Bên cạnh đó, xu thế hội nhập cũng là một yếu tố góp phần thúc đẩy sự phát triển của hệ thống tài chính Việt Nam trong đó có sựphát triển mạnh mẽ của các trung gian tài chính.. Sự phát tr
Trang 1MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1 Tổng quan nghiên cứu, cơ sở lý thuyết và phương pháp
nghiên cứu 8
1.1 Tổng quan nghiên cứu trong và ngoài nước 8
1.1.1 Nghiên cứu nước ngoài 8
1.1.2 Nghiên cứu trong nước 10
1.2 Cơ sở lý thuyết 16
1.3 Phương pháp nghiên cứu 19
CHƯƠNG 2 Kết quả nghiên cứu 21
2.1 Tình hình các trung gia tài chính ở Việt Nam hiện nay 21
2.1.1 Ngân hàng thương mại 21
2.1.2 Công ty bảo hiểm 24
2.1.3 Các công ty tài chính 24
2.1.4 Ngân hàng đầu tư 26
2.1.5 Công ty chứng khoán 27
2.1.6 Quỹ đầu tư 29
2.2 Tác động của cuộc CMCN 4.0 đến các trung gian tài chính ở Việt Nam 30 2.2.1 Ngân hàng thương mại 30
2.2.2 Công ty bảo hiểm 35
2.2.3 Công ty chứng khoán 39
CHƯƠNG 3 Kết luận kèm theo gợi ý chính sách và kiếm nghị giải pháp 42
3.1 Kết luận 42
3.2 Gợi ý chính sách và kiến nghị giải pháp 43
Trang 23.2.1 Về phía nhà nước và các cơ quan quản lí 43 3.2.2 Về phía các thành viên thị trường 45
DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU1) Lí do chọn đề tài
Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 với những ứng dụng công nghệ mới, hiện đại vàthông minh đang và sẽ được dự báo tạo ra hàng loạt thay đổi mang tính bước ngoặtlịch sử Cùng với 3 cuộc cách mạng công nghiệp trước đó, cách mạng 4.0 sẽ gâyảnh hưởng sâu rộng đến nền kinh tế và xã hội ở tất cả các quốc gia, trong đó có lĩnhvực tài chính Việt Nam , một quốc gia đang phát triển cũng đầy hứa hẹn với những
cơ hội cũng như thách thức mà nền công nghiệp này tác động
Trong sự tác động đó, không thể không kể đến lĩnh vực tài chính ngân hàng với củacác kênh lưu chuyển tiền tệ trong nền kinh tế Các kênh tài chính này đóng vai trò
to lớn trong việc phân phối hiệu quả các nguồn lực của nền kinh tế, từ đó thúc đẩynền kinh tế phát triển Đến lượt nó, sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế cũngkéo theo sự phát triển của cả hệ thống tài chính nói chung và của thị trường tàichính, trung gian tài chính nói riêng Bên cạnh đó, xu thế hội nhập cũng là một yếu
tố góp phần thúc đẩy sự phát triển của hệ thống tài chính Việt Nam trong đó có sựphát triển mạnh mẽ của các trung gian tài chính
Các trung gian tài chính với những ưu thế về quy mô hoạt động, tính chuyên nghiệp
và các dịch vụ tài chính đặc thù ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc lưuchuyển vốn trong nền kinh tế Sự phát triển của kênh dẫn vốn gián tiếp này đượcbiểu hiện qua một thực tế rằng ngày càng nhiều các loại hình trung gian tài chính rađời và hoạt động tại Việt Nam như các tổ chức nhận tiền gửi, các tổ chức tiết kiệmtheo hợp đồng , các trung gian đầu tư , biểu hiện là các ngân hàng thương mại, quỹtín dụng, các công ty bảo hiểm, các công ty chứng khoán Vấn đề đặt ra là với hệthống trung gian tài chính ngày càng phát triển thì dưới tác động của cách mạng4.0 ,khi mà công nghệ số, điện toán dữ liệu lớn thì những trung gian này có khókhăn và thuận lợi gì để phát triển ?
Xuất phát từ việc làm rõ những trung gian tài chính của Việt Nam cũng như nhữngtác động 4.0 đến nó, nhóm chúng tôi chọn vấn đề “Hệ thống các trung gian tài chínhViệt Nam trong bối cảnh CMCN 4.0 ” làm đề tài tiểu luận
Trang 42) Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng phát triển của các trung gian tài chính tại ViệtNam trong thời gian qua, cũng như ảnh hưởng của CMCN 4.0 tiểu luận đưa rađánh giá phân tích và dự đoán về sự phát triển của các trung gian Tài chính trongthời gian; từ đó đưa ra những phương hướng, giải pháp nhằm phát triển nó thíchứng với nền công nghiệp hiện đại
- Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, tiểu luận có các nhiệm vụ sau đây:
• Làm rõ khái niệm, vị trí, vai trò của các trung gian Tài chính Việt Nam hiệnnay
• Nghiên cứu một số trung gian tài chính điển hình từ đó phác hoạ một bứctranh toàn cảnh về thực trạng phát triển của các trung gian Tài chính tại Việt Nam
• Dựa trên xu hướng phát triển của CMCN 4.0 , tiểu luận đưa ra dự báo vềnhững khó khăn cũng như thách thức của các trung gian Tài chính trong tương lai
• Từ những mặt hạn chế đã rút ra trong phần nghiên cứu thực trạng, tiểu luậnđưa ra phương hướng và giải pháp thúc đẩy sự phát triển của các trung gian Tàichính trong thời gian tới
3) Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
- Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là một số trung gian tài chính tại Việt Nam , đi sâuvào nghiên cứu hoạt động của ngân hàng thương mại, công ty bảo hiểm , các công
ty chứng khoán
- Phạm vi nghiên cứu
Khi nghiên cứu về các trung gian tài chính, tiểu luận chỉ bao gồm việc phân tích cáckhía cạnh sau: làm rõ từng loại hình trung gian, sự phát triển của nó và những cơhội thách thức cần thay đổi trong CMCN4.0
Phạm vi thời gian nghiên cứu trong khoảng 6 năm trở lại đây (2013 – 2019)
Trang 5PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1 Tổng quan nghiên cứu, cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
1.1 Tổng quan nghiên cứu trong và ngoài nước
