn hoá và của lịch sử” Nhưng văn hoá lịch sử ấy là văn hoálịch sử chung chung phi giai cấp, phi dân tộc và vì thế quan niệm nàycòn quá trừu tượng Cũng như vậy quan niệm về bản chất con người củaông cũng quá trừu tượng, mang tính chất sinh lý thụ động, bị tách khỏinhững điều kiện kinh tế-lịch sử: “bản chất của con người là bản chấtchung và bản chất đó là bản chất cá thể” Ông viết “bản chất thần thánhkhông có gì khác mà là bản chất của con người nhưng đã được tinh tế,khách quan hoá, tách rời với con người bằng xương bằng thịt”

Như vậy, triết học cổ điển Đức đã đề cập đến bản chất, nguồn gốccủa cong người cũng như vị trí vai trò của họ đối với thế giới Mặc dùcòn nhiều hạn chế, nhưng triết học cổ điển Đức đã đem lại một cáchnhìn mới về con người so với các thời kỳ lịch sử trước đây

Tư tưởng triết học trước Mác về con người mặc dù đã đạt đượcnhững thành tựu nhất định nhưng cũng còn có những hạn chế Những

tư tưởng triết học đó thể hiện sự đối lập các thế giới quan, giữa chủnghĩa duy tâm và chủ nghĩa duy vật; giữa hai phương pháp tư duy siêuhình và tư duy biện chứng Cuộc đấu tranh nảy lửagiữa các quan điểm

Trang 17

đó là một trong những động lực giúp cho việc giải mã số phận conngười, bản chất con người cũng như việc tìm ra những con đường giảiphóng con người thoát khỏi sự thống trị của giới tự nhiên Tuy nhiêncác nhà triết học trước Mác đã không lý giải một cách đúng đắn vàkhoa học và con người, bản chất con người, không đề ra được conđường hiện thực để giải phóng con người thoát khỏi mọi sự tha hoá.Bởi lẽ họ đã không xuất phát từ hiện thực đời sống con người từ lịch sửcon người và xã hội Họ đã không hiểu được rằng chính tồn tại xã hộiquyết định ý thức xã hội, ý thức xã hội không phải là yếu tố thụ độngđối với tồn tại xã hội mà có tác động trở lại một cách tích cực

Những hạn chế của các nhà triết học trước Mác có nguyên nhân về mặt lịch sử, kinh tế, xã hội của thời đại mà họ đang sống Những hạn chế đó chưa cho phép họ khám phá và đi sâu vào bản chất của con người và xã hội loài người Điều này chỉ có thể khắc phục bằng quan điểm mới của Các Mác-Ăngghen và các nhà Mácxit sau này

Trang 18

CHƯƠNG 2

TƯ TƯỞNG CỦA C.MÁC VỀ BẢN CHẤT CON NGƯỜI

2.1 tính hiện thực của bản chất con người

Kế thừa một cách có phê phán những thành tựu của triết học cácthời đại trước, C Mác đã khắc phục sự nghiên cứu con người một cáchtrìu tượng bằng việc xác lập quan điểm khoa học, xem xét con ngườihiện thực trong lịch sử phát triển của nó Ông đã chỉ ra rằng, con ngườikhông phảI do một đấng siêu nhiên hoặc thần thánh, thượng đế tạo ranhư sự bịa đặt của chủ nghĩa duy tâm và tôn giáo, mà là sản phẩm caonhất trong quá trình phát triển lâu dài của vật chất Nếu như tất cả cácnhà triết học trước Mác xem xét bản chất con người trong từng cá nhânriêng lẻ mà không thấy các mối quan hệ xã hội hiện thực của nó, thì vớiquan điểm duy vật triệt để và phương pháp biện chứng C Mác đã nêu

ra một luận điểm rất nổi tiếng: “bản chất con người không phảI là mộtcáI trìu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt Trong tính hiện thực của

nó bản chất con người là tổng hoà các mối quan hệ xã hội”

Với luận điểm này, có thể nói điều đầu tiên mà C Mác muôn nêubật lên đó là: bản chất con người không phải là cái gì đó có sẵn, hay cái

gì nhất thành bất biến, mà là cái được hình thành nên, được bộc lộ ratrong cuộc sống hiện thực của nó; nghĩa là phải xem xét bản chất conngười trong tính hiện thực của nó

Hiện thực theo từ điển triết học: là đang thực tế tồn tại và pháttriển chứa đựng bản chất của chính nó và quy luật trong bản thân nó, vàcũng bao hàm những kết quả của sự hoạt động và phát triển của chính

nó Thực tại khách quan với tất cả tính cụ thể của nó chính là hiện thực

đó Với ý nghĩa đó hiện thực không những khác với tất cả cái bề ngoài,cái tưởng tượng mà còn khác với tất cả chỉ là cái logic (cái tư duy), cònkhác với tất cả chỉ là cái khả năng cái có thể có nhưng chưa tồn tại

