Vì thế, nghiên cứu văn xuôi về đề tài lịch sử viết cho thiếu nhi từ sau 1945 như một đối tượng đầy đủ, trọn vẹn là một việc làm cần thiết, góp phần hệ thống hoá các thành tựu tiêu biểu,
Trang 2LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
Hướng dẫn khoa học: PGS.TS Lê Quang Hưng
HÀ NỘI - 2020
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả, số liệu trình bày trong Luận án là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả
Trần Hải Toàn
Trang 41 Lý do chọn đề tài 1
2 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 3
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 4
4 Phương pháp nghiên cứu 5
5 Đóng góp của luận án 6
6 Bố cục của luận án 6
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ 7
1.1 Cơ sở lý luận 7
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản 7
1.1.2 Các yêu cầu cơ bản đối với văn xuôi về đề tài lịch sử viết cho thiếu nhi 16
1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu văn xuôi về đề tài lịch sử viết cho thiếu nhi 20
1.2.1 Những nghiên cứu chung về văn xuôi đề tài lịch sử viết cho thiếu nhi 21
1.2.2 Một số nghiên cứu về các tác giả, tác phẩm tiêu biểu 27
Tiểu kết 38
Chương 2 VĂN XUÔI VỀ ĐỀ TÀI LỊCH SỬ VIẾT CHO THIẾU NHI TRONG TIẾN TRÌNH VẬN ĐỘNG CỦA VĂN HỌC THIẾU NHI VIỆT NAM 40
2.1 Khái quát quá trình phát triển của văn xuôi viết cho thiếu nhi trong văn học Việt Nam hiện đại 40
2.1.1 Văn xuôi viết cho thiếu nhi giai đoạn 1945 - 1975 40
2.1.2 Văn xuôi viết cho thiếu nhi từ 1975 đến nay 41
2.2 Văn xuôi về đề tài lịch sử viết cho thiếu nhi từ sau Cách mạng tháng Tám 1945 đến nay - quá trình hình thành và phát triển 48
2.2.1 Giai đoạn từ 1945 đến 1975 48
2.2.2 Giai đoạn từ 1975 đến nay 52
2.3 Văn xuôi về đề tài lịch sử viết cho thiếu nhi từ sau Cách mạng tháng Tám 1945 đến nay - những gương mặt tiêu biểu 60
2.3.1 Hà Ân - tái hiện lịch sử bằng trí tưởng tượng phong phú 60
Trang 52.3.3 Tô Hoài - khai thác lịch sử gắn với truyền thuyết, văn hóa 65
2.3.4 Nguyễn Đức Hiền - khai thác giá trị giáo dục từ những câu chuyện, nhân vật lịch sử 69
2.3.5 Nghiêm Đa Văn - khắc họa các chân dung lịch sử bằng tâm hồn giàu cảm xúc và ngòi bút tài hoa 70
Tiểu kết 73
Chương 3 CẢM THỨC LỊCH SỬ VÀ NHỮNG KHUYNH HƯỚNG TIÊU BIỂU TRONG VĂN XUÔI VỀ ĐỀ TÀI LỊCH SỬ VIẾT CHO THIẾU NHI TỪ SAU CÁCH MẠNG THÁNG TÁM 1945 ĐẾN NAY 75
3.1 Cảm thức về vẻ đẹp hùng tráng với khuynh hướng ngợi ca 75
3.1.1 Tái hiện những sự kiện có ý nghĩa trong lịch sử dân tộc 76
3.1.2 Khắc họa các chiến công và những nhân vật anh hùng 81
3.1.3 Ngợi ca những tình cảm cao đẹp trong cuộc sống 87
3.2 Cảm thức về vẻ đẹp bi tráng với khuynh hướng khai thác các yếu tố thế sự, đời tư 96
3.2.1 Khai thác vẻ đẹp bình dị của các nhân vật, sự kiện lịch sử trong cái nhìn
đa chiều 96
3.2.2 Khám phá góc khuất của những con người, những số phận dạt trôi 99
3.2.3 Đan xen sự kiện lịch sử với những cung bậc cảm xúc mang tính cá nhân 101
3.3 Cảm thức về văn hoá với khuynh hướng miêu tả phong tục, tiểu thuyết hoá truyền thuyết, huyền thoại 103
3.3.1 Miêu tả phong tục, tập quán truyền thống của dân tộc 104
3.3.2 Khai thác lịch sử gắn với văn hoá, truyền thuyết 106
3.4 Cảm thức về truyền thống với khuynh hướng giáo dục 107
3.4.1 Khơi gợi niềm say mê và tự hào về lịch sử dân tộc 108
3.4.2 Truyền dẫn niềm tin vào con người, niềm tin vào chân - thiện - mỹ 110
3.4.3 Xây dựng lý tưởng cuộc sống và định hướng nhân cách cho thiếu nhi 114
Tiểu kết 116
Trang 6THÁNG TÁM 1945 ĐẾN NAY 118
4.1 Nghệ thuật tổ chức kết cấu 118
4.1.1 Kết cấu theo trình tự thời gian, diễn biến sự kiện 118
4.1.2 Kết cấu lồng ghép hiện tại - quá khứ, sự kiện - nội tâm 121
4.1.3 Kết hợp nhuần nhuyễn yếu tố tiểu thuyết và yếu tố lịch sử trong dòng
cốt truyện 124
4.2 Nghệ thuật xây dựng nhân vật 128
4.2.1 Lựa chọn xây dựng hệ thống nhân vật nguyên mẫu và hư cấu 128
4.2.2 Khắc họa nhân vật từ nhiều điểm nhìn 130
4.2.3 Đan xen cảm nghĩ, độc thoại nội tâm nhân vật trong lời người kể chuyện 135
4.3 Nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ 137
4.3.1 Ngôn ngữ gợi không khí cổ xưa, đậm màu sắc lịch sử 137
4.3.2 Ngôn ngữ giàu tính tạo hình, tạo âm thanh, nhịp điệu 140
4.3.3 Ngôn ngữ giàu chất thơ 142
Tiểu kết 146
KẾT LUẬN 147
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 151
TÀI LIỆU THAM KHẢO 152 PHỤ LỤC
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Văn học viết cho thiếu nhi là một bộ phận quan trọng không thể thiếu trong
nền văn học của mỗi dân tộc Hướng tới đối tượng đọc chính là thiếu nhi, cùng với các loại hình nghệ thuật khác như: âm nhạc, hội hoạ, văn học là một “món ăn” tinh thần, góp phần hình thành nhân cách, tâm hồn mỗi người ngay từ khi còn ở tuổi ấu thơ Chính bộ phận văn học này có mối quan hệ gắn bó, qua lại thân thiết với văn học cho người lớn, đã tạo nên diện mạo hoàn chỉnh cho nền văn học của mỗi nước trên thế giới
So với nhiều quốc gia khác, văn học viết cho thiếu nhi Việt Nam có lịch sử hình thành và phát triển muộn hơn Phải đến đầu những năm 1940 của thế kỷ XX, đặc biệt là sau 1945, văn học viết cho thiếu nhi mới thực sự phát triển và cho ra đời nhiều tác phẩm đặc sắc Chưa đầy một thế kỷ phát triển, nhưng có thể nói, cho đến nay, bộ phận văn học này đã đạt được nhiều thành tựu cơ bản với đội ngũ sáng tác đông đảo, phong phú về đề tài, đa dạng về thể loại, đổi mới về thi pháp Tuy nhiên, trong tương quan so sánh với văn học viết cho người lớn, văn học viết cho thiếu nhi
và việc nghiên cứu về nó vẫn chưa thực sự được nhiều người quan tâm
1.2 Sáng tác về đề tài lịch sử là một trong những nguồn cảm hứng lớn, một nhu
cầu không thể thiếu trong dòng mạch phát triển của văn học mỗi dân tộc Trên thế giới, mảng đề tài này đã được nhiều nhà văn sáng tác với nhiều tác phẩm có thể coi là “kinh
điển” như: Ivanhoe của Walter Scott, Chiến tranh và hoà bình của Lev Tolstoy, Sông
Đông êm đềm của Mikhail Sholokhov, Tam Quốc diễn nghĩa của La Quán Trung, Thuỷ
hử của Thi Nại Am, Ở Việt Nam, tiểu thuyết lịch sử thường được tính từ Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô Gia Văn Phái, Nam triều công nghiệp diễn chí của Nguyễn
Khoa Chiêm Từ đó đến nay, đặc biệt là từ sau Cách mạng tháng Tám 1945, sáng tác
và nghiên cứu về lịch sử là mối quan tâm của rất nhiều nhà văn, nhà nghiên cứu
Cùng với quá trình hình thành và phát triển của văn học thiếu nhi Việt Nam, văn xuôi lịch sử cho thiếu nhi cũng phát triển và đạt được nhiều thành tựu nổi bật kể
từ sau 1945, đặc biệt là từ 1954 đến nay Rất nhiều các tác phẩm có giá trị cả về nội
dung và hình thức nghệ thuật được trẻ em hào hứng đón nhận như: Lá cờ thêu sáu
chữ vàng và Kể chuyện Quang Trung của Nguyễn Huy Tưởng; Trăng nước Chương Dương, Bên bờ Thiên Mạc, Trên sông truyền hịch của Hà Ân; Tiếng trống Mê Linh, Người lão bộc của vua Quang Trung của An Cương; Nhà Chử,
Trang 8Đảo hoang, Chuyện nỏ thần của Tô Hoài; Sao Khuê lấp lánh của Nguyễn Đức
Hiền; Sừng rƣợu thề của Nghiêm Đa Văn; Trần Khánh Dƣ, Trần Quốc Toản
của Lưu Sơn Minh, Trên chặng đường hơn 70 năm hình thành và phát triển đến nay, văn xuôi Việt Nam về đề tài lịch sử viết cho thiếu nhi đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển, gắn bó chặt chẽ với lịch sử, chính trị, văn hoá, xã hội của mỗi thời
kỳ và phản ánh cái nhìn, tư tưởng của mỗi nhà văn Cũng trên chặng đường ấy, văn xuôi về đề tài lịch sử viết cho thiếu nhi đã cho thấy những cảm thức lịch sử và khuynh hướng sáng tác tiêu biểu gắn với từng giai đoạn lịch sử, mang những đặc trưng riêng về nghệ thuật, thể hiện phong cách của những nhà văn tiêu biểu
Các nghiên cứu về tiểu thuyết lịch sử viết cho người lớn, được quan tâm nghiên cứu khá sôi nổi, trong khi những nghiên cứu về văn xuôi lịch sử cho thiếu nhi lại có phần rất khiêm tốn Việc nghiên cứu hầu hết cũng mới chỉ dừng ở một số bài viết in trên các cuốn sách chuyên khảo hoặc trên các tạp chí khoa học, ít có các công trình nghiên cứu sâu rộng, toàn diện, hệ thống về mảng đề tài này
Vì thế, nghiên cứu văn xuôi về đề tài lịch sử viết cho thiếu nhi từ sau 1945 như một đối tượng đầy đủ, trọn vẹn là một việc làm cần thiết, góp phần hệ thống hoá các thành tựu tiêu biểu, phân tích những cảm thức lịch sử, đặc trưng nghệ thuật, khái quát các khuynh hướng sáng tác và khẳng định vị trí không thể thiếu của mảng đề tài này trong dòng chảy của văn học thiếu nhi nói riêng, văn học Việt Nam nói chung
1.3 Văn xuôi về đề tài lịch sử viết cho thiếu nhi cũng đã được đưa vào chương
trình học tập trong nhà trường hiện nay Tuy nhiên, khảo sát các tác phẩm về đề tài lịch sử viết cho cho thiếu nhi được đưa vào Chương trình giáo dục phổ thông (ở bậc Tiểu học, Trung học cơ sở, Trung học phổ thông), chúng tôi nhận thấy số lượng các tác phẩm đưa vào nội dung giảng dạy, kể chuyện cho các em học sinh còn quá ít và chất lượng cũng còn một đôi chỗ chưa thật ổn Trong khi đó, một trong những vấn đề lớn khiến nhiều người lo ngại hiện nay là thực trạng hiểu biết lịch sử và văn hoá đọc của thiếu nhi Mặc dù việc tìm hiểu lịch sử đã được thực hiện trong môn Lịch sử ở tất
cả các lớp, các cấp nhưng một thực tế đáng báo động hiện nay là tình trạng học sinh
sợ học lịch sử, thờ ơ với lịch sử và thiếu hiểu biết trầm trọng về lịch sử nước nhà có
xu hướng ngày càng tăng Làm thế nào để học sinh thích thú tìm hiểu lịch sử dân tộc, làm thế nào để các em nhớ lịch sử, tự hào về truyền thống lịch sử vẫn còn là một câu hỏi không hề đơn giản với các nhà giáo dục Thiết nghĩ, việc sáng tác văn xuôi về đề
Trang 9tài lịch sử cho thiếu nhi, việc xuất bản các tác phẩm văn xuôi viết về đề tài lịch sử cho các em và đưa nhiều hơn các tác phẩm, trích đoạn giá trị viết về đề tài lịch sử làm ngữ liệu cho phần đọc hiểu văn bản văn học trong Chương trình giáo dục phổ thông là một trong những giải pháp hiệu quả không chỉ giúp học sinh thêm yêu thích, hào hứng đến với các kiến thức lịch sử mà còn góp phần phát triển ngôn ngữ, định hướng
lý tưởng, xây dựng tình cảm, ước mơ cho các em
Chính vì những lý do trên, cùng với niềm yêu thích văn học thiếu nhi, chúng
tôi đã lựa chọn đề tài: Văn xuôi về đề tài lịch sử viết cho thiếu nhi từ sau Cách mạng
tháng Tám 1945 đến nay
2 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là các tác phẩm văn xuôi về đề tài lịch sử viết cho thiếu nhi từ sau Cách mạng tháng Tám 1945 đến nay Đề tài này thu hút khá nhiều thế hệ người cầm bút trong tiến trình phát triển của văn học Mốc nghiên cứu các tác phẩm viết về đề tài lịch sử cho thiếu nhi, chúng tôi xin dừng ở năm 2015 để khảo sát, nghiên cứu Trong đó, chúng tôi đặc biệt tập trung vào mảng sáng tác từ sau
1945 đến 1986 Đây cũng là giai đoạn do đặc thù hoàn cảnh lịch sử và yêu cầu sáng tác về đề tài lịch sử cho bạn đọc thiếu nhi, mảng văn học này có số lượng tác phẩm dồi dào nhất và nhiều tác phẩm tiêu biểu nhất Từ sau 1986, so với các sáng tác về đề tài lịch sử cho người lớn, sáng tác về đề tài lịch sử cho thiếu nhi vẫn còn một số tác giả tâm huyết và theo đuổi như Tô Hoài, Nghiêm Đa Văn và gần hơn là Hoài Anh, Lưu Sơn Minh, tuy nhiên số lượng cũng chưa thật phong phú (điều này có căn nguyên từ bối cảnh lịch sử văn hóa, chúng tôi sẽ phân tích cụ thể ở chương 2)