1.1.1 Nghiên cứu nước ngoài
Nghiên cứu về hệ thống trung gian tài chính đã có khá nhiều công trình trongnước và ngoài nước Trong đó có rất nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng CMCN 4.0 đã
có những tác động đến hệ thống trung gian tài chính như thế nào Theo MarkoJaksic và Matej Marinc (4/9/2015), The Future of Banking: The Role ofInformation Technology, công nghệ thông tin (CNTT) đang biến đổi các ngân hàng
cá nhân và toàn bộ ngành ngân hàng Mặc dù nền kinh tế cơ bản của ngân hàngkhông thay đổi, sự phát triển CNTT có thể thu hút các ngân hàng vào giao dịchngân hàng (do hiệu quả chi phí do CNTT điều khiển) Tuy nhiên, các ngân hàngkhông nên từ bỏ mối quan hệ ngân hàng Thay vào đó, các ngân hàng cần điềuchỉnh bản thân với người tiêu dùng, ưu tiên mới cho các sản phẩm định hướngCNTT và sử dụng các phát triển CNTT để cấu hình lại hoặc thậm chí tái tạo lạingân hàng quan hệ Những thay đổi mạnh mẽ cũng sắp xảy ra trong ngân hàng do
sự gia nhập của các công ty khởi nghiệp FinTech và các công ty CNTT trong cácdoanh nghiệp ngân hàng truyền thống Sự can thiệp và điều tiết của chính phủ giúpngân hàng có thêm thời gian để điều chỉnh
Theo Christian Haddad và Lars Hornuf, The Emergence of the Global FintechMarket: Economic and Technological Determinants, Cesifo Working Paper No
6131, nghiên cứu trước đây về Fintech chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực Fintech
cụ thể Trong lĩnh vực đám đông, các học giả đã phân tích địa lý của hành vi nhàđầu tư (Lin và Viswanathan, 2015), khả năng vỡ nợ cho vay (Serrano-Cinca et al.,2015; Iyer et al., 2016), và sở thích riêng tư của nhà đầu tư khi đưa ra quyết địnhđầu tư (Burtch et al., 2015) Trong gây quỹ cộng đồng và gây quỹ cộng đồng dựatrên phần thưởng, các nhà nghiên cứu đã điều tra tính năng động của thành công vàthất bại giữa các dự án gây quỹ cộng đồng (Mollick, 2014), các yếu tố quyết địnhthành công tài trợ (Ahlers et al., 2015; Vulkan et al., 2016), và quy định về gây quỹcộng đồng (Hornuf và Schwienbacher, 2016) Tổng quát hơn, Bernstein và cộng sự
Trang 6(2016) điều tra các yếu tố quyết định đầu tư giai đoạn đầu trên AngelList Họ thấyrằng các nhà đầu tư trung bình phản ứng với thông tin về đội ngũ sáng lập, nhưngkhông phải là lực kéo khởi nghiệp hoặc các nhà đầu tư dẫn đầu hiện có.
Theo Dong He và cộng sự của mình ( 6/2017), Fintech and Financial service :Initial Considerations, International Monetary Fund, các công ty Fintech đã thu hútđầu tư đáng kể trong những năm gần đây, trong khi lợi ích công cộng tăng lên đáng
kể Hầu hết các công ty vẫn duy trì một số doanh nghiệp nhỏ phản hồi mô hình kinhdoanh dựa trên kiến thức của họ, nhưng đầu tư vào chúng đã tăng lên Tổng vốn đầu
tư toàn cầu vào các công ty Fintech được báo cáo đã tăng từ 9 tỷ đô la Mỹ năm
2010 lên hơn 25 tỷ đô la Mỹ năm 2016 Đầu tư vốn mạo hiểm cũng tăng đều đặn, từ0,8 tỷ đô la Mỹ năm 2010 lên 13,6 tỷ đô la Mỹ trong năm 2016 Định giá thị trườngcủa cacs công ty Fintech công cộng đã tăng gấp bốn lần kể từ cuộc khủng hoảng tàichính toàn cầu, vượt trội so với các lĩnh vực khác Trong khi đó , lợi ích công cộngtrong lĩnh vực này dường như đã tăng lên
Biểu đồ 1: Giá tài sản trong dịch vụ tài
Khi ngành công nghệ phát triển nó cũng kèm theo nhiều kỹ thuật phần cứng
và phần mềm khác nhau, trong đó phải kể đến công nghệ Blockchain 4.0- mộtcuốn sổ cái cho tất cả các giao dịch vẫn luôn song hành cùng cuộc sống của mỗichúng ta Qua việc sử dụng mạng lưới ngang hàng và một hệ thống dữ liệu phâncấp, Bitcoin blockchain được quản lí tự động Việc phát minh ra Blockchain choBitcoin đã làm cho nó trở thành loại tiền tệ kỹ thuật số đầu tiên giải quyết đượcvấn đề double spending ( chi tiêu gian lận khi được dùng 2 lần ) Công nghệ nàycủa Bitcoin đã trở thành nguồn cảm hứng cho một loạt ứng dụng khác Theo
Trang 7Michael Mainelli và Alistair Milne (9/5/2016), The impact and potencial ofblockchain on the securities transaction lifecycle, nghiên cứu cho thấy rằng mặc
dù việc sử dụng blockchain để xác thực dữ liệu vận hành trong các sổ cái phân tánlẫn nhau có thể giúp giảm đáng kể cả về chi phí và rủi ro, nhưng khái niệm chia
sẻ dữ liệu lại không còn mới Mối quan tâm hiện tại đối với các sổ cái phân tánlẫn nhau đã tạo ra động lực đáng kể, nhưng có nguy cơ xây dựng những kỳ vọngkhông thực tế về mức độ mà công nghệ sẽ tự giải quyết nhu cầu cơ bản để phốihợp các quy trình kinh doanh cả trong và giữa các công ty Để đạt được tất cả cáclợi ích tiềm năng từ các sổ cái phân tán lẫn nhau sẽ đòi hỏi phải mua cấp độ hộiđồng để cam kết đáng kể về thời gian và nguồn lực, và hỗ trợ pháp lý tích cực chocải cách quy trình, với mức chi trả tương đối ngắn Theo như nghiên cứu đã chobiết, các công ty tham gia vào thị trường tài chính ngày nay dành một lượng lớntài nguyên để lấy dữ liệu, kiểm tra hồ sơ dữ liệu và đối chiếu dữ liệu đó cả trongnội bộ và chống lại hồ sơ của các công ty khác
Broadridge, sử dụng dữ liệu từ Oliver Wyman và Morgan Stanley, báo cáorằng chỉ riêng chi phí xử lý giao dịch bưu chính toàn cầu nằm trong khoảng từ 17 tỷđến 24 tỷ đô la mỗi năm.4 Đây chỉ là một phần của tổng chi phí tại văn phòng hỗtrợ và trung gian Một khoản chi tiêu trung bình và hỗ trợ chính khác cho các công
