Tuy nhiên, vào năm 2018 theo Ủy ban Basel về giám sát NH BCBS thì fintech là “các sáng tạo tài chính dựa trên nền tảng công nghệ để tạo ra các mô hình kinh doanh, ứng dụng, quy trình, sả
Trang 1MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 4
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG NGÂN HÀNG VIỆT NAM VÀ CÔNG TY FINTECH 5
1.1 TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG NGÂN HÀNG VIỆT NAM 5
1.2 TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY FINTECH 5
1.3 TÁC ĐỘNG CỦA CÁC CÔNG TY FINTECH ĐẾN NGÂN HÀNG VIỆT NAM 8
CHƯƠNG 2: HỢP TÁC GIỮA CÁC CÔNG TY FINTECH VÀ CÁC NGÂN HÀNG TẠI VIỆT NAM 10
2.1 LỢI THẾ VÀ HẠN CHẾ CỦA CÁC NGÂN HÀNG VIỆT NAM 10
2.2 LỢI THẾ VÀ HẠN CHẾ CỦA CÁC CÔNG TY FINTECH 11
2.3 HỢP TÁC GIỮA CÁC CÔNG TY FINTECH VÀ CÁC NGÂN HÀNG TẠI VIỆT NAM 12
2.4 MỘT SỐ HỢP TÁC GIỮA FINTECH VÀ NGÂN HÀNG ĐIỂN HÌNH TẠI VIỆT NAM 14
CHƯƠNG 3: CÁC VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRƯỚC SỰ PHÁT TRIỂN CỦA FINTECH VÀ SỰ HỢP TÁC GIỮA FINTECH VÀ NGÂN HÀNG TẠI VIỆT NAM 16
3.1 CÁC VẤN ĐỀ ĐẶT RA CHO CÁC NGÂN HÀNG 16
3.2 CÁC VẤN ĐỀ ĐẶT RA CHO CÁC NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC 16
KẾT LUẬN 19
Trang 2DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
NHNN Ngân hàng nhà nước
NHTM Ngân hàng thương mại
TCNH Tài chính ngân hàng
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Cuộc cách mạng công nghệ lần IV đã mở ra xu hướng mới trong việc tự động hóa, là một cuộc cách mạng công nghiệp diễn ra với tốc độ nhanh và có tác động sâu sắc trên toàn thế giới Cuộc cách mạng diễn ra trên 3 lĩnh vực chính: công nghệ sinh học, kĩ thuật
số và vật lí Đặc biệt, là ở lĩnh vực kĩ thuật số với sự phát triển của trí tuệ nhân tạo (AI), vạn vật kết nối (loT) và dữ liệu lớn (Big Data) Cuộc cách mạng đã tạo ra một diện mạo mới cho thế giới và tác động đến toàn cầu đặc biệt đã tác động đến mô hình tổ chức và quản trị ngành TCNH
Trong những năm gần đây thì cụm từ fintech không còn xa lạ gì đối với người dân trên toàn thế giới Đặc biệt, tại Việt Nam fintech đã và đang phát triển một cách mạnh
mẽ Việc áp dụng công nghệ vào lĩnh vực TCNH đã không còn là một việc xa lạ với các NHTM Khi cơ sở hạ tầng và các phát triển về điện tử viễn thông đang ngày càng tiến bộ vượt bậc thì việc tiếp cận là vô cùng dễ dàng với KH Các NHTM đang nghiên cứu triển khai để ứng dụng vào thực tế và việc các NHTM bắt tay với các công ty fintech thời gian gần đây đang dần tăng lên Vậy câu hỏi đặt ra fintech là gì? Fintech ảnh hưởng như thế nào đối với ngành TCNH? Cũng như các vấn đề đặt ra cho NHTM và NHNN trong thời
kì hội nhập và phát triển fintech
Trang 4CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG NGÂN HÀNG VIỆT NAM VÀ CÔNG TY FINTECH
1.1 Tổng quan về hệ thống ngân hàng Việt Nam
Tính đến cuối 2010, hệ thống NHTM gồm có 5 NHTM Nhà nước, 37 NHTM cổ phần, 50 chi nhánh NHTM nước ngoài, 5 NHTM liên doanh, 5 NH 100% vốn nước ngoài
Từ năm 2010, do ảnh hưởng của thị trường thế giới cũng như hệ quả của quá trình
mở rộng quá nhanh trước đây, hệ thống ngân hàng đã bộc lộ một số vấn đề bất cập như chất lượng tín dụng sụt giảm, thanh khoản của hệ thống bất ổn, nguy cơ gây ra đổ vỡ hệ thống Vì vậy, đầu năm 2012, hệ thống NHTM bắt đầu quá trình tái cơ cấu theo Đề án
