1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

tiểu luận môn tăng trưởng và phát triển đầu tư cho giáo dục tại nhật bản và bài học cho việt nam

79 213 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 1,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ đó, tác giả đưa ra các ý nghĩa của tưtưởng này về vai trò của tri thức đối với sự phát triển nguồn trí lực ở Việt Nam trênnhiều lĩnh vực, trong đó nhấn mạnh đầu tư liên quan đến giáo

Trang 1

DANH MỤC BẢNG VÀ BIỂU ĐỒ

Bảng

Bảng 1: Tỷ lệ đi học tại Nhật Bản 19

Bảng 2: Ngân sách quốc gia và ngân sách cho bộ giáo dục của Nhật Bản qua các năm 55 Bảng 3: So sánh 4 lần cải cách giáo dục của Việt Nam 67

Bảng 4: Cơ cấu chi NSNN cho giáo dục, đào tạo 70

Biểu đồ Biểu đồ 1 : Tỷ lệ chi tiêu công cho giáo dục giai đoạn 1881 – 1910 21

Biểu đồ 2: Chi tiêu giáo dục của chính phủ 42

Biểu đồ 3: Chi tiêu cho giáo dục của Nhật Bản so với các nước OECD 54

Biểu đồ 4: Phân phối ngân sách cho giáo dục của MEXT năm 2015 55

Biểu đồ 5: Cơ cấu chi trung bình ngân sách nhà nước trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo ở các địa phương giai đoạn 2013-2017 71

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 4

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 5

1.1 Khái niệm 5

1.1.1 Giáo dục 5

1.1.2 Đầu tư trong giáo dục 6

1.2 Phân loại nguồn vốn đầu tư trong giáo dục 7

1.2.1 Nguồn vốn đầu tư trong nước 7

1.2.2 Nguồn vốn đầu tư nước ngoài 7

1.3 Lợi ích của đầu tư trong giáo dục 8

1.3.1 Lợi ích cho cá nhân 8

1.3.2 Lợi ích cho nền kinh tế 8

1.4 Một số nghiên cứu thực nghiệm về đầu tư cho giáo dục 9

1.4.1 Nghiên cứu thực nghiệm trong nước về đầu tư cho giáo dục 9

1.4.2 Nghiên cứu thực nghiệm nước ngoài về đầu tư cho giáo dục 12

CHƯƠNG 2: ĐẦU TƯ CHO GIÁO DỤC VÀ TÁC ĐỘNG TỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ - MÔ HÌNH CỦA NHẬT BẢN 16

2.1 Giới thiệu hệ thống giáo dục hiện đại 1868-1912: thời kỳ Minh Trị Duy Tân 16

2.1.1 Tình hình kinh tế - xã hội 16

2.1.2 Chính sách giáo dục nói chung và đầu tư giáo dục nói riêng 17

2.1.3 Thành tựu và hạn chế 19

2.2 Thời kỳ hồi phục (1945-1950) 22

2.2.1 Tình hình kinh tế-xã hội-giáo dục 22

2.2.2 Chính sách giáo dục hướng nghiệp 22

2.2.3 Hiệu quả của chính sách giáo dục và tác động của chính sách lên nguồn nhân lực và kinh tế 24

2.3 Thời kỳ tăng trưởng cao (1950s-1970s) 25

2.3.1 Giai đoạn những năm 1950 25

2.3.2 Giai đoạn 1960 – 1970 31

2.4 Hậu thời kỳ tăng trưởng cao (1972 - 1990s) 34

2.4.1 Tình hình kinh tế- xã hội 34

Trang 3

2.4.2 Chính sách giáo dục: Cải cách giáo dục lần thứ 3 và đầu tư giáo dục nói riêng 35

2.3.3 Thành tựu và hạn chế 43

2.5 Giai đoạn thế kỉ 21 (2000 - 2030) 46

2.5.1 Các thách thức trong thiên niên kỷ mới của Nhật Bản 46

2.5.2 Giải pháp từ chính phủ Nhật Bản cho giáo dục 49

2.5.3 Thành tựu 56

CHƯƠNG 3: BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM 57

3.1 Điểm tương đồng giữa Việt Nam và Nhật Bản 57

3.1.1 Về văn hóa và giáo dục 57

3.1.2 Về kinh tế 59

3.2 Thực trạng đầu tư cho giáo dục ở Việt Nam 60

3.2.1 Đầu tư về chính sách: Bốn lần cải cách giáo dục 60

3.2.2 Đầu tư về Nguồn lực tài chính đầu tư cho giáo dục 67

3.2.3 Mặt tích cực sau những sự đầu tư vào giáo dục 69

3.2.4 Hạn chế 70

3.3 Bài học rút ra cho Việt Nam: 72

KẾT LUẬN 75

TÀI LIỆU THAM KHẢO 1

Trang 4

LỜI MỞ ĐẦU

Ở mỗi thời đại, giáo dục luôn có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển của xãhội Bác Hồ, vị Chủ tịch nước muôn đời kính yêu của chúng ta từng nói: “Non sông ViệtNam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang đểsánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ởcông học tập của các em” Đây là lời khẳng định cho vai trò và tầm quan trọng của sựnghiệp trồng người với việc phát triển đất nước, đưa đất nước vươn mình hội nhập vớiquốc tế Trong giai đoạn hiện nay hơn bao giờ hết giáo dục và đào tạo càng có ý nghĩaquyết định không chỉ đối với sự phát triển kinh tế - xã hội mà cả đối với công cuộc bảo

vệ độc lập, chủ quyền của đất nước Mục đích của giáo dục phù hợp với sự phát triểncủa cá nhân, vì sự tiến bộ của xã hội, bởi ở đâu có con người thì ở đó đều cần có sựquản lý, tổ chức, giáo dục con người Vấn đề đặt ra ở đây là việc giáo dục con ngườikhông thể hoàn toàn tiến hành theo kinh nghiệm chủ nghĩa, chủ quan, tuỳ tiện hoặc lànhững lời hô hào kêu gọi chung chung,… mà nó vừa là khoa học vừa là nghệ thuật Vìthế việc học hỏi kinh nghiệm từ các nước có nền giáo dục phát triển là điều tối cầnthiết với chúng ta

Nhận thức được điều đó, nhóm chúng em đã lựa chọn đề tài "Đầu tư cho giáodục tại Nhật Bản và bài học cho Việt Nam" làm đề tài triển khai nghiên cứu Dù đã có

sự hướng dẫn tận tình của giảng viên bộ môn thầy Phạm Xuân Trường nhưng do cònthiếu kinh nghiệm cũng như kiến thức có hạn nên bài tiểu luận còn nhiều thiếu sót.Vậy nên nhóm rất mong nhận được những lời nhận xét từ thầy để bài viết được hoànthiện hơn nữa

Trang 5

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT1.1 Khái niệm

1.1.1 Giáo dục

Giáo dục là cách học tập kiến thức, thói quen và kỹ năng của con người có tínhchất truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác qua hình thức đào tạo, nghiên cứu và giảng dạy.Giáo dục là tổ chức những hoạt động đa dạng nhằm hình thành và phát triển nên ý thức vànăng lực của con người, phục vụ được những yêu cầu thiết yếu của xã hội Giáo dục cóthể do người khác hướng dẫn, có thể do mỗi người tự học Tức là những trải nghiệm cánhân của con người với những suy nghĩ, hành đồng và cảm nhận sẽ được coi là giáo dục.Đối với một con người, việc giáo dục sẽ trải qua nhiều giai đoạn tương ứng khác nhau nhưgiáo dục mầm non, giáo dục tiểu học >> trung học >> đại học

Phân tích ngữ nghĩa từ giáo dục: Từ “giáo dục” dịch ra tiếng Anh là “Education”

Từ “giáo dục” trong tiếng Việt gồm từ “giáo” nghĩa là dạy dỗ, từ “dục” nghĩa là nuôidưỡng Vậy từ “giáo dục” có nghĩa là dạy dỗ, nuôi dưỡng bao gồm trí – dục, thể - dục,đức – dục Như vậy, từ giáo dục xuất hiện trong xã hội loài người từ lâu, giúp loài ngườiphát triển hơn so với các loài động vật khác Giáo dục giúp con người có trí tuệ cũng nhưgiảm bớt được tính bản năng của loài nên tiến hóa hơn so với các loài động vật khác trênTrái đất Ngày nay, nhiều chính phủ thừa nhận quyền được giáo dục của mỗi người LiênHiệp Quốc ban hành Công ước Quốc tế về các Quyền kinh tế, Xã hội và Văn hóa trongđiều 13 vào năm 1966 có nội dung công nhận quyền giáo dục cho tất cả mọi người

Mục đích của giáo dục đối với mỗi người: Giáo dục có mục tiêu cung cấp, trang

bị kiến thức, kỹ năng cũng như rèn luyện đạo đức, nhân cách và lối sống cho conngười để hòa nhập với cộng đồng của mình Có thể nói, mục tiêu giáo dục tương ứngvới mỗi thời đại nhất định trong quá trình phát triển xã hội, bao gồm một hệ thống cácyêu cầu xã hội cụ thể, các chuẩn mực của một hình mẫu nhân cách cần hình thành ởmột người được giáo dục nhất định Đối với các giai đoạn phát triển xã hội, mục tiêugiáo dục cũng có nhiều thay đổi

Trang 6

1.1.2 Đầu tư trong giáo dục

Khái niệm: Đầu tư giáo dục là chỉ nguồn vốn, điều kiện kinh tế, tài chính củagiáo dục, là chỉ một quốc gia hoặc một khu vực căn cứ vào nhu cầu phát triển sựnghiệp giáo dục, sự tổng hòa nhân lực, vật lực, tài lực để đầu tư vào lĩnh vực giáo dục,nhằm bồi dưỡng nguồn nhân lực hậu bị và nhân tài chuyên môn cũng như nâng caobiểu hiện tiền tệ của nhân lực và vật lực của trình độ trí lực nguồn lao động

+ Đầu tư cho kiến thức bậc cao: Đối tượng thường là thanh thiếu niên có nhu cầumuốn tìm hiểu sâu hơn về kiến thức chuyên môn

- Đối tượng: một là đầu tư cho các cấp học từ tiểu học đến đại học, thứ hai là đầu

tư cho giáo dục thành niên để nâng cao trình độ trí tuệ cho người lao động đang làmviệc

Chi phí đầu tư trong giáo dục:

+ Các khoản chi phí trực tiếp: Ví dụ như chi phí cho xây dựng trường học, đầu tưtrang thiết bị, đào tạo đội ngũ giáo viên, giảng viên, hỗ trợ học sinh, sinh viên nghèo, + Chi phí cơ hội: Nguồn vốn dùng để đầu tư cho giáo dục có thể được sử dụng vào hoạt động đầu tư khác

Đặc điểm:

+ Đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho con người

+ Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển

+ Giáo dục đòi hỏi phải có các loại nguồn vốn đầu tư thích ứng

Trang 7

1.2 Phân loại nguồn vốn đầu tư trong giáo dục

1.2.1 Nguồn vốn đầu tư trong nước

Đầu tư công: Là khoản chi phí nhà nước đầu tư vào giáo dục, thường diễn ra trong một khoảng thời gian dài và liên tục

Đầu tư tư nhân: Là chi phí xảy ra trong một giai đoạn tương đối ngắn, do cá nhânchi trả bao gồm chi phí trực tiếp, chi phí gián tiếp và chi phí hao tổn sức khỏe, tinh thần

1.2.2 Nguồn vốn đầu tư nước ngoài

1.2.2.1 ODA

Khái niệm: là nguồn vốn vay ưu đãi từ nước ngoài, gọi là vốn “Hỗ trợ phát triểnchính thức” (ODA là viết tắt của cụm từ Official Development Assistance)

Phân loại:

+ Viện trợ không hoàn lại

+ Viện trợ có hoàn lại

sở sản xuất, kinh doanh Cá nhân hay công ty nước ngoài đó sẽ nắm quyền quản lý cơ

sở sản xuất kinh doanh này

Việc tiếp nhận FDI không ảnh hưởng đến nợ Chính phủ nên các Chính phủ có

xu hướng điều chỉnh luật pháp, tạo điều kiện và môi trường cho nguồn đầu tư này đểphát triển nguồn lực trong nước

Trang 8

1.3 Lợi ích của đầu tư trong giáo dục

Lợi ích của đầu tư giáo dục hay còn gọi là lợi ích giáo dục hoặc hiệu quả giáodục là chỉ việc thông qua giáo dục để nâng cao năng lực và tố chất của người lao động,làm cho số lượng hàng hóa và dịch vụ của quốc gia hoặc khu vực ngày càng tăng lên.Nhìn chung, lợi ích của đầu tư giáo dục được chia thành lợi ích cá nhân và lợi ích xãhội