Trang 19

Khi giai cấp Vô sản tay cầm cờ đỏ bước lên vũ đài chính trị, thìngay trong những tác phẩm đầu tay, Mác đã thấy: “từ bộ mặt thô rám đi

vi lao động của họ toả đến chúng ta sự cao quý của con người” Đâykhông những là tình cảm ban đầu của C Mác đối với giai cấp Vô sản màcòn là cách nhìn mới mẻ nhất trong lịch sử về những người lao độngxưa nay vẫn bị coi là dưới mức phát triển của con người

Chúng ta phải thấy rằng sở dĩ, khi bàn đến con người C Mác đãđặt trong tính hiện thực bởi vì: trong triết học cổ điển Đức, con ngườiđược xem xét một cách sai lệch Hêghen đã quan niệm duy tâm về conngười, cho con người là hiện thân của “ý niệm tuyệt đối”, “tinh thần thếgiới”, còn Phoi ơ Bắc lại tách con người ra khỏi đời sống, quy tính sinhvật vào bản tính con người Để chống lại các quan điểm sai lầm đó,C.Mác đã xem xét con người trong tính hiện thực của nó Mặt khác,trong triết học C Mác, vấn đề thực tiễn là điểm xuất phát có tính chấtnền tảng Trong “luận cương về Phoi ơ Bắc” C Mác đã nhấn mạnh đếnvai trò của thực tiễn: “các nhà triết học trước kia chỉ nhận thức thế giớibằng nhiều cách khác nhau xong vấn đề là ở chỗ cải tạo thế giới”

Hoạt động thực tiễn của con người rất phong phú, đa dạng, xonghoạt động cơ bản nhất đó là hoạt động sản xuất vật chất Con ngườithông qua hoạt động lao động mà quan hệ với tự nhiên Chính tronghoạt động sản xuất ra đời sống của mình, con người có những quan hệ

Trang 20

năng động, tích cực hai chiều và nhiều chiều với tự nhiên, với đồngloại Qua sự tác động của con người với tự nhiên, con người làm biếnđổi tự nhiên, đồng thời làm biến đối chính bản thân mình Trong “Tưbản”, C Mác viết: “lao động trước hết là một quá trình diễn ra giữa conngười với tự nhiên, một quá trình trong đó bằng hoạt động của chínhmình con người làm trung gian điều tiết và kiểm tra sự trao đổi chấtgiữa họ và tự nhiên Bản thân con người đối diện với thực tiễn tự nhiênvới tư cách là một lực lượng của tự nhiên Để chiếm hữu được thực thểcủa tự nhiên dưới một hình thái có ích cho đời sống của bản thân mình,con người vận dụng những sức tự nhiên thuộc về bản thân của họ: “tay

và chân, đầu và hai bàn tay Trong khi tác động vào tự nhiên ở bênngoài thông qua sự vận động đó làm thay đổi tự nhiên con người đồngthời làm thay đổi bản tính của chính họ”

Bằng lao động, con người đã tạo ra những tư liệu để thoả mãnnhu cầu của mình Bản chất tự nhiên của con người được biểu hiện rabên ngoài là các nhu cầu tất yếu khách quan như: ăn, ở, mặc Hoạtđộng để thoả mãn nhu cầu sinh học của con người khác với con vật ởcon người, hoạt động này không phải là hoạt động bản năng, hoạt độngđơn thuần sinh vật mà nó đã mang tính xã hội Trong “bản thảo kinh tế-triết học 1844” C Mác khẳng định: “con người có một hoạt động sinhsống có ý thức Đó không phải là cái có tính quy định mà với nó conngười trực tiếp hoà làm một Hoạt động sinh sống có ý thức phân biệttrực tiếp con người với hoạt động sinh sống của con vật”

Hoạt động có ý thức, có mục đích của con người là đặc trưng đểphân biệt giữa con người và con vật “bản thân con người bắt đầu phânbiệt với con vật ngay từ khi con người bắt đầu sản xuất ra tư liệu củamình-sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt của mình như thế là con người

đã gián tiếp sản xuất ra đời sống vật chất của mình và đó chính là hành

vi lịch sử đầu tiên” Chính vì thế, sản xuất ra tư liệu sinh hoạt là hoạt

Trang 21

động bản chất nhất của con người C Mác khẳng định nét đặc trưngriêng của quá trình lao động của con người là sử dụng và sáng tạo ranhững tư liệu lao động, vì thế C Mác đã nhất trí với Phranclin khi ôngđịnh nghĩa con người là “động vật chế tạo công cụ”