ty thị trường vốn là tuân thủ hiểu biết về khách hàng (KYC) và chống rửa tiền(AML) lên tới 12 tỷ đô la mỗi năm cho những người tham gia thị trường vốn lớn.5Theo Oliver Wyman tổng doanh thu của các công ty phục vụ các hoạt động cụ thể
có thể trực tiếp sử dụng sổ cái phân phối lẫn nhau - thanh toán bù trừ, thanh toánchứng khoán, quản lý tài sản thế chấp và dịch vụ giám sát - cùng nhau lên tớikhoảng 40 tỷ đến 45 tỷ đô la quản lý rủi ro, đánh dấu để báo cáo thị trường và chứcnăng điều tiết có thể hỗ trợ các ước tính của tổng thị trường vốn và chi phí vănphòng trung gian của 100 tỷ đô la mỗi năm trở lên
1.1.2 Nghiên cứu trong nước
Các nghiên cứu trong nước cùng với những mô hình nghiên cứu , cơ sở lýthuyết khác nhau cũng đưa ra những quan điểm khác nhau về tác động của nềnCMCN 4.0 đến hệ thống trung gian tài chính Theo nghiên cứu của Phùng Thị Lan
Trang 8Hương, đăng trên tạp chí Kinh tế đối ngoại về vấn đề phân tích tài chính với việcnâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại Việt Nam.Nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng nhằm đưa ra các số liệu thống kê sựthay đổi về mức độ tăng trưởng, tỷ lệ cho vay, tỷ lệ nợ xấu, lợi nhuận, của cácNHTM Việt Nam qua từng năm Theo nghiên cứu , quy mô vốn chủ sở hữu( VCSH) các NHTM Việt Nam giai đoạn 2009-2013 tăng qua các năm với tỷ lệtrung bình đạt mức cao 23,92%, trong đó Vietinbank có mức tăng trưởng bình quâncao nhất là 42,43% và ACB có mức tăng trưởng thấp nhất là 5.5%
Biểu đồ 3: Quy mô vốn chủ sở hữu của các NHTM Việt Nam
Nguồn Báo cáo tài chính các NHTM Việt Nam
Có thể nhận thấy rằng, VCSH của các ngân hàng có xu hướng tăng theo từngnăm Tuy nhiên, việc đảm bảo tính an toàn và phát triển vốn là nguyên tắc cơ bảntrong hoạt động kinh doanh của các NHTM Chính vì thế , nhằm đảm bảo tính antoàn , ngân hàng cần duy trì mức vốn tự có cần thiết được đo bằng tỷ lệ vốn an toàntối thiểu Theo quy định của hiệp ước BASEL và theo quy định tại thông tư13/2010/TT-NHNN, hệ số an toàn vốn (viết tắt là CAR: Capital Adequacy Ratio)của các NHTM Việt Nam tối thiểu là 8% Đến cuối năm 2013, các NHTM ViệtNam thuộc nhóm nghiên cứu có hệ số CAR đều trên 9%
Trang 9Thông qua việc phân tích tài chính của các ngân hàng thương mại, cho thấytrong thời kì 2009-2013, các NHTM Việt Nam đã đạt được một số thành tựu cụ thểnhư:
(1)Vốn tự có của các NHTM tăng mạnh, hệ số an toàn vốn CAR đạt chuẩntrên 8% (2) Khả năng thanh khoản của NHTM Việt Nam được cải thiện đáng kểvới tỷ lệ cho vay/huy động luôn nhỏ hơn 100%, tỷ trọng đi vay trong tổng tài sảngiảm dần Công tác quản lý thanh khoản của NHTM Việt Nam đang được chútrọng, đặc trưng là việc thiết lập cơ chế kiểm soát và theo dõi hợp lý tình trạngthanh khoản hàng ngày và dài hạn Trong những năm qua NHTM Việt Nam đã tuânthủ đúng quy định của NHNN về dự trữ bắt buộc, tỷ lệ khả năng chi trả, quản lý tốtdòng tiền vào-ra theo kì hạn để chủ động xử lý nguồn vốn thanh khoản khi thiếu hụthoặc thặng dư (3) Chất lượng tài sản của NHTM Việt Nam được nâng cao thể hiệnqua cơ cấu tài sản ngày càng chuyển biến hợp lý và hiệu quả hơn: Tài sản có tínhthanh khoản cao tăng nhẹ do yêu cầu tăng dự trữ bắt buộc theo quy định mới củaNHNN; Cơ cấu khách hàng cũng được chuyển dịch phù hợp với xu hướng pháttriển hiện nay, đó là ưu tiên phát triển tín dụng cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ,các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, tăng tỷ trọng cho vay ngắn hạn và giảm tỷtrọng cho vay trung dài hạn
Theo số liệu của bộ phận Phân tích khối khách hàng cá nhân của CTCP Chứngkhoán SSI (HoSE: SSI) về hoạt động của ngành ngân hàng cho thấy tốc độ tăngtrưởng của ngành ở quý 3 giảm hẳn xuống chỉ còn +16.6% YoY trong khi quý 1 vàquý 2 đều trên 50% Tăng trưởng lợi nhuận của hầu hết các ngân hàng đều chậm lại,thậm chí giảm âm trong quý 3 như VPB (-26%), STB (-29%), HDB (-20%) và SHB(-34%) Như chúng tôi đã đề cập trong phân tích KQKD quý 2, tốc độ tăng chi phíthấp là một nguyên nhân giúp lợi nhuận ngân hàng tăng cao trong nửa đầu năm vàđiều này sẽ khó lặp lại Thực tế trong quý 3 chi phí hoạt động đã tăng nhanh hơn rõrệt, +20.6% trong khi nửa đầu năm tăng +14.8% VPB là 1 ví dụ về gia tăng chi phí.Nửa đầu năm chi phí hoạt động của VPB là 4.68 nghìn tỷ (trung bình 2.3 nghìntỷ/quý), tăng +17.6% YoY Sang quý 3, chi phí hoạt động của VPB là 3.1 nghìn tỷ,tăng +34% QoQ và +36% YoY
Trang 10Theo nghiên cứu của Trần Thị Tuấn Anh (2018), Tạp chí sự tồn tại của hìnhmẫu khuyết trên cả 6 thị trường chứng khoán Xác suất xuất hiện của các hình mẫuhoán vị khác nhau cũng khác nhau Đây là những dấu hiệu cho thấy tính không hiệuquả của thông tin trên thị trường Kết quả tính toán Entropy hoán vị chuẩn hóa trênchuỗi chỉ số chứng khoán cũng cho thấy sự không hiệu quả của thị trường khi giá trịnày không đạt được giá trị cực đại Bài viết cũng cho thấy rằng việc sử dụng chuỗichỉ số chứng khoán sẽ giúp tìm ra bằng chứng của thị trường không hiệu quả là rõrệt hơn rất nhiều so với khi sử dụng chuỗi tỷ suất sinh lợi thị trường.
