Nguồn gốc bẫy thu nhập trung bìnhKhoảng một thập kỷ trước, vào năm 2005, khi đang nghiên cứu phát triển kinh tế ởĐông Á, các nhà kinh tế nhận thấy rằng không có chiến lược tăng trưởng dễ
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Việt Nam, trong nền kinh tế thị trường theo xu hướng toàn cầu hóa và hội nhậpkinh tế quốc tế, đã có những bước phát triển mạnh mẽ trong những năm qua và đạtđược nhiều kết quả tích cực Thể hiện rõ nhất là qua tăng trưởng nhanh gắn với giảm
tỷ lệ nghèo Từ năm 2008, Việt Nam chính thức trở thành nước có thu nhập trung bìnhtheo cách phân loại của Ngân hàng Thế giới Đây là cột mốc quan trọng, mở ra nhiều
cơ hội mới cho sự phát triển của nền kinh tế nước ta Nhưng bên cạnh đó, giới quan sátkinh tế cũng cảnh báo Việt Nam sẽ bị rơi vào một cái bẫy gọi là bẫy thu nhập trungbình bởi nền kinh tế chủ yếu dựa vào việc khai thác sức lao động rẻ và đơn giản
Việt Nam từ năm 2008 đã vượt qua mốc GDP bình quân đầu người 1.000 USD
và bắt đầu bước vào ngưỡng nước có thu nhập trung bình (thấp) Tuy nhiên, cũng từnăm 2008 đến nay, kinh tế Việt Nam liên tục rơi vào tình trạng bất ổn, trì trệ, “nghẽnmạch” tăng trưởng dài nhất từ khi đổi mới, khiến cho nguy cơ mắc Bẫy thu nhập trungbình càng rõ hơn
Trong bối cảnh đó, nhận thấy được tầm quan trọng và tính cấp thiết của việc nghiêncứu quá trình vượt qua bẫy thu nhập trung bình của một số nước Đông Á, từ đó liên hệ tới
Việt Nam, nhóm quyết định lựa chọn đề tài: “QUÁ TRÌNH VƯỢT QUA BẪY THU
NHẬP TRUNG BÌNH CỦA CÁC NƯỚC ĐÔNG Á VÀ BÀI HỌC CHO
VIỆT NAM” hi vọng việc hiểu rõ về Bẫy thu nhập trung bình cùng với cách những
quốc gia đã vượt qua nó sẽ giúp đề ra được những giải pháp đúng đắn có thể áp dụngcho Việt Nam
3 Đối tượng nghiên cứu:
Trang 2 Quá trình vượt bẫy thu nhập trung bình của Nhật Bản
Quá trình vượt bẫy thu nhập trung bình của Hàn Quốc
Quá trình vượt bẫy thu nhập trung bình của Trung Quốc
Tình hình, thực trạng của Việt Nam
4 Phạm vi nghiên cứu:
Nhật Bản trong và sau giai đoạn thu nhập trung bình
Hàn Quốc trong và sau giai đoạn thu nhập trung bình
Trung Quốc trong giai đoạn thu nhập trung bình
Việt Nam trong giai đoạn thu nhập trung bình
5 Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết
Phương pháp so sánh, đối chiếu
6 Kết cấu của bài tiểu luận:
Bài tiểu luận được chia thành 3 chương:
Chương 1: Lý thuyết tổng quan về bẫy thu nhập trung bình
Chương 2: Quá trình vượt qua bẫy thu nhập trung bình của các nước Đông Á
Chương 3: Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
7
Trang 3CHƯƠNG 1: LÝ THUYẾT TỔNG QUAN VỀ BẪY THU NHẬP TRUNG BÌNH 1.1 Nguồn gốc bẫy thu nhập trung bình
Khoảng một thập kỷ trước, vào năm 2005, khi đang nghiên cứu phát triển kinh tế ởĐông Á, các nhà kinh tế nhận thấy rằng không có chiến lược tăng trưởng dễ tiếp cậnnào có thể đề xuất cho các nhà hoạch định chính sách ở các nền kinh tế có thu nhậptrung bình trong khu vực Các tài liệu phát triển kinh tế thịnh hành có nền tảng dựatrên mô hình tăng trưởng Solow, nhấn mạnh tích lũy vốn vật chất và nhân lực hiệu quả
là động lực chính của tăng trưởng
Theo đúng nghĩa, như chúng ta biết phát triển phải hình thành nhờ nâng cao chấtlượng vốn con người hơn là nhờ may mắn vì có được nguồn tài nguyên thiên nhiên hay cólợi thế vị trí địa lý để dễ dàng tiếp nhận hỗ trợ và đầu tư nước ngoài Phụ thuộc vào nhữnglợi thế không tự mình tạo ra, quốc gia có thể tăng trưởng đến mức thu nhập thấp, trungbình hay cao với một chút nỗ lực nhưng rồi cuối cùng sẽ bị mắc kẹt ở mức thu nhập đónếu không xây dựng được ý thức quốc gia và những thể chế để khuyến khích nâng caochất lượng nguồn nhân lực Tình trạng này được gọi là “bẫy phát triển” Nếu đất nước cóchút ít lợi thế về tài nguyên và vị trí địa lý, đất nước đó sẽ dễ bị rơi vào bẫy thu nhập trungbình Một điều hiển nhiên là bất kỳ ai nếu chỉ có thể cung cấp lao động giản đơn cho cáccông sở, nhà máy do người nước ngoài quản lý thì chỉ nhận được mức thu nhập trung bìnhkhoảng vài trăm đô la Mỹ một tháng Để tăng thu nhập, họ phải có kỹ năng và kiến thức
mà nền kinh tế toàn cầu đang cần, tham gia vào các hoạt động có tính sáng tạo và tạo ragiá trị, và không cần đến sự hướng dẫn của người nước ngoài
Cùng với đó, các lý thuyết về tăng trưởng nội sinh đã trở thành tư tưởng chủ đạo trongcác cuộc tranh luận chính sách Sau sự tiên phong của Romer (1986), Lucas (1988) và mộtthập kỷ sau là Aghion và Howitt (1996), các nhà kinh tế đã bắt đầu quan tâm tới lý thuyết
‘’Cải tiến khoa học công nghệ và Hàm sản xuất tổng hợp’’ (1957) của Solow Cạnh tranh,khoa học và công nghệ có tiềm năng mở rộng đã thành xu hướng của lý thuyết tăngtrưởng Những mô hình này dường như giải thích rõ hơn về hiện tượng hội tụ năng suất(Baumol, 1986) khi một nhóm các nước tiên tiến được lựa chọn thể hiện sự hội tụ, ít nhất
là về tốc độ tăng trưởng kinh tế nếu không xét về mức thu nhập bình quân đầu người,trong khi các quốc gia thu nhập thấp và trung bình, chỉ có một vài ngoại lệ,
Trang 4đã bị bỏ lại phía sau (Pritchett, 1997) Và tất nhiên, những đột phá về công nghệ vàđịnh giá tăng vọt của các công ty công nghệ cho thấy một nền kinh tế mới với các nềnkinh tế có mức độ quan trọng đang diễn ra trong thế kỷ 21 Khu vực ASEAN đã bắtđầu quan tâm về việc chuyển đổi sang các nền kinh tế tri thức Hàn Quốc đã thực hiệnthành công điều này sau cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997/98 Điều này sẽsớm xảy đến với hầu hết các nước ASEAN có thu nhập trung bình, do chất lượng yếukém của hệ thống giáo dục đại học và tỷ lệ nhập học thấp, thiếu bằng sáng chế trongnước, mức độ đổi mới và khuếch tán công nghệ thấp, thiếu hụt hệ sinh thái đầu tư mạohiểm – Các công ty lắp ráp không di chuyển tới mức cao hơn trong chuỗi giá trị.