cơ cấu lại hệ thống tổ chức tín dụng (TCTD) giai đoạn 2011-2015 (Đề án 254)
Từ năm 2012, hệ thống đã giảm đi 5 NHTM cổ phần thông qua hoạt động sáp nhập, hợp nhất (Đệ Nhất, Tín Nghĩa, Nhà Hà Nội, Phương Tây, Đại Á) và NHNN đã mua lại 3 NHTM cổ phần (VNCB, OceanBank và GPBank) Đến nay, hệ thống có 7 NHTM Nhà nước (gồm 3 NHTM được Nhà nước mua lại với giá 0 đồng, Agribank và 4 NHTM cổ phần Nhà nước), 28 ngân hàng TMCP, 5 NH 100% vốn nước ngoài, 5 NH liên doanh Tuy nhiên, hệ thống vẫn tiềm ẩn những vấn đề đáng lo ngại về sở hữu chéo, nợ xấu ở mức cao cũng như năng lực tài chính của các NHTM vẫn ở mức kém
1.2 Tổng quan về công ty Fintech
Fintech là viết tắt của từ Financial Technology - công nghệ tài chính, hiện nay vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất nào về fintech Tuy nhiên, vào năm 2018 theo Ủy ban Basel về giám sát NH (BCBS) thì fintech là “các sáng tạo tài chính dựa trên nền tảng công nghệ để tạo ra các mô hình kinh doanh, ứng dụng, quy trình, sản phẩm mới có tác động cụ thể đến các thị trường và định chế tài chính, cũng như trong việc cung cấp các dịch vụ tài chính”
Hiện nay, trên toàn thế giới đã có nhiều nghiên cứu liên quan đến fintech, hầu hết tất
cả các nghiên cứu về fintech đều nhận định rằng fintech đã có tác động mạnh mẽ đến các
Trang 5hoạt động TCNH Trên toàn thế giới đã có rất nhiều đầu tư vào fintech, tại Việt Nam tuy chỉ mới xuất hiện những năm gần đây nhưng tính đến hết năm 2017 thì thị trường fintech của Việt Nam đã đạt được 4,4 tỉ USD và hiện có 67 công ty hoạt động trong các lĩnh vực khác nhau nhưng phần lớn tập trung vào mảng thanh toán Theo ông Nghiêm Thanh Sơn – Phó Trưởng ban chỉ đạo fintech NHNN cho biết: "phần lớn các công ty fintech của Việt Nam hoạt động trong lĩnh vực thanh toán, và đã có 26 doanh nghiệp được Ngân hàng nhà nước cấp phép cung cấp dịch vụ trung gian thanh toán Hiện đã có 78 ngân hàng triển khai dịch vụ thanh toán qua Internet và 41 ngân hàng triển khai dịch vụ thanh toán qua điện thoại di động"
Công ty Fintech hoạt động tại Việt Nam
Theo Brian Boldt (2017) thì “Các công ty fintech là các doanh nghiệp sử dụng công nghệ mới để tạo ra các dịch vụ tài chính mới và tốt hơn cho cả người tiêu dùng và doanh nghiệp Nó bao gồm những công ty thuộc các loại hình có thể hoạt động trong quản lý tài chính, bảo hiểm, thanh toán, quản lý tài sản ”
Các công ty fintech được chia thành 2 nhóm:
Trang 6- Nhóm thứ nhất là các công ty cung cấp các sản phẩm tài chính mới cho người dùng, bao gồm tất cả các các sản phẩm fintech tương ứng với các mảng hoạt động hiện tại của ngành tài chính truyền thống gồm thanh toán; huy động vốn; cho vay; đầu tư và quản lý tài sản; bảo hiểm được gọi là nhóm kinh doanh
Trong thanh toán, fintech cung cấp các phương thức thanh toán hiện đại, giúp cho việc thanh toán trở nên tiện lợi, nhanh chóng và dễ dàng ở mọi nơi có Internet trên các thiết bị được kết nối với internet bằng phần mềm chuyên dụng, như thanh toán di động,
ví điện tử, chuyển tiền