Biểu đồ 4: Tăng trưởng các cấu thành lợi
nhuận chính Biểu đồ 5: Tăng trưởng tín dụng và NIMTB các ngân hàng
Nguồn: Fiinpro, SSI tính toán
Theo Fiinpro (27/12/2018), tại thời điểm này của năm ngoái tuy còn chưa kếtthúc năm tài chính 2018, nhưng đã có rất nhiều ngân hàng hoàn tất chỉ tiêu lợinhuận đạt ra cho cả năm Thậm chí một số tên tuổi công bố lợi nhuận đột biến nhưVIB, Eximbank, OCB, TPBank, Nam A Bank Bài báo cho hay, lãnh đạoVietcombank trong một sự kiện gần đây cho biết, lợi nhuận Ngân hàng năm 2018 sẽvượt chỉ tiêu 13.000 tỷ đồng được thông qua hồi đầu năm, thậm chí có thể vượt15.000 tỷ đồng, tức tăng trưởng trên 15%, qua đó giữ vững vị trí số 1 trong Top 5ngân hàng có lợi nhuận cao nhất Kết thúc 9 tháng đầu năm 2018, Vietcombank dẫnđầu hệ thống ngân hàng về lợi nhuận trước thuế với hơn 11.600 tỷ đồng, bỏ xa ngânhàng đứng sau là Techcombank đạt 7.774 tỷ đồng
Trang 11Có thể thấy, quý cuối năm thường là thời điểm bứt phá mạnh nhất do nhu cầuvốn tăng mạnh, cho nên các ngân hàng đã đạt kết quả tích cực sau 3 quý đầu nămnhiều khả năng sẽ đạt, thậm chí vượt kế hoạch lợi nhuận cả năm.
Báo cáo mới công bố của Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia (NFSC) chobiết, tổng tài sản hệ thống tổ chức tín dụng năm 2018 tăng khoảng 11,5% so vớicuối năm 2017 Trong đó, tổng tín dụng của các ngân hàng ước tăng trưởng 14-15%(năm 2017 tăng 17,6%); lợi nhuận ước tăng trưởng 40% Nhiều chỉ tiêu sinh lời tiếptục được cải thiện, với ROA ước đạt 0,9% và ROE ước đạt 13,6% (năm 2017 là11,22%)
Về xử lý nợ xấu, NFSC cho biết, giá trị xử lý nợ xấu năm 2018 tăng khoảng30% so với năm 2017 (không bao gồm nợ bán cho Công ty Quản lý tài sản của các
tổ chức tín dụng - VAMC) Trong đó, sử dụng dự phòng rủi ro tín dụng chiếm59,8%; thu nợ từ khách hàng chiếm 33,2%; bán phát mại tài sản chiếm 3%, còn lại
là các hình thức khác
Cũng theo báo cáo của NFSC, tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu (CAR) bình quân của
hệ thống tổ chức tín dụng đã được cải thiện, đạt 11,1%, nhờ vốn tự có tăng 12,2%,trong khi tổng tài sản có rủi ro tăng thấp hơn (khoảng 10,8%) Tỷ lệ vốn cấp I/tổngtài sản có hệ số rủi ro là 8,8% (năm 2017 là 7,8%)
Theo nghiên cứu của Trần Thị Tuấn Anh (2018), Tạp chí nghiên cứu Kinh tế
và Kinh doanh Châu Á, đã cho thấy sự tồn tại của hình mẫu khuyết trên cả 6 thịtrường chứng khoán Xác suất xuất hiện của các hình mẫu hoán vị khác nhau cũngkhác nhau Đây là những dấu hiệu cho thấy tính không hiệu quả của thông tin trênthị trường Kết quả tính toán Entropy hoán vị chuẩn hóa trên chuỗi chỉ số chứngkhoán cũng cho thấy sự không hiệu quả của thị trường khi giá trị này không đạtđược giá trị cực đại Bài viết cũng cho thấy rằng việc sử dụng chuỗi chỉ số chứngkhoán sẽ giúp tìm ra bằng chứng của thị trường không hiệu quả là rõ rệt hơn rấtnhiều so với khi sử dụng chuỗi tỷ suất sinh lợi thị trường
Bên cạnh đó, quỹ đầu tư cũng là một trong những trung gian tài chính quantrọng trên thị trường tài chính Nghiên cứu dưới góc độ kinh tế học, Nguyễn ThuThủy (2011) cho biết quỹ đầu tư ngoài nêu lên các đặc điểm của một quỹ đầu tư nói
Trang 12chung còn đưa ra ba đặc điểm đặc thù riêng của QĐTCK là: (i) QĐTCK được thiếtlập chủ yếu trên cơ sở huy động vốn của các NĐT cá nhân dưới dạng vốn chủ sởhữu, phần lớn số tiền này được sử dụng để đầu tư vào danh mục chứng khoán nhằmsinh lời; (ii) Hoạt đồng đầu tư của quỹ do CTQLQ thực hiện được giám sát bởi một
tổ chức, đó là các ngân hàng giám sát; (iii) Tỷ trọng vốn đầu tư quỹ sử dụng để đầu
tư vào các công cụ của TTCK như cổ phiếu, trái phiếu chiếm tỷ trọng lớn trong tổnglượng vốn hoạt động của quỹ
Có thể thấy rằng cách mạng 4.0 đã và đang diễn ra mạnh mẽ tạo ra nhữngchuyển biến trên nhiều lĩnh vực xã hội Đối với lĩnh vực tài chính, Cách mạng côngnghiệp 4.0 tác động rõ rệt, thể hiện ở sự xuất hiện của Fintech- Công nghệ tài chính.FinTech đã và đang làm thay đổi cách thức , địa điểm và thời gian người tiêu dùngthực hiện thanh toán, cũng như tạo thuận lợi để người tiêu dùng có thể tiếp cận vớinhiều loại dịch vụ tài chính, góp phần thu hẹp khoảng cách giữa cách tầng lớptrong xã hội Tuy nhiên , một đặc điểm của FinTech , đó là nơi còn thiếu sự hỗ trợcủa tài chính ngân hàng, những nơi người tiêu dùng vẫn còn gặp khó khăn trong vấn