1.3.1 Lợi ích cho cá nhân

Lợi ích cá nhân của sự đầu tư giáo dục là chỉ cá nhân thông qua việc tiếp nhậngiáo dục để thu được những lợi ích về vật chất và tinh thần cho bản thân trong hiện tại

và tương lai Nguyên nhân là giáo dục làm giàu thêm vốn con người Ở đây, vốn conngười được hiểu là tổng thể các tài nguyên bao gồm kiến thức, tài năng, kỹ năng, nănglực, kinh nghiệm, trí thông minh, động lực, trí tuệ sở hữu riêng và chung của các cánhân được hình thành và tích lũy lại từ những kết quả đầu tư hợp lý có mục đích trongquá trình tái sản xuất xã hội, có vai trò thúc đẩy tăng năng suất lao động và hiệu quảsản xuất, qua đó làm tăng thu nhập của người lao động Khi mà thu nhập tăng cao thìđời sống vật chất cũng như tinh thần của mỗi cá nhân cũng được nâng cao thêm

1.3.2 Lợi ích cho nền kinh tế

Còn lợi ích xã hội của đầu tư giáo dục đó chính là sự nâng cao năng suất lao độngcủa toàn bộ các khâu của quá trình sản xuất xã hội, điều đó sẽ làm gia tăng tốc độ tăngtrưởng kinh tế của xã hội, đồng thời làm cho đời sống văn hóa tinh thần, chính trị…của xãhội không ngừng được nâng cao Trên thực tế nghiên cứu của nhà kinh tế học người MỹThodere W Schultz đã chỉ ra rằng: tốc độ tăng trưởng của nông nghiệp Mỹ sau chiếntranh thì 20% là do đóng góp của yếu tố đầu tư tư bản, còn 80% chủ yếu là do giáo dục vàcác yếu tố liên quan trực tiếp đến giáo dục tạo ra Và từ những năm 1920 đến 1980, giáodục ở Mỹ luôn là yếu tố quan trọng thúc đẩy quá trình tăng trưởng kinh tế Ngoài ra, trong

lí luận mô hình tăng trưởng kinh tế Romer cũng đã phân tích rõ: đầu tư vào tri thức sẽ tạo

ra sự biến đổi về khoa học kỹ thuật, và đó chính là kết quả của quá trình tích lũy tri thức.Chính vì vậy, giáo dục và sự tích lũy kiến thức từ quá trình giáo

Trang 9

dục là nhân tố quan trọng nhất thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong thời kỳ từ nay về sautrong mỗi quốc gia.

1.4 Một số nghiên cứu thực nghiệm về đầu tư cho giáo dục

1.4.1 Nghiên cứu thực nghiệm trong nước về đầu tư cho giáo dục

Trong “Phát triển giáo dục và đào tạo - một động lực để phát triển kinh tế trithức ở nước ta hiện nay” (Vũ Văn Hòa , 2009), tác giả đã chỉ rõ được mức độ quantrọng của phát triển tri thức đến nền kinh tế Việt Nam Tác giả nhấn mạnh nền kinh tếhiện đại là kinh tế tri thức, nơi mà nguồn lực con người được đặt lên hàng đầu Tác giảchỉ ra trong công cuộc công nghiệp hóa - hiện đại hóa tại Việt Nam hiện nay thì đầu tưvào phát triển con người là yếu tố cực kỳ quan trọng Việt Nam là một nước có nguồnnhân lực dồi dào, nhưng lao động chưa có kỹ năng cao, để bắt kịp và hội nhập với cácnước đang phát triển, Việt Nam đòi hỏi nguồn lao động có chuyên môn cao hơn, cơ sở

để đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng, năng suất lao động Vậy nên giáo dục vàđào tạo là vấn đề thiết yếu, cần được quan tâm và đẩy mạnh đầu tư, phát triển

“Kinh tế tri thức và phát triển giáo dục đại học trong xã hội hiện đại” (PGS.TS,Trần Khánh Đức) nội dung chính của nghiên cứu là về nền kinh tế tri thức và tầm quantrọng của đội ngũ giảng viên trong công cuộc đào tạo và phát triển nguồn lực lao động.Tác giả chỉ ra rằng hiện nay, xu thế toàn cầu hóa đang ngày một tăng nhanh, giáo dụccũng trở thành một lĩnh vực hợp tác trong quá trình toàn cầu hóa; tỷ trọng chuyển dần

từ sản xuất vật chất sang dịch vụ và xử lý thông tin; công nghệ ngày càng chiếm phầnquan trọng trong sản xuất Tất cả các yếu tố trên đòi hỏi sự phát triển của giáo dục Bàiviết đề cập đến mô hình người giảng viên trong giáo dục đại học hiện nay rằng bảnthân người giảng viên đã cần phải nắm chắc kiến thức, biết liên hệ , vận dụng vào thựctiễn, bám sát vào tình hình xã hội, có phương pháp giảng dạy hợp lý, Do đòi hỏi yêucầu cao về chất lượng giảng viên nên cần phải đầu tư vào đào tạo đội ngũ giảng viêntrẻ và nâng cao chất lượng giảng viên hiện tại Tác giả đã thành công chỉ ra được tầmquan trọng của giáo dục đại học trong nền kinh tế tri thức nhưng bài viết vẫn còn hạnchế do chưa đề cập được đến các điều kiện khác ảnh hưởng đến con người và sự pháttriển của giáo dục

Trang 10

“Sự phát triển của kinh tế Việt Nam và nhiệm vụ của giáo dục, đào tạo”,(PGS.TS Nguyễn Anh Tuấn 2011) qua bài báo cáo của mình trong hội thảo quốc tế đãkhái quát tình hình kinh tế Việt Nam từ đó chỉ ra nhiệm vụ của giáo dục để duy trì tăngtrưởng Dựa vào việc nghiên cứu mô hình phát triển, tác giả cho rằng Việt Nam muốnduy trì tăng trưởng, thì trước hết cần phát triển và tăng cường các thể chế tạo thuận lợi

để duy trì động lực sản xuất (lợi thế cạnh tranh do nguồn nhân lực rẻ) cũng như khảnăng tự điều chỉnh trước những cú sốc từ bên ngoài (thường dễ gây tổn thương), mặtkhác, cũng phải chú trọng bồi bổ chất lượng nguồn nhân lực, nâng cao tri thức và kỹnăng làm việc có hiệu quả cho người lao động Vì có giới hạn nên trong bài báo cáocủa mình, tác giả chỉ đề cập đến giáo dục hướng nghiệp ở bậc học phổ thông và thôngqua kết quả khảo sát, tác giả xác định đây là bước đi phù hợp nhất đối với nguồn nhânlực tại thời điểm này

Dương Thị Hương (2019) trong luận án tiến sĩ “Tư tưởng Alvin Toffler về vaitrò tri thức và ý nghĩa của nó đối với phát triển nguồn trí lực ở Việt Nam hiện nay” củamình đã nghiên cứu tư tưởng Alvin Toffler về vai trò của tri thức Đây là tư tưởng cónhững giá trị tích cực, khẳng định vai trò quan trọng của tri thức trong sự phát triểncủa lực lượng sản xuất, là minh chứng khẳng định khoa học – kỹ thuật đã và đang trởthành lực lượng sản xuất trực tiếp, khẳng định động lực phát triển của các quốc giatrên thế giới là xây dựng nền kinh tế tri thức Từ đó, tác giả đưa ra các ý nghĩa của tưtưởng này về vai trò của tri thức đối với sự phát triển nguồn trí lực ở Việt Nam trênnhiều lĩnh vực, trong đó nhấn mạnh đầu tư liên quan đến giáo dục là không thể thiếu

để người lao động trở nên có năng lực hơn, thích nghi đáp ứng được yêu cầu của côngnghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển tri thức trong xu thế toàn cầu hóa, hội nhậpquốc tế và tác động của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư

Trong “Thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA Nhật Bản trong lĩnh vực giáo dục ởViệt Nam từ năm 1993 đến năm 2010”, tác giả đã chỉ ra rằng có hai nguồn vốn nướcngười đầu tư cho phát triển giáo dục của Việt Nam là vốn ODA và FDI Từ năm 1993 đếnnay, lượng vốn FDI đầu tư vào lĩnh vực giáo dục nước ta đang dần tăng lên tuy vẫn cònkhiêm tốn, việc thu hút và sử dụng nguồn vốn này đã có những thành quả đáng ghi nhận,đóng góp không nhỏ cho sự phát triển kinh tế Nghiên cứu đã hệ thống hóa hệ thống giáodục, đặc điểm đầu tư vào giáo dục và các nguồn vốn đầu tư cho giáo dục Việt

Trang 11

Nam, khẳng định vai trò của giáo dục Đặc biệt, tác giả cũng tập trung vào nghiên cứuhoạt động FDI vào lĩnh vực giáo dục của Việt Nam trong giai đoạn 1993- 2009, từ đóphân tích, đánh giá hoạt động FDI vào lĩnh vực giáo dục Việt Nam và đề xuất một sốgiải pháp nhằm tăng cường thu hút cũng như sử dụng có hiệu quả nguồn vốn FDI.

Trong bài viết “Quản lý và sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA)trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo tại Việt Nam” tác giả Lương Thị Quế Anh đã chỉ rarằng từ năm 2008 nhà nước Việt Nam đã chú trọng đến việc đầu tư vào giáo dục, tuy vậy,nguồn lực của nhà nước còn chưa đủ nên cần thu hút vốn đầu tư nước ngoài, cụ thể là vốnODA Nhìn chung, tình hình thu hút ODA tại Việt Nam có nhiều khả quan, điển hình là sựthành công của đề án ODA 2011-2015, là sự tiếp nối sau thành công của đề án ODA2006-2010 đã làm đổi mới toàn diện nền giáo dục của nước ta Tác giả cũng tập trungphân tích tình hình quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA của Việt Nam từ 2008-2013, từ

đó rút ra một số biện pháp để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn

Trong “Hai kinh nghiệm thu hút và đầu tư vốn FDI vào lĩnh vực của TrungQuốc và Singapore”, một số bài học kinh nghiệm cho giáo dục Việt Nam được rút ra.Bên cạnh đó, có 5 giải pháp được đề xuất nhằm tăng cường thu hút và sử dụng hiệuquả vốn FDI vào lĩnh vực giáo dục Việt Nam,: cải thiện môi trường đầu tư, đẩy mạnhcông tác xúc tiến đầu tư, có biện pháp che chắn và tăng tính cạnh tranh của giaos dụcnước nhà, tăng cường công tác quản lý nhà nước về hoạt động FDI trong lĩnh vực giáodục, và thúc đẩy phát triển xã hội hóa giáo dục

GS Nguyễn Văn Đạo với “Vài suy nghĩ về giáo dục và đào tạo phục vụ cho pháttriển” (2012) có đưa ra quan điểm về đầu tư cho giáo dục Nhiều nước, trong đó có cảnhững nước đang phát triển, đã quan tâm đặc biệt đến đầu tư cho giáo dục Trong nhiềuthập kỷ liền, họ đã đầu tư khoảng trên dưới 20% ngân sách hàng năm cho phát triển giáodục Trong những năm gần đây, Nhà nước Việt Nam đã chú trọng tăng tỷ lệ đầu tư chogiáo dục nhưng vẫn chưa đủ đảm bảo cho nền giáo dục cất cánh Ngân sách nhà nước thì

có hạn, mà những vấn đề bức xúc giải quyết ngay thì lại nhiều, cho nên dù muốn haykhông, nhà nước cũng không thể dồn nhiều kinh phí ngay cho giáo dục Vì vậy một mặt

Trang 12

cần thiết phải huy động sự đóng góp của người học của toàn xã hội để phát triển giáo dục.Lao động sản xuất, nghiên cứu và ứng dụng khoa học, xúc tiến các dịch vụ cũng là mộtkhả năng to lớn của nhà trường để tăng thêm nguồn thu Mặt khác, chúng ta cũng cần biếtquản lý và sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn vốn để phát triển giáo dục.