2.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận án nghiên cứu, khảo sát các tác phẩm văn xuôi về đề tài lịch sử viết cho thiếu nhi từ sau Cách mạng tháng Tám 1945 đến nay Trong đó tập trung vào thành tựu chủ yếu ở hai thể loại là truyện dài và tiểu thuyết - cũng là hai thể loại có được nhiều tác phẩm thành công nhất
Đặc biệt, chúng tôi tập trung vào tìm hiểu chín tác phẩm tiêu biểu về đề tài lịch sử viết cho thiếu nhi của các tác giả Nguyễn Huy Tưởng, Hà Ân, Tô Hoài,
Nguyễn Đức Hiền, Nghiêm Đa Văn, đó là: Lá cờ thêu sáu chữ vàng, Bên bờ Thiên
Mạc, Trên sông truyền hịch, Trăng nước Chương Dương, Đảo hoang, Nhà Chử, Chuyện nỏ thần, Sao Khuê lấp lánh, Sừng rượu thề Mỗi tác phẩm gắn với một thời
Trang 10kỳ, một giai đoạn lịch sử nhất định trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, với những hướng khai thác riêng tạo thành một bức tranh khá sinh động về lịch
sử Việt Nam Đây là chín tác phẩm đã được các nhà văn, nhà thơ, nhà phê bình văn học Việt Nam hiện đại và nhiều nhà xuất bản (Nxb Kim Đồng, Nxb Giáo dục Việt Nam, Nxb Hội Nhà văn) đánh giá là xứng đáng, tiêu biểu nhất về đề tài lịch sử viết cho thiếu nhi Đây cũng là lý do vì sao trong lần xuất bản chào mừng ngày Quốc tế thiếu nhi 2012, Nhà xuất bản Kim Đồng đã lần lượt cho tái bản chín tác phẩm này như một món quà ý nghĩa dành tặng cho các em
Bên cạnh đó, để có một cái nhìn bao quát hơn, trong quá trình phân tích, đánh giá, chúng tôi cũng mở rộng tìm hiểu và đề cập đến nhiều tác phẩm về lịch sử hoặc liên quan
đến đề tài lịch sử viết cho thiếu nhi như: Người lão bộc của vua Quang Trung (An Cương), Nguyễn Trung Trực, Tướng quân Nguyễn Chích (Hà Ân); Kể chuyện Quang
Trung (Nguyễn Huy Tưởng); Chọn soái (Trương Công Định); Nghĩa quân sông Đà
(Mai Hanh); Chọn soái (Quách Thọ); Nghĩa quân Đồng Tháp, Mưu trí Đề Thám (Mai Hanh); Đốc Cọp (Mộng Lực), Tuổi thơ dữ dội (Phùng Quán), Đuốc lá dừa (Hoài Anh),
Trần Quốc Tuấn, Trần Khánh Dư (Lưu Sơn Minh), Đồng thời, chúng tôi cũng mở
rộng so sánh với các tác phẩm văn xuôi về lịch sử (chủ yếu là tiểu thuyết lịch sử) viết cho đối tượng người lớn qua mỗi thời kỳ lịch sử để làm nổi bật những đặc trưng riêng của văn xuôi về lịch sử viết cho đối tượng bạn đọc là thiếu nhi
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Luận án phân tích các đặc điểm, đánh giá những thành tựu của văn xuôi về đề tài lịch sử viết cho thiếu nhi trong nền văn học Việt Nam từ sau Cách mạng tháng Tám 1945 qua những trường hợp có ý nghĩa kết tinh Từ đó rút ra một số vấn đề trong việc sáng tác văn xuôi về đề tài lịch sử viết cho thiếu nhi trong giai đoạn hiện nay; gợi ý đưa các tác phẩm, trích đoạn văn xuôi về đề tài lịch sử viết cho thiếu nhi vào nhà trường phổ thông
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để hoàn thành mục đích trên, luận án giải quyết các nhiệm vụ cụ thể như sau:
- Khái quát quá trình phát triển của văn xuôi Việt Nam về đề tài lịch sử viết cho thiếu nhi từ sau Cách mạng tháng Tám 1945 với những chặng đường, khuynh hướng, các thành tựu và những gương mặt tiêu biểu
- Phân tích, lý giải cảm thức lịch sử và các khuynh hướng sáng tác tiêu biểu trong văn xuôi về đề tài lịch sử viết cho thiếu nhi từ sau Cách mạng tháng Tám 1945 đến nay
Trang 11- Phân tích đặc trưng nghệ thuật của mảng văn xuôi Việt Nam về đề tài lịch
sử viết cho thiếu nhi trên một số phương diện: nghệ thuật trần thuật, nghệ thuật xây dựng nhân vật, nghệ thuật tổ chức kết cấu, nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ
Ở mỗi nhiệm vụ, luận án sẽ có sự so sánh với các sáng tác cùng thể tài viết cho đối tượng người lớn, đồng thời có sự lý giải gắn với diễn ngôn sáng tác của từng thời kỳ Hoàn thành các nhiệm vụ trên, luận án sẽ cho thấy diện mạo hoàn chỉnh của văn xuôi lịch sử viết cho thiếu nhi từ sau 1945 với các đặc trưng nổi bật
về cảm thức lịch sử, khuynh hướng sáng tác, đặc điểm nghệ thuật và phong cách của một số tác giả tiêu biểu; từ đó khẳng định vị trí đặc biệt của mảng văn xuôi này trong dòng chảy chung của văn xuôi lịch sử Việt Nam
4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Khảo sát các tác phẩm tiêu biểu nhằm có
cơ sở khái quát những đặc điểm nổi bật về nội dung phản ánh, giá trị tư tưởng và nghệ thuật của văn xuôi về đề tài lịch sử viết cho thiếu nhi từ sau Cách mạng tháng Tám
- Phương pháp nghiên cứu hệ thống: Đặt các tác phẩm văn xuôi về đề tài lịch sử viết cho thiếu nhi từ sau Cách mạng tháng Tám 1945 trong hệ thống các tác phẩm viết cho thiếu nhi nói chung; đồng thời đặt trong tương quan với các tác phẩm viết về đề tài lịch sử trong văn học Việt Nam từ sau Cách mạng tháng Tám 1945 đến nay
- Phương pháp nghiên cứu loại hình: Phương pháp loại hình giúp luận án có thể khảo sát đối tượng nghiên cứu từ nhiều phương diện khác nhau: cảm thức, khuynh hướng sáng tác… Đồng thời vận dụng những nguyên tắc loại hình trong lĩnh vực văn học giúp chúng tôi bao quát văn xuôi lịch sử viết cho thiếu nhi ở các dạng thức biểu hiện cụ thể trên phương diện nghệ thuật như: kết cấu, nhân vật, ngôn ngữ,…
- Phương pháp lịch sử xã hội: Nghiên cứu, tìm hiểu các tác phẩm văn xuôi về đề tài lịch sử trong mối tương quan với thời gian lịch sử - văn hóa của sự kiện được phản ánh, với bối cảnh lịch sử, xã hội của đất nước khi tác phẩm được ra đời
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Luận án sử dụng kiến thức của các ngành khoa học xã hội khác như: sử học, triết học, văn hoá học, dân tộc học, khảo
cổ học, tâm lý học, để khai thác, bổ sung, nhấn mạnh một số phương diện văn hoá
- lịch sử được đề cập đến trong các tác phẩm
Ngoài các phương pháp trên, luận án còn sử dụng một số biện pháp, thao tác khác như: phân loại, so sánh, Các biện pháp, thao tác nghiên cứu nói trên sẽ được vận dụng linh hoạt trong quá trình xử lý đề tài
Trang 125 Đóng góp của luận án
Luận án là công trình đầu tiên nghiên cứu văn xuôi Việt Nam về đề tài lịch
sử viết cho thiếu nhi như một đối tượng độc lập, trọn vẹn Luận án đã hệ thống hoá quá trình hình thành, phát triển, phân tích những đặc trưng tiêu biểu, những vấn đề nổi bật mang đến cái nhìn toàn diện về văn xuôi về đề tài lịch sử viết cho thiếu nhi trên hành trình 70 năm phát triển; khẳng định vị trí không thể thiếu của bộ phận này trong lịch sử phát triển văn học Việt Nam
Kết quả của luận án đóng góp một phần cho thực tiễn nghiên cứu văn học thiếu nhi nói chung, văn xuôi lịch sử viết cho thiếu nhi nói riêng - lĩnh vực nghiên cứu còn chưa thực sự được quan tâm và chưa có nhiều bề dày thành tựu
Tổng kết, đánh giá những đặc điểm, khuynh hướng của văn xuôi lịch sử cho thiếu nhi, luận án cũng bước đầu muốn thăm dò tìm ra cách đi mới, con đường mới cho văn học về đề tài lịch sử viết cho thiếu nhi, nhất là trong giai đoạn hiện nay, khi thành tựu về mảng đề tài này đang chững lại
Luận án là tài liệu tham khảo bổ ích cho giáo viên, sinh viên, học sinh, những người quan tâm, yêu thích văn học thiếu nhi Luận án cũng đưa ra gợi ý để
đề tài lịch sử cho thiếu nhi được trở nên gần gũi và có ý nghĩa trong việc hình thành, phát triển phẩm chất, năng lực cho học sinh theo mục tiêu của Chương trình giáo dục phổ thông 2018 bằng cách tuyển chọn, giới thiệu một số tác phẩm, trích đoạn tiêu biểu Giáo viên, cán bộ quản lí giáo dục, tác giả biên soạn sách giáo khoa, sách tham khảo có thể sử dụng các tác phẩm, đoạn trích này trong quá trình tổ chức các hoạt động dạy học, giáo dục, biên soạn sách giáo khoa, tham khảo góp phần mở mang hiểu biết, kích thích sự hứng thú, say mê của các em với lịch sử nước nhà
6 Bố cục của luận án
Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục và Tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận án được triển khai thành các chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và tổng quan tình hình nghiên cứu vấn đề
Chương 2: Văn xuôi về đề tài lịch sử viết cho thiếu nhi trong tiến trình
vận động của văn học thiếu nhi Việt Nam
Chương 3: Cảm thức lịch sử với những khuynh hướng tiêu biểu trong văn
xuôi về đề tài lịch sử viết cho thiếu nhi từ sau Cách mạng tháng Tám 1945 đến nay
Chương 4: Một số đặc điểm nghệ thuật của văn xuôi về đề tài lịch sử viết
cho thiếu nhi từ sau Cách mạng tháng Tám 1945 đến nay
Trang 13Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ 1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1.1 Văn xuôi về đề tài lịch sử
Căn cứ vào mối quan hệ giữa chủ thể nhà văn và đối tượng phản ánh, dựa theo hình thức tổ chức ngôn ngữ, các nhà lý luận văn học phân chia văn học gồm ba loại hình: tự sự, trữ tình, kịch Văn xuôi về đề tài lịch sử thuộc loại hình tự sự Đó là
“một dạng ngôn ngữ thể hiện một cấu trúc ngữ pháp và mô phỏng văn nói tự nhiên, không tuân theo các lề luật như thi ca” [152] Văn xuôi về đề tài lịch sử bao gồm nhiều thể loại như: truyện ngắn, truyện dài, tiểu thuyết, ký Ở đây, khi tìm hiểu văn xuôi về đề tài lịch sử viết cho thiếu nhi, chúng tôi chủ yếu hướng tới phân tích hai thể loại tiêu biểu là truyện dài và tiểu thuyết Do đặc thù thể loại, các nhà văn sáng tác văn xuôi về đề tài lịch sử nói chung thường lựa chọn tiểu thuyết Văn xuôi về đề tài lịch sử viết cho thiếu nhi, phổ biến nhất là các thể loại như những câu chuyện người tốt việc tốt, truyện dài và đặc biệt là tiểu thuyết Những câu chuyện kể về những tấm gương người tốt việc tốt trong chiến đấu, lao động, học tập được sáng tác để khích lệ, động viên tinh thần thiếu nhi, chủ yếu trong giai đoạn 1945 - 1975 Tuy nhiên giá trị nghệ thuật của những câu chuyện này không nhiều Thành tựu tiêu biểu của văn xuôi về đề tài lịch sử cho thiếu nhi tập trung ở truyện dài và tiểu
thuyết Nhóm tác giả trong cuốn Lí luận văn học do Phương Lựu chủ biên quan
niệm: “Tiểu thuyết là hình thức tự sự cỡ lớn đặc biệt phổ biến trong thời cận đại và hiện đại ( ) có thể chứa đựng lịch sử của nhiều cuộc đời, những bức tranh phong tục đạo đức xã hội, miêu tả cụ thể các điều kiện sinh hoạt giai cấp, tái hiện nhiều
tính cách đa dạng” [68, tr.387] Tác giả Lê Huy Bắc trong Truyện ngắn: lý luận, tác
gia và tác phẩm đưa ra đề xuất về việc phân chia truyện ngắn, truyện dài, theo đó
“dưới 20.000 chữ là truyện ngắn, trên 20.000 chữ là truyện dài” [15, tr.52] Có thể nói, xét về dung lượng, tiểu thuyết có độ dài nhiều hơn truyện dài Hệ thống sự kiện
và nhân vật được thể hiện trong tiểu thuyết cũng lớn hơn truyện dài Văn học viết cho thiếu nhi, nhất là viết cho các em ở độ tuổi nhi đồng thường hướng đến nội
Trang 14dung ngắn gọn, chứa đựng những bài học giá trị Tuy nhiên, viết về đề tài lịch sử lại đòi hỏi cần được thể hiện trong dung lượng tương đối nhiều, số lượng các sự kiện