Trong huy động vốn, fintech tạo ra sản phẩm gọi vốn trực tuyến từ cộng đồng cho phép người có dự án hay ý tưởng sản phẩm nhưng lại không có vốn để thực hiện, có thể huy động vốn từ xã hội Hiện nay trên thị trường có các hình thức gọi vốn như: Gọi vốn theo hình thức ủng hộ, theo hình thức có đãi ngộ, theo hình thức góp vốn, theo hình thức cho vay, theo hình thức phát hành tiền ảo
Trong cho vay, fintech cung cấp sản phẩm cho vay ngang hàng (peer-to-peer lending) dựa nền tảng trực tuyến để kết nối người đi vay và người cho vay, nhằm giảm chi phí nhiều nhất cho người đi vay và tăng lợi cho người cho vay do giảm bớt khâu trung gian Trong bảo hiểm, fintech cung cấp mô hình người môi giới và mô hình công ty bảo hiểm giúp thúc đẩy khả năng tìm kiếm các loại hình bảo hiểm phù hợp và mang lại những giải pháp tốt hơn cho KH thông qua việc sử dụng công nghệ
Trong đầu tư và quản lý tài sản, fintech cung cấp các giải pháp tư vấn, lựa chọn hình thức và quản lý các khoản đầu tư dựa trên công nghệ thông qua mạng giao dịch xã hội và
tư vấn tự động
- Nhóm thứ hai là nhóm cung cấp các giải pháp công nghệ và các công cụ hỗ trợ mới, còn gọi là nhóm hỗ trợ như: các công cụ bảo mật, nhận diện KH, quản lý và phân tích dữ liệu, quản lý rủi ro, quản lý quan hệ KH, các phần mềm quản lý tài chính cá nhân
và doanh nghiệp
Trang 7Trên nền tảng internet và kỹ thuật số, nhiều ứng dụng sản phẩm hay mô hình kinh doanh trong lĩnh vực TCNH đã được các doanh nghiệp fintech phát triển Đặc biệt, với
sự phát triển mạnh mẽ của các công nghệ mới như dữ liệu lớn (Big Data), trí tuệ nhân tạo (AI), blockchain, điện thoại thông minh…, fintech đang phát triển mạnh mẽ ở nhiều nước trên thế giới Những dịch vụ tài chính dựa trên nền tảng công nghệ mang lại nhiều tiện ích, mở ra thời đại mới trong hoạt động tài chính trên toàn thế giới: thời đại kỹ thuật số
Sử dụng phương pháp nghiên cứu tại bàn (Desk Research), nhóm đã thấy được rằng khái niệm trên đã gây ra một làn sóng tranh luận giữa các nhà nghiên cứu với nhau về việc các NHTM có nên hay không nên hợp tác với các công ty fintech
1.3 Tác động của các công ty Fintech đến ngân hàng Việt Nam
Trong cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 như hiện nay thì việc áp dụng kĩ thuật công nghệ đang là vấn đề được rất nhiều sự quan tâm của tất cả các nhà đầu tư trong tất cả các lĩnh vực khoa học kĩ thuật, giáo dục, y tế và đặc biệt là về lĩnh vực TCNH Theo Ủy ban
về ổn định tài chính (2017), sự phát triển mạnh mẽ của lĩnh vực fintech trong thời gian qua có thể mang lại những lợi ích và rủi ro, thách thức đối với hệ thống NH Fintech hiện đang có ảnh hưởng tới phần lớn các dịch vụ truyền thống mang tính cốt lõi của NH (như huy động vốn, cho vay và thanh toán) với hàng loạt công nghệ mang tính đột phá, hiện đại
Cùng với sự phát triển của ngành điện tử viễn thông mà cụ thể hơn đó chính là sự phát triển của những chiếc điện thoại thông minh (smartphone), thiết bị di động cùng với mạng điện thoại thì hiện nay việc tiếp cận với các sản phẩm dịch vụ NH ngày càng dễ dàng hơn Nó cũng góp phần thay đổi thói quen của KH trong việc sử dụng các sản phẩm dịch vụ NH
Chính vì thế việc hòa nhập với xu hướng phát triển fintech trên toàn cầu là tất yếu Việc thay đổi này không chỉ để thích ứng mà còn là một bước để phát triển trong thời kì