Theo đó, khi mức lương của người lao động ở các nước đang phát triển tăng lên,các nhà sản xuất thường cho rằng họ không thể cạnh tranh với những nhà sản xuất cógiá thành sản phẩm thấp hơn trong thị trường xuất khẩu Bên cạnh đó, họ cũng nhậnthấy rằng bản thân mình không có công nghệ tốt nhất như ở các nước đã phát triển.Bẫy thu nhập trung bình xảy đến khi một quốc gia phát triển chững lại hay thậm chí làtrì trệ sau khi đạt được một mức thu nhập trung bình Vấn đề này thường nảy sinh vớicác nền kinh tế đang phát triển khi mức lương tăng lên trong khi tính cạnh tranh về giá
cả hàng hóa giảm xuống, khó có thể cạnh tranh với các nền kinh tế đã phát triển vềcông nghệ tối tân, hay với các nền kinh tế có mức lương thấp hơn trong việc sản xuấthàng hóa giá rẻ Sự mâu thuẫn giữa nền tảng lý thuyết và thực nghiệm này đã đưa rathuật ngữ bẫy thu nhập trung bình để mô tả các nền kinh tế với mức thu nhập trungbình đang bị ép giữa các đối thủ cạnh tranh Một mặt là nền kinh tế thu nhập thấp chiphối (có tính cạnh tranh cao trong các khâu sản xuất yêu cầu tay nghề thấp, với mứcchi phí thấp nhất có thể), một mặt là các nước thu nhập cao với sự cạnh tranh trong cácngành yêu cầu chuyên môn hóa cao
Nhìn trình độ phát triển, hiện tại có 4 nhóm nước: nhóm một gồm những nước thunhập thấp, đang trực diện với cái bẫy nghèo Nhóm hai đã đạt trình độ phát triển trungbình từ rất lâu nhưng sau đó trì trệ cho đến ngày hôm nay, đa số các nước Mỹ latinh thuộcnhóm này Nhóm thứ ba gồm những nước mới phát triển mấy chục năm nay và hiện nay
đã đạt mức thu nhập trung bình, ở Châu Á có một số nước ASEAN thuộc nhóm này.Nhóm thứ tư gồm các nước tiên tiến có mức thu nhập cao như Mỹ, Nhật, Điều đáng chú
ý là nhóm nước thứ hai đã đạt mức thu nhập trong nhiều năm dẫn đến trì trệ
Trang 5lâu dài Hiện tượng này được gọi là bẫy thu nhập trung bình Do đó, các cuộc họpthường niên của Ngân hàng Thế giới và Quỹ Tiền tệ Quốc tế được tổ chức tạiSingapore năm 2006 đã tạo cơ hội đánh giá lại các vấn đề mà các nước thu nhập trungbình trong khu vực phải đối mặt, chủ yếu là các nước trong ASEAN nhằm tìm hiểunguyên nhân và đưa ra giải pháp cho tình hình này.
1.2 Khái niệm bẫy thu nhập trung bình
Cho đến nay, mặc dù chưa có một định nghĩa chung về bẫy thu nhập trung bình,nhưng các nghiên cứu về vấn đề này tương đối phong phú và đưa ra nhiều kết luận kháđồng nhất
Bẫy thu nhập trung bình là một tình huống mà một quốc gia bị mắc kẹt tại mức thunhập được quyết định bởi nguồn lực nhất định với lợi thế ban đầu và không thể vượtqua mức thu nhập đó Mức thu nhập thường phụ thuộc vào quy mô của nguồn lực sẵn
có và lợi thế liên quan đến dân số Nếu thu nhập phi tiền lương là nhỏ, đất nước sẽ bịmắc trong thu nhập thấp (hoặc thu nhập nghèo) Nếu đất nước có nguồn tài nguyênthiên nhiên phong phú và dòng ngoại tệ lớn, thu nhập bình quân đầu người sẽ cao tựnhiên mà không cần bất kỳ nỗ lực phát triển nào Nếu quốc gia có lợi thế và nguồn tàinguyên trung bình, nó sẽ bị rơi vào bẫy thu nhập trung bình (cũng như các loại bẫykhác) xảy ra khi tăng trưởng được tạo ra bằng may mắn mà không bằng những nỗ lựcnghiêm túc của doanh nghiệp và chính phủ Tăng trưởng chỉ phụ thuộc vào những lợithế sẵn thì sớm hay muộn cũng đi đến hồi kết thúc năng lực cạnh tranh sẽ bị bào mòntrước khi đất nước đạt thu nhập cao, cuối cùng không tăng trưởng được nữa Khi thunhập tăng, chi phí tăng, các ngành công nghiệp sản xuất cũ kỹ, công nghệ thấp mất khảnăng cạnh tranh Các quốc gia sau đó phải chuyển "chuỗi giá trị" sang xuất khẩu cácsản phẩm công nghệ tiên tiến hơn Nhưng ngay cả như thế cũng không đủ để tránhbẫy Để trở thành nền kinh tế có thu nhập cao, nó cần làm nhiều hơn là chỉ làm ra sảnphẩm bằng cách tăng người và lao động cho các nhà máy Nền kinh tế cần đổi mới và
sử dụng lao động cũng như nguồn vốn hiệu quả hơn
Điều đó đòi hỏi một mô hình hoàn toàn khác trong kinh doanh Thay vì chỉ lắp rápcác sản phẩm được thiết kế bởi những nước khác, với công nghệ nhập khẩu, các công
ty phải chủ động đầu tư mạnh vào nghiên cứu và phát triển, sử dụng lao động có tay
Trang 6nghề cao để chuyển hóa những khoản đầu tư thành sản phẩm mới và lợi nhuận Đó sẽ
là một sự thay đổi không dễ đạt được
Theo Ngân hàng Thế giới (WB), "bẫy" thu nhập trung bình xảy ra khi một nước bịmắc kẹt mãi trong khoảng thời gian dài (trung bình trong 42 năm) không vượt quađược ngưỡng thu nhập bình quân đầu người cơ bản từ 4.000 đến 6.000 USD/năm.Theo Indermit Gill, cố vấn và Homi Kharas, chuyên gia kinh tế trưởng của Ngânhàng thế giới “ Bẫy của các nước thu nhập trung bình” hay “Bẫy thu nhập trung bình”
là tình trạng không đáp ứng nổi những đòi hỏi cao và rất cao khi nền kinh tế đã đạt đếnmức thu nhập trung bình Có hai mốc quan trọng: GDP trên 1000 USD người/năm vàkhoảng 10.000 USD người/năm Chỉ có nền kinh tế nào vượt qua mốc thứ nhất và sau
đó tiếp tục tăng trưởng mạnh để đạt tới mốc thứ hai, rồi vẫn tiếp tục tăng trưởng thìmới trở thành nền kinh tế công nghiệp hóa
Trong một nghiên cứu của mình, Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) cũng đưa ra quanđiểm ngắn gọn: "bẫy" thu nhập trung bình là hiện tượng các nền kinh tế vốn tăngtrưởng nhanh nay đang bị “mắc kẹt” ở mức thu nhập trung bình và không thể dần dầntiệm cận được mức của nhóm các nền kinh tế có thu nhập cao
Tóm lại, “bẫy” thu nhập trung bình theo cách hiểu phổ thông nhất là một tình trạngtrong phát triển kinh tế, khi mà một nước đã đạt đến một mức thu nhập bình quân nhấtđịnh (do những lợi thế sẵn có) sẽ dậm chân tại mức thu nhập đấy
Giới phân tích cho rằng, một trong số những quốc gia có nguy cơ rơi vào kịch bảnnày, nhiều nhất là Trung Quốc Căn cứ vào số liệu thống kê mới nhất, GDP bình quânđầu người của Trung Quốc đã vượt qua ngưỡng 4.000 USD, bước vào hàng ngũ cácnước có thu nhập trung bình Và nền kinh tế lớn thứ hai thế giới này cũng đã bắt đầuxuất hiện hiện tượng giống như ở những nước từng rơi vào "bẫy thu nhập trung bình".Theo Giáo sư Trịnh Vĩnh Niên thuộc Đại học Quốc gia Singapore, xét trên nhiềuphương diện, Trung Quốc bắt đầu rơi vào "bẫy thu nhập trung bình" Thực tế, quốc gianày bắt đầu xuất hiện hiện tượng giống như những nước từng rơi vào "bẫy thu nhậptrung bình" trải qua Ví như tăng trưởng kinh tế thiếu động lực bền vững, phân hóagiàu nghèo, đô thị hóa quá mức, thiếu hụt dịch vụ công, khó khăn trong tạo việc làm
"Bẫy thu nhập trung bình" cũng có thể nhìn thấy ở rất nhiều quốc gia và vùng lãnhthổ trên thế giới như Brazil, Mexico, Chile, Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Philippines
Trang 7Những nước này đều bước vào hàng ngũ các quốc gia có thu nhập trung bình từ nhiềuchục năm trước, nhưng tới nay vẫn loay hoay trong giai đoạn phát triển thu nhập GDPbình quân đầu người từ 2.000 USD đến 5.000 USD Khó đến mức mà nhà kinh tếngười Nhật Kenichi Ono đã gọi đó là cái "trần thủy tinh" của các nước ASEAN.