và nhân vật được nhắc đến khá lớn và các tác giả cũng cần có một khoảng thời gian nghiên cứu lâu dài nên lựa chọn thể loại truyện dài, đặc biệt là tiểu thuyết là một sự lựa chọn hợp lý Với công phu trong nghiên cứu lịch sử, tài tình trong sáng tạo chi tiết và xây dựng kết cấu, truyện dài và tiểu thuyết lịch sử viết cho thiếu nhi không hạn chế sự tiếp nhận của các em mà vẫn có một sức hấp dẫn riêng trong việc truyền tải một phần tri thức lịch sử và nội dung thông điệp của nhà văn
Ở phương Tây, khái niệm văn xuôi về đề tài lịch sử tập trung chủ yếu vào tiểu thuyết lịch sử đã được bàn đến từ khá sớm Nhiều nhà văn, nhà nghiên cứu đã đưa ra các quan niệm khác nhau về thuật ngữ tiểu thuyết lịch sử như: A Dumas, H.S Haasse, D Brevvster, J Burell,
Ở Việt Nam, văn xuôi về đề tài lịch sử cũng được tập trung ở thuật ngữ tiểu thuyết lịch sử, được nghiên cứu và bàn luận khá sôi nổi từ các nhà nghiên cứu và từ chính những nhà văn cầm bút viết về đề tài này Theo nhà văn Nguyễn Xuân Khánh, trước 1930 - 1945, chúng ta thường đọc những bộ chuyên về lịch sử như:
Đông chu liệt quốc, Tam quốc diễn nghĩa, Hoàng Lê nhất thống chí, Đó là những
bộ bút lục lịch sử, cũng có lúc được gọi là tiểu thuyết lịch sử nhưng không giống như cách hiểu tiểu thuyết lịch sử của thời hiện đại Từ sau 1945 đến nay đã có khá nhiều cách hiểu về thể loại này
Theo Từ điển thuật ngữ văn học, tiểu thuyết lịch sử bao gồm “Các tác phẩm
viết về đề tài lịch sử có chứa đựng các nhân vật và các chi tiết hư cấu, tuy nhiên nhân vật chính và sự kiện chính thì được sáng tạo trên các sử liệu xác thực trong lịch sử, tôn trọng lời ăn tiếng nói, trang phục, phong tục, tập quán phù hợp với giai đoạn lịch sử ấy Tác phẩm văn học lịch sử thường mượn chuyện xưa nói chuyện đời nay, hấp thu những bài học quá khứ, bày tỏ sự đồng cảm với những con người và thời đại đã qua, song không vì thế mà hiện đại hoá người xưa, phá vỡ tính chân thực lịch sử của thể loại này” [36, tr 109]
Tác giả Bùi Văn Lợi trong Luận án tiến sĩ Ngữ văn Tiểu thuyết lịch sử Việt
Nam từ những năm đầu thế kỷ XX đến 1945 (Diện mạo và đặc điểm) cũng đưa ra khái
Trang 15niệm “tiểu thuyết lịch sử là những tác phẩm mang trọn đặc trưng tiểu thuyết nhưng lại lấy nội dung lịch sử làm đề tài, làm cảm hứng sáng tạo nghệ thuật” [54, tr.17]
Nghiên cứu về Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam từ 1945 đến nay, Nguyễn Thị
Tuyết Minh quan niệm: “Tiểu thuyết lịch sử là loại hình tiểu thuyết lấy đề tài lịch sử làm nội dung chính Đối tượng của nó là nhân vật, sự kiện, thời kỳ hay tiến trình lịch sử Đó có thể là một quá khứ xa xôi hay một thời kỳ lịch sử đặc biệt Nó đòi hỏi người viết vừa phải có kiến thức uyên bác, tỉ mỉ của một nhà sử học, lại vừa có khả
năng biến những tri thức đó thành nghệ thuật” [86, tr 28]
Hầu hết các quan niệm về văn xuôi đề tài lịch sử (trong đó tập trung vào thể loại tiểu thuyết lịch sử) đều có sự thống nhất khi cho rằng, tiểu thuyết lịch sử là một loại hình văn học lấy lịch sử làm đề tài và cảm hứng sáng tạo Tuy nhiên, yếu tố văn học và yếu tố lịch sử được sử dụng ở mức độ như thế nào trong các tác phẩm viết về
đề tài lịch sử lại là một vấn đề gây nhiều tranh luận, thu hút nhiều ý kiến khác nhau Những tranh luận này đến từ những người nghiên cứu, phê bình, lý luận văn học và đến từ chính những nhà văn - những người trực tiếp cầm bút sáng tác, trải nghiệm
và tâm huyết với mảng đề tài này
Nhà văn Thái Vũ quan niệm đã là sáng tác lịch sử thì phải tôn trọng sự thật lịch sử Nói cách khác, yếu tố lịch sử là yếu tố chính, là cái cốt lõi; yếu tố văn học chỉ là hình thức để thể hiện tác phẩm lịch sử: “Khi tôi nói, tôi viết tiểu thuyết lịch
sử, sự thật là tôi không viết tiểu thuyết mà tôi viết lịch sử Trước hết phải trung thực với mọi chi tiết lịch sử mà biên niên sử có ghi Hư cấu nhưng không phải là bịa mà tôn trọng tính chính xác của lịch sử” [theo Nguyễn Thị Tuyết Minh, tr 33]
Khác với quan niệm của tác giả Cờ nghĩa Ba Đình, Biến động, Huế 1858, Nguyễn Xuân Khánh - tác giả của Hồ Quý Ly, Mẫu Thƣợng ngàn, Đội gạo lên
chùa, lại đề cao yếu tố văn học trong sáng tác về đề tài lịch sử Lịch sử trong quan
niệm của ông cũng giống như A Duymas “chỉ là cái đinh để treo những bức hoạ”
Trả lời phóng viên Báo Văn nghệ trẻ số tháng 10 năm 2005, ông cho rằng: “Tiểu
thuyết lịch sử không phải là kể lại lịch sử, minh hoạ lịch sử mà là phản ánh những vấn đề của con người hiện tại.”
Nói về quá trình sáng tác đứa con tinh thần - tiểu thuyết Gió lửa - nhà văn
Nam Dao chia sẻ, trong quá trình sáng tác, yếu tố lịch sử và yếu tố sáng tạo có mối
Trang 16quan hệ qua lại và gắn bó chặt chẽ với nhau trong tác phẩm: “Cái khung lịch sử được
sử dụng như phương tiện cấu tạo tiểu thuyết và sau đó thì tiểu thuyết là phương tiện
để tác giả thể hiện những tư duy, biện minh và dự phóng cho chủ đề lịch sử” [33]
Những tranh luận, những quan niệm đã đưa đến cách khai thác đề tài lịch sử, cách viết về đề tài lịch sử theo các khuynh hướng khác nhau Sự phong phú ấy cũng
là điều dễ hiểu bởi nó xuất phát từ chính đặc trưng của thể loại này
Tựu trung, có thể hiểu, văn xuôi viết về đề tài lịch sử là một loại hình văn
học có sự kết hợp giữa yếu tố văn học và yếu tố lịch sử Yếu tố lịch sử như phần
“xương cốt” không thể thiếu của loại hình văn học này, thiếu yếu tố lịch sử, tác phẩm văn học sẽ không thể được gọi tên là tiểu thuyết lịch sử Lịch sử (cốt lõi lịch sử) chi phối và ảnh hưởng đến đề tài, cảm hứng sáng tạo của nhà văn, khuôn người viết vào giới hạn phải bám sát tư liệu lịch sử Tuy nhiên nếu chỉ có yếu tố lịch sử
mà không có yếu tố sáng tạo của nghệ thuật thì tác phẩm lịch sử không thể trở thành tác phẩm văn học Yếu tố văn học thể hiện nhân vật trong mối quan hệ đa chiều, ôm chứa phạm vi đời sống rộng lớn, không chỉ của quá khứ mà của cả hiện tại Yếu tố văn học cũng cho phép người viết có thể phát huy cao độ khả năng tưởng tượng và sức sáng tạo Người cầm bút, vì thế, vừa phải sắm vai nhà lịch sử, vừa phải làm tốt công việc của một nhà văn Nói một cách hình ảnh, nhà văn viết về đề tài lịch sử ví như người đi trên dây thăng bằng, nghiêng về sử thì khô khan, nghiêng về văn thì dễ làm sai lệch sự kiện, gây hiểu sai về sự kiện, nhân vật lịch sử Làm thế nào để những nhân vật lịch sử vốn tồn tại như những “mẫu hóa thạch” trở nên chân thực, gần với cuộc sống thường ngày, làm thế nào để tác phẩm văn học viết về đề tài lịch
sử trở thành một “mũi khoan” thăm dò cuộc sống, khám phá lớp trầm tích của quá khứ, là những yêu cầu quan trọng đặt ra cho người cầm bút sáng tác
Trong văn học Việt Nam, văn xuôi về đề tài lịch sử, đặc biệt là thể loại tiểu thuyết lịch sử xuất hiện từ thời trung đại, nhưng phải đến thời kỳ văn học hiện đại mới phát triển mạnh cả về số lượng và chất lượng
Từ đầu thế kỷ XX đến trước 1945 - trong hoàn cảnh đất nước chịu ách đô
hộ của thực dân Pháp, đã xuất hiện nhiều tác phẩm văn xuôi viết về đề tài lịch sử nhằm thúc đẩy phong trào đấu tranh chống thực dân, khơi gợi lòng yêu nước, như:
Trùng Quang tâm sử của Phan Bội Châu; Vua Bà Triệu ấu, Hai Bà đánh giặc của
Nguyễn Tử Siêu, Nội dung thế sự thể hiện qua việc khắc hoạ những số phận bất
Trang 17hạnh, tố cáo quan lại phong kiến tàn ác, dâm loạn, cũng ít nhiều được nhắc đến
qua các tác phẩm: Ai lên phố Cát, Cái hột mận của Lan Khai; Đêm hội Long Trì
của Nguyễn Huy Tưởng, Chất lịch sử đã bước đầu được xử lý khéo léo với chất văn chương, một số tác phẩm được đổi mới theo hình thức tiểu thuyết lịch sử hiện đại phương Tây; tuy nhiên phần lớn tiểu thuyết lịch sử giai đoạn này vẫn chịu ảnh hưởng của lối ghi chép biên niên, kết cấu chương hồi, câu văn biền ngẫu của thời trung đại
Thời kỳ 1945 - 1975, cùng với sự phát triển của thơ ca và văn xuôi về đề tài chiến tranh cách mạng, đề tài viết về lịch sử giai đoạn này đã góp phần phản ánh không khí thời đại Cảm hứng chủ đạo là ca ngợi truyền thống anh hùng dân tộc qua
việc khắc hoạ những nhân vật lịch sử (Lá cờ thêu sáu chữ vàng của Nguyễn Huy Tưởng, Búp sen xanh của Sơn Tùng, Quận He khởi nghĩa của Hà Ân, Núi rừng Yên
Thế của Nguyên Hồng ); qua việc khắc hoạ những sự kiện lịch sử trọng đại, có ý
nghĩa to lớn với dân tộc (Hùng khí Thăng Long, Bóng nước Hồ Gươm của Chu Thiên, Tổ quốc kêu gọi của Hà Ân, ) Tiểu thuyết lịch sử thời kỳ này đã thoát khỏi
lối viết chương hồi, tư liệu lịch sử vẫn là chất liệu chính yếu để sáng tác, tuy nhiên các nhà văn đã chủ động hơn trong sáng tạo nghệ thuật và hư cấu tư liệu lịch sử để khắc hoạ hình tượng nhân vật đa dạng, phong phú
Sau 1975, đặc biệt là sau Đại hội Đảng VI năm 1986, cùng với sự đổi mới toàn diện của đất nước, văn học nói chung, văn xuôi viết về đề tài lịch sử nói riêng, đặc biệt là mảng tiểu thuyết lịch sử cũng có những sự thay đổi mạnh mẽ Các nhà văn đã có nhiều tìm tòi trong cách thể hiện, kết cấu linh hoạt, sự kiện lịch sử không chỉ được triển khai theo mạch dòng thời gian mà còn được triển khai theo mạch vận động, suy nghĩ của nhân vật Nhân vật không chỉ được soi chiếu một chiều mà được soi chiếu từ nhiều chiều khác nhau với tất cả những mặt tốt, xấu, những phức tạp diễn ra trong đời sống nội tâm Nhiều tác phẩm nổi bật, mới mẻ cả về nội dung và
phương thức thể hiện có thể kể đến như: Gươm thần Vạn Kiếp, Tuyên phi họ Đặng của Ngô Văn Phú; Gió lửa của Nam Dao; Kiếm sắc, Vàng lửa, Phẩm tiết của Nguyễn Huy Thiệp; Sông Côn mùa lũ của Nguyễn Mộng Giác; Hồ Quý Ly của Nguyễn Xuân Khánh; Giàn thiêu của Võ Thị Hảo; Hội thề của Nguyễn Quang Thân; Vua Minh Mạng của Hoài Anh,
Trang 18Trong những năm gần đây, tiểu thuyết lịch sử ngày càng trở thành mối quan tâm của nhiều nhà văn, nhà phê bình nghiên cứu Các nhà nghiên cứu đã tổng kết, chỉ
ra những khuynh hướng khác nhau trong tiểu thuyết lịch sử Việt Nam đương đại Nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Dân chia tiểu thuyết lịch sử Việt Nam đương đại thành các
xu hướng: Tiểu thuyết lịch sử chương hồi khách quan (điển hình cho xu hướng này là
nhà văn Ngô Văn Phú với các tác phẩm như: Gươm thần Vạn Kiếp; Ấn kiếm trời ban;
Lý Công Uẩn, ); Tiểu thuyết lịch sử giáo huấn (tiêu biểu là bộ bốn tiểu thuyết về
triều Trần: Huyền Trân công chúa, Bão táp cung đình, Thăng Long nổi giận; Vương
triều sụp đổ (gọi chung là bộ Bão táp triều Trần) của Hoàng Quốc Hải); Tiểu thuyết
lịch sử luận giải (đi sâu vào khai thác các yếu tố như: luận đề, tâm lý, lựa chọn những giai đoạn và sự kiện lịch sử “có vấn đề” để khai thác và luận giải Các tác
phẩm tiêu biểu cho khuynh hướng này: Hồ Quý Ly của Nguyễn Xuân Khánh, Hội
thề của Nguyễn Quang Thân), [21] Tác giả Lê Thị Thu Trang trong Luận án tiến
sĩ văn học năm 2017 về Đặc trưng nghệ thuật tiểu thuyết lịch sử Việt Nam thập niên
đầu thế kỷ XXI nhìn trên các bình diện nghệ thuật đã đưa ra nhiều xu hướng khác
nhau của tiểu thuyết lịch sử Việt Nam: nhìn từ dạng thức đề tài có tiểu thuyết lịch