đề tiếp cận các dịch vụ tài chính, lại chính là “ mảnh đất màu mỡ “ để FinTech cónhiều cơ hội phát triển hơn Tại Việt Nam, FinTech là một lĩnh vực tương đối mớithu hút sự chú ý của Chính phủ cũng như cộng đồng doanh nghiệp nhờ những tácđộng tích cực của FinTech đối với đời sống Nhân dân, cũng như tiềm năng pháttriển của FinTech trong tương lai Theo Trung tâm Thông tin và thống kê khoa học
và công nghệ, nhiều nghiên cứu cho thấy những đổi mới trong lĩnh vực kinh doanh
sẽ giúp kích thích phát triển nền kinh tế ở cả cấp độ vi mô và vĩ mô.ứng dụng côngnghệ thông tin vào ngành tài chính là một lĩnh vực có tiềm năng tạo ra nhiều đổimới, vì thế cả doanh nghiệp và các nhà đầu tư đều rất quan tâm Bên cạnh đó một sốnghiên cứu cũng chỉ ra rằng cạnh tranh giữa FinTech và các dịch vụ ngân hàngtruyền thống sẽ ngày càng gay gắt hơn do sự phát triển không ngừng nghỉ của côngnghệ thông tin Đồng thời, FinTech cũng khiến cho các tổ chức tài chính tiến bộquan tâm hơn tới các dịch vụ tài chính hiện tại, nhằm duy trì và tăng trưởng vai tròđầu tàu và cung cấp các dịch vụ hiện tại với chất lượng cao theo hình thức thuậntiện và hiệu quả tới các khách hàng của họ mọi lúc, mọi nơi và các công ty FinTechđang phát triển mạnh khi cả hai bên đều nhận thấy tiềm năng mạnh mẽ của nhau
Trang 131.2 Cơ sở lý thuyết
Trung gian tài chính là những tổ chức hoạt động chuyên kinh doanh trong lĩnhvực tài chính- tiền tệ Hoạt động chủ yếu và thường xuyên của các tổ chức này làcung cấp các dịch vụ tài chính- tiền tệ nhằm thu hút , tập hợp các khoản vốn nhànrỗi trong nền kinh tế để cung ứng cho những nơi thiếu vốn
Với chức năng hoạt động như vậy , các trung gian tài chính đóng vai trò là mộttrung gian , cầu nối giữa những người có vốn với những người cần vốn , giúp choviệc luân chuyển vốn được thuận lợi hơn Hoạt động huy động và cho vay của cáctrung gian tài chính có thể diễn ra trực tiếp với các chủ thể kinh tế hoặc thông quathị trường tài chính Lợi nhuận của các trung gian tài chính dưới dạng chênh lệchgiữa lãi suất cho vay và lãi suất huy động và các khoản thu phí từ cung cấp các dịch
vụ tài chính tiền tệ
Trung gian tài chính được nhìn nhận theo hai cách:
Thứ nhất , với tư cách một doanh nghiệp, mục tiêu lớn nhất của doanh nghiệp
đó là tối đa hóa lợi nhuận, tăng giá trị doanh nghiệp Tuy nhiên , cũng có sự khácnhau giữa các TGTC với một doanh nghiệp thông thường Ví dụ khi mua một sảnphẩm, với trung gian tài chính là sản phẩm chính thì sẽ phải đánh giá phân tíchnhững sự kiện có thể xảy ra trong tương lai Trong khi đó một doanh nghiệp thôngthường không cần thiết phải như vậy khi mua một hàng hóa tiêu dùng hàng ngày.Ngoài ra trong trung gian tài chính cũng có sự khác biệt nhau về sản phẩm Ví dụnhu ngân hàng thương mại có thể nhận tiền gửi từ các tài khoản tiền nhàn rỗi trong
xã hội, và khoản tiền đó có thể rút ra bất cứ lúc nào nhưng với loại hình bảo hiểm,quỹ hưu trí , khoản tiền đóng góp để mua bảo hiểm không được phép rút ra màđược chi trả theo những khoản hợp đồng
Thứ hai, với tư cách là một tổ chức huy động và cung ứng nguồn vốn trongkinh tế, có thể hiểu như trung gian tài chính là một cầu nối giữa hai chủ thể, giữanhững người có vốn nhàn rỗi với những người dư thừa về vốn Tuy nhiên nhiệm vụquan trọng của TGTC không chỉ dừng lại ở đó mà còn đóng vai trò trung gian trongnhiều hoạt động khác nhau như là phương tiện để nhà nước điều hành chính sáchtiền tệ khi cần thiết
Trang 14Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0) đang và sẽ có những tácđộng sâu rộng đến sự phát triển của nhiều ngành, nghề, lĩnh vực khác nhau NgànhTài chính, một trong những ngành luôn đứng đầu về việc ứng dụng và phát triển hệthống công nghệ thông tin (CNTT) hiện đại cũng không nằm ngoài vòng xoáyđó.Cuốn theo cùng với dòng xoáy đó, các trung gian tài chính cũng có những biếnđổi nhất định cùng với những sự xuất hiện mới mẻ khác trong lĩnh vực này Nói vềnhững thay đổi và sự phát triển của hệ thống TGTC , phải kể đến sự góp phầnkhông nhỏ của nên Công nghiệp 4.0.