Tuy nhiên, có quan điểm lại cho rằng, một nước gặp phải tình trạng trên khi đạtthu nhập trung bình thấp, xuất khẩu hàng hóa của họ phải vật lộn để cạnh tranh vớinhững hàng hóa từ các nước có thu nhập thấp hơn, có mức lương nhân công thấp hơn
và tăng trưởng dựa vào đầu vào trước kia của họ bị chậm lại Cùng lúc họ phải đươngđầu với một khó khăn khác, đó là cạnh tranh với các nền kinh tế tiên tiến với kỹ năngcao và tăng trưởng dựa trên năng suất
1.3 Nguyên nhân sập bẫy thu nhập trung bình
Do bẫy thu nhập trung bình cũng không hẳn là một thuật ngữ kinh tế nên hầu hếtcác nghiên cứu hiện nay về bẫy thu nhập trung bình đều tập trung mô tả những đặcđiểm của các quốc gia được cho là đã mắc bẫy Bẫy thu nhập trung bình được xem nhưmột tập hợp các biểu hiện của một căn bệnh mãn tính (giống như huyết áp cao vàcholesterol cao là dấu hiệu của các vấn đề sức khỏe kinh niên) Việc phát hiện ra mộtvài biểu hiện riêng lẻ không đủ để chữa bệnh Vì vậy, cần xác định nguyên nhân thực
sự của các biểu hiện trước khi đưa ra hướng điều trị thích hợp
Các quốc gia đang phát triển lại vướng vào “bẫy thu nhập trung bình” là do cácnguyên nhân chính sau :
Sự suy giảm hiệu quả vốn đầu tư sau quá trình kích thích tăng trưởng
Dễ dàng thấy rằng các nước thu nhập trung bình sau khi đạt đến mức độ tăngtrưởng khả quan có thể bị mắc kẹt, một bên không cạnh tranh nổi với các nước giàu cócông nghệ vượt trội, bên kia lại cũng thua các nước thu nhập thấp vì giá nhân côngthấp Vì thế trên các thị trường kết nối toàn cầu hóa, các nước trung bình này có tốc độphát triển thua cả nước giàu lẫn nước nghèo Bên cạnh đó việc kém hiệu quả trong sửdụng vốn gây lãng phí vốn đồng thời làm giảm đi sức hấp dẫn của nền kinh tế đối vớicác nhà đầu tư, đặc biệt là nhà đầu tư nước ngoài
Tiếp tục tình trạng của một nền kinh tế gia công
Cùng với sự suy giảm về chất lượng nguồn vốn đầu tư, việc tiếp diễn nền kinh tế gia công cũng khiến nền kinh tế trong nước không đủ tạo ra giá trị gia tăng mới nhằm cạnh
Trang 8tranh với các doanh nghiệp công nghệ cao để tham gia vào chuỗi giá trị công nghiệptoàn cầu, nhân lực trong thời kỳ thu nhập thấp chủ yếu được khai thác phần thô màchưa chú trọng vào kỹ năng, trình độ, dẫn đến trình độ mặt bằng kém, lao động sẽkhông đủ khả năng để sáng tạo và sử dụng công nghệ mới trong hoạt động sản xuấtkinh doanh, điều này cũng dẫn tới góp phần làm tăng sự thống trị của các doanhnghiệp mang thương hiệu nước ngoài trong nền kinh tế quốc dân Điều này dựa trên cơ
sở lý thuyết đường cong nụ cười Đường cong giá trị gia tăng (còn gọi là đường cong
nụ cười) thể hiện sự thay đổi giá trị gia tăng trong quá trình hình thành một sản phẩm,
từ khi bắt đầu hình thành đến tay người tiêu dùng
Hình 1 1 The Stan Shih Smile Curve
Nguồn: TheoryBiz.com, truy cập ngày 12/03/2020
Trục đứng của đồ thị thể hiện “lợi nhuận” (giá trị gia tăng) Càng đi xuống đáy nụcười thì phần giá trị gia tăng hay lợi nhuận mang lại càng thấp Hàm ý của “đườngcong nụ cười” là: doanh nghiệp muốn gia tăng lợi nhuận thì tránh sa đà vào việc tậptrung gia công và lắp ráp, mà hãy không ngừng đẩy mạnh hoạt động về hai phía đồ thị
vì thực tế cho thấy nền kinh tế gia công đòi hỏi quá nhiều đầu tư cho một giá trị giatăng - cái tạo thành GDP, cùng một giá trị sản phẩm thì giá trị gia tăng của sản phẩmgia công rất thấp, nhiều trường hợp chỉ bằng 5-10% giá trị sản phẩm
Sự phân hóa thu nhập dẫn đến phân cực và bất ổn
Trang 9Sự phân hóa thu nhập làm cho khoảng cách giữa các nhóm và các khu vực ngàycàng xa Các khu vực nghèo hơn và khu vực nông thông đang tụt hậu so với khu vựcthành thị Bên cạnh đó các dân tộc thiểu số cũng đóng góp rất ít vào quá trình tăngtrưởng chung khiến khoảng cách ngày càng giãn dài Việc không có khả năng đối phóvới các vấn đề phát sinh do tăng trưởng cao như là khoảng cách giàu - nghèo, bongbóng bất động sản và cổ phiếu, suy thoái môi trường, đô thị hóa, tắc nghẽn giao thông,tham nhũng, v.v cho thấy rõ những bất cập trong nguyên nhân này
Có thể nhận thấy, việc gia tăng bất bình đẳng về thu nhập cũng là một trong nhữngnguyên nhân làm cho các nước Châu Mỹ La Tinh rơi vào “bẫy thu nhập trung bình”.Thực tế, có nhiều nền kinh tế ở châu Á từ nghèo chuyển thành có thu nhập trung bình,nhưng có rất ít trong số đó vượt lên như trường hợp của Đài Loan và Hàn Quốc.Philippines là quốc gia điển hình của tình trạng vướng vào bẫy thu nhập trung bình đãkhông thể vượt qua ngưỡng 2.000 USD trong nhiều thập niên Indonesia cũng mất hơnmột thập niên để từ trên 1.000 USD vượt lên hơn 2.000 USD/người Còn Thái Lan thìbất ổn kéo dài từ sau 2005 và cũng mất hơn hai thập niên mới vượt qua con số 3.000USD
Ngoài ra, quá trình phát triển từ thu nhập thấp đến thu nhập trung bình cũng ngầmchứa nhiều yếu tố là nguyên nhân để một nước rơi vào bẫy trung bình Đó là sự hủy hoạimôi trường sống mà phải mất nhiều nguồn lực và thời gian khắc phục, sự thay đổi môitrường xã hội (kết cấu văn hóa, kết cấu xã hội trong thời gian ngắn) dễ tạo ra những xungđột, tâm lý đòi thưởng công trạng biểu hiện ở nhu cầu hưởng thụ sớm, không quản lý đúngcách các cú sốc kinh tế vĩ mô trong thời đại toàn cầu hóa Trong số các nước được cho là
đã rơi vào bẫy thu nhập trung bình, Malaysia gặp phải vấn đề đầu tiên (thiếu tính năngđộng của nền kinh tế) trong khi Trung Quốc gặp phải vấn đề thứ hai (không kiểm soátđược các vấn đề xã hội) Một khi tăng trưởng kinh tế của quốc gia đó chậm lại, tài lực bịsuy thoái, vấn đề dân sinh sẽ không thể giải quyết được