Trang 8đổi mới công nghệ 4.0 Nhiều NH trên thế giới đã giảm bớt số lượng các chi nhánh, phòng giao dịch, dần chuyển sang mô hình NH số Tuy nhiên, hiện nay nếu các NHTM tại Việt Nam đầu tư để phát triển NH số sẽ mất rất nhiều thời gian, nếu không mau chóng hòa nhập thì sẽ trở thành lực cản vô hình cho ngành TCNH tại Việt Nam Vì thế thay vì chờ đầu tư xong để đi vào hoạt động thì các NH có thể hợp tác cùng các công ty fintech
để phát triển, ứng dụng các công nghệ hiện đại, không cần bỏ ra quá nhiều chi phí cho cơ
sở hạ tầng công nghệ ban đầu và có thể đáp ứng được yêu cầu của các KH
Trang 9CHƯƠNG 2: HỢP TÁC GIỮA CÁC CÔNG TY FINTECH VÀ CÁC NGÂN HÀNG TẠI VIỆT NAM
2.1 Lợi thế và hạn chế của các ngân hàng Việt Nam
Hệ thống NH với bề dày lịch sử hình thành và phát triển lớn mạnh, góp phần rất lớn vào sự phát triển của thị trường tài chính, với lợi thế có sẵn của mình như:
- Về uy tín thì NH có sự bảo đảm về tiềm lực tài chính, với lịch sử hình thành và phát triển lâu đời và tiềm lực về tài chính lớn, tính ổn định rất cao, do đó các nhà đầu tư rất an toan khi chọn NH là một kênh đầu tư Việc kinh doanh tiền tệ của hê thống ngân hàng phần lớn là hiệu quả, đảm bảo sự tin tưởng các nhà đầu tư
- Về tổ chức mạng lưới được tổ chức đều khắp nơi, nắm giữ một số lượng rất lớn KH; hệ thống được giám sát chặt chẽ, đảm bảo cho hệ thống được vận hành ổn định, có khả năng kiểm soát rủi ro và đảm bảo an toàn cho các giao dịch của KH
- Về vốn thì NH có nguồn vốn lớn, có thể đầu tư mạnh vào hệ thống công nghệ phục vụ cho các dự án mới, sản phẩm dịch vụ mới
- Về kinh nghiệm có thể nói NH là một chuyên gia về tài chính và quản lý tài chính, luôn có một đội ngũ cán bộ nhân viên chuyên nghiệp và có hiểu biết chuyên sâu trong lĩnh vực TCNH và có sẵn mạng lưới KH và cơ sở dữ liệu KH lớn
Tuy nhiên, dù lịch sử hình thành và phát triển lâu đời có tiềm lực lớn nhưng hệ thống ngân hàng và các sản phẩm của ngân hàng vẫn chưa đáp ứng nhu cầu phát triển của thời đại công nghệ, như:
- Thủ tục phức tạp (hồ sơ giấy), qua nhiều bước, nhiều cấp để kiểm tra, xác minh,
do đó dẫn đến mất rất nhiều thời gian của khách hàng, thời gian để hoàn thành giao dịch
có thể là nhiều tuần và tốn kém chi phí
- Sản phẩm của ngân hàng chưa đáp ứng được nhiều đối tượng; hệ thống chưa thật
sự gần gũi với nhiều loại đối tượng khách hàng, tạo sự e ngại của khách hàng khi thực hiện giao dịch
Trang 102.2 Lợi thế và hạn chế của các công ty Fintech
Dù là sinh sau hệ thống NH nhưng do ứng dụng công nghệ vào quản lý tài chính, nên bước đầu tạo ra hiệu quả tốt trong ngành tài chính, đáp ứng với nhu cầu phát triển của thời đại, như:
Các công ty Fintech đã phát triển phương thức thanh toán mới, đó là ví điện tử -cho phép người sử dụng có thể lưu trữ thông tin tài chính của họ trên máy điện thoại thay thế cho các phương tiện thanh toán như thẻ và tiền mặt
- Ứng dụng công nghệ nên tạo nhiều sản phẩm tài chính mang tính đột phá hơn so với sản phẩm của hệ thống ngân hàng truyền thống như thanh toán ngang hàng (peer to peer payment); trí tuệ nhân tạo (Artificial Intelligence – AI); công nghệ Mobile Tech with a Twist - (một phiên bản mới của Mobile technology, cho phép người sử dụng có thể quản lý tốt hơn dòng tiền của mình tiền); tư vấn tự động – Robot Advisory Sự xuất hiện của các sản phẩm mới này mang đến cho khách hàng những trải nghiệm thú vị, tiện ích