Theo Tạp chí Chứng khoán 12/2017, khi được hỏi rằng cuộc CMCN 4.0 sẽ tạo
ra những cơ hội gì và đặt ra thách thức như thế nào đối với các công ty thuộc lĩnhvực tài chính, ngân hàng và chứng khoán?, ông ông Vũ Đức Tiến, Tổng Giám đốcCông ty Cổ phần Chứng khoán Sài Gòn - Hà Nội (SHS) đã có trả lời: “Thứ nhất,cuộc CMCN 4.0 sẽ làm thay đổi cấu trúc hệ thống, phương thức lưu thông tiền tệ vàthanh toán trong nền kinh tế theo hướng đa dạng và linh hoạt hơn Tại Việt Nam, tỷtrọng thanh toán tiền mặt vẫn còn khá lớn, do vậy cuộc CMCN 4.0 sẽ làm thay đổicăn bản hệ thống thanh toán tiền tệ trong nền kinh tế theo hướng thu hẹp các thanhtoán sử dụng tiền mặt và thay vào đó là các giao dịch thanh toán tiền điện tử
Thứ hai, cuộc CMCN 4.0 sẽ làm thay đổi phương thức hoạt động và cung cấpdịch vụ theo hướng hình thành các kênh phân phối sản phẩm tài chính trực tuyếnhiện đại để nhìn nhận và đáp ứng nhu cầu riêng của từng khách hàng Tính đến thờiđiểm hiện tại, ở Việt Nam chưa có đơn vị nào được coi là ngân hàng số, song đã có
sự chuyển biến nhất định trước sự tác động của xu hướng này
Thứ ba, mô hình tổ chức và quản trị của các tổ chức tài chính sẽ trở nên thânthiện và hiện đại hơn Trong tương lai, cuộc CMCN 4.0 sẽ làm cho mỗi tổ chức tàichính trở thành tổ chức tài chính trực tuyến và các chi nhánh sẽ thay đổi theo hướng
từ vai trò là “trung tâm giao dịch” sang mô hình “ki-ốt thông minh, gọn nhẹ” Haynhư việc chăm sóc khách hàng sẽ được thay đổi theo mô hình chăm sóc khách hàngtrực tuyến dựa trên nền tảng phát triển ứng dụng của trí tuệ thông minh (AI), vạnvật kết nối (IoT) và dữ liệu lớn (Bigdata) Đồng thời, các phương thức giao dịchtrên thị trường tài chính sẽ thay đổi theo hướng gia tăng sự kết nối toàn cầu và hoạtđộng liên tục
Trang 15Thứ tư, công tác quản lý nhà nước về tài chính sẽ được cải tiến cả về phươngthức và công cụ quản lý theo hướng phát triển các ứng dụng AI, công nghệ thôngminh trong các nghiệp vụ như quản lý, kiểm tra, giám sát và tư vấn hỗ trợ trựctuyến Điều này sẽ dẫn đến những thay đổi về cơ cấu thu chi ngân sách nhà nước.Cuộc CMCN 4.0 sẽ góp phần giảm tỷ trọng chi NSNN như chi lương, phụ cấp…’’Như vậy , chúng ta có thể thấy được rằng CMCN 4.0 đã có những tác độngđáng kể và tạo ra nhiều cơ hội mới cho lĩnh vực tài chính, ngân hàng , chứngkhoán,
Tuy nhiên nó cũng sẽ có những tác động tiêu cực và tạo ra những thách thứcđối với tổng thể nền kinh tế CMCN 4.0 hướng tới một nền kinh tế không tiền mặt,kèm theo đó là việc sử dụng đồng tiền ảo, như Bitcoin Đồng tiền ảo Bitcoin cũnggiống như các đồng tiền điện tử khác không phải do ngân hàng trung ương pháthành, do đó các NHTW sẽ phải thay đổi cách thức điều hành chính sách tiền tệ đểthích ứng Ngoài ra, NHTW cũng phải đối mặt với rủi ro là rơi vào tình trạng giốngnhư “đô la hóa” vì Bitcoin có thể làm cho việc giao dịch ngoại hối trở nên dễ dàng.Đồng thời, sự phát triển của đồng tiền ảo sẽ tác động tới hệ số tạo tiền đẩy nhanhtốc độ lưu thông tiền mặt trong nền kinh tế nếu được sử dụng rộng rãi;
CMCN 4.0 sẽ thu hẹp thị trường lao động trong lĩnh vực ngân hàng, tài chính,chứng khoán Theo đó, những vị trí việc làm như giao dịch viên của ngân hàng, củađại lý bảo hiểm hay môi giới chứng khoán, tư vấn tài chính… sẽ dần bị thay thế bởicác sản phẩm của AI cùng với sự phát triển của IoT và công nghệ Big data Hiệnnay, nhiều nước trên thế giới sử dụng rô bốt để tự động trao đổi, trả lời yêu cầu củakhách hàng;
Gia tăng thách thức đối với việc bảo mật thông tin, đảm bảo an ninh mạng.Tài chính, ngân hàng, chứng khoán là lĩnh vực dễ bị tổn thương bởi sự tấn công củatin tặc bởi vì các lĩnh vực này được coi là mảnh đất màu mỡ để tin tặc có thể đánhcắp dữ liệu và trục lợi
CMCN 4.0 có thể làm thay đổi hoàn toàn kênh phân phối và nâng cao các sảnphẩm dịch vụ của các trung gian tài chính, trải nghiệm khách hàng Với việc ứngdụng nhiều hơn CNTT, chuyển đổi kỹ thuật số, các sản phẩm của các trung gian tài
Trang 16chính có thể tích hợp được với nhiều sản phẩm, dịch vụ phụ trợ để làm hài lòngkhách hàng;
CMCN 4.0 sẽ tạo ra sự cạnh tranh lớn trong lĩnh vực dịch vụ tài chính, dịch vụthanh toán… trong bối cảnh doanh nghiệp công nghệ tài chính đang ngày càng mởrộng và phát triển Theo đó, miếng bánh thị phần của các nhà cung cấp dịch vụ tàichính trên thị trường sẽ dần bị co hẹp lại, cạnh tranh khốc liệt để chiếm lĩnh kháchhàng giữa các nhà cung cấp dịch vụ tài chính và công ty công nghệ là xu thế tất yếu
Để phân tích về hệ thống TGTC của Việt Nam trong bối cảnh CMCN 4.0,nhóm đã thự hiện nghiên cứu với các mục tiêu:
Khái quát quy mô và cơ cấu của hệ thống TGTC của Việt Nam trong nênCông nghiệp 4.0
Đánh giá về tình hình các trung gian tài chính ở Việt Nam hiện nay
Chỉ ra tính mới của nền hệ thống trung gian tài chính ở Việt Nam
Đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao
1.3 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thu thập dữ liệu:
Số liệu liên quan đến các trung gian tài chính , tác giả chủ yếu sử dụng các sốliệu từ Quỹ tiền tệ quốc tế, Báo cáo tài chính các NHTM Việt Nam, cơ sở dữliệu của Ngân hàng thế giới và tạp chí kinh tế- tài chính như : Tạp chí nghiêncứu Kinh tế và Kinh doanh Châu Á, Tạp chí Kinh tế đối ngoại,
Các số liệu khác, tác giả tổng hợp từ : Niên giám thống kê hàng năm, Tổng cụcthống kê, báo cáo của Ngân hàng nhà nước, The World Bank Data,