Khó khăn lớn nhất là việc chuyển từ tăng trưởng dựa trên tài nguyên (phụ thuộc vàonguồn lao động giá rẻ và vốn tư bản) sang sự tăng trưởng dựa vào sự đổi mới kỹ thuật sảnxuất để không ngừng nâng cao năng suất và tạo ra sản phẩm mới mang tính cạnh tranh Đểlàm điều này cần phải đầu tư vào nền giáo dục và phát triển khoa học công nghệ đồng thờikhuyến khích việc ứng dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào nền
Trang 10kinh tế Hàn Quốc là một minh chứng Quốc gia này đã phát triển một hệ thống giáodục chất lượng cao đồng thời nhà nước khuyến khích sự sáng tạo và hỗ trợ hoạt độngnghiên cứu, phát triển trong khoa học và kỹ thuật.
Nước ta với mức thu nhập bình quân đầu người khoảng 1.200 USD như hiện nay,nếu không rút kinh nghiệm từ các nước láng giềng trên đây, cũng như không học tập
mô hình phát triển của Đài Loan và Hàn Quốc thì liệu 15 đến 20 năm nữa có vượt quabẫy thu nhập trung bình hay không? Chính vì thế mà Việt Nam phải cẩn trọng để tránhvướng vào “bẫy thu nhập trung bình”
1.4 Tác động của bẫy thu nhập trung bình đối với nền kinh tế
1.4.1 Đối với nền kinh tế vĩ mô
Bẫy thu nhập trung bình là một chướng ngại mà bất kỳ quốc gia nào cũng phảitrải qua trong quá trình phát triển kinh tế để đạt được bứt phá về năng suất, chất lượnglao động Đó được coi như rào chắn ngăn cản sự phát triển kinh tế đến với sự pháttriển bằng nội lực Các ảnh hưởng xấu khi mắc kẹt ở bẫy thu nhập trung bình tới cácyếu tố tạo động lực cho nền kinh tế làm suy giảm khả năng tăng trưởng kinh tế cao, lâudài và bền vững
Các nước bị rơi vào bẫy thu nhập trung bình thường có tỉ lệ đầu tư thấp, ngànhchế tạo phát triển chậm bởi lao động không được tiếp cận với giáo dục bài bản, cácngành công nghiệp ít đa dạng và thị trường lao động kém sôi động Do đó, tăng trưởngđình trệ bởi tính cạnh tranh về giá cả hàng hóa giảm xuống, khả năng khó có thể cạnhtranh với các nền kinh tế đã phát triển về công nghệ tối tân, hay cũng không có lợi thếcạnh tranh so với các nền kinh tế có mức lương thấp hơn trong việc sản xuất hàng hóagiá rẻ
Hơn nữa, khả năng bẫy thu nhập trung bình ảnh hưởng tới khả năng tích lũy vốncủa nền kinh tế Khi một quốc gia rơi vào bẫy thu nhập trung bình, thu nhập bình quângiảm, làm giảm tiết kiệm nội địa Song song với đó, đất nước mất lợi thế trong việc thuhút FDI, không huy động đủ vốn cần thiết cho tái sản xuất cũng như tái đầu tư và phụthuộc vào viện trợ hay vay nợ Tình trạng này như một vòng xoáy không điểm dừng, do
đó, một quốc gia rơi vào bẫy thu nhập trung bình càng lâu càng khó thoát ra khỏi nó
Trang 11Nền kinh tế có thể rơi vào trạng thái thiếu hụt lao động chuyên môn cao trongcác ngành cần nhiều chất xám, tạo giá trị gia tăng lớn Bởi lẽ, người lao động với thunhập thấp không có nhiều cơ hội tiếp cận với giáo dục và đào tạo bài bản, chỉ quen vớicông nghệ lạc hậu, không tạo ra được các sản phẩm mới mang tính cạnh tranh, tạođộng lực cho nền kinh tế Kinh nghiệm thành công của nhiều quốc gia phát triển chothấy khi các điều kiện khác không thay đổi thì nhân lực có kỹ năng, nhất là nhữngngười có tay nghề cao, đóng góp vai trò đặc biệt quan trọng, góp phần tạo năng suấtlao động vượt trội, thúc đẩy tăng trưởng GDP, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Các quốc gia rơi vào bẫy thu nhập trung bình đồng thời cũng mắc kẹt ở bẫymậu dịch tự do Ảnh hưởng của trào lưu mậu dịch tự do khiến cấu trúc về lợi thế sosánh của các nước đi sau bị cố định, khó thay đổi, không thể dịch chuyển lên trình độcao hơn Một nền kinh tế gia công như vậy lại đòi hỏi đầu tư về hạ tầng cơ sở rất lớn
Để phục vụ nền kinh tế gia công thì ngoài đầu tư về máy móc, nhà xưởng, nền kinh tếcũng lại phải tự bỏ một khoản tiền rất lớn đầu tư vào hạ tầng để phục vụ việc sản xuất
và phân phối ra cùng một sản phẩm Do đó mà nền kinh tế gia công đòi hỏi quá nhiềuđầu tư cho một giá trị gia tăng - cái tạo thành GDP (vì cùng một giá trị sản phẩm thìgiá trị gia tăng của sản phẩm gia công rất thấp, nhiều trường hợp chỉ bằng 5-10% giátrị sản phẩm) Chính vì vậy, tổng giá trị gia tăng trên thực tế nhận lại sau khi đã trừ hếtchi phí là không cao bởi công đoạn sản xuất và phân phối không hiệu quả
1.4.2 Đối với các cá thể trong nền kinh tế
Ảnh hưởng tiêu cực tới cá nhân cũng như hộ gia đình:
Nền kinh tế tăng trưởng trì trệ khó khăn trong vấn đề tạo việc làm cho người dâncùng với tình trạng mức thu nhập bình quân đầu người không cao dẫn tới sự gia tăng về tỷ
lệ thất nghiệp Thất nghiệp tăng có nghĩa lực lượng lao động xã hội không được huy độngvào hoạt động sản xuất kinh doanh tăng lên; là sự lãng phí lao động xã hội - nhân tố cơbản để phát triển kinh tế - xã hội Thất nghiệp tăng lên cũng là nguyên nhân đẩy nền kinh
tế đến (bờ vực) của lạm phát Do đó, đời sống bản thân người lao động và gia đình họ sẽkhó khăn trong chi tiêu và chi trả các loại chi phí Điều đó ảnh hưởng đến khả năng tự đàotạo lại để chuyển dổi nghề nghiệp, trở lại thị trường lao động; con cái họ sẽ khó khăn khiđến trường; sức khoẻ họ sẽ giảm sút do thiếu kinh tế để bồi dưỡng,
Trang 12để chăm sóc y tế…Có thể nói, thất nghiệp ảnh hưởng tới tinh thần của người lao động
- chán nản với cuộc sống, với xã hội; dẫn họ đến những sai phạm đáng tiếc Khôngnhững thế, thất nghiệp gia tăng làm trật tự xã hội không ổn định; hiện tượng lãn công,bãi công, biểu tình đòi quyền làm việc, quyền sống, … tăng lên Song song với đó,hiện tượng tiêu cực xã hội cũng phát sinh nhiều lên như trộm cắp, cờ bạc, nghiện hút,mại dâm… Sự ủng hộ của người lao động đối với nhà cầm quyền cũng bị suy giảm và
họ không còn tin tưởng vào sự chỉ đạo của chính quyền Từ đó, có thể có những xáotrộn về xã hội, thậm chí dẫn đên biến động về chính trị