sử sự kiện, tiểu thuyết lịch sử nhân vật, tiểu thuyết lịch sử văn hoá - phong tục, tiểu thuyết lịch sử luận giải; nhìn từ dạng thức kết cấu có tiểu thuyết lịch sử kết cấu theo lối tuyến tính, tiểu thuyết lịch sử kết cấu theo lối lắp ghép, đồng hiện, [131]
Theo nhà nghiên cứu Trần Đình Sử văn xuôi về đề tài lịch sử Việt Nam thời đổi mới có rất nhiều tác phẩm đến được với người đọc và tạo được vị trí trong văn học dân tộc bởi nó đã vượt qua mô hình cũ và tạo ra nhiều hướng phát triển hứa hẹn “Có hướng “văn chương hóa lịch sử” như Hoàng Quốc Hải với hai bộ trường thiên Có hướng nghiêng về phương diện văn hóa, đối thoại văn hóa như Nguyễn
Xuân Khánh, có hướng diễn giải lại lịch sử như Nguyễn Thị Lộ của Hà Văn Thùy,
có hướng “phi trung tâm hóa” như Hội thề của Nguyễn Quang Thân, có hướng đối thoại với chính sử như Mạc Đăng Dung của Lưu Văn Khuê, có hướng đổi mới cách nhìn như Biết đâu địa ngục thiên đường của Nguyễn Khắc Phê, có hướng viết “tiểu
sử gia tộc” hư cấu, mà thực ra là viết lịch sử thời đại với cái nhìn giễu nhại trong
Thời của thánh thần của Hoàng Minh Tường, Dưới chín tầng mây của Dương
Hướng, Cuồng phong của Nguyễn Phan Hách, ” [105]
Trang 19Tóm lại, văn xuôi về đề tài lịch sử, trong đó tập trung ở tiểu thuyết là thể loại được nhiều nhà văn quan tâm Yếu tố tiểu thuyết và yếu tố lịch sử đã được các nhà văn xử lý, sáng tạo, hài hoà trong các tác phẩm qua từng chặng đường phát triển, tạo thành nhiều khuynh hướng sáng tác và được người đọc tiếp nhận, thẩm thấu theo những mức độ khác nhau
1.1.1.2 Văn học thiếu nhi
So với lịch sử hình thành và phát triển văn học thiếu nhi của nhiều nước trên thế giới như Pháp, Đức, Đan Mạch, văn học thiếu nhi Việt Nam ra đời và phát triển muộn hơn Trước 1945, sự tiếp cận với văn học thiếu nhi của trẻ em Việt Nam chủ yếu qua những tác phẩm văn học dân gian (như đồng dao, hát ru, truyện cổ tích, với con em nhân dân) và một số tác phẩm được dịch từ nước ngoài (đặc biệt là dịch từ văn học Pháp do ảnh hưởng của văn hoá Pháp trong thời kỳ 1858 - 1945, chủ yếu dành cho trẻ em nhà khá giả) Từ sau 1945, đặc biệt kể từ khi nhà xuất bản Kim Đồng được thành lập, văn học thiếu nhi Việt Nam mới thực sự được hình thành, phát triển với tư cách là một bộ phận văn học có tổ chức, được đầu tư, chăm lo
Theo chúng tôi, văn học thiếu nhi là những sáng tác lấy đối tượng phục vụ là
thiếu nhi Đối tượng phục vụ này sẽ chi phối đến cách lựa chọn đề tài, tư tưởng, chủ đề, của mỗi tác phẩm Như vậy, có thể xác định văn học thiếu nhi khác với bộ phận
văn học người lớn trước hết là ở đối tượng tiếp nhận Trẻ em chính là đối tượng miêu
tả chủ yếu, đối tượng tiếp nhận trong tâm thế của người sáng tác Mặc dù vậy, “ranh giới” của đối tượng tiếp nhận và miêu tả này nhiều khi cũng chưa thật sự rõ ràng Thực tế có những tác phẩm mục đích sáng tác lúc đầu chưa hẳn cho trẻ em nhưng lại được đối tượng trẻ em tiếp nhận nồng nhiệt Bên cạnh đó cũng không ít các tác phẩm sáng tác dành cho đối tượng thiếu nhi nhưng cũng được đối tượng người lớn say mê đón nhận Tác giả sáng tác văn học thiếu nhi có thể là người lớn, là những người chuyên tâm viết cho các em hoặc những tác giả “tay ngang”, quan tâm, yêu thích và
có một vài sáng tác cho các em Tác giả sáng tác cho thiếu nhi cũng có thể là chính các em, những người tự nói lên tâm tư, nguyện vọng, những suy nghĩ, cảm xúc, những câu chuyện của chính mình Điểm gặp gỡ của đối tượng tiếp nhận, miêu tả và lực lượng sáng tác cho thiếu nhi chính là ở chỗ: đã là sáng tác viết cho thiếu nhi thì phải chú ý đến đặc điểm tâm sinh lý của trẻ em và hướng đến trẻ em
Trang 201.1.1.3 Văn xuôi về đề tài lịch sử viết cho thiếu nhi
Bàn về vấn đề sáng tác đề tài lịch sử viết cho thiếu nhi, nhà văn Gorki phát biểu: “Ngay từ lúc trẻ bắt đầu có ý thức về thế giới xung quanh, các em đã phải được biết dần dần sự nghiệp của thế hệ trước mình, việc đó giúp các em hiểu rõ ràng những
gì cha ông đã làm ra trước kia chính là làm cho các em Hãy kể lại một cách thành thực và giản dị cho các em biết lịch sử quá khứ vĩ đại của những gian truân, những sai lầm và thất bại của chúng ta, nói đến tất cả những gì chúng ta đã đem lại nỗi gian lao hoặc là niềm vui sướng của cha ông ta, những cái gì ngày nay đương giày vò chúng ta hoặc đương nhóm lên ngọn lửa dũng cảm trong tim ta” [119, tr.158]
Tác giả Hà Ân đưa ra quan niệm tác phẩm văn học viết về đề tài lịch sử cho thiếu nhi là “những sáng tác văn học lấy đề tài trong lịch sử, có mục đích giáo dục về truyền thống cho các em, nhưng chính là phải gợi cho các em những suy nghĩ về hiện tại và khơi lên những mơ ước mới về tương lai cho tâm hồn các em” [119, tr.81]
Có thể thấy hầu hết các ý kiến khi bàn về các tác phẩm văn học viết về đề tài lịch sử cho thiếu nhi đều đưa ra những yêu cầu đặc trưng về đề tài, mục đích sáng tác cho các em
Chúng tôi cho rằng: Văn xuôi lịch sử viết cho thiếu nhi bao gồm những thể loại:
truyện ngắn, truyện dài, tiểu thuyết, viết về đề tài lịch sử có đối tượng đọc là thiếu nhi Đó là những tác phẩm văn học lấy tư liệu từ hai nguồn chính là truyền thuyết và chính sử, được viết dưới hình thức tự sự, thể hiện các sự kiện và nhân vật lịch sử
Viết cho thiếu nhi nói chung, viết truyện lịch sử cho trẻ em nói riêng là sáng tác có định hướng Bên cạnh việc hấp dẫn các em say mê đọc những câu chuyện về các nhân vật, sự kiện lịch sử, mang lại cho các em những hiểu biết về cuộc sống của cha ông, truyện lịch sử còn có vai trò định hướng, “mượn xưa nói nay”, giúp các em nhìn về quá khứ để soi sáng cho hiện tại và tương lai
Văn xuôi về đề tài lịch sử viết cho thiếu nhi lấy cốt lõi là lịch sử với những con người, những sự kiện có thật trong lịch sử nhưng hoàn toàn khác với các ghi chép lịch sử
“Lịch sử”, theo định nghĩa của Từ điển tiếng Việt là “khoa học nghiên cứu về
quá trình phát triển của xã hội loài người nói chung, hay của một quốc gia, dân tộc nói riêng” [95, tr.546] Tác giả Nguyễn Thị Tuyết Minh quan niệm “lịch sử là những
Trang 21gì đã qua, đã thuộc về quá khứ, đã khuất lấp bởi một khoảng thời gian dài mà về văn hoá, đời sống đã khác với con người hiện tại” [86, tr 35] Theo đó, tùy vào mục đích hay chức năng của lịch sử, mỗi tác giả hoặc nhóm tác giả lại đưa ra những quan niệm riêng về lịch sử Nhấn mạnh về phương thức tồn tại, tác giả Trần Quốc Vượng cho rằng lịch sử là những câu chuyện “kể lại những bước đi của con người, sự việc được ghi lại bằng chữ viết” [152, tr.44] Chú trọng đến chức năng, mục đích của lịch sử, nhóm các nhà soạn sách giáo khoa lại giải thích “Sử là tác phẩm viết về các sự kiện
và nhân vật lịch sử Mục đích của sử là ghi chép sự thật, không hư cấu như văn học nghệ thuật, nhằm cung cấp những sự kiện lịch sử của dân tộc và bày tỏ thái độ khen chê của sử gia đối với các nhân vật lịch sử để đời sau lấy đấy làm gương” [84, tr.57] Như vậy, ghi chép lịch sử đòi hỏi phải trung thành tuyệt đối với các sự kiện lịch sử Ghi chép lịch sử đưa ra những thông tin chính xác, mang văn phong khoa học
Ghi chép lịch sử khác với truyện viết về đề tài lịch sử, do đó, nhà văn, dù có những điểm gần gũi với nhà sử học nhưng không phải là người viết sử, chép sử đơn thuần Người ghi chép lịch sử quan tâm đến tính chỉnh thể của lịch sử, đòi hỏi sự chân thực, chính xác đến từng chi tiết Mỗi sự kiện, mỗi biến cố, người viết sử không được quyền hư cấu và không nên đưa ý kiến, tình cảm cá nhân vào các ghi chép lịch sử Trong khi đó, viết truyện về đề tài lịch sử cho thiếu nhi, nhà văn có thể chỉ cần lựa chọn một khoảnh khắc, một sự kiện, một nhân vật nào đó trong lịch sử, rồi hư cấu, tưởng tượng, sáng tạo trên cơ sở cốt lõi lịch sử Từ các nhân vật, sự kiện được lựa chọn, nhà văn thể hiện quan điểm tư tưởng, tình cảm của mình hoặc
“mượn xưa nói nay” để phản ánh các vấn đề của xã hội hiện tại
Truyện viết về đề tài lịch sử cho thiếu nhi cũng không giống với truyện danh nhân hay truyện kể về những tấm gương người tốt việc tốt Truyện danh nhân, truyện về những tấm gương người tốt việc tốt kể về những tấm gương, những người thật việc thật trong cuộc sống, qua đó thể hiện phần nào tư tưởng, tình cảm của tác giả (thường là ngợi ca) Hình tượng nhân vật với những biến cố, suy nghĩ trong đời sống nội tâm được tường thuật lại đơn giản và tuần tự theo trật tự thời gian tuyến tính Người viết truyện danh nhân và truyện về các tấm gương người tốt, việc tốt, đơn thuần chỉ là người kể lại, mô tả lại những nhân vật, những sự kiện với mục đích giáo huấn, ngợi ca được đặt lên hàng đầu Truyện viết về đề tài lịch sử cho thiếu nhi
Trang 22là một thể loại văn học mang đầy đủ những đặc trưng của văn học: có hình tượng nhân vật được xây dựng bởi cốt lõi lịch sử và sự tưởng tượng của tác giả, có những mâu thuẫn, xung đột giữa các sự kiện, giữa các nhân vật và trong đời sống nội tâm nhân vật Đọc truyện danh nhân, truyện người tốt việc tốt, trong hình dung của các
em chỉ có một Nguyễn Trãi, một Lý Thường Kiệt, một Trần Quốc Toản, Đọc truyện về đề tài lịch sử, mỗi trẻ em sẽ có một Nguyễn Trãi, một Lý Thường Kiệt, một Trần Quốc Toản, theo trí tưởng tượng của riêng mình
1.1.2 Các yêu cầu cơ bản đối với văn xuôi về đề tài lịch sử viết cho thiếu nhi
Xuất phát từ đặc điểm thể loại, đặc điểm đề tài, mảng văn xuôi về lịch sử luôn đặt ra những yêu cầu cụ thể trong sáng tác Bên cạnh đó, với đối tượng bạn đọc thiếu nhi, trong lứa tuổi từ 6 đến 10 và từ 11 đến 15 - lứa tuổi có những đặc điểm riêng về tâm sinh lý, nhận thức, cảm xúc, lại đòi hỏi người sáng tác phải có những lưu ý cụ thể, từ đó đặt ra những yêu cầu riêng, tạo thành những đặc trưng của thể loại này Đó là yêu cầu về hệ thống nhân vật, đặc điểm về cốt truyện, về ngôn ngữ,
về tính giáo dục, sự kết hợp giữa yếu tố lịch sử với yếu tố văn học,
1.1.2.1 Về hệ thống nhân vật
Tìm hiểu kỹ và lựa chọn nhân vật lịch sử được coi là việc quan trọng đầu tiên khi nhà văn chuẩn bị viết một cuốn truyện về đề tài lịch sử Nhân vật chính trong truyện về đề tài lịch sử thường là những nhân vật có thật, có tên tuổi và sự nghiệp được ghi nhận trong chính sử Tác giả Hà Ân khẳng định “đã gọi là truyện lịch sử thì nhất thiết nhân vật chính phải là nhân vật có thật trong lịch sử” [119, tr.83]
Với đối tượng bạn đọc là người lớn, nhà văn có thể lựa chọn những nhân vật lịch sử phức tạp cùng nhiều quan điểm, cách đánh giá nhìn nhận khác nhau Với đối tượng bạn đọc là thiếu nhi, khi những hiểu biết, nhận thức và sự tự đánh giá của các
em còn bị chi phối bởi nhiều yếu tố và cần sự định hướng thì nhân vật lịch sử được chọn phần lớn là những nhân vật đã thống nhất được cách hiểu, cách đánh giá Xây dựng những nhân vật này, nhà văn có quyền hư cấu, sáng tạo để các em hiểu hơn về nhân vật nhưng tuyệt đối không đánh giá sai và không nên có cái nhìn sai lệch về nhân vật Ngoài hệ thống các nhân vật có thật trong lịch sử, nhà văn cũng có thể hư cấu, sáng tạo thêm các nhân vật khác Những nhân vật này không có ghi chép hoặc được ghi chép đơn giản hoặc chỉ được nhắc đến tên trong lịch sử Điểm lại một số