“Đầu tư của nhà nước cho giáo dục, đào tạo: Thực trạng và một số đề xuất” (TS.Đinh Thị Nga, 2017) có đưa ra quan điểm rằng chính sách giáo dục, đào tạo cùng vớichính sách khoa học, công nghệ là hai chính sách quốc gia cần được ưu tiên cao nhất

để thực hiện mục tiêu phát triển bền vững trong dài hạn Trong những năm qua chínhsách giáo dục, đào tạo được ưu tiên đầu tư nguồn lực lớn từ ngân sách nhà nước Tỷ lệchi ngân sách cho giáo dục hàng năm của Việt Nam ở mức xấp xỉ 20%, tương đương5% GDP Đây là mức rất cao so với nhiều nước trên thế giới, kể cả các nước có trình

độ phát triển kinh tế cao hơn Việt Nam rất nhiều Tuy nhiên, tác giả cũng đưa ra một

số hạn chế như: cơ cấu đầu tư cho giáo dục đào tạo chưa hợp lí, cơ cấu chi tiêu chogiáo dục không tương xứng trong đầu tư các cấp học, định mức phân bổ ngân sách chodạy nghề thấp, đào tạo chưa thật gắn với mục tiêu

1.4.2 Nghiên cứu thực nghiệm nước ngoài về đầu tư cho giáo dục

Bài nghiên cứu “Investments in education: What are the productivity gains?”,NabilAnnabi (2017) - về việc đầu tư giáo dục đã đánh giá đầu tư của chính phủ vàogiáo dục đại học có thúc đẩy tăng trưởng hay không, đã sử dụng phương pháp nghiêncứu định lượng bằng cách sử dụng mô hình tăng trưởng nội sinh thế hệ chồng chéo ápdụng với nền kinh tế của Canada Kết quả cho thấy sự tăng lên hỗ trợ thuế chi tiêugiáo dục dẫn đến sự tăng trưởng bền vững khi ngoại ứng của vốn nhân lực được xemxét Ngoài ra, tốc độ tăng trưởng tăng khi tăng dần các khoản đầu tư vào giáo dục chothấy sự tồn tại của chính sách công đóng một vai trò quan trọng Tuy nhiên, phần tăngthêm của phúc lợi xã hội có thể không được phân bổ đều qua các thế hệ Lực lượng laođộng ngay sau những cú sốc về chính sách sẽ chịu nhiều chi phí hơn, trong khi các thế

hệ sau được hưởng thu nhập và phúc lợi cao hơn Kết quả cho thấy rằng đặc điểm kỹthuật của các hộ gia đình cũng có thể đóng một vai trò quan trọng trong việc đánh giáchính sách giáo dục

Trang 13

Bài nghiên cứu “The impacts of education investment on skilled–unskilled wageinequality and economic development in developing countries”, Lijun Pan (2014) đã mởrộng việc nghiên cứu tác động của đầu tư của giáo dục, không chỉ đánh giá liệu có tạo ratăng trưởng hay không mà còn xem xét đầu tư vào giáo dục ảnh hưởng như thế nào đếnbất bình đẳng tiền lương giữa nhóm lao động phổ thông và lao động lành nghề Bài nghiêncứu sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng bằng cách sử dụng mô hình cân bằngtổng thể bốn khu vực Với giả định cạnh tranh hoàn hảo ở khu vực cung ứng dịch vụ sảnxuất, mô hình chỉ ra rằng sự tăng đầu tư vào giáo dục từ chính phủ sẽ làm giảm đi bất bìnhđẳng tiền lương một cách rõ ràng và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế một cách có điều kiện.

Do đó, tác giả tiến hành mở rộng mô hình bằng giả định rằng lúc này khu vực cung ứngdịch vụ sản xuất là cạnh tranh độc quyền và thu được kết quả là đầu tư vào giáo dục từchính phủ sẽ đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế

“The impact of education investment on Sri Lankan economic growth”, K.Renuka Ganegodage, Alicia N.Rambaldi (2011) đã nghiên cứu và đưa ra đánh giá sựđóng góp của đầu tư vào giáo dục cho tăng trưởng kinh tế Sri Lanka trong giai đoạn1959- 2008 Vốn vật chất, thay đổi chính sách kinh tế và chiến tranh dân tộc là nhữngyếu tố quan trọng được đánh giá Nghiên cứu này sử dụng một khuôn khổ bao gồm cả

mô hình tăng trưởng tân cổ điển và nội sinh Tác động của giáo dục được đánh giáthông qua một biện pháp chứng khoán vốn nhân lực được điều chỉnh Lợi nhuận đầu tưvào giáo dục là tích cực nhưng thấp hơn đáng kể so với đầu tư cho người khác các nềnkinh tế phát triển Không giống như trường hợp của hầu hết các nền kinh tế phát triển,lợi nhuận cao hơn từ đầu tư vào vốn vật chất không thể tạo ra bất kỳ ngoại ứng tíchcực nào Chiến tranh đã có tác động tiêu cực dự kiến đến sản lượng và kết quả thay đổichính sách kinh tế là không thuyết phục Kết quả cho thấy cần có một chiến lược phùhợp để phân bổ nguồn lực về giáo dục để cải thiện lợi nhuận của nó cho nền kinh tế

“The Influence of Investment in Education on Inclusive Growth - EmpiricalEvidence from Romania vs EU”, Ioana Manafi, Daniela Elena Marinescu (2013) đãnghiên cứu ảnh hưởng của đầu tư vào giáo dục đối với tăng trưởng bao trùm - Bằng chứngthực nghiệm từ Romania so với EU Nghiên cứu chỉ ra rằng với khoảng 80 triệu người có

kỹ năng thấp hoặc cơ bản, 19 triệu trẻ em có nguy cơ đói nghèo, bỏ học rất cao

Trang 14

tỷ lệ, và nhiều công việc đòi hỏi trình độ cao hơn, EU cần tăng trưởng bao trùm Tăngtrưởng bao trùm có nghĩa là nhiều hơn và tốt hơn việc làm, đầu tư vào kỹ năng và đàotạo, hiện đại hóa thị trường lao động Mục đích của bài viết là kiểm tra ảnh hưởng củađầu tư vào đào tạo các chỉ số kinh tế vĩ mô khác, như tỷ lệ thất nghiệp, GDP, học tậpsuốt đời, mức lương trung bình cho các nước EU Từ việc so sánh các chỉ số từ năm

2008 với chỉ số từ 2010-2011 để thấy các mục tiêu từ Châu Âu 2020 chiến lược đã bịảnh hưởng bởi cuộc khủng hoảng, từ đó xác định được quốc gia nào gần nhất để đạtđược các mục tiêu Sử dụng các chỉ mục này, các quốc gia được nhóm thành các cụm

để thấy sự tương đồng và khác biệt giữa chúng và để xác định chính trị nào sẽ là phùhợp để áp dụng

“The role of education of directors in influencing firm R&D investment”, Hsien

- Chang Kuo, Lie - Huey Wang, Li - Jen Yeh (2018) đã điều tra liệu trình độ học vấn củagiám đốc có ảnh hưởng như thế nào đến đầu tư R&D để từ đó có thể đánh giá được

là có nên đầu tư vào giáo dục hay không bởi vì đầu tư R&D là động lực chính giúpmột công ty phát triển, khi đó dẫn tới kinh tế nước đó cũng tăng trưởng theo Bàinghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng với bộ dữ liệu dài hạn của

437 công ty niêm yết ở Đài Loan trong giai đoạn từ 2006 đến 2012 Kết quả cho thấycấp bậc giáo dục của các giám đốc có ảnh hưởng đến đầu tư R&D của doanh nghiệp

và tác động đó là tác động cùng chiều: nghĩa là trình độ học vấn càng cao thì càng dẫntới việc công ty của giám đốc đấy sẽ đầu tư càng nhiều vào R&D Thêm vào đó, quảntrị nội bộ doanh nghiệp làm quan trọng đi tác động của học vấn giám đốc lên vốnR&D Cụ thể: Sự quản lý chuyên nghiệp làm tăng ảnh hưởng tích cực của trình độ họcvấn của giám đốc lên vốn R&D, nhưng quyền sở hữu doanh nghiệp không rõ rànghoặc thành viên ban quản trị là người nhà của giám đốc thì mối quan hệ giữa giáo dụccủa giám đốc đến vốn R&D trở nên tiêu cực bởi vì chúng dễ gây ra các xung độtkhông đáng có Từ những kết quả trên, tóm lại, nên đầu tư cho giáo dục để doanhnghiệp có thể phát triển nhờ sự tăng lên của vốn R&D

“Valuing enrolled nurses - A study to better understand the investment educationand training have on the retention of enrolled nurses”, Rebecca J.Leon, Jaimie H

Trang 15

Tredoux, Suzanne M Foster, (2019) nghiên cứu về việc đã có sự đầu tư vào giáo dục vàđào tạo nhưng làm thế nào để duy trì được lượng người đã đăng ký theo học một khóa họcnào đó Cụ thể ở đây, nhóm tác giả nghiên cứu về tình trạng thiếu y tá theo học ở Dịch vụ

Y tế của Úc Nghiên cứu này được chia thành ba giai đoạn: Giai đoạn 1, khảo sát riêngbiệt cho các y tá và các bên liên quan (các nhà quản lý điều dưỡng và giảng viên); Giaiđoạn 2, các nhóm tập trung cho các y tá và các bên liên quan; Giai đoạn 3, phân tích dữliệu tuyển dụng và tình trạng duy trì được người học từ phòng Văn bằng tốt nghiệp Điềudưỡng Kết quả thu được như sau: Giai đoạn 1 và 2 cho thấy rằng cơ hội hạn chế để pháttriển nghề nghiệp, sự nhầm lẫn trong phạm vi hành nghề và cảm giác bị đánh giá thấp ảnhhưởng đến việc giữ chân các y tá đã đăng ký Giai đoạn 3 chứng minh rằng những thayđổi được thực hiện trong quy trình tuyển dụng dẫn đến việc duy trì được cải thiện Do đó,

dù cho đã có sự đầu tư vào giáo dục thì vẫn cần những sự thay đổi chính sách phù hợp để

có thể duy trì được hiệu quả của việc đầu tư này

“7 key reasons why financial education is your best investment”, ToddTresidder, trong bài viết tác giả nêu lên 7 lý do vì sao bạn nên đầu tư vào giáo dục tàichính từ đó làm nổi bât lên lợi ích của việc đầu tư vào giáo dục tài chính “You mustlearn how to invest your money because no one will ever care about it as much as youdo”, đây là một sự thật rằng không ai có thể quan tâm tới việc đầu tư của bạn bằngchính bạn, khi bạn đưa ra một quyết định đầu tư tài chính thì người trực tiếp đón nhậnkết quả là bạn, do đó bạn cần phải có trách nhiệm đối với tiền của mình, phải tìm hiểunhững kiến thức về giáo dục tài chính để có nền tảng về đầu tư Điều đó thể hiện sựquan trọng của giáo dục tài chính nói riêng và giáo dục tài chính nói chung, người cókiến thức về tài chính sẽ đưa ra những quyết định đầu tư đúng đắn, giúp nhà đầu tư gặthái được thành công, tạo ra lợi nhuận Tóm lại, đầu tư cho giáo dục đem lại một giá trịbền vững, là chìa khóa của sự thành công

Trang 16

CHƯƠNG 2: ĐẦU TƯ CHO GIÁO DỤC VÀ TÁC ĐỘNG TỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ - MÔ HÌNH CỦA NHẬT BẢN

2.1 Giới thiệu hệ thống giáo dục hiện đại 1868-1912: thời kỳ Minh Trị Duy Tân

2.1.1 Tình hình kinh tế - xã hội

Năm 1868, một cuộc chính trị đã diễn ra tại Nhật Bản, được đánh dấu bằng sựsụp đổ chính quyền Mạc phủ Tokugawa và sự ra đời của hệ thống chính quyền mớivới Hoàng đế đứng đầu, Minh Trị Trong thời kỳ Edo, chính phủ Mạc phủ đã thi hànhchính sách đóng cửa quốc gia, mọi hoạt động thương mại và liên hệ với nước ngoàiđều bị cấm triệt để Đầu thế kỷ XIX, Nhật Bản đứng trước mối đe dọa quân sự lớn từcác nước phương Tây yêu cầu mở cửa quốc gia Những năm cuối thời Edo, Nhật Bảnrơi vào tình trạng nội chiến Chính phủ mới đã quyết tâm thiết lập lại mối quan hệ vớicác quốc gia phương Tây đã xâm nhập vào Nhật Bản Một phái đoàn Nhật Bản được

cử sang phương Tây nhằm viết lại các hiệp ước bất bình đẳng mà các nước đã áp đặtvới quốc gia của họ

Những năm đầu 1886, Nhật Bản là một quốc gia yếu về quân sự, hoạt độngkinh tế chủ yếu là nông nghiệp, ít có các hoạt động công nghiệp Vì vậy, vị thế NhậtBản trong mắt các nước phương Tây và Mỹ bấy giờ không được đánh giá cao Chínhphủ Minh Trị đã có một quyết tâm rõ ràng rằng: Tây phương hóa nhanh chóng và hiệnđại hóa Nhật Bản với khẩu hiệu chính là “Văn minh và khai sáng, làm giàu quốc gia,củng cố sức mạnh quân sự” Trong thời kỳ đầu của thời kỳ Minh Trị, Nhật Bản đã bắtđầu tích cực tiếp thu và áp dụng những công nghệ phương Tây, trong khi vẫn giữ đượcphong tục và bản sắc dân tộc Tiếp theo, là những ưu tiên hàng đầu của quốc gia: bắtkịp phương Tây ở mọi mặt, trở thành một quốc gia đứng đầu nhanh nhất có thể

Để chuyển đổi từ nền kinh tế nông nghiệp sang công nghiệp phát triển, NhậtBản đầu tư mạnh vào các công trình công cộng như mạng lưới giao thông, đường sắt,

hỗ trợ các doanh nghiệp gia đình hùng mạnh (zaibatsu) Những khoản chi khổng lồ đãkhiến cho quốc gia rơi vào trạng thái khủng hoảng vào 1880, dẫn đến cải cách hệthống tiền tệ và ngân hàng

Trang 17

2.1.2 Chính sách giáo dục nói chung và đầu tư giáo dục nói

riêng Khái niệm về Pháp lệnh hệ thống giáo dục

Năm 1871, Bộ Giáo Dục được thành lập Năm 1872, những quy định đầu tiêncho hệ thống giáo dục được ban hành, được hiểu là Pháp lệnh hệ thống giáo dục Hệthống trường học được xây dựng dựa trên sự tham khảo từ Mỹ và phương Tây Vềnguyên tắc, tất cả trẻ em được yêu cầu đi học tiểu học, bất kể giới tính hay địa vị xãhội Các cơ sở giáo dục Nho giáo thời Mạc phủ bị bãi bỏ