Nền kinh tế gia công, hoàn toàn phụ thuộc vào nước ngoài và tổ chức nhằmphục vụ nhu cầu của nước ngoài Do dựa vào dòng vốn nước ngoài, lại cố chạy theotốc độ, nền kinh tế gia công nhập công nghệ lạc hậu ô nhiễm môi trường mà nước khácthải ra Nền kinh tế gia công dễ trở thành bãi rác cho công nghệ lạc hậu Nó nhập khẩumáy móc nước khác thải ra, và tự trả giá cho ô nhiễm và phá hoại môi trường mànhững công nghiệp lạc hậu này gây ra Như vậy, chất lượng môi trường giảm sút trựctiếp ảnh hưởng tới chất lượng sống của người dân và để lại những hậu quả nhất định,đặc biệt là vấn đề sức khỏe Ví dụ, ô nhiễm không khí một phần từ các nhà máy thải ra
là nguyên nhân chính gây ra các bệnh về đường hệ hô hấp Khi con người ăn/ uốngphải nước ô nhiễm hoặc thực vật, động vật được nuôi trồng trong môi trường ô nhiễmhoặc tiếp xúc trực tiếp với môi trường nước bị ô nhiễm thì rất dễ mắc các bệnh nhưtiêu chảy, viêm não, bệnh do muỗi truyền, …
Ảnh hưởng tới các doanh nghiệp và nhà sản xuất:
Các doanh nghiệp và nhà sản xuất có thể mất một phần lợi nhuận bởi nhu cầu
về sự tiêu dùng các hàng hóa, dịch vụ ít đi nhìn chung do thu nhập bình quân đầungười không cao Việc lựa chọn sản phẩm chịu tác động rất lớn từ hoàn cảnh kinh tếcủa người đó Hoàn cảnh kinh tế của con người gồm thu nhập có thể chi tiêu được, tiềntiết kiệm và tài sản, nợ, khả năng vay mượn, thái độ đối với việc chi tiêu và tiết kiệm.Một người sẵn sàng mua một sản phẩm đắt nếu người đó có đủ thu nhập, có tiền tiềntiết kiệm hay khả năng mượn và thích tiêu tiền hơn là tiết kiệm Do đó, doanh thu củadoanh nghiệp có quan hệ mật thiết với xu hướng trong thu nhập cá nhân
Trang 13Nguồn vốn đầu tư hay cho vay sẵn có cho doanh nghiệp có thể rơi vào tìnhtrạng thiếu thốn (vì GDP không cao kéo theo tỷ lệ tiết kiệm quốc gia không cao hayvốn ngân sách bị thu hẹp do thất thu thuế, do phải hỗ trợ người lao động mất việc làm,
…) Đây thực sự sẽ là một thách thức, điểm bất lợi không nhỏ, đặc biệt đối với nhữngdoanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ Hơn nữa, một vấn đề quan trọng nảy sinh lànhững doanh nghiệp với một số dự án kinh doanh mang tính mới cũng như đầy tiềmnăng rất dễ bị bỏ sót, không nhận được đầu tư bởi nguồn vốn vay quá giới hạn và phảinhường chỗ cho những dự án tuy mang lại hiệu suất thấp hơn nhưng tỉ lệ rủi ro thấphơn, an toàn hơn
Trang 14CHƯƠNG 2: QUÁ TRÌNH VƯỢT BẪY THU NHẬP CỦA CÁC NƯỚC ĐÔNG
Á 2.1 Quá trình vượt qua bẫy thu nhập trung bình của Hàn Quốc
2.1.1 Hàn Quốc trong giai đoạn thu nhập trung bình
Sau Chiến tranh Triều Tiên (1950-1953), Hàn Quốc là một trong những nướcnghèo nhất thế giới, có nhiều đặc điểm tương đồng với những quốc gia kém phát triểnkhác như: chịu sự tàn phá nặng nề của chiến tranh, thu nhập thấp, nguồn tài nguyênnghèo nàn, phụ thuộc chủ yếu vào viện trợ nước ngoài và đặc biệt nước này còn chịu
sự chia cắt giữa hai miền Bắc - Nam Thậm chí sau khi trải qua giai đoạn tái thiết sauchiến tranh (1953- 1960), thu nhập bình quân đầu người của Hàn Quốc cũng chỉ ở mức
80 USD (năm 1960) Và dường như mọi điều kiện đều không có nhiều triển vọng chophát triển kinh tế
Theo dữ liệu của World Bank, năm 1978 Hàn Quốc chính thức trở thành mộtnước có mức thu nhập trung bình với mức GNI bình quân đầu người là 1.270 đô la Mỹ
Hình 2 1 GNI bình quân đầu người của Hàn Quốc giai đoạn 1978 – 2003
Đơn vị: USDThu nhập bình quân đầu người của Hàn Quốc ( 1978-2003)
Trang 15Về tốc độ tăng trưởng GNI
Dựa vào biểu đồ 2.1, tính toán tốc độ tăng trưởng GNI qua các năm, ta nhậnthấy tốc độ tăng trưởng GNI bình quân đầu người trong giai đoạn 1978-1996 trungbình khoảng 7%/năm Từ năm 1986 đến năm 1996, tốc độ tăng trưởng thu nhập bìnhquân đầu người luôn duy trì trên 6%, cao nhất là năm 1987 là 12,63% Tuy nhiên, HànQuốc phải trải qua hai cuộc suy thoái vào năm 1980 và năm 1998 với mức tăng trưởngGNI bình quân đầu người âm: năm 1980 là -3,99% và năm 1998 là -6,96% ( Ngânhàng thế giới World Bank)
Theo hình 2.1, GNI bình quân đầu người của Hàn Quốc chỉ thật sự tăng nhanh
về giá trị kể từ sau năm 1986 Năm 1996, Hàn Quốc đạt mức thu nhập cao thoát khỏimức thu nhập trung bình, là 13.040 USD Tuy nhiên sau đó do ảnh hưởng của cuộckhủng hoảng kinh tế năm 1997, thu nhập bình quân đầu người giảm Năm 1998, HànQuốc trở lại mức thu nhập trung bình cao, thu nhập bình quân đầu người là 1.070USD Hàn Quốc mất 5 năm để hồi phục nền kinh tế và trở lại mức thu nhập cao vàonăm 2003 (13.350 USD)
Về cơ cấu nền kinh tế
Tỷ trọng nông nghiệp ngày càng giảm thay vào đó là sự tăng lên trong tỷ trọngcủa công nghiệp và dịch vụ Theo Ngân hàng Thế giới World Bank, trong giai đoạn
1978 - 1996, tỷ lệ đóng góp GDP của nông nghiệp, lâm nghiệp và đánh cá giảm14,68%, từ mức 19,82% ( năm 1978 ) xuống còn 5% ( năm 1996 ) Năm 1996 tỷ lệđóng góp chỉ bằng khoảng một phần tư so với năm 1978 Trong khi đó, tỷ trọng côngnghiệp tăng 5%, từ 29,81% ( năm 1978 ) lên tới 34,81% ( năm 1996 ) và tỷ trọng dịch
vụ tăng 10,96%, từ 39,49% ( năm 1978 ) lên tới 50,45% ( năm 1996 )
Trải qua 18 năm ( 1978 - 1996 ), tỷ lệ đóng góp trong GDP của các ngành có sựthay đổi thật rõ rệt Điều này cho thấy Hàn Quốc trong quá trình phát triển nền kinh tếnhằm vượt qua mức thu nhập trung bình đã có sự chuyển dịch phù hợp, giảm tỷ lệ vềnông nghiệp, tăng tỷ lệ công nghiệp và dịch vụ - những ngành đem lại giá trị gia tăngcao hơn