Phương pháp phân tích đánh giá số liệu:
Đối với mục tiêu: Sử dụng phương pháp thống kê mô tả để đánh giá một cáchtổng quát thực trạng triển biến của các hệ thống trung gian tài chính trong giaiđoạn 2015-2019
Trên cơ sở phân tích và đánh giá kết quả, nhóm tác giả đã đề xuất một số giảipháp nhằm nâng cao hiệu quả của hệ thống trung gian tài chính Việt Namtrong thời kì CMCN 4.0
Trang 17CHƯƠNG 2 Kết quả nghiên cứu
2.1 Tình hình các trung gia tài chính ở Việt Nam hiện nay
2.1.1 Ngân hàng thương mại
Trang 18Theo báo cáo “Điểm lại tình hình phát triển kinh tế Việt Nam” của WB tạiViệt Nam ngày 11/12/2018, tổng tín dụng khu vực ngân hàng ước tính tăng 3,6%(so với đầu năm) tính đến hết quý I/2018 - tương đương 14 % so với cùng kỳ vàthấp hơn ước tính mức tăng 18,2% cả năm 2017 Tuy nhiên, hàm lượng tíndụng/GDP vẫn tương đối cao - bằng khoảng 130 % GDP vào cuối 2017, còn tốc độtăng trưởng tín dụng bằng 1,4 lần so với tốc độ tăng GDP theo giá hiện hành Hàmlượng tín dụng cao so với GDP ở Việt Nam cho thấy khu vực tài chính vẫn chủ yếudựa vào ngân hàng khi thị trường vốn còn tương đối kém phát triển Tốc độ tăngtrưởng tín dụng cao có thể gây rủi ro về ổn định khu vực ngân hàng, nhất là vớinhững yếu kém còn tồn tại trên bảng cân đối và hệ số vốn còn mỏng ở một số ngânhàng (Trang 21 – Báo cáo điểm lại tình hình phát triển kinh tế Việt Nam -documents.worldbank.org)
Khả năng tiếp cận dịch vụ ngân hàng: Khả năng tiếp cận dịch vụ tài chính làmột trong những yếu tố được dùng làm thước đo đánh giá mức độ phát triển dịch vụtín dụng ở một quốc gia Các chỉ tiêu phổ biến như số lượng chi nhánh NHTM, sốlượng máy ATM tính trên 100.000 người dân hay chỉ số chiều sâu thông tin tíndụng cũng được dùng để đánh giá khả năng tiếp cận dịch vụ tài chính ngân hàngmột quốc gia
Theo số liệu được công bố bởi WB (2017) số lượng chi nhánh NHTM và sốlượng máy ATM tính bình quân trên 100.000 người tại các quốc gia trong CPTPPđược thể hiện trong Bảng 1 và Bảng 2 như sau:
Trang 19Bảng 1: Số lượng chi nhánh NHTM bình quân được tính trên 100.000 người dân
Nguồn ngân hàng thế giới, chỉ số indicator 2017
Bảng 2: Số lượng máy ATM bình quân được tính trên 100.000 người dân
Nguồn ngân hàng thế giới, chỉ số indicator 2017
Thống kê tại 2 bảng trên cho thấy số lượng chi nhánh NHTM và số lượngphân bổ ATM bình quân trên 100.000 người ở Việt Nam mặc dù có tăng qua cácnăm nhưng vẫn chiếm tỷ lệ thấp nhất so với các nước khác trong CPTPP Điều nàycho thấy khả năng tiếp cận dịch vụ ngân hàng của Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế
so với các nước thành viên khác Ngoài ra, theo một số số liệu khác của Tổng cụcThống kê, mật độ chi nhánh NHTM và số lượng máy ATM phân bổ không đồngđều giữa các vùng miền, chủ yếu tập trung ở các thành phố lớn Đây cũng là mộthạn chế làm giảm khả năng tiếp cận đối với các dịch vụ của hệ thống NHTM ViệtNam
Trang 20Hiệu quả hoạt động tài chính của một số NHTM Việt Nam thông qua chỉ tiêu ROA, ROE
Biểu đồ 6: ROE & ROA bình quân của các NHTM VN từ 2011-2017
Nguồn SSI
- Lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA)
Chỉ số ROA của các NHTM Việt Nam bình quân cao nhất ở mức 0,97% vào năm
2011 và thấp nhất ở mức 0,45% năm 2015 Từ mức cao 0,97% năm 2011, chỉ sốROA giảm mạnh vào năm 2012 xuống 0,88%, chỉ số ROA biến động giảm liên tục
từ 0,61% năm 2013 xuống 0,45% năm 2015 và tăng nhẹ trở lại từ năm 2016 Nhìntổng thể, xu hướng chung của chỉ số ROA của các NHTM Việt Nam là giảm quacác năm từ 2011-2015 và có xu hướng tăng nhẹ từ năm 2016-2017
- Lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE)
ROE bình quân cao nhất ở mức 9,15% vào năm 2017 và thấp nhất ở mức 5,72%năm 2015 Từ mức cao 8,76% năm 2011, ROE giảm mạnh vào năm 2012 xuống8,02%, ROE biến động giảm liên tục từ 6,17% năm 2013 xuống 5,72% năm 2015
và sau đó tăng mạnh trong 2 năm 2016 và 2017 tương ứng ở mức 6,83% và 9,15%.Nhìn tổng thể, xu hướng chung của ROE của các NHTM Việt Nam là giảm qua cácnăm từ 2011-2015 Giai đoạn 2016 – 2017, ROE của các NHTM tăng mạnh trở lại
2.1.2 Công ty bảo hiểm
Năm 2017, thị trường bảo hiểm Việt Nam tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởngvững chắc, tổng doanh thu ngành tăng mạnh, ước đạt 105.611 tỷ đồng, tăng 21,2%;
Trang 21trong đó, lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ được đánh giá tăng trưởng cao với tổng doanhthu ước đạt 65.050 tỷ đồng, tăng 28,9% và lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ tăngtrưởng khả quan với tổng doanh thu ước đạt 40.561 tỷ đồng Theo kết quả khảo sátdoanh nghiệp của Vietnam Report tháng 05/2018, tổng doanh thu và doanh thu phíbảo hiểm của Quý 1 năm 2018 của 100% doanh nghiệp phản hồi đều tăng so vớicùng kì năm trước Các doanh nghiệp trong khối nhân thọ đánh giá doanh thu từ phíbảo hiểm Quý 1 năm nay của doanh nghiệp tăng trung bình 159% và của khối phinhân thọ tăng trung bình khoảng 24% Nhân tố đóng góp cho sự tăng trưởng ngànhbảo hiểm trong giai đoạn 2017 – 2018 được nhận định là nhờ sự những yếu tố tíchcực của nền kinh tế, các điều kiện thuận lợi về dân số, xã hội và nỗ lực của doanhnghiệp bảo hiểm trong việc mở rộng quy mô hoạt động và chú trọng nâng cao nănglực tài chính Bên cạnh đó, sở hữu nước ngoài tại các doanh nghiệp bảo hiểm giatăng nhanh cũng đem đến nhiều thuận lợi cho thị trường bảo hiểm trong giai đoạnhiện tại.