Trang 23các tác phẩm lịch sử viết cho thiếu nhi, chúng ta thấy hầu hết tác phẩm đều không nằm ngoài quy luật này Chẳng hạn, viết về lịch sử đời Trần, các tác giả đã lựa chọn rất nhiều các nhân vật anh hùng được ghi chép cùng những chiến công rõ ràng trong lịch sử như: Trần Hưng Đạo, Trần Quang Khải, Trần Bình Trọng, Trần Quốc Toản, Phạm Ngũ Lão, Còn nhân vật đang trở thành “nghi án” như Hồ Quý Ly thì hầu như không có tác giả nào lựa chọn (trong khi đó, ở tiểu thuyết lịch sử viết cho người lớn, Hồ Quý Ly trở thành nhân vật chính trong một sáng tác nổi tiếng cùng tên của tác giả Nguyễn Xuân Khánh)
Xây dựng nhân vật lịch sử trong sáng tác cho thiếu nhi, nhà văn không chỉ khắc hoạ những hành động, những chiến công anh hùng mà còn khai thác những khía cạnh đời thường, gần gũi của nhân vật Nhân vật chính, nếu không là trẻ thơ thì
dấu ấn tuổi thơ cũng ít nhiều được miêu tả trong tác phẩm Viết Tướng quân
Nguyễn Chích, Hà Ân không chỉ xây dựng Nguyễn Chích là một người anh hùng
mà còn khắc họa hình ảnh Nguyễn Chích ngay từ khi còn nhỏ với sở thích nuôi chim câu rất giỏi Sau này lớn lên, cầm quân đi đánh giặc, sở thích nuôi chim câu và
đàn chim câu vẫn rất gắn bó với tướng Chích Sừng rượu thề của Nghiêm Đa Văn,
bên cạnh một Lý Thường Kiệt anh hùng, trí tuệ còn là một Lý Thường Kiệt đầy trăn trở với những nỗi niềm riêng - chung Bộ ba tác phẩm viết về đời Trần của Hà Ân hiện lên một Trần Quốc Tuấn mưu lược nhưng cũng ân cần, gần gũi như một người
ông Trần Quốc Toản trong Lá cờ thêu sáu chữ vàng của Nguyễn Huy Tưởng hừng
hực khí thế yêu nước, nhiệt huyết tuổi trẻ nhưng vẫn là một đứa trẻ khi trở về với lòng mẹ
1.1.2.2 Về cốt truyện
Tác phẩm văn học về đề tài lịch sử viết cho người lớn, cốt truyện có thể phức tạp với nhiều tình huống, chi tiết mở để người đọc tự suy xét và đánh giá Ngược lại, cốt truyện lịch sử viết cho thiếu nhi thường đơn giản, dễ hiểu, mạch lạc Viết về
đề tài lịch sử cho đối tượng người lớn, nhà văn có thể được thỏa sức sáng tạo, thậm chí có quyền hư cấu lịch sử, các chi tiết có thể hoàn toàn trái ngược với sự thật lịch
sử để thể hiện ý kiến, quan điểm chủ quan của mình Với đối tượng đọc là thiếu nhi, sáng tạo của nhà văn không nên và không thể vượt ra ngoài sự thật lịch sử, làm ảnh hưởng đến nhận thức của các em
Trang 24Chẳng hạn viết bộ ba tiểu thuyết lịch sử đời Trần, Hà Ân vẫn phải “trung thành” với lịch sử nhà Trần với các sự kiện ba lần kháng chiến chống Nguyên - Mông, với các nhân vật anh hùng có thật trong lịch sử thời Trần như: Trần Quốc
Tuấn, Trần Bình Trọng, Trương Hán Siêu, Yết Kiêu, Dã Tượng, Viết Sừng rƣợu
thề, Nghiêm Đa Văn cũng không nằm ngoài các sự kiện, chi tiết gắn với cuộc đời Lý
Thường Kiệt trong lịch sử Bộ ba tiểu thuyết của Tô Hoài (Đảo hoang, Chuyện nỏ
thần, Nhà Chử) mở ra hướng khai thác truyện lịch sử gắn với phong tục, huyền thoại,
nhưng cốt truyện nhà văn lựa chọn (dù mới chỉ được khắc hoạ trong cổ tích, truyền thuyết và một số cứ liệu lịch sử, khảo cổ) vẫn không nằm ngoài sự thật lịch sử
Với những đòi hỏi như thế, nhà văn buộc phải sắp xếp các tình tiết sao cho
có được một cốt truyện hấp dẫn, sáng tạo nên các chi tiết cuốn hút thiếu nhi nhưng không làm sai lệch lịch sử, đồng thời vẫn khơi gợi được trí tưởng tượng, kích thích
sự thích thú đón đọc của các em
1.1.2.3 Về ngôn ngữ
Viết cho thiếu nhi, đặc biệt viết truyện lịch sử cho thiếu nhi là một công việc không hề đơn giản Nhà thơ Trần Đăng Khoa có lần đã nói “Hãy để trẻ em nói cái ngon của kẹo” Viết cho thiếu nhi yêu cầu nhà văn, nhà thơ phải viết bằng chính ngôn ngữ của các em với tất cả sự hồn nhiên, chân thật nhất Hơn nữa, viết cho thiếu nhi cũng đòi hỏi nhà văn, nhà thơ phải có sự chuẩn mực về ngôn ngữ để góp phần rèn luyện tư duy, ngôn ngữ, trí tưởng tượng cho các em Hài hoà chất sử và chất văn là một yêu cầu khó đặt ra cho nhà văn mỗi khi cầm bút
Nhìn lại một số thành tựu sáng tác về đề tài lịch sử cho thiếu nhi, những tác phẩm thành công là những tác phẩm đã có sự lựa chọn kỹ càng về mặt ngôn ngữ với một số đặc điểm nổi bật như: sử dụng ngôn ngữ đậm chất cổ xưa gợi không khí lịch
sử nhưng không quá khó hiểu, sử dụng ngôn ngữ giàu hình ảnh, nhịp điệu và giàu chất thơ giúp tác phẩm dễ tiếp nhận, đồng thời khơi gợi, phát huy trí tưởng tượng của trẻ em
1.1.2.4 Về tính giáo dục trong mục đích sáng tác
Tác giả Nguyễn Lương Bích trong lời giới thiệu cuốn sách Quận He khởi
nghĩa cho rằng truyện lịch sử “là một loại hình văn học có tác dụng mạnh trong việc
giáo dục tư tưởng cho quần chúng, nó đem kiến thức lịch sử đến cho người đọc,
Trang 25không bằng sử liệu, số liệu, không bằng lý luận, phân tích mà bằng con đường tình cảm Nó dùng nghệ thuật sáng tạo, dùng hình ảnh để làm rung động người đọc, làm cho người đọc hiểu lịch sử thông qua sự thưởng thức cái hay, cái đẹp của văn học nghệ thuật” [PL1, STT 3, tr.3] Sáng tác cho thiếu nhi, mục đích giáo dục được đặt lên hàng đầu Tâm lý học đã chứng minh rằng, thời thơ ấu, niên thiếu là giai đoạn quan trọng trong cuộc đời của mỗi con người Những gì đến với chúng ta trong giai đoạn đó đều để lại dấu ấn sâu đậm, khó phai trong suốt cuộc đời Truyện lịch sử viết cho thiếu nhi, dù trực tiếp hay gián tiếp, thường mang đến cho các em những bài học quý báu về truyền thống tốt đẹp của dân tộc, như: tinh thần yêu nước, ý thức tự hào dân tộc từ đó định hướng, khơi gợi cho các em biết sống tốt hơn, giá trị hơn cho cuộc sống hiện tại Điều này cũng được Vân Thanh - nhà nghiên cứu tâm huyết với văn học thiếu nhi chia sẻ: Truyện lịch sử viết cho thiếu nhi chính là “cái cầu dẫn dắt các em vào hiện tại và mơ ước tương lai ( ), làm sống lại những chặng đường
đã qua của cha ông chúng ta, gây cho các em lòng yêu quá khứ, lòng tự hào với hiện tại và niềm kiêu hãnh hướng về tương lai với bao mơ ước sẽ xây dựng một đất nước tươi đẹp hơn, rực rỡ hơn” [119, tr 158]
Với những đặc điểm trên, có thể thấy, nét nổi bật của văn xuôi về đề tài lịch
sử là sự kết hợp giữa sự thật lịch sử và hƣ cấu nghệ thuật
Sự thật lịch sử là những việc, những sự kiện đã xảy ra trong quá khứ được ghi chép lại Những sự kiện lịch sử này là những tư liệu quý mà nhà văn có thể sử dụng trong các sáng tác truyện lịch sử Tuy nhiên, nhà văn không “bê” nguyên xi những sự kiện lịch sử ấy vào tác phẩm mà có quyền hư cấu, sáng tạo Hư cấu, sáng tạo nhưng vẫn giữ được cái “lõi”, cái “cốt” của lịch sử Hư cấu, sáng tạo nhưng không làm cho lịch sử bị xuyên tạc hay méo mó mà làm cho cái lý, mục đích của truyện lịch sử được thể hiện rõ ràng và có sức hấp dẫn người đọc
Xung quanh việc nhà văn có quyền được hư cấu, sáng tạo lịch sử nhưng hư cấu và sáng tạo đến đâu đã có rất nhiều các ý kiến bàn luận Phần này, chúng tôi
sẽ tổng kết, nhận xét, bàn luận cụ thể hơn ở mục 1.2 của chương này Ở đây, có thể khẳng định sự kết hợp giữa sự thực lịch sử và hư cấu nghệ thuật là đặc trưng nổi bật, cũng là yêu cầu “sống còn” trong các sáng tác về đề tài lịch sử nói chung, sáng tác về đề tài lịch sử cho thiếu nhi nói riêng Như vậy, có thể thấy, người sáng
Trang 26tác cho thiếu nhi, quả thực là những người cùng một lúc đã sống nhiều cuộc sống: cuộc sống của quá khứ, cuộc sống của hiện tại, cuộc sống của người lớn, cuộc sống của trẻ em, Làm thế nào để tác phẩm lịch sử hấp dẫn các em, làm thế nào phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của các em mà tác phẩm vẫn giữ được cái hồn, cái cốt của lịch sử, vẫn có được định hướng đúng đắn cho các em trong cách nhìn lịch sử ở cả quá khứ, hiện tại và tương lai - đó là những yêu cầu không hề đơn giản đặt ra cho mỗi người cầm bút Người viết truyện lịch sử cho thiếu nhi, vì thế vừa là nhà văn, vừa là nhà sử học, vừa là nhà tâm lý, vừa là nhà giáo dục Đây là niềm vinh dự lớn nhưng cũng đặt người cầm bút trước rất nhiều thách thức, khó khăn trong việc đưa các tác phẩm văn học viết về lịch sử thật sự ý nghĩa đến với bạn đọc thiếu nhi
1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu văn xuôi về đề tài lịch sử viết cho thiếu nhi
Như trên đã nói, văn học viết cho thiếu nhi là một bộ phận quan trọng trong văn học Việt Nam hiện đại Bên cạnh đó, bộ phận này còn chiếm khối lượng đáng
kể và có ảnh hưởng lớn đến môn Tiếng Việt, Ngữ văn trong nhà trường phổ thông Chính vì thế, nghiên cứu về mảng văn học này đã được nhiều đối tượng quan tâm Ngay từ đầu những năm 60 thế kỷ trước, Nhà xuất bản Kim Ðồng cùng với Tiểu ban Văn học thiếu nhi của Hội liên hiệp Văn học nghệ thuật Việt Nam cũng đã cho
in những bài nghiên cứu phê bình văn học thiếu nhi trong và ngoài nước để làm tài liệu tham khảo cho những người sáng tác cho thiếu nhi Những năm 60, 70 cho đến đầu những năm 80 của thế kỷ XX, công việc phê bình, nghiên cứu văn học thiếu nhi
đã rất được chú ý trên các báo Số lượng sách hay viết cho các em đều được giới thiệu và đánh giá kịp thời trên các tờ báo Nhân dân, Văn nghệ, Hà Nội mới, Tạp chí Văn học và tạp chí Tác phẩm mới Tạp chí của Viện Văn học và của Hội nhà văn thỉnh thoảng còn dành cả một số chuyên đề cho văn học thiếu nhi
Các hội thảo về văn học thiếu nhi do Nhà xuất bản Kim Ðồng phối hợp với Viện Văn học, hoặc do Hội đồng văn học thiếu nhi (sau đổi thành Ban Văn học thiếu nhi) với Nhà xuất bản Kim Ðồng, Ủy ban Bảo vệ chăm sóc thiếu nhi tổ chức cùng góp phần thúc đẩy công việc sáng tác cho thiếu nhi Những cuộc hội thảo đã chọn được
nhiều báo cáo hay, có chất lượng để in thành sách Bàn về văn học thiếu nhi (Nxb Kim Ðồng, 1984) gồm hai phần: Thơ viết cho các em và Tác phẩm của Võ Quảng Từ sự
Trang 27phát triển của văn học cho thiếu nhi kể từ sau Cách mạng tháng Tám, đặc biệt là từ sau khi Nhà xuất bản Kim Ðồng ra đời, năm 1957, các ý kiến và bài nghiên cứu, phê bình, lý luận về văn học thiếu nhi đã được tập hợp và chọn in trong hai tập tư liệu
Văn học thiếu nhi Việt Nam, do Nhà xuất bản Kim Ðồng ấn hành năm 2003 Chỉ là
một tuyển chọn nhưng đã có độ dày 2350 trang Vậy thì, công việc lý luận - phê bình văn học thiếu nhi đâu có là ít ỏi và tẻ nhạt Cũng từ phong trào sáng tác cho thiếu nhi hơn nửa thế kỷ qua, Nhà xuất bản Từ điển Bách khoa đã ấn hành vào năm 2006 cuốn
sách mang dáng dấp từ điển Tác giả văn học thiếu nhi, gồm hơn 900 trang, khổ rộng,
kèm chân dung tác giả, giới thiệu 224 gương mặt chuyên viết cho thiếu nhi hoặc có sáng tác cho thiếu nhi Hai bộ sách này đã góp phần minh chứng chúng ta đã có một nền văn học thiếu nhi với những tác giả, tác phẩm tiêu biểu, một nền văn học thiếu nhi đa dạng trên cả ba bình diện: văn xuôi, thơ và cả lý luận phê bình
Cùng với sách nghiên cứu và phê bình, một số luận án tiến sĩ sau khi bảo vệ
xong cũng đã được chỉnh sửa và in thành sách như: Truyện viết cho thiếu nhi dưới
chế độ mới của Vân Thanh, Truyện viết cho thiếu nhi sau năm 1975 của Lã Thị Bắc