Trang 16Tổng vốn của cả nền kinh tế thể hiện tiềm lực phát triển của nền kinh tế KhiHàn Quốc bắt đầu vào giai đoạn đầu của mức thu nhập trung bình, tỷ lệ vốn so vớiGDP là tương đối cao, năm 1978 là 34,53% với giá trị là khoảng 17,85 tỷ USD Tỷ lệnày vẫn tiếp tục tăng, cao nhất là năm 1991 (41,37%) với 134,77 tỷ USD (Ngân hàngthế giới World Bank) Đây có lẽ là một trong những yếu tố quyết định giúp Hàn Quốc
có thể nhanh chóng thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình
Về nguồn nhân lực
Chất lượng nguồn nhân lực của Hàn Quốc trong giai đoạn 1980 - 1995 đãkhông ngừng được nâng cao Ở nước này, tỷ lệ nhập học giáo dục bậc cao sau trunghọc phổ thông tăng gấp đôi trong vòng 5 năm từ 14,7% năm 1980 lên đến 34,1% năm
1985, vượt xa tỷ lệ này ở các nước đang phát triển có thu nhập trung bình khác Giaiđoạn 1986 - 1990, số lượng sinh viên đại học tăng gấp đôi Sự gia tăng trình độ họcvấn của lao động Hàn Quốc được thể hiện trong hình 2.2
Hình 2 2 Trình độ học vấn của lao động Hàn Quốc giai đoạn 1980 - 1995
Trình độ học vấn của lao động Hàn Quốc (1980 - 1995)
Đại học và trên đại học Trung học phổ thông Trung học cơ sở Dưới trung học cơ sở
Nguồn: McKinsey Seoul Office, 1998, Productivity-led Growth for Korea
Sự gia tăng trình độ học vấn của lao động Hàn Quốc giai đoạn 1980 - 1995được thể hiện rõ rệt Tỷ lệ bậc trung học phổ thông năm 1995 (44%) tăng gấp đôi sovới năm 1978 (22%) và tỷ lệ dưới trung học cơ sở năm 1995 (20%) giảm hơn một nửa
so với năm 1978 (51%) Tỷ lệ đại học và trên đại học tăng đều theo các năm
Trang 17Về khoa học công nghệ
Khoa học công nghệ đưa nền công nghiệp trong nước chuyển dịch từ nhữngngành thâm dụng sức lao động những năm 1960 - 1970 sang những ngành thâm dụngvốn và công nghiệp nặng giai đoạn 1980 - 1990, và tiếp đó là các ngành công nghệ caoICT Theo số liệu của WIPO (2000), đến trước năm 2000, Hàn Quốc đứng thứ nămtrên thế giới về tổng số lượng bằng phát minh sáng chế, chỉ sau Mỹ, Nhật Bản, Đức vàĐài Loan
Hình 2 3 Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Hàn Quốc giai đoạn 1978 – 2003
Nguồn World Bank 2 , truy cập ngày 23/02/2020
Năm 1985, đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Hàn Quốc bắt đầu có xu hướng tăngdần Xem xét kỹ có thể thấy năm 1985, Hàn Quốc đã rất thành công trong việc thu hútvốn đầu tư nước ngoài trong khi tại thời điểm đó, đầu tư nước ngoài chỉ đạt 89 triệuUSD Tới năm 2000, đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Hàn Quốc tăng vọt, ở mức11,5094 tỷ USD
2 https://data.worldbank.org/indicator/BX.KLT.DINV.CD.WD?end=2003&locations=KR&start=1977
Trang 182.1.2 Chính sách kinh tế - xã hội giúp Hàn Quốc vượt qua bẫy thu nhập trung bình
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến sự thành công của Hàn Quốc trong việc thoátbẫy thu nhập trung bình, về cơ bản, các nhà kinh tế thường lý giải tăng trưởng theo banhân tố cơ bản, đó là vốn, lao động và công nghệ dựa trên mô hình tăng trưởng tân cổđiển Tuy nhiên, nguyên nhân sâu xa có thể bắt nguồn từ sự tiến bộ trong các lĩnh vựcnhư giáo dục, tài chính, thương mại và sự can thiệp hiệu quả của chính phủ
2.1.2.1 Chính sách công nghiệp hóa năng động
Đối với Hàn Quốc, chính sách công nghiệp là trọng tâm của các chính sách pháttriển, giúp đất nước chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đạihóa Chính phủ thực hiện sự bảo hộ mạnh mẽ đối với các ngành công nghiệp ngay từnhững ngày đầu phát triển Tất cả các công cụ chính sách về tiền tệ, tài chính đều được
sử dụng để hỗ trợ cho các ngành công nghiệp then chốt như xi măng, phân bón haycông nghiệp lọc hóa dầu
a Giai đoạn 1950-1960
Chính sách công nghiệp của Hàn Quốc được đặc trưng bởi chính sách thay thếnhập khẩu tập trung chủ yếu vào các mặt hàng tiêu dùng Chính phủ sử dụng triệt đểcác hàng rào thuế quan và hạn chế nhập khẩu tới mức tối đa nhằm bảo hộ các ngànhcông nghiệp trong nước và thúc đẩy sản xuất trong nước Chiến lược này mặc dù đãphát huy được tính độc lập tự chủ của Hàn Quốc, giảm sự lệ thuộc vào bên ngoài, songlại mang lại hiệu quả không cao Tăng trưởng GDP bình quân từ năm 1953 đến năm
1962 chỉ đạt 3,7%
b Giai đoạn 1960 - 1970
Chiến lược thay thế nhập khẩu ngày càng tỏ ra có nhiều bất lợi, khả năng cạnhtranh quốc tế của Hàn Quốc cũng yếu đi trong những ngành mà nước này có lợi thế sosánh Thêm vào đó, do nhu cầu nhập khẩu thực phẩm và các nguyên liệu đầu vào gia tăngtrong khi viện trợ nước ngoài giảm mạnh, Hàn Quốc buộc phải xuất khẩu hàng chế tạo đểthu về ngoại hối Trước tình hình đó, chính sách công nghiệp của Hàn Quốc phải thay đổi.Năm 1964, chính sách định hướng xuất khẩu ra đời với khẩu hiệu “xuất khẩu là trướchết” Kể từ đó, chính phủ tập trung mọi nỗ lực để thúc đẩy xuất khẩu, coi xuất
Trang 19khẩu là vấn đề mang tầm quốc gia Chính phủ gia tăng trợ cấp trực tiếp cho các ngànhxuất khẩu, đặc biệt là những ngành công nghiệp nhẹ sử dụng nhiều lao động như dệtmay, tơ sợi và giày dép – là những ngành Hàn Quốc có lợi thế cạnh tranh Đến giữanhững năm 1960, chính phủ đưa ra các biện pháp thúc đẩy xuất khẩu như miễn, giảmthuế và hỗ trợ tài chính Ngoài các biện pháp trên, chính phủ còn cung cấp cơ sở hạtầng cần thiết cho phát triển kinh tế, ví như việc xây dựng các tổ hợp/khu công nghiệp
và khuyến khích các hãng gia nhập các tổ hợp này Chính phủ cũng thành lập các tổchức để thúc đẩy xuất khẩu như: Cơ quan xúc tiến thương mại đầu tư Hàn Quốc(KOTRA) và Hiệp hội Thương mại quốc tế Hàn Quốc (KITA)
Bước sang những năm 1970, chính sách công nghiệp của Hàn Quốc chuyển hướng