Mối quan tâm đầu tiên của chính phủ thời bấy giờ là giáo dục đại học hơn làgiáo dục tiểu học hoặc trung học Một trong những đặc điểm của các chính sách giáodục của Chính phủ là việc sản xuất nhân lực cho công nghiệp hóa, họ bắt đầu với các

kỹ sư cấp cao nhất và sau đó tập trung vào các kỹ sư cấp trung và cấp thấp Điều nàychủ yếu là vì chính phủ đã cố gắng nhanh chóng thúc đẩy những nhân tài sau này trởthành người lãnh đạo hiện đại hóa của Nhật Bản Năm 1872, chính phủ đã mời chuyêngia về giáo dục từ Hoa Kỳ và Trường Sư phạm Tokyo được thành lập nhằm hiện đạihóa phương pháp và nội dung trong chương trình giảng dạy tiểu học

Chính phủ Minh Trị tập trung đầu tiên vào việc phát triển giáo dục đại học đểcung cấp cho các nhà lãnh đạo cần thiết cho quá trình hiện đại hóa của Nhật Bản.Người nước ngoài đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển của tiểu ngành giáodục đại học Chính phủ cũng nhận thấy sự cần thiết phải cung cấp giáo dục tiểu họcphổ cập và có thể đạt được điều này vào cuối thời Minh Trị Phần lớn gánh nặng tàichính của giáo dục tiểu học đã được chuyển từ chính quyền trung ương sang chínhquyền địa phương, nơi cũng được trao quyền tự chủ cao Sự nhấn mạnh vào giáo dụcđại học và tiểu học dẫn đến tình trạng thiếu hụt nhân lực trung cấp lành nghề cần thiếtcho công nghiệp hóa Để giải quyết vấn đề này, chính phủ đã ban hành Pháp lệnh vềcác trường công nghiệp vào năm 1899, trong đó tìm cách phát triển giáo dục và đàotạo công nghiệp ở cấp trung học

Thuê các cố vấn nước ngoài và gửi sinh viên ra nước ngoài học

Thời kỳ đầu Minh Trị, chính phủ mời các cố vấn giáo dục ở nước ngoài về giảngdạy ở các trường đại học với mức lương đặc biệt ưu đãi Tuy nhiên, chi phí thuê những

Trang 18

giáo viên này là rất cao Chính phủ đã dành 4% tổng ngân sách cho các khoản thanhtoán tiền lương cho họ trong giai đoạn từ 1868 đến 1872, 2% từ 1873 đến 1877 và 1%

từ 1878 đến 1882 Với trường hợp Bộ Kỹ thuật (Ministry of Engineering), khoản thanhtoán này còn đạt 58 % tổng ngân sách Điều này là do, trong thời kỳ đầu Minh Trị, mỗi

Bộ đều có một trường riêng hoặc viện đào tạo riêng để đào tạo ra nguồn nhân lực cầnthiết phục vụ cho lĩnh vực của mình Trường Đại học Tokyo thời kỳ đó trực thuộc của

Bộ Kỹ Thuật, đóng vai trò quan trọng trong đào tạo ra những cử nhân có chuyênngành, đáp ứng quá trình công nghiệp hóa và công nghiệp phát triển ở Nhật Bản Bộ

Kỹ thuật đã tuyển dụng 588 chuyên gia nước ngoài cho đến khi bị bãi bỏ vào năm

1885 và tất cả giáo viên của Khoa Kỹ thuật Trường Đại học Tokyo đều là những nhàgiáo dục người Anh

Bên cạnh đó, những sinh viên có tiềm năng được gửi ra nước ngoài học tập Saukhi kết thúc học tập, họ trở về nước và trở thành giảng viên đại học thay thế cho nhữngchuyên gia nước ngoài Khoản đầu tư này chủ yếu đến từ thuế, quỹ địa phương và họcphí ở các trường tiểu học Mục đích của chính sách này nhằm nâng cao trình độ củangười Nhật, tạo ra một hệ thống giáo dục đại học tiếp thu những kiến thức học thuậttiên tiến của phương Tây

Năm 1879, chính phủ đã bãi bỏ Pháp lệnh Giáo dục do làn sóng phản đối từ phụhuynh trước đó và ban hành Sắc lệnh Giáo dục với mục tiêu giới thiệu nền giáo dục dânchủ từ Hoa Kỳ và đáp ứng nhu cầu giáo dục của người dân Thời gian đi học được rútngắn từ 8 năm xuống còn 16 tháng, các quy tắc bắt buộc được nới lỏng, cưỡng chế ngườidân đưa con đến trường bằng sắc lệnh và hỗ trợ tài chính cho người dân

Chính phủ Minh Trị bắt đầu thiết lập một hệ thống giáo dục và đào tạo trước tiên

ở cấp độ chuyên môn cao hơn và sau đó ở cấp tiểu học Mặc dù hệ thống trường trung họccũng đã được cung cấp, nhưng nó chỉ dành cho một giới thượng lưu hạn chế, những người

sẽ học lên cao hơn, và chương trình giảng dạy trong trường chủ yếu dành cho giáo dụcphổ thông chứ không phải giáo dục nghề nghiệp Do đó, khi nền kinh tế Nhật Bản pháttriển, giáo dục và đào tạo công nghiệp để sản xuất nhân lực có trình độ trung cấp đượccông nhận là quan trọng đối với công nghiệp hóa Nhật Bản Đầu những năm 1890, ngaytrước cuộc cách mạng công nghiệp Nhật Bản, Chính phủ Minh Trị đã và ban hành

Trang 19

Luật Kho bạc quốc gia cho các chi phí giáo dục nghề nghiệp để cung cấp hỗ trợ tàichính cho trường bổ túc công nghiệp Jitsugyo Hosuy Gakko và Totel Gakko Cáctrường bổ túc công nghiệp có nhiệm vụ sản xuất ra một lượng lớn nguồn nhân lực đểphục vụ những ngành công nghiệp khác nhau, nhằm đáp ứng nhu cầu về lao động cótrình độ trung cấp do người Nhật làm cuộc cách mạng công nghiệp sau chiến tranhTrung - Nhật (1894-1895).

Những số liệu trong bảng 1 cho thấy, theo thời gian, vào những năm cuối thời

kỳ Minh Trị, mục tiêu về giáo dục đề ra đã hoàn thành Cụ thể, tỷ lệ người dân đi họctăng dần qua các năm, trong đó ấn tượng là năm 1910 với tỷ lệ 98,1 Tỷ lệ nữ giớicũng tăng nhanh Nếu như trong năm 1973, tỷ lệ nam nữ đi học khá thấp, chủ yếu làgiới có quyền, thì đến năm 1910 đảm bảo cơ hội giáo dục bình đẳng cho cả mọi ngườidân, không phân biệt giới tính hay giai cấp

Thành công của chiến lược giáo dục được khẳng định bởi việc tạo ra một khốilượng lớn binh lính và công nhân có kỹ năng kỹ thuật trung cấp dồi dào và những thanh

Trang 20

niên trẻ tài năng từ các trường đại học lãnh đạo trong những vị trí quan trọng trong bộmáy chính phủ và xã hội.

Thành công của Nhật Bản bắt nguồn từ sự tích lũy và hình thành thành côngvốn nhân lực của mình bằng phương pháp giáo dục quần chúng Một lãnh đạo có trình

độ cao với một người Nhật Bản có kỷ luật và có học thức là công thức lý tưởng để tạo

ra quốc gia hiện đại mới của họ Những chính sách giáo dục thời Minh Trị cũng là gốc

rễ của hệ thống giáo dục bắt buộc hiện nay ở Nhật Bản Trình độ học vấn cao là kếtquả của hệ thống giáo dục này ở Nhật Bản hiện đại Nhờ cải cách giáo dục nói riêng vàthành công từ cải cách Minh Trị nói chung đã tạo nên bước ngoặt thần kỳ của NhậtBản thời Cận đại: không bị xâm lược và phát triển đất nước theo con đường hiện đạihoá sớm và thành công nhất ở khu vực Châu Á Cho đến nay, Nhật Bản vẫn là một tấmgương sáng chứa đựng nhiều bí quyết về cái gọi là “truyền thống - hiện đại”, sự hunđúc, tôi luyện của cả một dân tộc, một quốc gia vốn được xem là đặc biệt trên thế giới!

Những hạn chế:

Trở ngại lớn nhất đối với việc thực thi chính sách này là tài chính Một phần lớnngân sách quốc gia cho giáo dục phải được dành cho Đại học Tokyo và gửi sinh viên ranước ngoài Trong ngân sách đầu tiên năm 1873, chẳng hạn, 100.000 trong số 800.000Yên được dành cho nghiên cứu ở nước ngoài 300.000 Yên đã được chi vào năm 1873 cho1.260.0009 học sinh ở 14.000 trường tiểu học, nhưng khoản trợ cấp này đã bị bãi bỏ vàonăm 1881 Hơn nữa, sự chi tiêu công dành cho giáo dục cũng có nhiều bất cập

Trang 21

Biểu đồ 1 : Tỷ lệ chi tiêu công cho giáo dục giai đoạn 1881 – 1910

( Đơn vị: %)(Nguồn: Tổng hợp số liệu thống kê của Bộ Giáo Dục Nhật Bản)

Bảng 2 cho thấy tỷ lệ chi tiêu giáo dục quốc gia và địa phương có sự chênh lệchlớn Như thể hiện trong bảng, gần 90% chi tiêu công cho giáo dục được cung cấp bởichính quyền địa phương trong thời kỳ Minh Trị trong nhiều năm Điều này được lý giảibởi ngân sách quốc gia không đủ khả năng chi tiêu cần thiết cho giáo dục tiểu học trêntoàn quốc, chính quyền địa phương và người dân phải cung cấp phần lớn trong số đó

Việc mở rộng tỷ lệ nhập học tại các trường và kéo dài thời gian giáo dục bắtbuộc càng tạo ra gánh nặng tài chính cho chính quyền địa phương Thu nhập và điềukiện làm việc của giáo viên ngày một xấu đi Một kiến nghị lên chính phủ về khoản trợcấp và đảm bảo điều kiện làm việc của giáo viên nhưng không được thực hiện triệt để.Trong suốt thời kỳ Minh Trị, chi tiêu chính phủ cho giáo dục còn khá tiết kiệm so vớichi tiêu quá mức cho quân đội

Kế hoạch giáo dục của chính phủ đầy tham vọng nhưng lại quá cứng nhắc vàkhông thực tế Trong số tám trường đại học dự định được thành lập, tính đến 1877 mới chỉ

có duy nhất trường đại học Tokyo được mở Nếu như với chương trình cũ, trẻ em chỉ cầnhọc 2 năm với bậc tiểu học thì chương trình mới phải học trong 8 năm, từ đó gây ra mộtlàn sóng phản đối dựa trên sự bất bình về kinh tế Ở khu vực nông thôn, nông dân phảnđối rằng họ có nhiều ưu tiên trước mắt, như có đủ ăn, hơn là nhận được một

Trang 22

nền giáo dục Cùng với thuế đất, nông dân nhận thấy giáo dục chỉ là một gánh nặng tàichính mà họ buộc phải chịu.

2.2 Thời kỳ hồi phục (1945-1950)

2.2.1 Tình hình kinh tế-xã hội-giáo dục

Bộ chỉ huy tối cao lực lượng đồng minh viết tắt là SCAP đã thực hiện ba cuộc cảicách lớn: một là, thủ tiêu chế độ tập trung kinh tế, trước hết là giải tán các “Daibátxư”(tức là các tập đoàn, công ti tư bản lũng đoạn còn mang tính chất dòng tộc); hai là, cảicách ruộng đất, quy định địa chủ chỉ được sở hữu không quá 3 hécta ruộng, số còn lạiChính phủ đem bán cho nông dân; ba là, dân chủ hóa lao động (thông qua việc thựchiện các đạo luật về lao động) Dựa vào sự nỗ lực của bản thân và viện trợ của Mĩ, đếnkhoảng năm 1950-1951, Nhật Bản đã khôi phục kinh tế, đạt mức trước chiến tranh

Hệ thống giáo dục của đất nước rơi vào tình trạng hỗn loạn; tính đến 18.000.000sinh viên không có việc làm, 4.000 trường bị phá hủy, và chỉ 20 phần trăm trong sốcác sách giáo khoa cần thiết có sẵn Ngoài ra, phần lớn của nhiều trong những cuốnsách giáo khoa có chứa nội dung tuyên truyền phi dân tộc,phải được loại bỏ trước khichúng phù hợp cho mục đích sư phạm Cuối cùng, hơn một trong ba tổ chức giáo dụcđại học nằm trong đống đổ nát, hàng ngàn giáo viên bị vô gia cư, đói khát và tan rã, vànhiều học sinh đã được chuyển đến những khu vực an toàn hơn Tóm lại, một chứcnăng hệ thống hầu như không có

2.2.2 Chính sách giáo dục hướng nghiệp

Khi Nhật Bản đầu hàng quân Đồng minh vào tháng 8 năm 1945, Mỹ đã buộclên kế hoạch chiếm đóng cuối cùng Nhật Bản, đồng thời chia sẻ một quan điểm cơ bảnchung về giáo dục Nhật Bản trước- trong thời chiến,vai trò của giáo dục trong việc mởrộng quân sự của Nhật Bản sang phần lớn châu Á,Châu Đại Dương

Các mục tiêu chính của Nghề nghiệp Nhật Bản có thể được nói một cách đơn giản

là dân chủ hóa, phi quân sự hóa và phân cấp xã hội Nhật Bản Người Mỹ nhận ra rằng mộtđịnh hướng mới của hệ thống giáo dục là một yếu tố không thể thiếu trong việc đạt đượcnhững điều này, đặc biệt là việc tái lập Nhật Bản thành một nền dân chủ Tình hình mớinày, được củng cố bởi tàn dư còn sót lại của thời tiền chiến, Nhật Bản sẵn sàng

Trang 23

chấp nhận và tuân theo các hướng dẫn từ trên, cho phép chính quyền Mỹ sử dụng cáccông cụ hiện có của chính phủ để thực hiện cải cách giáo dục Tiến hành kiểm duyệtsách giáo khoa, tạp chí và phim ảnh cũng như thanh trừng các giáo viên có trước Cáchoạt động nghề nghiệp được coi là phi dân chủ " Một trong những điều trớ trêu lớn vềđiều này thời kỳ đó là để khuyến khích dân chủ hóa giáo dục Nhật Bản nhưng hànhđộng của các lực lượng chiếm đóng toàn năng thường không dân chủ.