Lý; một số trường đại học cũng đã có nhiều luận án về văn học thiếu nhi như luận
án của Lê Thanh Tình, Trường đại học Văn hóa; Chu Thị Hà Thanh, Trường đại
học Sư phạm Vinh với Thi pháp đồng dao và mối quan hệ với thơ thiếu nhi Hai tác giả Châu Mạnh Hùng và Lê Nhật Ký, Trường đại học Quy Nhơn với công trình Hệ
thống thể loại văn học thiếu nhi,
Với lịch sử nghiên cứu văn xuôi về đề tài lịch sử viết cho thiếu nhi từ sau
1945, chúng tôi xin điểm qua nội dung các bài viết theo hai vấn đề:
1.2.1 Những nghiên cứu chung về văn xuôi đề tài lịch sử viết cho thiếu nhi
Nghiên cứu về văn xuôi đề tài lịch sử viết cho thiếu nhi được khá nhiều tác giả quan tâm, nhất là những người chuyên sáng tác về mảng đề tài này cho các em hoặc các nhà phê bình chuyên nghiên cứu về mảng văn học thiếu nhi nói chung
Có thể chia các bài viết về vấn đề này thành ba hướng cơ bản: một là những bài viết trực tiếp bàn về sáng tác lịch sử cho thiếu nhi; hai là các bài viết nhân đọc một hoặc một vài tác phẩm viết về đề tài lịch sử cho thiếu nhi, từ đó đưa ra những suy nghĩ, quan điểm về truyện lịch sử viết cho các em; ba là những nghiên cứu về một giai đoạn phát triển của văn học thiếu nhi có đề cập tới văn xuôi lịch sử cho các em
Trang 281.2.1.1 Những bài viết trực tiếp bàn về sáng tác lịch sử cho thiếu nhi
Ở hướng nghiên cứu này, trước tiên có thể kể đến một số bài viết, bài trao đổi của Hà Ân - nhà văn có nhiều sáng tác tâm huyết về đề tài lịch sử cho thiếu
nhi Trong bài viết trên Tạp chí Văn học (số 2, 3/1968), Hà Ân đã nêu lên “Mấy ý
kiến về truyện lịch sử cho các em” Theo ông, mục đích sáng tác truyện về đề tài lịch sử cho thiếu nhi là “giáo dục về truyền thống dân tộc cho các em, nhưng chính là phải gợi cho các em những suy nghĩ về hiện tại và khơi lên những mơ ước mới về tâm hồn cho các em” [119, tr 81] Với mục đích sáng tác như vậy, tác giả
đã đưa ra các cách lựa chọn nhân vật, lựa chọn đề tài, chủ đề sao cho có “khả năng nâng lòng tự hào dân tộc” Về cách lựa chọn đề tài, theo Hà Ân, “chúng ta
có một địa bàn rộng lớn để thể hiện mọi mặt đấu tranh của cha ông chúng ta, lóng lánh như chính tấm gương phản chiếu mọi mặt đấu tranh của chính bản thân thế hệ chúng ta bây giờ” Vì vậy, đề tài về lịch sử cho thiếu nhi cũng chính là
“phương tiện giúp các em suy nghĩ làm tròn nhiệm vụ trước mắt, chuẩn bị cho các em tiến lên chèo lái lấy con thuyền dân tộc” [119, tr.82] Từ đó, theo Hà Ân, nhân vật chính trong tác phẩm văn học viết về đề tài lịch sử phải là những nhân vật có thật trong lịch sử, ngoài ra vẫn có thể hư cấu thêm các nhân vật thuộc đủ các lứa tuổi, các tầng lớp, các giai cấp khác nhau, nhưng cũng không có nghĩa là
“người viết có quyền bịa bừa bãi” [119, tr.88] Đặc biệt, theo ông đã là sáng tác
về đề tài lịch sử cho thiếu nhi nhất thiết tác phẩm phải có không khí lịch sử Không khí lịch sử được tạo nên không chỉ bằng hệ thống các ngôn ngữ cổ kính (sử dụng nhiều có khi còn gây khó hiểu cho các em), mà có một “phương pháp mạnh mẽ hơn” đó là “dùng một cách nhuần nhuyễn phong tục tập quán” [119, tr.89] Ở một bài viết khác với tiêu đề “Vài ý kiến về sự thực lịch sử và hư cấu
nghệ thuật trong truyện lịch sử phục vụ các em” trên báo Văn nghệ số 3 năm
1979, Hà Ân tập trung bàn luận về một vấn đề quan trọng của truyện về đề tài lịch sử cho thiếu nhi: mối quan hệ giữa sự thực lịch sử với hư cấu nghệ thuật trong sáng tác Trên cơ sở so sánh với cách chép sử của các sử gia phong kiến thường đưa quan điểm cá nhân của mình vào lịch sử, Hà Ân đưa ra yêu cầu
“người sáng tác phải xem xét các nguồn tài liệu và phải có kiến giải riêng” [119, tr.51] Tác giả cũng đưa ra kinh nghiệm sáng tác truyện lịch sử của riêng mình:
Trang 29“đọc biên niên sử, tôi rung động trước một nhân vật lịch sử nào đó”, “qua nghiên cứu và tưởng tượng dần dần tôi đi theo nhân vật lịch sử, vào sâu nhân vật, cảm thông với nhân vật”, “qua nhân vật lịch sử đó, tôi phát giác ra mình cần nói với bạn đọc thiếu nhi một điều mình tâm đắc” [119, tr.52], từ đó hình thành ý đồ sáng tác và bố cục đầy đủ cho tác phẩm Sự thật lịch sử và hư cấu nghệ thuật trong sáng tác lịch sử cho thiếu nhi, cuối cùng theo tác giả vẫn là một điều vô cùng, “thật chẳng biết bao nhiêu cho đủ” Điều đó tùy thuộc vào tài năng, tâm huyết của mỗi người nghệ sĩ, làm sao để cái đích cuối cùng vẫn là tạo nên những tác phẩm hay hơn, tốt hơn nữa để phục vụ nhu cầu đọc của các em Những ý kiến trao đổi, chia
sẻ của tác giả Hà Ân được rút ra từ chính kinh nghiệm sáng tác của nhà văn đã có nhiều thành công trong mảng đề tài lịch sử Đây có thể coi là những gợi ý, định hướng cho các nhà văn khác, cũng có thể coi là những yêu cầu cụ thể cho sáng tác
về đề tài lịch sử viết cho thiếu nhi
Trong rất nhiều bài viết của mình, tác giả Vân Thanh trực tiếp hoặc gián tiếp cũng đưa ra những vấn đề lý luận trong sáng tác truyện lịch sử cho thiếu nhi Với bài viết “Truyện lịch sử cho các em”, sau khi khái quát những thành tựu đạt được từ sau 1945 đến 1982 trên các khía cạnh đề tài, chủ đề, nhân vật và cả những hạn chế, tác giả đưa ra một số yêu cầu cơ bản trong sáng tác truyện lịch sử cho Vân Thanh vẫn yêu cầu chú trọng vấn đề hư cấu nghệ thuật, nhưng bên cạnh đó cũng đặt ra một vấn đề với người sáng tác, đó là “khác với viết cho người lớn, sáng tác về đề tài lịch sử viết cho các em ( ) trước hết cần tôn trọng tuyệt đối các sự kiện lịch sử, các chi tiết về sự việc năm tháng, nếu không sẽ gây cho các em sự nhầm lần giữa hư cấu và sự thật, khiến cho các em nảy ra tâm lý không tin ở tác phẩm lịch sử, hoặc tin ở tác phẩm, mà không tin ở sách giáo khoa nữa” [119, tr.168] Với quan điểm như vậy, trong cách lựa chọn, xây dựng nhân vật, tác giả Vân Thanh cũng yêu cầu “viết cho thiếu nhi, sự sáng tạo cần có giới hạn Cần trước hết đưa lại cho các
em những bức tranh lịch sử về cơ bản đã rõ ràng, những tấm gương nhân vật chính diện Còn những sự kiện, những nhân vật có tính chất phức tạp, đa dạng, cần một sự giải thích nhiều mặt, hoặc còn đang gây tranh cãi thì có lẽ chưa nên vội đưa ra” [119, tr.169]
Trang 301.2.1.2 Những bài viết nhân đọc một hoặc vài tác phẩm viết về đề tài lịch sử viết cho thiếu nhi, từ đó đưa ra những suy nghĩ, quan điểm về truyện lịch sử viết cho thiếu nhi
Hướng nghiên cứu này tập trung sự quan tâm của khá nhiều các nhà nghiên cứu, phê bình với các bài viết tiêu biểu của Bùi Thanh Ninh, Vân Thanh, Nguyễn Chí Bền,
Bùi Thanh Ninh trong bài viết “Đọc một số truyện lịch sử viết cho các em”
qua tìm hiểu về một số tác phẩm như: Nghĩa quân sông Đà, Mưu trí Đề Thám của Mai Hanh; Pháo đài trên đồng nước của Mộng Lực; Sóng gió Bạch Đằng, Bố Cái
Đại Vương, Người lão bộc của vua Quang Trung của An Cương; Lá cờ thêu sáu chữ vàng của Nguyễn Huy Tưởng, đã chỉ ra một số nội dung chính trong các sáng tác về
đề tài lịch sử cho thiếu nhi như: tinh thần yêu nước, yêu chính nghĩa, truyền thống đánh giặc, bộ mặt đầu hàng phản động của bọn phong kiến tay sai Tác giả cũng đưa
ra cả những hạn chế của những sáng tác viết cho thiếu nhi về đề tài lịch sử nói chung,
đó là: nhiều tác phẩm chủ đề chưa được rõ ràng, chưa làm rõ được các cuộc đấu tranh khởi nghĩa của nông dân chống lại các triều đại phong kiến, Trên cơ sở đó, Bùi Thanh Ninh đưa ra một số vấn đề cần trao đổi về truyện lịch sử viết cho các em Thứ nhất là “mối quan hệ giữa việc trung thành với lịch sử và quyền sáng tạo của nhà văn” [119, tr.96] Giống như tác giả Hà Ân, Bùi Thanh Ninh cũng đặt ra yêu cầu
“người viết truyện lịch sử phải đứng trên quan điểm Mác-Lênin để đánh giá và chọn lọc tài liệu” [119, tr.96] Nhưng nếu chỉ có cứ liệu lịch sử mà “thiếu sự sáng tạo, thiếu khả năng hư cấu phong phú của nhà văn thì không thể có được một cuốn truyện lịch sử” [119, tr.96] Đáng chú ý, Bùi Thanh Ninh còn đưa ra một ý kiến cần trao đổi
thêm với nhà văn Hà Ân Tác giả của Bên bờ Thiên Mạc, Trên sông truyền hịch,
Trăng nước Chương Dương cho rằng “đã gọi là truyện lịch sử thì nhất thiết nhân vật
chính phải là nhân vật có thật trong lịch sử” [119, tr.83] Theo Bùi Thanh Ninh, ý kiến đó chỉ đúng một phần, bởi theo tác giả, nhà văn “không những có quyền sáng tạo nhân vật phụ mà ngay cả những nhân vật chính vẫn có thể là những nhân vật chưa
có sử sách nào ghi bao giờ, hoàn toàn do tác giả sáng tạo nên” [119, tr.98] Vấn đề thứ hai tác giả đặt ra là “mối quan hệ giữa yêu cầu về tính chân thực lịch sử và yêu cầu giáo dục trong một cuốn truyện viết cho các em” [119, tr.101] Đây cũng là yêu
Trang 31cầu chung trong hầu hết các sáng tác dành cho thiếu nhi Tác giả còn quan tâm và bàn đến vấn đề “mối quan hệ giữa cá nhân và quần chúng trong lịch sử” Tác giả đồng thời cũng đặt ra vấn đề “một cuốn truyện lịch sử viết cho các em có nhất thiết phải mô tả nhân vật thiếu nhi hay không?” và đưa ra quan điểm của mình “không phải là nên hay không nên, cần hay không cần có nhân vật thiếu nhi trong tác phẩm
mà là nên và cần xây dựng nhân vật thiếu nhi như thế nào cho sinh động” và điều quan trọng là phải “miêu tả cho tự nhiên và đúng vai trò của các em trong đời sống” [119, tr.101] Nhìn chung, các vấn đề mà Bùi Thanh Ninh đưa ra là những ý kiến xác đáng, có tính chất định hướng cho những người sáng tác về lĩnh vực này Tuy nhiên những ý kiến đó vẫn chủ yếu gắn với một số tác phẩm nhất định trong một giai đoạn lịch sử nhất định (giai đoạn chiến đấu chống Pháp và chống Mỹ)
Một bài viết khác cũng đáng chú ý là của nhà nghiên cứu Nguyễn Chí Bền
với tiêu đề “Từ Đuốc lá dừa nghĩ về những yêu cầu với nhà văn viết truyện lịch sử cho thiếu nhi” Trên cơ sở phân tích những thành công của Đuốc lá dừa của nhà văn
Hoài Anh viết về giai đoạn lịch sử từ khi thực dân Pháp xâm lược thành Gia Định đến khi Nguyễn Đình Chiểu qua đời (1859 - 1888), Nguyễn Chí Bền đặt ra vấn đề
về cách xây dựng nhân vật và vấn đề sáng tạo của nhà văn trong truyện lịch sử Tác giả cũng đưa ra cách phân loại truyện lịch sử thành hai loại: “một là những tác phẩm trung thành với sự thật lịch sử, suy ngẫm cặn kẽ lịch sử, hai là tác phẩm ít chất liệu lịch sử” [119, tr.258]
1.2.1.3 Những nghiên cứu về một giai đoạn phát triển của văn học thiếu nhi có đề cập tới văn xuôi lịch sử cho các em
Tiêu biểu cho hướng nghiên cứu này có thể kể đến hàng loạt các bài viết của nhà nghiên cứu Vân Thanh qua từng giai đoạn phát triển của văn học thiếu nhi
Trong bài “Văn học thiếu nhi Việt Nam” in trên tạp chí Văn học (số 6/1962),
Vân Thanh đưa ra một cái nhìn hệ thống về văn học viết cho thiếu nhi từ trước 1945 đến thời điểm tác giả viết bài Giai đoạn trước 1945, văn học thiếu nhi ít được coi trọng Thành tựu viết cho thiếu nhi thật sự thu được nhiều kết quả kể từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 Bên cạnh rất nhiều các mảng đề tài như: đề tài thống nhất Nam - Bắc, đề tài về Bác Hồ, đề tài về tình hữu nghị quốc tế, đề tài sinh hoạt đời thường, đề tài lịch sử cũng chiếm một vị trí quan trọng Sau khi liệt kê ra một