Như vậy, hoạt động lao động đã làm biến đổi bản chất tự nhiêncủa tổ tiên con người, tạo lập ra bản chất xã hội của con người Hoạtđộng xã hội của con người chủ yếu là hoạt động lao động sản xuất, hoạtđộng cách mạng cải tạo thế giới đã làm biến đổi mặt sinh học của conngười một cách đáng kể và làm cho mặt sinh vật trở thành “người hoá”.Chính toàn bộ sự hoạt động ấy đã làm cho những nhu cầu sinh vật ở conngười trở thành những nhu cầu xã hội Nếu con vật chỉ thuần tuý là sảnphẩm của tự nhiên, hoàn toàn chịu sự chi phối và thống trị của tự nhiênthì con người với tư cách là một sản phẩm đặc biệt của tự nhiên, lạiluôn tìm cách chế ngự chinh phục và làm chủ tự nhiên để thoả mãnnhững nhu cầu của bản thân mình Nếu con vật chỉ biết thích nghi vớimôi trường tự nhiên vây quanh nó một cách hoàn toàn thụ động bằngcách biến đổi cơ thể cho phụ hợp với những điều kiện của môi trườngthì con người bằng hoạt động của mình lại luôn tìm cách sử dụng vàbiến đổi môi trường xung quanh để tồn tại và phát triển Lao động sángtạo nên con người và nhờ tham gia lao động xã hội con người xẽ hoànthiện các bản chất đặc thù của mình Chính vì thế Ăngghen viết: “trênmột nghĩa nhất định nào đó, chúng ta phải nói rằng: lao động sáng tạo

ra bản thân con người” Nhờ lao động loài người đã trải qua những biếnđổi về mặt sinh học, đồng thời xét đến cùng lao động đã hình thành nênbản chất con người và quy định phẩm chất xã hội đặc biệt của conngười trong những điều kiện lịch sử cụ thể Nhờ lao động có mục đíchnên con người đã thoát khỏi ra tình trạng loài vật, xong không có nghĩa

là con người thoát ra khỏi hoàn toàn tự nhiên Ăngghen đã nói rất đúngrằng: “chúng ta, với cả xương, thịt, máu bộ não của chúng ta, là thuộc

Trang 22

về giới tự nhiên và chúng ta nằm trong giới tự nhiên Hơn thế nữa, cũnggiống như bất kỳ sinh vật nào, con người phải thích ứng với tự nhiên,xong con người thích ứng với tự nhiên bằng cách bắt tự nhiên đáp ứngnhu cầu của mình Sự thích ứng ấy có tính chất môi giới và thực hiệnthông qua lao động Nhờ lao động có mục đích mà con người tác động

và giới tự nhiên và sáng tạo ra thế giới vật chất riêng của mình Khithoả mãn nhu cầu, trong điều kiện thay đổi môI trường tự nhiên, conngười đã thể hiện bản chất loài của mình và tự biến mình thành mộtthực thể xã hội

Hoạt động thực tiễn của con người không chỉ tạo nên mối quan

hệ giữa con người với xã hội mà nó còn làm cho con người thực sự trởthành người, làm cho mối quan hệ giữa con người với tự nhiên chuyểnsang hình thức mối quan hệ giữa con người với con người Theo C.Mác,trong xã hội thống nhất biện chứng giữa con người với tự nhiên là xãhội vì bản chất tự nhiên của con người chỉ tồn tại với con người xã hội.Chỉ có trong đời sống xã hội, tự nhiên đối với con người mới là khâuliên hệ con người với con người, mới là nhân tố sinh hoạt của conngười Chỉ có trong xã hội, tồn tại tự nhiên của con người mới là tồn tại

có tính chất người của con người đối với con người Tự nhiên có trướccon người, còn xã hội ra đời cùng với con người Song tự nhiên và xãhội luôn có mối quan hệ với nhau Tính tự nhiên của con người khôngtồn tại bên cạnh tính xã hội của con người mà chúng hoà quyện vàonhau, tồn tại trong yếu tố xã hội Như vậy con người hiện thực của Mác

là con người với tư cách là tổng thể tồn tại bao gồm cả mặt tự nhiên vàmặt xã hội Con người hiện thực được hiện ra với các hoạt động thựctiễn và cũng chính thông qua các hoạt động thực tiễn bản chất của conngười được hình thành và tính tự nhiên của con người đã mang tính xãhội, được chuyển vào hoà nhập trong xã hội Như vậy, tính hiện thựccủa con người cũng chính là sự tồn tại của con người trong hiện thực

Ngày đăng: 31/07/2020, 00:39

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1.Vũ xuân Cảnh: Quan niệm cơ bản về con người trong… khoá luận tốtnghiệp 2004 Khác
2. Phạm Như Cương: Về vấn đề xây dựng con người mới, Nxb khoa học xã hội 1978 Khác
3. Đảng cộng sản Việt Nam: văn kiện Hội nghị lần thứ tư ban chấp hành Trung ương khoá VIII, Nxb chính trị quốc gia, Hà Nội 1993 Khác
4.Đảng cộng sản Việt Nam văn kiện Hội nghị lần thứ VIII , Nxb chính trị quốc gia Hà Nội 1996 Khác
5. Đảng cộng sản Việt Nam văn kiện Hội nghị lần thứ IX, Nxb chính trị quốc gia Hà Nội 2001 Khác
6. Đảng cộng sản Việt Nam Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1991 Khác
7. Giáo trình (1981)Triết học Mác-LêNin, Chủ nghĩa duy vật lịch sử, Nxb sách giáo khoa Mác-LêNin Khác
8. Giáo trình (1999) Triết học Mác-LêNin, Nxb chính trị quốc gia Hà Nội Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w