2.1.3 Các công ty tài chính
Sự ra đời của các công ty tài chính ở Việt Nam nhằm mục tiêu ban đầu làhuy động và điều hoà nguồn vốn trong nội bộ tổng công ty, phục vụ sự phát triểncủa tổng công ty (sau này phát triển thành các tập đoàn kinh tế) Hiện nay, bên cạnhviệc thực hiện các nhiệm vụ của tập đoàn, các công ty tài chính đã đa dạng hoá sảnphẩm dịch vụ để mở rộng thị trường, phục vụ nhiều đối tượng khách hàng trên thịtrường tài chính nói chung Đồng thời, một số công ty tài chính đang chuyển đổisang hình thức công ty cổ phần, phát hành cổ phiếu rộng rãi ra công chúng Điểnhình cho xu hướng này là Công ty tài chính Dầu khí và Công ty tài chính Dệt - May
Mặc dù công ty tài chính ở nước ta mới thực sự phát triển mạnh khoảng 5năm trở lại đây, nhưng các công ty đã sớm khẳng định được vai trò quan trọng trongviệc tạo lập thêm một kênh tài trợ tín dụng mới, hữu hiệu cho các đơn vị thành viêntrong Tập đoàn và mở rộng phục vụ tổ chức, cá nhân ngoài Tập đoàn Hoạt độngcủa các công ty tài chính cũng đồng thời góp phần làm phong phú thêm các dịch vụtài chính - ngân hàng, đáp ứng nhu cầu phát triển đa dạng của thị trường tài chính -tiền tệ trong nền kinh tế thị trường Cá biệt một số công ty tài chính đã đạt được
Trang 22những kết quả khả quan, tạo được vị thế trên thị trường, là các đối tác tin tưởng củacác định chế tài chính lớn trong nước và quốc tế Tiểu biểu cho nhóm này là: Công
ty tài chính Dầu khí và Công ty tài chính công nghiệp Tàu thuỷ
Bảng 3: Quá trình hình thành các Công ty tài chính ở Việt Nam giai đoạn 1998 2007
Trung tâm thương mại SàiGòn, 37 Tôn Đức Thắng,Quận 1, Thành phố Hồ ChíMinh
7,5triệu USD
226 Lê Duẩn, Đống Đa, HàNội
320
tỉ VND
Trang 23Nguồn: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam - www.vbs.gov.vn, 2007
Tuy nhiên, những kết quả đạt được của các công ty tài chính chưa tương xứng vớitiềm năng và vai trò của mình trong hệ thống tài chính, thị trường tài chính và nềnkinh tế
2.1.4 Ngân hàng đầu tư
Trong những năm gần đây, ngoài việc đẩy mạnh hệ thống sản phẩm dịch vụngân hàng bán lẻ và phát triển ngân hàng số thì dịch vụ ngân hàng đầu tư (IB) vớicác hoạt động chính như: tư vấn DN, tư vấn IPO, mua bán sáp nhập (M&A), pháthành cổ phiếu, bảo lãnh phát hành… đều đang được các NHTM quan tâm, thúc đẩythông qua các công ty chứng khoán trực thuộc Theo số liệu của Vietcombank, sau
17 năm kinh doanh trên thị trường, hiện công ty chứng khoán của ngân hàng này(VCBS) đã trở thành một trong những đơn vị hàng đầu trong lĩnh vực môi giới, tưvấn cổ phần hóa và M&A Với các hợp đồng lớn như: hợp đồng làm đại lý đấu giácho thương vụ thoái vốn của Sabeco, VCG; hợp đồng tư vấn M&A cho Tập đoànDệt may, Tập đoàn Pan, CTCP Thép Việt Ý… trong các năm 2017-2018 vừa qua,doanh thu của VCBS tăng trưởng vượt bậc 280% đạt mức 458 tỷ đồng vào cuối2018
Không chỉ VCBS, hiện nay hàng loạt các công ty chứng khoán trực thuộccác NHTM như: VCSC của VietCapitalBank, BSC của BIDV, MBS của MB,TCBS của Techcombank… cũng đều đang lên kế hoạch lớn để đón làn sóng M&A
và IPO lần thứ 2 Theo đó, VCSC sau khi gặt hái mức lợi nhuận sau thuế 823 tỷđồng vào cuối năm 2018 đã tăng vốn điều lệ lên mức 1.600 tỷ đồng và tập trungmạnh vào phát triển mảng môi giới mua bán sáp nhập DN
Trong khi đó, để cải tổ quy mô hoạt động và cơ cấu lại các danh mục đầu tư,mới đây MBS đã chính thức chấp thuận phương thức bán vốn cổ phần cho nhà đầu
tư chiến lược vượt 25% mà không cần chào mua công khai Đồng thời dự kiến pháthành thêm 52,2 triệu cổ phiếu để tăng vốn điều lệ lên mức 1.740 tỷ đồng và hướngđến mục tiêu tăng trưởng lợi nhuận 77,6% so với năm 2018
Ở phía BSC, diễn biến cũng tích cực không kém Với sự hậu thuẫn vữngchắc của dịch vụ ngân hàng số BIDV, hiện đơn vị này đã cho ra mắt ứng dụng quản