từ các ngành công nghiệp nhẹ sang phát triển các ngành công nghiệp nặng và hóa chất(HCI) có giá trị gia tăng cao Chính phủ nhận ra rằng nếu họ tiếp tục phát triển côngnghiệp nhẹ, mức lương tăng sẽ làm giảm tính cạnh tranh về giá của những ngành sử dụngnhiều lao động Do đó, năm 1973, chính phủ đã ban hành kế hoạch phát triển công nghiệpnặng và hóa chất Theo đó, chính phủ chọn ra sáu ngành công nghiệp chiến lược, bao
gồm: thép, đóng tàu, máy công cụ, điện tử, kim loại, và công nghiệp hóa dầu Sự lựa chọn
này dựa trên những tiêu chuẩn như tính liên kết ngược và xuôi giữa các ngành, đóng góptới tăng trưởng kinh tế và lãi tỷ giá hối đoái Gắn liền với chính sách này là sự gia tăngcủa các tập đoàn công nghiệp lớn (chaebol) Chính phủ thúc đẩy phát triển các ngành HCIthông qua các chính sách như: cung cấp các khoản vay ưu đãi, bảo hộ có chọn lựa, cácquy định đầu vào và miễn, giảm thuế… Với sự giúp đỡ về nhiều mặt của chính phủ nhưtrên, tỷ trọng các ngành công nghiệp nặng ở Hàn Quốc gia tăng nhanh chóng từ 38% năm
1973 lên tới 54,4% năm 1980 và chiếm tới 50% tổng giá trị xuất khẩu năm 1980 Có thểnói, tăng trưởng kinh tế nhanh của Hàn Quốc trong những năm 1960 và 1970 là nhờ phầnlớn vào sự gia tăng của xuất khẩu
c Giai đoạn 1980 - 1990
Nền kinh tế bắt đầu xuất hiện sự trì trệ do ảnh hưởng của khủng hoảng dầu mỏ vàkinh tế giai đoạn 1973-1975 gây ra sự mất cân đối trong cơ cấu công nghiệp và giảm sứccạnh tranh Chính vì vậy, Chính phủ Hàn Quốc buộc phải thực hiện sự điều chỉnh chínhsách công nghiệp theo hướng tăng cường tự do hóa thị trường, trao quyền tự chủ
Trang 20nhiều hơn cho khu vực tư nhân và phát triển các ngành công nghiệp kỹ thuật cao nhưcông nghiệp bán dẫn, ô tô, đóng tàu, hàng không Nhờ vào việc chú trọng đến đầu tưcho khoa học, công nghệ giai đoạn này, Hàn Quốc đã tạo được sự bứt phá lớn, nhanhchóng trở thành nước có thu nhập cao.
2.1.2.2 Chính sách thu hút vốn đầu tư của Hàn Quốc
FDI đã đóng một vai trò to lớn đối với sự phát triển kinh tế của Hàn Quốc, làmột yếu tố quan trọng trong sự phát triển của Hàn Quốc để tiến tới trở thành một quốcgia phát triển Chính sách đầu tư quốc tế của Hàn Quốc được chia làm nhiều giai đoạn.Ứng với mỗi giai đoạn, Hàn Quốc thực hiện các mô hình chiến lược khác nhau phùhợp với điều kiện từng thời kỳ Có thể xét sự thay đổi chính sách trong thu hút FDIcủa Hàn Quốc trong 3 giai đoạn chính như sau:
a Giai đoạn 1950-1960
Mô hình chính sách: trong giai đoạn này là Hàn Quốc thực hiện chính sách thu
hút đầu tư trực tiếp nước ngoài nhằm tăng cường nguồn vốn để phát triển các công ty
và nền sản xuất trong nước Và những chính sách này luôn có những biến đổi quantrọng nhằm phục vụ cho nhu cầu phát triển của mỗi thời kỳ khác nhau
Cụ thể, những năm 1960, tập trung thu hút viện trợ của nước ngoài và vay nợ đểphục Từ sau thời kỳ Nhật Bản thống trị và chiến tranh Triều Tiên, chính quyền mớicủa Hàn Quốc được thành lập đã sử dụng viện trợ nước ngoài của Hoa Kỳ suốt trongnhững năm 1950-1960 để xây dựng hạ tầng cơ sở, đường xá và hệ thống thông tin hiệnđại khắp toàn quốc cùng với một mạng lưới các trường tiểu học và trung học
Kết quả là, Hàn Quốc có được một lực lượng lao động được đào tạo bài bảncộng với cơ sở hạ tầng hiện đại tạo nền móng vững chắc cho tăng trưởng kinh tế
b Cuối những năm 1960-1975
Khuyến khích thu hút FDI với các biện pháp thực hiện:
Năm 1960, chính phủ Hàn Quốc ban hành luật khuyến khích đầu tư nước ngoài
Trang 21Tháng 7 năm 1962 luật đặc biệt khuyến khích vốn đầu tư dài hạn bắt đầu cóhiệu lực Tuy nhiên Hàn quốc mới chỉ khuyến khích đầu tư nước ngoài vào một sốngành, lĩnh vực nhất định như: công nghiệp đóng tàu, hoá dầu, ô tô,…
Hạn chế đầu tư nước ngoài vào các nhiều lĩnh vực trong đó chủ yếu là dịch vụnhư: viễn thông, ngân hàng tài chính, truyền hình,… Ngoài ra chính phủ cũng chỉ chophép các nhà đầu tư nước ngoài chỉ được góp vốn dưới 50% trong các công ty liêndoanh
Chính phủ Hàn Quốc đã thực hiện hàng loạt các cải cách trong bộ máy nhànước, nâng cao chất lượng làm việc của chính phủ; nỗ lực sắp xếp và cải tổ lại cơ cấu
tổ chức, cách thức làm việc theo hướng giảm bớt các thủ tục hành chính rườm rà, phùhợp với nguyên tắc quốc tế, hơn là việc cắt giảm nhân sự; đồng thời, phải chú trọngcung cấp thêm thông tin cho các nhà đầu tư nước ngoài
Để có thể đẩy mạnh phát triển nền kinh tế công nghiệp hóa, Luật ngân hàngHàn Quốc đã có hiệu lực Năm 1967, để khuyến khích xuất khẩu và khuyến khíchngân hàng nước ngoài đầu tư vào Hàn Quốc, chính phủ đã cho phép thành lập ngânhàng ngoại hối và ngân hàng xuất nhập khẩu Ngân hàng trở thành kênh cung ứng vốnquan trọng cho nền kinh tế, năm 1960, tín dụng ngân hàng cung ứng vốn cho nền kinh
tế là 30% đến thập niên 90 con số này tăng lên đến 60% Hơn nữa, Hàn Quốc đã tự dohóa hệ thống tài chính của mình, điều này đã tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tưtiếp cận được với các nguồn vốn dễ dàng hơn
Hàn Quốc còn cho phép khu vực tư nhân tham gia thu hút đầu tư nước ngoài.Với những doanh nghiệp có tiềm năng nhưng thiếu vốn liên doanh với doanh nghiệpnước ngoài hay những dự án liên kết được dự báo có hiệu quả cao nhưng thiếu vốn sẽđược nhà nước hỗ trợ vốn để đảm bảo khả năng thực hiện
Vào đầu những năm 1970, chiến lược thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của HànQuốc nhằm có được những kỹ thuật tiên tiến phục vụ sự chuyển đổi cơ cấu công nghiệp từcác ngành sử dụng nhiều lao động sang các ngành tập trung vốn và công nghệ
Trang 22Bên cạnh đó, chính phủ còn thực hiện sửa đổi một số điểm trong luật khuyếnkhích đầu tư nước ngoài nhằm đáp ứng những đòi hỏi trong quá trình công nghiệp hoávào đầu những năm 1980 Từ đó, FDI vào Hàn Quốc tăng rất nhanh.