Trang 32vài tác phẩm tiêu biểu viết về đề tài này như: Kể chuyện vua Quang Trung, Lá cờ
thêu sáu chữ vàng (Nguyễn Huy Tưởng), Kể chuyện Lam Sơn (Hoàng Đạo Thúy),
tác giả cho rằng: “Loại sách này không những thiếu nhi mà nhiều bà con ở nông
thôn cũng thích đọc” [127, tr.47]
Tóm lược lại, khi nghiên cứu những thành tựu của “Truyện viết cho thiếu nhi
trong chặng đầu phát triển” (Tạp chí Văn học, 6/1963) khoảng 20 năm (từ 1945 đến
1963), Vân Thanh đã thống kê hệ thống các đề tài viết cho các em: đề tài kháng chiến, đề tài sinh hoạt, đề tài đời sống cá nhân Trong mảng đề tài lịch sử viết cho các
em, Vân Thanh nhắc đến các tác phẩm tiêu biểu: Tướng quân Nguyễn Chích, Bố Cái
Đại Vương, Nghĩa quân sông Đà, Nhụy Kiều tướng quân, Từ việc đánh giá những
thành công và hạn chế của các tác phẩm này, tác giả đưa ra kết luận: “viết về đề tài lịch sử rõ ràng có những khó khăn như phải xây dựng cốt truyện, xây dựng nhân vật thế nào cho phù hợp với quan điểm lịch sử Điều đó đòi hỏi nhà văn phải có một sự
am hiểu lịch sử đúng đắn” và một “óc tưởng tượng phong phú” [119, tr.33]
Trong bài viết “Qua một số sáng tác cho thiếu nhi trong cao trào chống Mĩ” (Tạp chí Văn học, số 8/1967), Vân Thanh cũng không quên nhận xét về đề tài lịch sử
trong giai đoạn này Nhà nghiên cứu nhận thấy “trên mỗi chặng đường lịch sử của dân tộc, bên cạnh những tấm gương chiến đấu dũng cảm của các anh hùng dân tộc, bao giờ cũng có những tấm gương hi sinh cao cả của các em” Nhưng thực tế là đối với các sáng tác cho thiếu nhi trong cao trào chống Mĩ, “gần đây mảng truyện lịch sử hình như lại không được chú ý như trước”, trong khi đó “đâu có phải đề tài lịch sử chúng ta đã khai thác hết, đến không còn gì để nói nữa Mặt khác, ngay trong những
đề tài đã viết Chắc gì đã hết những khía cạnh phong phú mà chúng ta chưa nhìn ra” Trước tình hình ấy, nhà nghiên cứu kêu gọi những người sáng tác “Hãy cho các em đi ngược lại thời gian để biết được những trang lịch sử vẻ vang của cha ông ta, và do đó càng vững lòng tin vào cuộc sống hiện đại” [118, tr.64] Nhìn chung, những nhận xét
về đề tài truyện lịch sử trong giai đoạn này chủ yếu gắn với mục đích xây dựng lòng yêu nước, tự hào dân tộc phục vụ cho cuộc chiến đấu chống Mỹ xâm lược
Sau năm 1975, văn học viết cho thiếu nhi nói chung, truyện viết cho thiếu nhi nói riêng cũng có nhiều đổi mới theo sự thay đổi chung của văn học nước nhà Lã Thị
Bắc Lý với cuốn chuyên khảo Truyện viết cho thiếu nhi sau 1975 xuất bản năm 2000
đã dày công nghiên cứu diện mạo và quá trình phát triển của văn học thiếu nhi trên
Trang 33các khía cạnh nội dung và hình thức nghệ thuật Nhà nghiên cứu chia truyện viết cho thiếu nhi sau 1975 thành hai giai đoạn: giai đoạn thứ nhất 1975 - 1985 là những kiếm tìm và sự chuẩn bị cho đổi mới, giai đoạn thứ hai từ 1986 đến nay là sự mở rộng đề tài, đổi mới cách tiếp cận đời sống và tăng cường khả năng khám phá con người Tác giả đã bỏ ra nhiều công sức và tâm huyết để phân tích các thành tựu văn học viết cho thiếu nhi sau 1975 Bên cạnh sự phát triển cả về bề rộng và chiều sâu của rất nhiều mảng đề tài, “đề tài lịch sử rất phát triển ở giai đoạn trước 1975 thì đến bây giờ dường như chững lại” Trong những thành tựu về đề tài lịch sử giai đoạn này, đáng chú ý chỉ có Tô Hoài đã “mở ra một hướng khai thác mới, hướng khai thác lịch sử gắn với phong tục và văn hóa” Mảng đề tài lịch sử “vẫn có người theo đuổi, có vài truyện ngắn được xuất bản nhưng chưa có tác phẩm hấp dẫn”, “đây là mảng đề tài bế
tắc trong văn học thiếu nhi giai đoạn này” [119, tr.292]
Như vậy có thể thấy hầu hết các bài nghiên cứu, khi bàn đến vấn đề sáng tác truyện lịch sử cho các em đều đặt ra các yêu cầu về cách xây dựng nhân vật, cách lựa chọn đề tài, chủ đề, vấn đề sự thật và hư cấu, và cái đích cuối cùng vẫn là mục đích sáng tác, những bài học giáo dục, nhận thức mang đến cho các em Điều đó cho thấy sáng tác cho thiếu nhi nói chung, sáng tác truyện lịch sử cho thiếu nhi nói riêng là một công việc không hề đơn giản Nó đòi hỏi người viết cần có vốn hiểu biết phong phú về lịch sử, về tâm sinh lý lứa tuổi thiếu nhi
1.2.2 Một số nghiên cứu về các tác giả, tác phẩm tiêu biểu
Như trên đã nói, trong phạm vi đề tài nghiên cứu, chúng tôi tiến hành khảo sát, tìm hiểu chín tác phẩm tiêu biểu của năm tác giả có thể được coi là tiêu biểu nhất trong hệ thống các sáng tác về đề tài lịch sử viết cho thiếu nhi Vì thế, ở phần này, chúng tôi sẽ lần lượt đi vào tìm hiểu lịch sử vấn đề liên quan đến các tác phẩm
cụ thể trong phạm vi nghiên cứu của đề tài
1.2.2.1 Nguyễn Huy Tưởng với “Lá cờ thêu sáu chữ vàng”
Lá cờ thêu sáu chữ vàng là tác phẩm cuối đời của Nguyễn Huy Tưởng, được
ông hoàn thiện ngay khi nằm trên giường bệnh và được bạn đọc thiếu nhi ở mọi thời say mê đón đọc
Những nhận xét, đánh giá về Lá cờ thêu sáu chữ vàng thường được các tác
giả dẫn ra khi tổng kết, nhận định về một giai đoạn văn học hoặc một vấn đề văn học viết cho thiếu nhi
Trang 34“Đọc sách Lá cờ thêu sáu chữ vàng” (Tạp chí Văn học, 1/1961), Thiều
Quang chia sẻ “có cảm khoái say sưa như lâu ngày được hưởng một món ăn lạ miệng” [119, tr.417] Tác giả cho rằng sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Huy Tưởng
thì nhiều, “cái khiếu viết chuyện lịch sử” đã biểu lộ trên nhiều tác phẩm: kịch Vũ
Như Tô, Chuyện An Dương Vương xây thành Ốc, Kể chuyện Quang Trung,
Nhưng đến truyện Lá cờ thêu sáu chữ vàng thì “khả năng viết truyện của anh mới lộ
ra nhiều mặt” [119, tr.421] Với lối văn “lúc nào cũng thanh thoát, bình tĩnh - tưởng chừng như khách quan mà kỳ thực nội dung tư tưởng tràn trề một tình yêu nhân vật
và lịch sử đến cao độ”, “Nguyễn Huy Tưởng có rất nhiều sáng tạo về hình tượng nhân vật, cả về tình cảm, về cá tính cũng như chi tiết hành động mà không vi phạm đến những nét lớn của sử liệu” [119, tr.418] Khi đã đạt đến mức độ nghệ thuật rung
cảm lòng người như vậy, Lá cờ thêu sáu chữ vàng mặc dù phục vụ lứa tuổi thiếu
nhi nhưng “vẫn là một tác phẩm chung cho tất cả các giới và các tầng lớp bạn đọc” [119, tr.421]
Trong bài viết về “Nguyễn Huy Tưởng” trên Tạp chí Văn học số 8/1969, Vân Thanh nhắc đến và khẳng định giá trị của Lá cờ thêu sáu chữ vàng: “Bạn trẻ
nào, ngay cả người lớn chúng ta nữa, nói đến Nguyễn Huy Tưởng, nói đến sáng tác
cho thiếu nhi của Nguyễn Huy Tưởng, mà không nhắc đến Lá cờ thêu sáu chữ
vàng?” [119, tr.462] Ở tác phẩm này “Nguyễn Huy Tưởng đã thành công trong
việc mở mang cốt truyện, phát triển các chi tiết và xây dựng hình ảnh nhân vật”,
“cách sử dụng ngôn ngữ miêu tả linh hoạt” [119, tr.463 - 464]
Vũ Ngọc Bình nhìn lại “Chặng đầu của nền văn học viết cho thiếu nhi” đã điểm lại chặng đường phát triển 15 năm của văn học thiếu nhi và khẳng định có sự phát triển cả về số lượng cũng như chất lượng Trong đó, không thể không kể đến những đóng góp của Nguyễn Huy Tưởng với mảng đề tài truyền thống lịch sử viết
cho các em qua Lá cờ thêu sáu chữ vàng Tác phẩm “có tác dụng dẫn dắt các em đi
vào quá khứ vô cùng oanh liệt của dân tộc để càng thêm tin tưởng vào thế hệ anh hùng ngày nay có lớp lớp “Hoài Văn Hầu” mới đang cùng cha anh đánh giặc Mông, quân hung nô mới của thời đại” [119, tr.73]
Tô Hoài - một trong những bạn văn thân thiết của Nguyễn Huy Tưởng đã viết những lời tâm huyết, thấu hiểu đến tường tận những tác phẩm của bạn mình
Trang 35trong “Lời tựa” in trong tuyển tập Truyện viết cho thiếu nhi của Nguyễn Huy
Tưởng Tô Hoài khẳng định “Trong văn học thiếu nhi của ta, kể chuyện lịch sử và
cổ tích, cho đến bây giờ, chưa ai chuyên và thành công như Nguyễn Huy Tưởng”;
“viết cho các em, anh đã tìm hiểu các em muốn biết gì, các em thích xem gì”; “công phu và kiên nhẫn nghiên cứu và viết, Nguyễn Huy Tưởng đã cống hiến cho lứa tuổi bạn đọc nhỏ tuổi ( ) những chuyện cổ tích và lịch sử thật đặc biệt của anh” Nhà
văn cũng nhận định về Lá cờ thêu sáu chữ vàng “là một trang anh hùng đời đời của
dân tộc ta” [119, tr.443]
Văn Hồng trong “Phác họa một chặng đường văn học thiếu nhi” cũng dẫn ra
Lá cờ thêu sáu chữ vàng và ngợi ca đây là “tác phẩm “nổi nhất”của Nguyễn Huy
Tưởng”, đọc tác phẩm “người đọc thấy rõ độ chín về tư tưởng và nghệ thuật của một tài năng”, tác phẩm có thể “thua nhiều tác phẩm khác của tác giả về số trang
nhưng không hẳn đã thua về giá trị” [119, tr.92] Ngợi ca Lá cờ thêu sáu chữ vàng,
song Văn Hồng cũng bày tỏ một điều đáng tiếc “thế mà trong một công trình nghiên cứu về tác giả dày 242 trang, ở phần sáng tác cho thiếu nhi Lá cờ thêu sáu chữ vàng chỉ được nhắc tới trong một trang cuối sách” [119, tr.92]
Cũng “Phác thảo 50 năm văn học thiếu nhi”, Vân Thanh nhận định: “Đóng góp nổi bật trong văn học thiếu nhi vẫn là những sáng tác về đề tài truyền thống yêu
nước, về chủ nghĩa anh hùng của dân tộc Lá cờ thêu sáu chữ vàng, Trăng nước
Chương Dương, Sát Thát đã dựng lại trước mắt các em cuộc chiến đấu của các
tướng sĩ đời Trần với hình ảnh toàn dân tham gia đánh giặc” [119, tr.221]
Viết về tác phẩm của Nguyễn Huy Tưởng, đến “Cuối thế kỷ nhìn lại -
Nguyễn Huy Tưởng với các tác phẩm viết cho tuổi thơ”, Vân Thanh trên Diễn đàn
Văn nghệ số 6/1999 tổng kết và chia truyện viết cho thiếu nhi của Nguyễn Huy
Tưởng thành ba loại: truyện viết về người thực việc thực, truyện cổ tích “lạ lùng
xanh biếc” và truyện lịch sử đậm màu sắc anh hùng ca Ở mảng truyện lịch sử, tác
giả đã dẫn ra hai tác phẩm Lá cờ thêu sáu chữ vàng, Kể chuyện Quang Trung và
nhận định: “Nguyễn Huy Tưởng đã làm sống lại hình ảnh hai nhân vật rất đẹp và rất đáng tự hào của dân tộc ta, một nhân vật thiếu niên Trần Quốc Toản, một nhân vật chính là hình ảnh nhân dân với vai trò lớn lao của họ trong lịch sử” [119, tr.883]
Trang 36Nhân dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh Nguyễn Huy Tưởng, từ ngày 3 đến ngày 5 tháng 5 năm 2012, Nhà xuất bản Kim Đồng, Hội Nhà văn Hà Nội và Thư
viện Hà Nội đã tổ chức hội thảo Nguyễn Huy Tưởng và lịch sử Hội thảo đã thu hút
sự quan tâm chú ý và tham gia của rất nhiều nhà văn, nhà phê bình lý luận, nhà nghiên cứu văn học Phát biểu tại hội thảo, Phạm Xuân Nguyên khẳng định Nguyễn Huy Tưởng đã dành phần tâm huyết nhất để viết về đề tài lịch sử Vũ Nho cũng
khẳng định cái hay, cái “khác lạ” của Lá cờ thêu sáu chữ vàng và đưa ra gợi ý cho
các nhà làm phim nên có phim về Trần Quốc Toản Nguyễn Thị Huế nhận xét mặc dù truyện lịch sử viết cho thiếu nhi chỉ là một phần trong sáng tác của Nguyễn Huy Tưởng, nhưng chính mảng sáng tạo mang dấu ấn cá nhân và đích thực này đã mãi mãi đem lại cho ông niềm mến yêu vô hạn không chỉ ở những bạn đọc nhỏ tuổi mà cả những người đọc lớn tuổi Ngoài ra, còn có rất nhiều tham luận của các tác giả khác như: Vũ Quần Phương, Hoàng Quốc Hải, Phạm Quang Vinh, Nguyễn Huy Thắng
(con trai Nguyễn Huy Tưởng) Nhìn chung, gần 20 tham luận của các nhà văn, nhà