Cải cách giáo dục do người Mỹ khởi xướng đã được thiết kế để cải cách giáo dụcNhật Bản theo các mô hình của Mỹ, sẽ phải chuyển đổi định hướng trước chiến tranhcủa người dân Nhật Bản (đặc trưng bởi sự nhấn mạnh về lòng hiếu thảo, sự hoàn thiệncủa các quyền lực đạo đức, sự gắn kết nhóm , và trung thành với hoàng đế và quốc gia)phù hợp với các mục tiêu của Hoa Kỳ, áp dụng cho Nhật Bản Để hỗ trợ thực hiện việcchuyển đổi này, Bộ Giáo dục Mỹ đầu tiên, bao gồm hai mươi bảy nhà giáo dục của Mỹ, đã được cử một tháng ở Nhật Bản để kiểm tra giáo dục hệ thống cho mục đích đưa rakhuyến nghị cải cách hệ thống đó Đúng như kiểu Mỹ của họ, họ đã từ chối hầu hết cácyếu tố của giáo dục Nhật Bản thời tiền chiến và nhấn mạnh vào chế độ dân chủ- phânvùng của doanh nghiệp tập trung cao độ của Nhật Bản vào một hệ thống trong đóquyền lực tập trung của Bộ Giáo dục sẽ bị phá vỡ và cộng đồng địa phương sẽ kiểmsoát số phận giáo dục của chính họ Các nhà cải cách Mỹ cũng đề nghị dỡ bỏ hệ thốngkhác biệt của những ngày trước chiến tranh- ủng hộ chín năm sang trường học 6-3-3-4kiểu Mỹ, cùng với các bước được thiết kế để thúc đẩy tính cá nhân lớn hơn, phát triểntoàn bộ, sự hợp tác lớn hơn khả năng giảng dạy trong chương trình giảng dạy và cảicách triệt để ngôn ngữ viết của Nhật Bản

Về việc đầu tư cho giáo dục trong thời điểm này, có thể dễ dàng thấy rằng ngânsách chính phủ trong những năm 1945 ít hơn năm 1925 do hậu quả nặng nề của chiếntranh thế giới thứ II Năm năm 1925 với ngân sách 6000 tỷ yên, và phần chi tiêu giáodục là 100 tỷ, trong khi đó năm 1945, ngân sách giảm vào khoảng 5000 tỷ yên, chi tiêucho giáo dục khoảng 80 tỷ giảm đi nhiều so với nhưng cũng đã tăng mạnh sau đó chođến năm 1950 các khoản này lần lượt là 80000 yên, 140 yên Phần tăng lên của chi tiêuchính phủ cũng đồng nghĩa với việc đầu tư tăng lên cho giáo dục So với mô hình kiểumẫu Mỹ thì vào những năm 1947-1950 Nhật Bản lại có tỷ trọng chi tiêu quốc gia cho

Trang 24

giáo dục rất cao cho thấy sự cố gắng nỗ lực của Nhật Bản trong việc chi tiêu đầu tưcho giáo dục.

2.2.3 Thành tựu và hạn chế

Luật Giáo dục cơ bản và Luật Giáo dục học đường được ban hành vào năm 1947.Bản thảo Hoàng gia năm 1890 đã thay đổi 180 độ, tuyên bố rằng "giáo dục sẽ nhằm mụcđích phát triển toàn diện nhân cách, phấn đấu cho việc nuôi dưỡng tâm hồn và cơ thể, yêuchuộng sự thật và công lý, lòng tự trọng giá trị cá nhân, tôn trọng lao động và có tinh thầntrách nhiệm sâu sắc, và được thấm nhuần tinh thần độc lập, như những người xây dựngmột nhà nước hòa bình và xã hội "Nó cũng thiết lập một nguyên tắc quan trọng là tất cảchính quy định giáo dục sẽ được thực hiện bằng thủ tục nghị viện Mặt khác, thiết lập mộtcấu trúc giáo dục mới, trong đó một bậc thang 6-3-3 đã được tạo ra, tuổi nghỉ học đượcnâng lên mười lăm, và hợp tác đã được hợp pháp hóa Hai phần cơ bản của pháp luật giáodục hình thành nền tảng pháp lý của giáo dục Nhật Bản

Đến năm 1949, những thành tựu lớn của Nghề nghiệp đã được hoàn thành.Cácmệnh lệnh chính trị và chiến lược của "Chiến tranh lạnh" mới nổi đã khiến các nhàhoạch định chính sách của Mỹ đánh giá lại kế hoạch của họ cho tương lai của NhậtBản và để liên minh chặt chẽ hơn với lợi ích bảo thủ của Nhật Bản Sự nhiệt thành cảicách của người Mỹ đã giảm đi và môi trường ở Nhật Bản đã trải qua một sự thay đổiquan trọng Trước khi Mỹ kiểm soát rút quân vào mùa xuân năm 1952, các nhà cảicách Mỹ đã thành công trong việc dọn sạch các cấu trúc phi dân chủ cũ, thay thế chúngtheo ý thích của họ; họ đã thay thế những cá nhân thù địch với dân chủ với người Nhậttrở nên cam kết với các giá trị dân chủ; cung cấp cho các nhà giáo dục Nhật Bản mớichương trình giảng dạy, sách giáo khoa và phương pháp luận

Bên cạnh đó vẫn còn những hạn chế, theo một số học giả Nhật Bản và Mỹ, đãchỉ ra, rất nhiều trong số những cải cách này, chẳng hạn như giáo dục, trường học toàndiện, và kiểm soát cục bộ, đã ăn sâu vào mô hình dân chủ Mỹ nhưng bị rối loạn chứcnăng khi áp dụng đến bối cảnh Nhật Bản Tuy nhiên cơ quan giáo dục Nhật Bản,không có lựa chọn nào ngoài việc chấp nhận các khuyến nghị của báo cáo của bộ, và,thực sự, những khuyến nghị này trở thành cơ sở cho luật giáo dục quan trọng được đưa

ra giữa năm 1947 và 1949

Trang 25

2.3 Thời kỳ tăng trưởng cao (1950s-1970s)

2.3.1 Giai đoạn những năm 1950

2.3.1.1 Tình hình kinh tế - xã hội

Ngày 28/4/1952, Hiệp ước hòa bình San Francisco chính thức có hiệu lực, đánhdấu sự kết thúc chiếm đóng của Mỹ lên Nhật Bản, chính quyền hoàn toàn được trả lạicho người Nhật Chính phủ Nhật Bản đã ngay lập tức tiến hành hàng loạt các cải cáchtrong đó có giáo dục Năm 1952, chính phủ Nhật Bản đã xóa bỏ một số những chínhsách giáo dục của người Mỹ lên quốc gia này, đồng thời sửa đổi để phù hợp hơn với

mô hính phát triển giáo dục của Nhật Bản Đồng thời, năm 1952, Nhật Bản bắt đầu bathập kỷ lên ngôi về kinh tế được gọi là Phép màu kinh tế Nhật Bản Nhật Bản Vớinăng lực công nghiệp đáng kể mà nó đã xây dựng trong 75 năm trước Thế chiến II,Nhật Bản đã sẵn sàng để xây dựng lại nền kinh tế

Từ năm 1950, khi Chiến tranh Triều Tiên bắt đầu, đến năm 1951, tổng lượngthương mại thế giới đã tăng 34% và nhiều quốc gia trong đó có Nhật Bản đã trải qua sựbùng nổ đáng kể của nền kinh tế Sản xuất của Nhật Bản tăng gần 70% Trong những năm

1950, nền kinh tế tăng trưởng trung bình 9,3% mỗi năm Vào giữa những năm 1950, sảnxuất kinh tế đã tăng lên 155 phần trăm mức trước chiến tranh Thương mại xuất khẩunước ngoài chỉ ở mức 50 phần trăm trước chiến tranh trong những năm 1850

Tăng trưởng kinh tế nhanh chóng của Nhật Bản bắt đầu sau khi gia nhập IMF

và Ngân hàng Thế giới vào năm 1952 Cho vay lãi suất thấp, dài hạn của Ngân hàngThế giới đã giúp thúc đẩy phát triển năng lượng, công nghiệp, giao thông và các hệthống cơ sở hạ tầng khác Cho vay của Ngân hàng Thế giới bắt đầu với việc xây dựngnăm 1953 của nhà máy nhiệt điện Tanagawa của Công ty Điện lực Kansai ở tỉnhOsaka Các khoản vay tổng cộng 863 triệu đô la, tương đương 310 tỷ yên với mức cốđịnh 360 yên mỗi đô la 31 dự án bao gồm việc xây dựng một nhà máy của ToyotaMotor Corp tại trụ sở ngày nay, hệ thống Tokaido Shinkansen giữa Tokyo và Osaka,

và đường cao tốc Tomei giữa Tokyo và Nagoya

Bên cạnh đó, tỷ lệ cao của cả tiết kiệm cá nhân và đầu tư cơ sở vật chất, một lựclượng lao động với đạo đức làm việc mạnh mẽ, nguồn cung cấp dồi dào dầu giá rẻ, công

Trang 26

nghệ tiên tiến và sự can thiệp hiệu quả của chính phủ vào các ngành công nghiệp tưnhân cho phép Nhật Bản đạt tốc độ tăng trưởng hàng năm là 8%.

Năm 1955 là năm tạo nên kỷ nguyên trong lịch sử nền kinh tế Nhật Bản mà GNP

đã vượt qua mức trước chiến tranh Nhưng so với các nước châu u, các sản phẩm côngnghiệp lớn của Nhật Bản vẫn là các mặt hàng thâm dụng lao động như dệt may, phân bónhóa học, tàu hàng hóa và radio, vv Nền tảng chính của nền kinh tế lúc báy giờ là nôngnghiệp và sản xuất nhẹ, dần chuyển sang công nghiệp nặng như sắt thép, đóng tàu, công

cụ máy móc, xe cơ giới và các thiết bị điện tử đã thống trị lĩnh vực công nghiệp

Năm 1955 cũng là năm mà trong đó kế hoach 5 năm tự lực kinh tế đã được bắtđầu Mục tiêu của kế hoạch này là i) đạt được sự độc lập mà không phụ thuộc vào việntrợ của Hoa Kỳ và Viện kiểm soát đặc biệt liên quan đến chiến tranh, ii) mở rộng việclàm trong thời kỳ cung lao động dư thừa

Và nền kinh tế có dấu hiệu cho thấy sản xuất xuất khẩu sẽ sớm bùng nổ Đến năm

1956, Nhật Bản là công ty đóng tàu hàng đầu thế giới và là nhà sản xuất sắt thép lớn thứ

ba Các ngành công nghiệp Nhật Bản đã học cách biến công nghệ nước ngoài thành sứcmạnh công nghiệp bằng cách điều chỉnh các phát minh với những đổi mới trong nước