- Giảm bớt khâu trung gian nên tiết kiệm được chi phí Khách hàng không cần đến phòng giao dịch của ngân hàng nhưng vẫn thực hiện vay, cho vay, thanh toán,… chỉ cần vài thao tác trên thiết bị thông minh, kết quả thực hiện trong khoản 10 giây mà không tốn nhiều chi phí
- Mở rộng cơ hội tiếp cận dịch vụ tài chính, ngân hàng đối với các đối tượng chưa từng là khách hàng của ngân hàng hoặc nhóm khách hàng dưới chuẩn của ngân hàng nhờ khẩu vị rủi ro ở mức độ cao hơn của các công ty Fintech
Do đó, với những lợi thế nêu trên thì Fintech là xu hướng tất yếu của tương lai ngành TCNH Tuy fintech đạt được nhiều ưu thế vượt trội so với hệ thống NH truyền thống nhờ ứng dụng công nghệ nhưng vẫn còn những thách thức, như:
- Sự xuất hiện và phát triển với tốc độ nhanh của Fintech - một lĩnh vực hoàn toàn mới đã khiến hệ thống tài chính của các quốc gia đối mặt với nhiều thách thức, khó khăn như nguy cơ rửa tiền và tài trợ khủng bố, rủi ro liên quan tới an ninh, an toàn, bảo mật
Trang 11thông tin Cũng như các nước trên thế giới, Việt Nam đang gặp một số thách thức mới trong quản lý nhà nước với sự xuất hiện của các công ty Fintech hoạt động trong các lĩnh vực như cho vay ngang hàng, các mô hình thanh toán mới, chuyển tiền xuyên biên giới, tiền ảo/tài sản ảo, phát hành tiền ảo lần đầu ra công chúng (ICOs), kinh doanh đa cấp lợi dụng danh nghĩa tiền ảo/tài sản ảo
- Do khuôn khổ pháp lý cho các công ty Fintech không thể theo kịp sự biến đổi nhanh chóng của công nghệ, một số mô hình công ty Fintech có thể gây ra tổn thất cho khách hàng và ở quy mô lớn có thể dẫn tới đổ vỡ hàng loạt của các công ty Fintech Sự thất bại và đổ vỡ hàng loạt của các công ty P2P tại Trung Quốc là một minh chứng khá
rõ nét cho việc bùng nổ phát triển Fintech thiếu sự kiểm soát, quản lý từ cơ quan quản lý nhà nước
- Thói quen chi tiêu, sử dụng tiền mặt hoặc giao dịch tại các phòng giao dịch của người dân vẫn cao Trừ khoảng 33% dân số sống tại thành thị, phần lớn người dân sống ở nông thôn, vùng sâu vùng xa còn chưa quen với các khái niệm công nghệ như Ví điện tử, tiền điện tử hay thậm chí thẻ ngân hàng
2.3 Hợp tác giữa các công ty Fintech và các ngân hàng tại Việt Nam
Chính vì những lợi thế - hạn chế của NH và fintech do đó để phát triển ngành TCNH phù hợp với xu hướng của thời đại thì NH và các công ty fintech hợp tác với nhau để cùng nhau phát triển
Chính vì những lợi ích thiết yếu và ưu điểm lớn là có sẵn công nghệ và chi phí sử dụng thấp, ngoài ra còn tiết kiệm được thời gian hơn so với việc giao dịch thanh toán tại các chi nhánh, phòng giao dịch nếu ứng dụng fintech, nên fintech đã và đang tiếp cận nhanh đến các KH Các NH cũng đã và đang tận dụng lợi thế có sẵn của mình như: ngân hàng có uy tín, với tiềm lực lớn về tài chính, mạng lưới và hệ thống, có khả năng kiểm soát rủi ro và đảm bảo an toàn cho các giao dịch của khách hàng, ngân hàng có nguồn vốn lớn nên có thể đầu tư mạnh vào hệ thống công nghệ phục vụ cho các dự án mới, sản phẩm dịch vụ mới và bề dày kinh nghiệm trong lĩnh vực tài chính và quản lý tài chính,