phê bình lý luận, nhà nghiên cứu văn học trình bày tại hội thảo đã khẳng định thân thế, sự nghiệp và đặc biệt là nhấn mạnh chân dung của một người “viết sử bằng văn chương” - một nhà văn lớn với những sáng tác thấm đẫm tinh thần dân tộc
1.2.2.2 Hà Ân với bộ ba tác phẩm “Bên bờ Thiên Mạc”, “Trên sông truyền hịch”,
“Trăng nước Chương Dương”
Trong sự nghiệp sáng tác của Hà Ân, những tác phẩm thành công nhất chính
là các tác phẩm viết về đề tài lịch sử cho thiếu nhi, trong đó tiêu biểu nhất phải kể
đến bộ ba tác phẩm viết về lịch sử đời Trần: Trăng nước Chương Dương, Bên bờ
Thiên Mạc, Trên sông truyền hịch
Hầu hết các bài nghiên cứu, đánh giá về một giai đoạn phát triển của văn học thiếu nhi hoặc đánh giá về đề tài lịch sử viết cho thiếu nhi như: “Văn học thiếu nhi Việt Nam”; “Truyện viết cho thiếu nhi trong chặng đầu phát triển” của tác giả Vân Thanh; “Phác họa một chặng đường văn học thiếu nhi của Văn Hồng”; “Đọc một số truyện lịch sử viết cho các em của Bùi Thanh Ninh”, đều dẫn ra các tác phẩm của
Hà Ân, đặc biệt là bộ ba tác phẩm viết về lịch sử đời Trần của ông
Đáng chú ý là bài viết về “Truyện lịch sử cho các em” được tuyển chọn và in
trong Văn học thiếu nhi Việt Nam của Vân Thanh Tác giả bài viết đã nhìn lại một
Trang 37chặng đường phát triển về mảng đề tài lịch sử trong văn học thiếu nhi từ Cách mạng tháng Tám 1945 đến 1975 Khi đưa ra minh chứng cho các tác phẩm viết về lịch sử
nhà Trần, Vân Thanh khẳng định: “Đáng chú ý là bộ ba Trăng nước Chương
Dương, Bên bờ Thiên Mạc, Trên sông truyền hịch của Hà Ân”, “người viết không
chỉ miêu tả những cuộc chiến đấu anh dũng mà còn dựng được hình ảnh một số nhân vật vừa đánh giặc giỏi, vừa có tình yêu nước, vừa có đức độ, được quân dân
yêu mến” [119, tr.161] Trăng nước Chương Dương, Bên bờ Thiên Mạc, Trên sông
truyền hịch như một biểu tượng, trở thành một trong những minh chứng xác đáng,
không thể không nói đến khi nhắc đến những thành tựu của mảng văn xuôi viết về
đề tài lịch sử cho các em
Bên cạnh đó, phải nhắc đến bài viết của tác giả Nguyễn Huệ Chi với nhan đề
“Truyện lịch sử của Hà Ân” được viết nhân ngày kỷ niệm lần thứ 699 cuộc khải hoàn của hai vua Trần về Thăng Long Nói đến truyện lịch sử của Hà Ân, Nguyễn
Huệ Chi kể tên một số tác phẩm tiêu biểu như: Ông trạng thả diều, Truyện kể lịch
sử, Lưỡi gươm nhân ái và bộ ba tác phẩm viết về nhà Trần Những cuốn truyện ấy
“đã giúp chúng ta trở về với hình bóng một Trần Quốc Tuấn, một Trần Nhân Tông, một Trần Bình Trọng, một Trần Quang Khải, một Nguyễn Chích, một Trần Lựu, một Quang Trung, ” [119, tr.188] Đó là những nhân vật đã “quá quen thuộc với chúng ta” nhưng “ngòi bút của Hà Ân làm cho họ như bỗng hóa lạ hơn”, “đi vào cái bên trong”, “hé mở những tâm tư thầm kín, từ đấy dựng lên những trang đời của họ” Điều đó khiến cho “tất cả những ai đọc anh, đều phải bước ra ngoài sách sử” Nguyễn Huệ Chi khẳng định: “22 năm cầm bút, Hà Ân đã tạo được con đường riêng cho mình”, “mười cuốn truyện lịch sử viết cho thiếu nhi của anh đã nói rõ con đường ấy của anh: anh đúng là nhà văn của trẻ nhỏ, người kể chuyện hào hứng và
thú vị của tuổi trẻ” [119, tr.189]
Ngoài các bài viết của các nhà phê bình lý luận, các nhà nghiên cứu văn học về truyện lịch sử của Hà Ân nói chung, bộ ba tác phẩm về đời Trần nói riêng, còn có những chia sẻ, tâm sự của chính nhà văn khi viết bộ ba tác phẩm này Tâm niệm của
nhà văn khi sáng tác Trăng nước Chương Dương, Bên bờ Thiên Mạc, Trên sông truyền
hịch là “truyền lại cho các em những huy hoàng của sử xưa, không khí của những đêm
truyền hịch, những lộng lẫy trên đất nước sạch bóng giặc, những đêm trăng sáng trên
Trang 38cửa Hàm Tử hẹn ngày khải hoàn, chính là truyền cho các em cái tinh túy của người Việt, truyền lại cái hào hùng của cha ông đã từng sống” Qua đó “tôi muốn gửi đến bạn đọc thân thương của tôi một điều: Hãy đọc sử Việt Nam” [118, tr.349]
Nhìn chung, các nhận định, đánh giá về sáng tác của Hà Ân hầu hết đều
khẳng định Trăng nước Chương Dương, Bên bờ Thiên Mạc, Trên sông truyền hịch
là bộ ba tác phẩm tiêu biểu viết về lịch sử nhà Trần nói riêng, về đề tài lịch sử cho thiếu nhi nói chung Đây cũng là bộ ba tác phẩm thành công nhất trong sự nghiệp sáng tác của Hà Ân
1.2.2.3 Tô Hoài với bộ ba tiểu thuyết “Đảo hoang”, “Nhà Chử”, “Chuyện nỏ thần”
Cuối thập niên 70, đầu thập niên 80 của thế kỷ trước, Tô Hoài đã mang đến
một hướng khai thác lịch sử mới với bộ ba tiểu thuyết: Đảo hoang; Nhà Chử; Chuyện
nỏ thần Nhiều tác giả, nhà văn, nhà phê bình nghiên cứu đã tìm hiểu, đánh giá về các
tác phẩm này Có những bài viết đánh giá về một tác phẩm, hai tác tác phẩm hoặc cả
bộ ba tác phẩm viết đề tài lịch sử cho các em của Tô Hoài Nhìn chung, các bài viết, nghiên cứu về bộ ba tiểu thuyết này thường đánh giá giá trị tác phẩm trên các khía cạnh nội dung, hình thức nghệ thuật và khẳng định sự sáng tạo của Tô Hoài khi mở ra hướng khai thác lịch sử gắn với truyền thuyết, huyền thoại cho thiếu nhi
Tác giả Phan Cự Đệ khẳng định: “Tô Hoài biết khai thác những đặc điểm của thần thoại, truyền thuyết và cổ tích để thỏa mãn thị hiếu thẩm mĩ riêng biệt của lứa tuổi thiếu niên Thần thoại là một pho lịch sử thiêng liêng, pho kinh nghiệm sản xuất và chiến đấu, là kết tinh trí tuệ của thị tộc, bộ lạc Truyện cổ tích và ngụ ngôn cũng ghi lại những kinh nghiệm sống và vốn kiến thức rất phong phú về thiên nhiên
và xã hội của nhân dân qua các thế kỷ” [64, tr.495] Phan Cự Đệ cho rằng thành công ở mảng truyện lịch sử viết cho thiếu nhi nói chung (trong đó có mảng đề tài lịch sử viết cho thiếu nhi) là Tô Hoài “đã biết khai thác những truyện cổ tích, thần thoại, những câu chuyện thơ mộng trong dân gian đã khơi dậy trí tưởng tượng, lòng khao khát muốn hiểu biết, khám phá đến mênh mông, vô tận của các em”, Tô Hoài
đã “chủ trương viết lại câu chuyện ấy dưới một ánh sáng mới nhằm giáo dục thế hệ trẻ, đồng thời cũng nhằm bồi đắp thêm vào kho truyện huyền ảo, thi vị mà trí tuệ
loài người đã để lại cho con cháu về sau” [64, tr.94] Đỗ Bạch Mai trên Báo Văn
nghệ số ra ngày 19/1/1985 ngợi ca Chuyện nỏ thần của Tô Hoài là “một đề tài lịch
Trang 39sử hấp dẫn, xưa nay đã có nhiều người viết, nhiều thể loại, thơ có, kịch có, truyện cũng có Nhưng kể chuyện nỏ thần thành hình thức tiểu thuyết như nhà văn Tô Hoài làm thì đây là lần đầu” [64, tr.502]
Định Hải khi đánh giá về sáng tạo từ ngữ của nhà văn Tô Hoài trong bài viết
“Nhà văn và những con chữ” trên Báo Văn nghệ số ra ngày 1/6/1985 đã đưa Đảo
hoang, Chuyện nỏ thần, Nhà Chử là những dẫn chứng tiêu biểu Ông nhận xét:
“ngôn ngữ Đảo hoang đưa ngược về thời hoang sơ, con người trần trụi giữa thiên nhiên bí hiểm và hung dữ”; ngôn ngữ Chuyện nỏ thần “mang hơi hướng lịch sử
dựng lại cho con em hôm nay nhìn thấy một khung cảnh hết sức đậm nét về thằng giặc Tàu, về cuộc đấu tranh đầy máu và nước mắt chống ngoại xâm” [119 tr.643]
Văn Hồng, trong bài viết với nhan đề “Chuyện nỏ thần: hiện thực và huyền thoại”
tập trung đánh giá tác phẩm này Theo Văn Hồng, cùng với sự lớn lên về lứa tuổi,
tư duy khoa học của trẻ em phát triển, thế giới huyền thoại của trẻ thu hẹp dần thì
“tái hiện cuộc sống trong hiện thực như nó vốn tồn tại với sự việc, những con người
cụ thể với mối quan hệ thường ngày như thiên tiểu thuyết Chuyện nỏ thần của Tô
Hoài là một hướng đi cần thiết, bổ ích với bạn đọc, nhất là lứa tuổi thiếu niên” [119, tr.634] Tính hiện thực và huyền thoại trong tác phẩm được thể hiện ở sự kết hợp trong cách nhìn, cách cảm của chính tác giả và của nhân vật trong tác phẩm, ở việc xây dựng các tính cách điển hình, ngôn ngữ hình tượng giàu có, tươi mát Văn Hồng đã phân tích khá kỹ một số chi tiết dựng lên được cảnh tượng bi tráng gần với truyền thuyết nhưng vẫn chấp nhận được như một sự thực lịch sử (tiêu biểu như chi tiết cuối khi rùa vàng hiện lên nói “giặc sau lưng nhà vua chứ đâu”) Nhà nghiên cứu đánh giá “cái hư đã hoàn toàn thoát cái thực để trở nên thực hơn - thực với lịch
sử và thực với suy tư của người đọc hôm nay” [119, tr.640]
Vũ Quần Phương trên Tạp chí Văn học số 8 năm 1994 nhận xét chung về
truyện viết cho thiếu nhi của Tô Hoài và đề cập đến bộ ba tiểu thuyết của nhà văn:
“Trong văn xuôi Tô Hoài có lối đi riêng Ông nhảy qua các chuyện thời sự mà quay
về xa xưa Ông viết về An Tiêm, về Loa Thành ( ) Nhiều huyền thoại lịch sử được ông viết lại thành truyện cho nhi đồng Đọc ông, người ta được tắm tâm hồn mình vào không khí Việt Nam truyền thống Ông là người lưu giữ được nhiều nét xưa, nhiều hương vị xưa mà không sa vào hoài cổ” [64, tr.162]
Trang 40Trong “Truyện viết cho thiếu nhi sau 1975: Diện mạo và quá trình phát triển”,
Lã Thị Bắc Lý nêu cảm nhận về bộ ba tiểu thuyết lịch sử: “đọc Đảo hoang, Chuyện
nỏ thần, Nhà Chử, bạn đọc như được trở về cái nôi văn hóa đất Việt thuở khai sơn lập
địa” [119, 292] Bộ ba tiểu thuyết của nhà văn đã “mở ra cho các em một mối quan hệ phong phú và sinh động với thế giới thiên nhiên xung quanh ( ) và cũng từ đó, các
em hiểu được cái ý chí của những người đi trước, vừa gan góc dũng cảm, vừa lạc quan yêu đời và giàu lòng nhân hậu” [119, tr.293] Về nghệ thuật, “Tô Hoài đã khéo léo kết hợp giữa lịch sử với huyền thoại” và đây chính là “đặc sắc của bút pháp hiện thực trong truyện viết về đề tài lịch sử của ông” [119, tr.293]
Trong bộ ba tiểu thuyết lịch sử của Tô Hoài, nhận được các ý kiến đánh giá
nhiều nhất vẫn là Đảo hoang
Tác giả Phan Cự Đệ đánh giá “Tiểu thuyết Đảo hoang của Tô Hoài” trên tất
cả các khía cạnh nội dung, hình thức và chỉ ra cả những hạn chế của tác phẩm Phan
Cự Đệ cho rằng “nội dung của truyện không phải là lời giải thích về sự tích quả dưa hấu, cũng không chỉ là câu chuyện của một con người ( ) mà là hình ảnh của cả đất nước Văn Lang với những phong tục, lễ nghi của người Việt cổ xưa” [119, tr.508]
“Tô Hoài đã có nhiều cố gắng để đưa ra một hình ảnh tương đối chân thật về đất nước Văn Lang trong buổi bình minh của lịch sử” [119, tr.508] Về nghệ thuật, Tô Hoài “đã biết khai thác những đặc điểm của thần thoại, truyền thuyết và cổ tích để thỏa mãn thị hiếu riêng biệt của lứa tuổi thiếu niên” [119, tr.512] Không chỉ khẳng
định những thành công, Phan Cự Đệ còn chỉ ra cả những nhược điểm của Đảo
hoang Theo ông, hạn chế của cuốn tiểu thuyết này đó là được viết theo sử cũ,
nghiên cứu đất nước Văn Lang dưới thời vua Hùng - khi đó xã hội đã có sự phân
biệt tầng lớp lạc dân, lạc hầu, lạc tướng Nhưng trong Đảo hoang, mặc dù Tô Hoài
đã nhắc đến vua Hùng và các quan lạc tướng với một số mâu thuẫn trong những người cầm đầu bộ lạc, nhưng nhìn chung “vẫn chưa chú ý đúng mức đến sự phân chia giai cấp bước đầu của xã hội Văn Lang”, “cho nên đối với nhân vật An Tiêm, anh (Tô Hoài) mới chú ý đến mặt đấu tranh để chinh phục thiên nhiên nhưng chưa quan tâm đúng mức đến mặt đấu tranh xã hội” [119, tr.513] Một hạn chế thứ hai, theo Phan Cự Đệ là “cốt truyện đôi lúc còn bị mờ loãng”, nhiều đoạn “kéo dài bằng một chuỗi sự việc trùng lặp hoặc ly kỳ mà không nâng lên được chiều cao của sự