Các sản phẩm ban đầu của Nhật Bản bị chế giễu là hàng nhái rẻ tiền và nhiều công

ty đã phạm sai lầm khủng khiếp Người Nhật đã trải qua một giai đoạn tương tự như giaiđoạn mà Trung Quốc đang trải qua về mặt sao chép và vi phạm bản quyền Trong giaiđoạn đầu phát triển, các công ty Nhật Bản đã sao chép nhiều sản phẩm của Mỹ và châu u.Các công ty này và chính phủ Nhật Bản trở nên quan tâm hơn với những lo ngại về sở hữutrí tuệ khi các công ty Nhật Bản cần luật pháp để bảo vệ bằng sáng chế và bản quyền của

họ Từ năm 1952 đến 1958, số lượng các nhà nghiên cứu được tuyển dụng bởi các công ty

tư nhân đã tăng gấp đôi, cho thấy việc kinh doanh không chỉ đơn giản là đánh cắp ý tưởng

từ các quốc gia khác trong thời kỳ bắt đầu bùng nổ kinh tế này Về nhập khẩu, do mứclạm phát tăng cao sau chiến tránh, khiến cho những mặt hàng của Nhật đắt hơn và ít cạnhtranh hơn so với những sản phẩm nước ngoài Cuối những năm 1950, các sản phẩm nướcngoài cạnh tranh trực tiếp với các sản phẩm của các ngành mục tiêu trong nước đã bị kiểmsoát nhập khẩu chặt chẽ thông qua việc áp dụng hạn ngạch nhập khẩu Tỷ lệ tự do hóanhập khẩu vẫn còn thấp khoảng 40%

Trang 27

2.3.1.2 Chính sách giáo dục

Hướng tới sự khôi phục giáo dục quốc gia

Đến nửa cuối thập niên 1950, việc ưu tiên cho chính sách thiết lập hệ thốnggiáo dục 6 -3 (6 năm học tiểu học và 3 năm học trung học cơ sở) nhằm tạo nền tảnggiáo dục cơ bản cho người dân Trong những năm sau chiến tranh, việc đảm bảo lươngcho giáo viên là một trong những vấn đề quan trọng nhất Ảnh hưởng từ chi tiêu trongchiến tranh, mức lạm phát Nhật tăng cao khiến cho mức lương thực tế của giáo viênthấp, tạo ra gánh nặng tài chính cho chính quyền địa phương Bên cạnh đó, sự mất cânbằng về mức lương giáo viên ở các quận cũng khác nhau Với tình hình ngày càng tệhơn, một phong trào yêu cầu Chính phủ tài trợ tiền lượng giáo viên được kích hoạt.Năm 1952, một bộ Luật liên quan tới chi sẻ chi phí giáo dục của Kho bạc quốc giađược ban hành Thông qua bộ luật này, Kho bạc nhà nước sẽ gánh chịu một phần chiphí giáo dục bắt buộc, điều mà nhiều năm trước đó đã bị bãi bỏ Do đó, một nửa tiềnlương của giáo viên và một phần chi phí tài liệu giảng dạy được trả bởi Kho bạc

Việc xây dựng những tòa nhà trường học cũng gặp nhiều khó khăn đặc biệtnghiêm trọng, do việc kéo dài chương trình giáo dục bắt buộc nhưng lại không có bất

kỳ một kế hoạch cụ thể nào về việc xây dựng các trường học Sự thiếu hụt cơ sở vậtchất tại các trường học trung học cơ sở đã gây ra hiện tượng các lớp học tổ chức khôngthường xuyên Mặc dù đã nhận được sự hỗ trợ tài chính từ chính phủ để xây dựng cơ

sở vật chất nhưng tình hình không cải thiện do những thiệt hại sau chiến tranh gây ra

Chính vì vậy, năm 1953, một loạt các Luật cho phép Kho bạc Nhà nước trợ cấpchi phí cho cơ sở giáo dục và các nguồn lực cần thiết đã được ban hành Kể từ đó, việccung cấp các cơ sở vật chát cho trường công đã được thực hiện một cách có hệ thốngnhờ hệ thống hỗ trợ này của kho bạc quốc gia

Để đảm bảo hoặc cơ hội bình đẳng cho giáo dục và giáo dục bắt buộc 6-3, các biệnpháp khác cũng được thực hiện sau khi giành lại độc lập, như hỗ trợ tài chính cho học sinh

từ các gia đình nghèo đi học thúc đẩy giáo dục ở các khu vực biệt lập và các biện phápkhuyến khích trẻ em khuyết tật về tinh thần và thể chất đến trường Từ những năm 1950trở đi, một loạt các luật đã được ban hành để cải thiện trường học và môi trường học tập.Năm 1954, Luật thúc đẩy giáo dục ở những vùng xa xôi hẻo lánh đã

Trang 28

được ban hành nhằm mục đích cải thiện điều kiện giáo dục ở các khu vực miền núihoặc trên các đảo xa Những khoản tài chính đặc biệt đã được cấp nhằm cải thiện vànâng cấp cơ sở vật chất, trang thiết bị trong trường, những giáo viên giảng dạy trongnhững khu vực này cũng sẽ nhận được những khoản phụ cấp đặc biệt Hệ thống giáodục tập trung của họ đảm bảo rằng mọi trẻ em - từ Okinawa đến Hokkaido – đượchưởng "sự bình đẳng về cơ hội" vì các cơ sở vật chất tương đương nhau trên toàn quầnđảo, một chương trình giảng dạy thống nhất từ Bộ Giáo Dục, quyền tiếp cận sách giáokhoa như nhau, năng lực giáo viên bình đẳng theo các tiêu chuẩn quốc gia.

Cũng trong năm 1954, Luật về bữa trưa tại trường học đã được thành lập, đưa ranhững tiêu chí để cải thiện bữa trưa tại trường Chương trình ăn trưa ở trường cũng được

mở rộng đến các trường trung học cơ sở vào năm 1956 Năm 1956 cũng chứng kiến việcban hành Luật liên quan tới chia sẻ Kho bạc quốc gia để khuyến khích việc đi học củanhững học sinh có khó khăn về tài chính Theo đó, Chính phủ sẽ sử dụng một phần ngânsách quốc gia nhằm hỗ trợ các em có hoàn cảnh khó khăn có thể tiếp tục đi học

Sau chiến tranh, số lượng giáo viên giảm do một phần không có tiêu chuẩn giáoviên chính thức và sự cạn kiệt của Kho bạc chính quyền địa phương Do đó, năm 1958,Luật về tiêu chuẩn giáo dục bắt buộc đã ra đời quy định quy mô lớp học và tiêu chuẩn

số lượng giáo viên cố định Trong đó, mỗi lớp học được giới hạn tối đa 50 học sinh,làm giảm hiện tượng học nhồi nhét một cách có hệ thống và số lượng Năm 1958, Luật

về Sức khỏe học đường cũng đã được phê duyệt với mục tiêu đề ra những điều khoảnnhằm duy trì sức khỏe cho học sinh, thiết lập môi trường vệ sinh hơn trong trường học.Bên cạnh đó, phổ biến giáo dục đạo đức thông qua những bài học về giá trị cơ bản củacuộc sống cho người dân, dẫn đến tỷ lệ tội phạm giảm Cuối năm 1963, Luật liên quantới việc phân phối sách miễn phí cho những bậc học bắt buộc đã được ban hành

Thúc đẩy giáo dục về khoa học – công nghệ

Nhật Bản trong những năm 1950 cũng đã xây dựng và thực hiện hai luật nhằmthúc đẩy các lĩnh vực giáo dục, bao gồm Luật xúc tiến giáo dục công nghiệ (1951) vàLuật khuyến khích giáo dục khoa học (1953) Những luật này đặt ra tiêu chí quốc gialiên quan đến các phòng thí nghiệm, cơ sở vật chất và trang thiết bị cần thiết cho giáodục công nghiệ và giáo dục khoa học Luật này nhằm mục đích thúc đẩy giáo dục về

Trang 29

khoa học, coi nó như nền tảng của sự phát triển quốc gia Từ đó có thể thế việc ápdụng luật này cho thấy tầm quan trọng của thí nghiệm và những công việc thực tếtrong giáo dục về khoa học, đưa ra các tiêu chí về phòng thí nghiệm, tài liệu, thiết bịgiảng dạy ở mỗi trường học Tất cả các trường học, trường công và tư nhân muốn cảithiện cơ sở vật chất khoa học của họ để đáp ứng tiêu chí này có thể nộp đơn xin trợ cấpquốc gia để đáp ứng toàn bộ chi phí hoặc một phần chi phí Phần trợ cấp này có thê lêntới một nửa các chi phí liên quan.

Cuộc cải cách giáo dục ở Nhật Bản đã nhận dược sự ủng hộ mạnh mẽ từ pháicộng đồng các doanh nghiệp Năm 1952, một liên đoàn bao gồm một số công ty côngnghiệ lớn nhất của Nhật Bản, đã chỉ ra những bất gập trong giới công nghiệ với cáctrường định hướng dân chủ và kêu gọi một hệ thống giáo dục liên minh chặt chẽ hơntheo nhu cầu của ngành công nghiệ Điều này có nghĩa là các khóa học nghề ngàycàng tốt hơn và mức độ chuyên nghiệp cao hơn ở cấp đại học

Năm 1957, Chính phủ thực hiện kế hoạch 4 năm mang tên “Kế hoạch 8000 sinhviên”, nhằm mục tiêu sau 4 năm kể từ 1957 thu hút 8000 sinh viên tham gia học lĩnhvực công nghiệ và khoa học Đầu tiên, Nhật Bản cần có nền giáo dục trong công nghiệ

và khoa học tốt hơn Bên cạnh đó, do sự thiếu hụt các lao động trong lĩnh vực côngnghiệ và khoa học trên thị trường lao động Kế hoạch 8000 sinh viên được thực hiệnnhư một phương pháp để trau dồi nguồn nhân lực khoa học và công nghệ cần thiết đểthực hiện hóa sự tăng trưởng kinh tế với tầm nhìn mới Giai đoạn này cũng chứng kiến

sự chi tiêu giáo dục của chính phủ chiếm tỷ trọng lớn, ví dụ, năm 1955 chiếm 14.5%trong khi chi tiêu dành cho an ninh xã hội chiếm 12.5%

2.3.1.3 Thành tựu và hạn chế

Thành tựu

Kể từ năm 1950, mặc dù trong quá trình thực hiện cải cách, có một số trường hợpđối đầu và gây nhiễu loạn quanh giáo dục Nhật Bản, nhưng số lượng các tổ chức giáo dụctrong nước đã tăng mạnh Các trường trung học cơ sở mới được thành lập còn gặp nhiềukhó khăn về tài chính trong giai đoạn đầu, nhưng đến năm 1950, khi việc quy định giáodục bắt buộc là 9 năm đã hoàn thành, số lượng người dân muốn học cao hơn tăng lên Banđầu, điều này ảnh hưởng tới giáo dục phổ thông, sau đó tới giáo dục đại học

Trang 30

Tỷ lệ học sinh tham gia giáo dục trung học năm 1950 là 42.5%, tăng lên đến 57.7%vào năm 1960, đạt đến 82.1% vào năm 1970 và 94.1% vào năm 1980.

Số lượng sinh viên học các trường đại học và cao đẳng tiếp tục tăng nhanh.Năm 1960, tỷ lệ học sinh trung học tiếp tục tham gia giáo dục đại học chỉ chiếm 10.3%trong đó nam là 15.3% và nữ là 4.6% Giáo dục bậc đại học vẫn còn được tinh thầnđào tạo cho các tầng lớp ưu tú trong xã hội Tuy nhiên, đến năm 1970 con số này đạttới 23.6% và 37.4% trong năm 1980 Rõ ràng việc hiện đại học giáo dục ở Nhật Bản

đã thành hiện thực

Thị trường lao động qua từng năm đón nhận thêm nhiều nhân lực trong lĩnh vựckhoa học và công nghệ Tính đến năm 1960, sau 4 năm thực hiện, đã có 7961 sinh viêntốt nghiệp những ngành này, đạt 99.5% chỉ tiêu đề ra, cung cấp nguồn nhân lực chấtlượng cao cho nền kinh tế Đây mới chỉ là kế hoạch mở đầu trong chuỗi các kế hoạchgia tăng số lượng sinh viên khoa học công nghệ của chính phủ được thực hiện trongnhững năm 1960

Hạn chế

Tuy nhiên, ngay cả khi đưa tất cả những điều trên vào thực hiện, khi xem xéttổng thể bức tranh giáo dục của Nhật Bản, sẽ không dễ dàng có thể duy trì kế hoạchphát triển giáo dục như đã đề ra Nhu cầu học cao hơn của người dân Nhật tăng nhanh,nhưng lại không hợp với nhu cầu giáo dục từ nền kinh tế, tức những gì người dânmuốn học thì không phải là nhu cầu mà nền kinh tế thời bấy giờ Việc này gây áp lựccho chính phủ trong việc ra chính sách Ví dụ, ở tỉnh Toyama, việc đa dạng hóa giáodục trung học phổ thông theo hình thức 3-7, tức 30% kiến thức được học là kiến thứcchung, 70% kiến thức được học là khóa học về công nghiệp Kế hoạch này đã vấp phảimột làn sóng chỉ trích mạnh mẽ từ các bậc phụ huynh

Nhu cầu đi học của người dân tăng cao, ở cả trung học phổ thông và đại học, nhiều

tổ chức giáo dục tư nhân đã tuyển sinh với tỷ lệ nhiều hơn so với nhu cầu tuyển sinh của

họ Từ đó, những chỉ trích xung quanh việc nhà trường đang hạ tiêu chuẩn nhập học, việctuyển sinh giảng dạy được ví như “tham gia giáo dục hàng loạt” Từ đó dẫn đến sự khókhăn trong tài chính nhà trường trong khi thiếu sự hỗ trợ tài chính từ chính phủ

Trang 31

Mặt khác, có một hiện tượng chung là một khi sinh viên đã vượt qua kỳ thi tuyểnsinh để vào trường đại học, các tổ chức giáo dục ở Nhật Bản không yêu cầu nghiêmngặt từ các sinh viên của họ Không cần một nỗ lực đặc biệt nào để lên lớp, vì thế sinhviên hầu hết dành thời gian vào câu lạc bộ, làm bán thời gian và giải trí Trái ngượcvới trình độ giáo dục tiểu học và trung học chất lượng cao, chất lượng tầm thường củađại học đang trở thành một vấn đề ở thời bấy giờ.

2.3.2 Giai đoạn 1960 – 1970

2.3.2.1 Tình hình kinh tế - xã hội

Thành công kinh tế của những năm 1950 đã góp phần tiếp tục tăng trưởng trongnhững năm 1960 Khi các ngành công nghiệp lấy lại sức mạnh sau chiến tranh, tiềnlương của công nhân tăng lên, người tiêu dùng có nhiều tiền hơn để mua hàng hóatrong nước và kinh doanh phát đạt Chu kỳ này tiếp tục vào những năm 1960 Ví dụ,

về phát sóng truyền hình bắt đầu vào năm 1952 và đến cuối năm 1969, có hơn 25 triệumáy truyền hình ở Nhật Bản Một chiếc xe hơi là một thứ xa xỉ hiếm có vào năm 1950(chỉ có 48, 309 trong số đó ở Nhật Bản), nhưng đến năm 1969 đã có 6,9 triệu chiếc xeđược sử dụng Sự thành công của nền kinh tế tại nhà đã tạo ra một nền kinh tế xuấtkhẩu đang phát triển Năm 1950 Nhật Bản chỉ sản xuất 1.593 xe khách; vào năm 1969,

nó đã sản xuất 2.611.499 và trở thành nhà sản xuất xe khách lớn thứ ba thế giới Đếncuối những năm 1960, Nhật Bản đã trải qua sự tăng trưởng kinh tế phi thường, trungbình 14 đến 15% mỗi năm Thu nhập bình quân đầu người tăng từ đồng yên tươngđương $ 284 vào năm 1958 lên khoảng $ 1,22 vào năm 1968 Từ năm 1960 đến 1969,tiền lương tăng khoảng 10 phần trăm mỗi năm

Các ngân hàng tư nhân, cũng như các tổ chức công cộng như Ngân hàng Phát triểnCông nghiệp, đã thu hút tiền tiết kiệm cá nhân để chuyển vốn cho các doanh nghiệp.Trong những năm đầu phát triển kinh tế Nhật Bản từ những năm 1950 đến 1960, 1/3 sốtiền vay ngân hàng đến từ tiết kiệm tư nhân Hộ gia đình trung bình tiết kiệm dưới 10%thu nhập vào đầu những năm 1950, nhưng tỷ lệ tiết kiệm tăng vọt khi nền kinh tế tăngtrưởng và đạt 15% vào năm 1960 và đứng đầu 20% vào năm 1970 Các hộ gia đình đã tiếptục tiết kiệm vượt quá 20% kể từ đó Những khoản tiền này, được gửi vào tài khoản

Trang 32

tiết kiệm của các ngân hàng thương mại hoặc trong chính phủ điều hành hệ thống tiếtkiệm bưu chính, tạo thành một nguồn vốn khổng lồ có sẵn để đầu tư vào công nghiệp.Năm 1960 cũng là năm tự do hóa nhập khẩu Nếu giai đoạn những năm 1950, xuấtkhẩu Nhật Bản tăng nhanh đồng thời kết hợp với chính sách hạn chế nhập khẩu, khiến chocán cân thương mại thặng dư Năm 1960, dưới áp lực từ nước ngoài, chính phủ Nhật Bản

đã đẩy nhanh quá trình tự do hóa nhập khẩu trong một thời gian ngắn sau đó Do đó, tỷ lệ

tự do hóa nhập khẩu đã tăng lên 83% vào tháng 4 năm 1962, 89% vào tháng 4 năm 1963

và đến 92% vào tháng 8 năm 1963 Các chính sách tự do hóa nhập khẩu này đã cho phépNhật Bản trở thành quốc gia thứ 8 của IMF và gia nhập OECD vào năm 1964 Nền kinh tếNhật Bản chuyển sang hệ thống kinh tế mở một cách nhanh chóng

Trong một tuyên bố chính sách của thủ tướng Hayato Ikeda vừa trúng cử năm 1960,thể hiện ý định muốn tăng thu nhập của người Nhật gấp hai lần trong 10 năm Tức trungbình tăng trưởng kinh tế 7% mỗi năm Để thực hiện kế hoạch của thủ tưởng Ideka, đòi hỏiphải sản xuất thêm 170.000 nhà khoa học và kỹ sư Bên cạnh đó, tháng 10/1960, Hội đồngKhoa học và công nghệ (Kagaku Gijutsu Kaigi) đã gửi một cuộc điều tra về “Chiến lượctoàn diện cơ bản để thúc đẩy khoa học và công nghệ trong thập kỷ tới” Cả đề xuất của hộiđồng khoa học công nghệ và hội đồng kinh tế đều nhấn mạnh nhu cầu nguồn lực chuyêngia, đặc biệt là các kỹ sư Trước đó, kế hoạch đào tạo 8000 sinh viên đã hoàn thành vàomùa thu năm 1960 Đến cuối giai đoạn, tốc độ mở rộng các cơ sở công nghiệp đã đưa tốc

độ tăng trưởng trung bình hàng năm lên tới 10% Đây được coi là kế hoạch xuất sắc nhấttrong lịch sử các kế hoạch kinh tế ở Nhật Bản

Nhật Bản là người hưởng lợi chính từ sự tăng trưởng nhanh chóng của nền kinh

tế thế giới sau chiến tranh theo các nguyên tắc thương mại tự do được thúc đẩy bởiQuỹ Tiền tệ Quốc tế và Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại, và vào năm

1968, nền kinh tế của nó đã trở thành lớn thứ hai thế giới, sau đó Hoa Kỳ

2.3.2.2 Chính sách giáo dục

Trước kế hoạch của chính phủ và Hội đồng Khoa học và công nghệ, Bộ Giáo dục

đã lên kế hoạch để đáp ứng nhu cầu mới này, điều chỉnh kế hoạch 7 năm nhẳm bổsung 16.000 nhân lực cho khoa học và công nghệ thành kế hoạch 4 năm nhằm đào tạo20.000 nhà khoa học và kỹ sư

Trang 33

Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là không đủ các nhà khoa học và kỹ sư nếu chỉ được đàotạo ở các trường đại học quốc gia, vì thế hội đồng Khoa học và công nghệ đã tư vấnkiểm soát vai trò của các trường đại học tư nhân, nới lỏng tiêu chuẩn và thủ tục liênquan để mở rộng số lượng trường học Bộ Giáo dục đã chấp nhận tư vấn này Tính đếngiữa năm 1970, số lượng trường đại học tư nhân tăng lên nhanh chưa từng có với sựcan thiệp hạn chế và trợ cấp từ chính phủ.

Năm 1962, Chính phủ đã thông qua luật mở ra 19 trường cao đăng kỹ thuật,nhằm mục đích đào tạo các lao động trung cấp với kiến thức chuyên môn về côngnghệ Các chương trình giảng dạy kéo dài trong năm năm, thu hút những học sinh đãtốt nghiệp trung học cơ sở Từ đó tạo ra một số lượng lớn các kỹ thuật viên trung cấpcần thiết để vận hành nền kinh tế khoa học và kỹ thuật tinh vi Một số trường đại họcquan trọng và hàng đầu tại Nhật Bản cung cấp cả giáo dục đại học và sau đại học , đàotạo chuyên sâu cho những nhà khoa học và kỹ sư trở nên chuyên nghiệp hơn

Ngoài ra, các trường trung học kỹ thuật chuyên ngành và các khóa học kỹ thuậtcao ở các trường trung học phổ thông cũng sản sinh ra một lượng lớn những kỹ thuậtviên cấp dưới Một số tổ chứ bên ngoài hệ thống giáo dục chính thức còn cung cấpkhóa học ngắn hạn trong nhiều lĩnh vực, trong đó có điện tử

Trong thập kỷ 1960 – 1970, Chính phủ đã nâng cấp đối số khoa về khoa học và kỹthuật ở các trường đại học, số lượng sinh viên theo học theo đó cũng tăng lên 2.5 lần Nếunăm 1960, con số sinh viên theo học ngành khoa học và kỹ thuật chiếm 18.2 % thì năm

1975 lên tới 23.2%, cá biệt là ở các trường đại học quốc gia, con số này là 33%

Đặc biệt, sự gia tăng các tổ chức giáo dục đại học trong những năm 1960 là rấtđáng chú ý Trong 10 năm, 138 trường đại học được thành lập với chương trình giảngdạy kéo dài trong 4 năm và 199 trường cao đẳng mới được thành lập Đây là thời đại

mà người ta nhắc đến việc phổ cập giáo dục đại học rộng rãi

Trong thời kỳ này, chính phủ cũng tăng chi tiêu cho giáo dục, tăng từ 159.818 triệuyên năm 1950 lên 372.006 triệu yên năm 1955; đến 1.057.070 triệu yên vào năm 1963; vàtới 5.060.245 triệu yên vào năm 1973 Khoản tiền này không chỉ trang bị cơ sở vật chấttrong đó có phòng thí nghiệm và thư viện, đào tạo tại chức giáo viên mà còn hướng

Trang 34

dẫn giáo viên sử dụng các tài liệu và phương pháp mới nhất cho giảng dạy khoa học vàtoán học Bên cạnh đó, chính phủ còn trợ cấp cho cả trường công và tư nhân Một khốitài chính mới được dành riêng cho việc củng cố khoa học và công nghệ Các trườngđại học tư được vay với lãi suất thấp, quy mô khoản vay ngày càng được mở rộng với

sự tài trợ từ chính phủ Điều này đã đưa số lượng sinh viên tốt nghiệp trong khoảngthời gian này lên tới 100.000, cao hơn 30.000 so với kế hoạch ban đầu của Chính phủ

Kế hoạch 2000 sinh viên đã hoàn thành trong vòng 3 năm, sớm hơn 1 năm so với dựkiến, trong đó chủ yếu tỷ lệ này vượt trội ở khu vực trường tư Việc tận dụng tối đanguồn lực của khu vực tư nhân đã góp phần lớn vào tăng trưởng kinh tế thần kỳ củaNhật Bản trong giao đoạn này

2.3.2.3 Thành tựu

Giảo dục đã tạo thành động lực cho kinh tế, phát triển văn hóa xã hội ở NhậtBản Nhìn một cách tổng thể, giáo dục Nhật Bản có thể cung cấp một số lớn nhữngngười mang phẩm chất mà thế giới công nghiệp và xã hội Nhật Bản mong muốn,những người có kiến thức và kỹ năng cơ bản để ứng phó với sự thay đổi kỹ thuật, kỷluật và siêng năng , bền bỉ, và kỹ năng hợp tác trong công việc nhóm

Mức sống của người dân ngày càng tăng Năm 1950, thu nhập đầu người là 250$nhưng đã nhanh chóng tăng 2300$ vào năm 1972 Từ đó dẫn đến hệ quả, người dân từnông thông đổ về các trung tâm đô thị, cơ hội việc làm chưa từng có, nhu cầu tăng đốivới giáo dục chính quy phản ánh sự phát triển của kinh tế - xã hội

Vào cuối những năm 1950, GDP của Nhật Bản chí chiếm 3% thế giới, nhưng sauthời điểm khủng hoảng năm 1973, con số này đã tăng lên 10% Trên thực tế, tốc độtăng trưởng của Nhật Bản trung bình là 11% từ năm 1961 đến 1969, GDP năm 1969gấp 3.7 lần so với năm 1960

2.4 Hậu thời kỳ tăng trưởng cao (1972 - 1990s)

2.4.1 Tình hình kinh tế- xã hội

Từ 1972 đến nay tốc độ phát triển tuy chậm lại, song Nhật Bản tiếp tục là mộtnước có nền kinh tế lớn đứng thứ ba trên thế giới (chỉ đứng sau Hoa Kỳ và Trung Quốc).Trước đây Nhật Bản luôn giành vị trí thứ hai về kinh tế nhưng đã bị Trung Quốc vượt

Trang 35

qua từ đầu năm 2010 Tổng sản phẩm nội địa tính đến năm 2016 là 4.730.300 USD,GDP trên đầu người là 40,090 USD (2017), đứng thứ 3 thế giới và đứng thứ hai châu

Á (sau Trung Quốc) Cán cân thương mại dư thừa và dự trữ ngoại tệ đứng hàng đầuthế giới, nên nguồn vốn đầu tư ra nước ngoài rất nhiều, là nước cho vay, viện trợ táithiết và phát triển lớn nhất thế giới Nhật Bản có nhiều tập đoàn tài chính, ngân hàngđứng hàng đầu thế giới

Dịch vụ ngân hàng, bảo hiểm, bất động sản, bán lẻ, giao thông, viễn thông tất cảđều là ngành công nghiệp lớn của Nhật Bản, Nhật Bản có năng lực rất lớn về côngnghiệp, và đây là trụ sở của nhiều nhà sản xuất công nghệ tiên tiến bậc nhất thế giới vềcác sản phẩm xe có động cơ, trang thiết bị điện tử, công cụ máy móc, thép, phi kimloại, công nghiệp tàu thủy, hóa học, dệt may, thức ăn chế biến Đây cũng là nơi đặt trụ

sở của các tập đoàn đa quốc gia và nhiều mặt hàng thương mại trong lĩnh vực côngnghệ và máy móc Xây dựng từ lâu đã trở thành một trong những nền công nghiệp lớnnhất của Nhật Bản

2.4.2 Chính sách giáo dục: Cải cách giáo dục lần thứ 3 và đầu tư giáo dục nói riêng

2.4.2.1 Thực trạng nền giáo dục qua các bản báo cáo và một số đề xuất

Mặc dù cho những chính sách giáo dục trước đó đã có những thành quả nhấtđịnh, tuy nhiên với tình hình kinh tế xã hội trong giai đoạn phát triển chững lại đã cónhững yêu cầu khác đối với nền giáo dục

Hơn nữa, với các chính sách của giai đoạn phát triển trước cũng đã nảy sinh một sốbất cập Thứ nhất, việc đồng bộ hóa và quản lý quá mức trong giáo dục ảnh hưởng đếnhành vi của học sinh Một số cách dạy gây tranh cãi là việc bắt học sinh học vẹt đã cướp

đi sự tò mò trong học tập và giảm khả năng sáng tạo của học sinh Cách dạy này dẫn đến

số lượng học sinh không theo kịp giáo trình trên lớp và bỏ học tăng (thuật ngữ miêu tảnhững đứa trẻ này - Ochikobore - ra đời), sự bùng nổ của các trường dạy thêm

- juku -sau giờ đến trường Thứ hai, học sinh và phụ huynh phải đối mặt với stress do

áp lực cạnh tranh vào các trường phổ thông và đại học danh tiếng Thứ ba, chất lượnggiáo dục tầm thường ở bậc đại học hoàn toàn tương phản với mức độ giáo dục chất

Trang 36

lượng cao ở cấp cơ sở và phổ thông trở thành một vấn đề đáng quan ngại Bên cạnh

đó, ngày càng nhiều các vấn đề trong đời sống học sinh xuất hiện như vấn nạn bạo lựchọc đường, tội phạm vị thành niên, tự tử, dùng chất cấm Đầu những năm 70, một sốbáo cáo quan trọng kêu gọi cải cách giáo dục đã khuấy động những cuộc thảo luậnrộng rãi giữa những người thật sự quan tâm

Vào những năm 1970, nhiều ý kiến đưa ra ủng hộ một cuộc cải cách toàn diệntrong giáo dục Năm 1971, Hội đồng giáo dục trung ương (CCE) cảnh báo rằng “giáodục đang tụt hậu nhanh chóng vì hiện trạng giáo dục đương thời được bảo vệ bởi tínhlợi ích, bởi những người phản đối cải cách không hề chú tâm vào nội dung cải cách vàquá nhiều thời gian bị lãng phí vào các cuộc tranh luận về cải cách mà không có khảnăng thực hiện” CCE cũng đã đệ trình một báo cáo về chính sách căn bản để mở rộngtoàn diện hệ thống giáo dục, với mục đích cơ cấu lại tất cả các cấp giáo dục từ mẫugiáo đến đại học, tự gọi đó là cuộc cải cách giáo dục lớn thứ 3 (sau 2 cải cách lớn làcải cách Minh Trị và cải cách sau chiến tranh thế giới thứ 3)

Hầu hết các đề xuất cải cách đều cần nguồn kinh phí lớn, như việc: kéo dài hệthống giáo dục công miễn phí cho đến 5 tuổi, tăng lương cho giáo viên, cho phép giáoviên có thêm thời gian dạy học, mở rộng chương trình giáo dục đặc biệt, tăng trợ cấpcho các trường đại học tư Tuy nhiên bản đề xuất này đã vướng nhiều tranh cãi, bênphản đối cải cách nêu ra rằng những đề xuất này không thực tế khi chưa xem xét kỹcác cải cách và thay đổi sau chiến tranh Hơn nữa, việc kinh tế bị đình trệ và ngân sách

bị cắt giảm khiến cho cải cách có quy mô lớn khó mà thực hiện Tuy nhiên, luật đảmbảo chất lượng giáo viên vẫn được thực hiện, lương giáo viên được tăng gấp 3, caohơn nhiều so với lương mặt bằng công chức, nhằm thu hút nguồn nhân lực chất lượngcao vào ngành này Chính sách này đã có hiệu quả ngay tức thời khi số lượng ứng viêncho ngành giáo dục tăng mạnh, việc tuyển chọn cũng trở nên gắt gao và cạnh tranhhơn Về mặt kinh tế, nghề giáo viên đã trở thành một trong những lựa chọn nghềnghiệp hấp dẫn của giới trẻ

Trang 37

Báo cáo về các chính sách giáo dục của Nhật Bản của OECD năm 1971 cũng đãđóng góp về cuộc tranh luận cải cách giáo dục ở Nhật lúc bấy giờ Báo cáo của OECD

có lẽ đã cung cấp cái nhìn tổng quan và rõ ràng nhất về hiện trạng giáo dục Nhật Bản.OECD ghi nhận những đóng góp đáng kể của giáo dục trong sự phát triển công nghiệpquốc gia; tuy nhiên cũng chỉ trích mạnh mẽ sự bắt buộc tuân thủ chặt chẽ trong hệthống, quá kiểm soát và quá tập trung vào việc tiêu chuẩn hóa chủ nghĩa bình quân.OECD do đó đã đề xuất một số biện pháp thực tế nhằm phát triển tính cách của họcsinh thông qua chương trình giáo dục linh hoạt và ít áp lực hơn, nhiều thời gian rảnhdành cho hoạt động ngoại khóa, đa dạng hóa các hoạt động ngoại khóa và tăng cường

sự hợp tác và đoàn kết giữa học sinh Ngoài việc tập trung vào khả năng tiếp thu và bắtchước của học sinh, Nhật Bản nên đầu tư nhiều hơn vào các vấn đề như hợp tác, kỷluật, cạnh tranh, và sáng tạo

Đến những năm 1980, nhu cầu cho một cuộc cải cách giáo dục lại xuất hiện.Vào cuối năm 1982, thủ tướng Nakasone lên nắm quyền và mong muốn có một cuộccải cách giáo dục Trong những năm này, trên phương tiện truyền thông thông tin đạichúng liên tiếp đưa các tin tức về một nền giáo dục thất bại với những con số thể hiện

số lượng trẻ em nghỉ học vì không thích đến trường, bạo lực học đường, các hình phạtthể xác Năm 1983, số học sinh bỏ học từ các trường trung học công lập và tư thụctăng 5.3% so với năm trước đó Con số này đã tăng đáng kể mỗi năm từ năm 1974.Việc hệ thống giáo dục cứng nhắc và không linh hoạt còn dẫn tới sự gia tăng lớn trongbạo lực học đường Theo báo cáo của NPA, cơ quan cảnh sát quốc gia, nửa đầu năm

1983 đã ghi nhận sự gia tăng bạo lực đường so với năm 1982 là 26% Đáng ngạc nhiên

là, ngày càng nhiều nữ sinh trở nên bạo lực hơn, cứ 5 học sinh bị giam giữ bởi cảnh sátthì có 1 nữ sinh Không chỉ gia tăng về số lượng, tính chất của các cuộc bạo lực cònxấu xa và nguy hiểm hơn, bao gồm bắt cóc, đốt phá, hành hung trẻ vị thành niên.Trước tình hình đó, năm 1984, Hội đồng cải cách giáo dục quốc gia (NCER) đượcthành lập, là một cơ quan tư vấn trực tiếp dưới thẩm quyền của thủ tướng Trong thờigian đương nhiệm 3 năm, NCER đã cho ra 4 bản báo cáo giáo dục

Trang 38

Bản báo cáo thứ 1 vào năm 1986 đã phác họa các đặc trưng trong nền giáo dục như sau:

- Giáo dục Nhật Bản đã trở thành động lực phát triển xã hội Nhật Bản Khi so sánhvới 1 số quốc gia khác, mức độ giáo dục tiểu học và trung học ở Nhật Bản được đánhgiá cao

- Tuy nhiên, Nhật Bản đang phản ứng chậm trong hội nhập quốc tế Bạo lực vàngược đãi là kết quả của sự đồng nhất, cứng nhắc trong hệ thống và sự quản lý giáodục Sự đổ nát giáo dục được thể hiện qua các hiện tượng như cạnh tranh thi cử quámức, bắt nạt, tội phạm vị thành niên, có gốc rễ gắn liền với thực trạng trường học,gia đình, xã hội

- Nguyên nhân chính của tình trạng này là chủ nghĩa duy vật và sự thiếu vắng kếtnối cảm xúc do xã hội khoa học và công nghệ, sự thiếu hụt trong việc tiếp xúc trựctiếp với thiên nhiên, thiếu tôn trọng đối với cuộc sống…

- Kể từ thời kỳ Minh Trị, một trong những mục tiêu của Nhật Bản là bắt kịpphương Tây, kể cả trong lĩnh vực giáo dục Tuy nhiên, nền giáo dục của Nhật Bảnđang bị tụt hậu so với những thay đổi xã hội và nhu cầu của thời đại

Cùng với đó, hội đồng cũng đã đề ra 8 phương hướng cơ bản cho cải cách giáo dục:

- Nhấn mạnh vào tính cá nhân

- Tập trung vào các nguyên tắc cơ bản

- Trau dồi sự sáng tạo, khả năng tư duy, và sức mạnh của sự diễn đạt và bày tỏ ýkiến

- Mở rộng cơ hội lựa chọn

- Nhân văn hóa môi trường học tập

- Chuyển sang hệ thống giáo dục lâu dài

- Thích nghi với toàn cầu hóa

- Thích nghi với nền xã hội thông tin

Bản báo cáo thứ 2 và thứ 3 của Hội đồng được đánh giá là khá dài dòng tuynhiên lại không đưa ra được các đề xuất cụ thể, vì trong giai đoạn này, nội bộ của Hộiđồng có phần lục đục

Trang 39

Tháng 8 năm 1987, bản báo cáo thứ 4 cũng là bản báo cáo cuối cùng, tóm tắtnội dung cồng kềnh 3 bản báo cáo trước đó, nêu ra quan điểm cơ bản về cải cách giáodục qua 3 nguyên tắc sau:

- Nhấn mạnh vào bản sắc cá nhân

- Chuyển sang hệ thống giáo dục lâu dài

- Phản ứng với sự thay đổi quốc tế hóa và thông tin hóa

Các đề xuất giải pháp cụ thể được nhóm thành 6 lĩnh vực: xây dựng hệ thống họctập lâu dài; cải cách và đa dạng hóa giáo dục đại học; tăng cường và cải cách giáo dục bậctiểu học và cơ sở; cải cách nhằm phản ứng với quốc tế hóa; cải cách nhằm phản ứng vớiviệc thông tin phát triển và lan rộng; cải cách hành chính và tài chính Đây là 1 bản báocáo có hệ thống và toàn diện Nhiều đề xuất của hội đồng đã nhanh chóng được chuyểnđổi thành chính sách và đưa ra thực hiện, ví dụ như việc đào tạo tại chức cho giáo viênmới được bổ nhiệm nhằm nâng cao trình độ giáo viên, thành lập hệ thống trung học 6năm, giáo dục trung học phổ thông theo tín chỉ nhằm tăng tính linh hoạt cấu trúc tronggiáo dục trung học phổ thông, tuyển sinh đại học bằng bài kiểm tra chung

2.4.2.2 Giai đoạn cải cách giáo dục

Có 3 giai đoạn trong phong trào cải cách giáo dục thứ 3: giai đoạn đầu tiên làtrong những năm 1980, giai đoạn 2 là cuối những năm 1980 đến giữa những năm

1990, và giai đoạn 3 bắt đầu từ cuối những năm 1990

Trong giai đoạn đầu tiên, chính sách “Yutori Kyoiku” (chương trình học tậpkhông áp lực) bắt đầu với việc sửa đổi chương trình học toàn quốc được thực hiện vàonăm 1980 nhằm khiến cho môi trường học tập thú vị và không áp lực Chương trìnhgiảng dạy đã được giảm bớt số giờ học, giảm tải nội dung trong một số môn học chính,đồng thời giới thiệu các giờ học linh động gọi là “Yutori no Jikan”, cũng như đề xuấtviệc dạy và học tập trung vào học sinh Cải cách trong giai đoạn này nhằm giải quyếtthực trạng bạo lực gia tăng trong giới học sinh, vì đa số báo chí, nhà phê bình giáo dục,chính trị gia, hay lãnh đạo các doanh nghiệp đều cho rằng nguyên nhân của hiện tượngnày là do áp lực trường học

Ngày đăng: 30/07/2020, 15:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w