→ Kết quả: Nền kinh tế từng bước được ổn định và có những dấu hiệu tích cực:
Nền kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng 4%/năm
Các ngành công nghiệp được khuyến khích đầu tư có sự tăng trưởng mạnh mẽ,năm 1965, tỷ trọng công nghiệp trong GDP là 19,8% và chiếm 22,8% năm 1970 và có
xu hướng gia tăng, tuy nhiên trong ba ngành, công nghiệp, dịch vụ, nông nghiệp, côngnghiệp ở thời kỳ này vẫn là ngành có tỷ trọng nhỏ nhất
Ngành dịch vụ mặc dù vẫn còn bị hạn chế về mặt đầu tư nước ngoài nhưng vẫngiữ tỷ trọng cao nhất trong GDP ghi nhận sự tăng trưởng từ 41,8% (năm 1965) đến49,2% (năm 1970)
Tỷ lệ thất nghiệp giảm từ 9,8% (năm 1962) xuống chỉ còn 4,1% (năm 1975)
Tỷ lệ đầu tư nước ngoài tăng từ 11,8% (năm 1962) lên đến 35,8% (năm 1979)
c Giai đoạn từ năm 1976 – nay
Mô hình chính sách: Kết hợp khuyến khích thu hút đầu tư nước ngoài và hỗ trợ đầu tư ra nước ngoài.
Các biện pháp thực hiện:
Hệ thống hỗ trợ định hướng nhà đầu tư:
Tất cả các quy định và pháp luật hiện hành liên quan đến đầu tư trực tiếp nướcngoài được sắp xếp hợp lý hóa và sáp nhập vào một khuôn khổ pháp lý riêng được gọi
là Đạo luật xúc tiến đầu tư nước ngoài (FIPA), có hiệu lực từ tháng 11 năm 1998.Đạo luật này cho phép các nhà đầu tư nước ngoài tận dụng dịch vụ một cửa và đãingộ đồng nhất Đạo luật này nhằm tạo môi trường đầu tư nước ngoài hấp dẫn hơn vớicác tiện ích như: các ưu đãi về thuế, tiền thuê nhà máy rẻ hơn, quy trình- thủ tục hànhchính đơn giản, các dịch vụ hỗ trợ, cũng như đào tạo nhân lực…
Đối với các nhà đầu tư công nghệ cao, thời gian miễn thuế thu nhập doanh nghiệp
sẽ được tăng từ 8 năm lên 10 năm
Trang 23Chính quyền địa phương cũng được phép tự quy định mức ưu đãi giảm/miễn thuế
từ 8 đến 15 năm và được phép lập và điều hành các Khu công nghiệp đầu tư nướcngoài để thu hút đầu tư FDI Các thủ tục hành chính rườm rà, trước kia từng làm nảnlòng các nhà đầu tư nước ngoài, nay được xóa bỏ, hoặc đơn giản hóa.5
Rất nhiều động lực khác, như miễn hoặc giảm thuế được đưa ra để thúc đẩy đầu tưtrực tiếp nước ngoài Ví dụ như: thuế thu nhập và thuế doanh nghiệp được miễn haygiảm với các ngành công nghệ cao trong thời hạn là 7 năm Bất động sản thuộc sở hữuNhà nước có thể cho các hãng được đầu tư từ nước ngoài lên đến 50 năm với giá cảthuận lợi, và đôi khi miễn phí trong các trường hợp cụ thể Các khu vực đầu tư tự docũng được hình thành để phù hợp với đầu tư trực tiếp nước ngoài quy mô lớn
Nhà nước tiếp tục hủy bỏ từng bước các lệnh cấm nhập khẩu, giảm con số các hạngmục chịu thuế quan
Chính phủ đã thực hiện chính sách mở cửa cho đầu tư nước ngoài đối với hầu hếtcác lĩnh vực của thị trường trong nước Chỉ còn 21 lĩnh vực trong tổng số 195 lĩnh vựckinh tế vẫn còn đóng cửa, 7 lĩnh vực trong số đó chỉ bị đóng cửa một phần Như vậy,chính phủ đã tự do hóa trên 98% nền kinh tế 2% còn lại là các lĩnh vực thuộc an ninhquốc gia, tài sản văn hóa hoặc công việc làm ăn của các nông dân nhỏ lẻ
Tháng 1 năm 2014 Tổng thống Park Geun-hye đưa ra chính sách: thu hút các tập đoàn toàn cầu
Chính phủ có kế hoạch đơn giản hóa thủ tục thuế cho các giao dịch giữa các trụ sởcủa họ tại Seoul và các công ty con ở nước ngoài hoặc công ty mẹ ở nước nhà Đề áncũng bao gồm tỷ giá neo vào mức thuế suất thuế thu nhập cho lao động nước ngoài tạitrụ sở của tập đoàn toàn cầu ở mức 17 phần trăm phụ thuộc vào quy mô thu nhập của
họ Thuế suất là thấp xa so với 38 phần trăm đánh vào người Hàn Quốc kiếm được150.000.000 ₩ hoặc nhiều hơn mỗi năm
Để khuyến khích các công ty nước ngoài thành lập các trung tâm R & D, kế hoạch
đề xuất mở rộng các khoản khấu trừ thuế thu nhập hiện hành cho các kỹ sư nước ngoàilàm việc tại các công ty nước ngoài có vốn đầu tư đến năm 2018 Chính sách này cũng
Trang 24sẽ hỗ trợ về địa điểm cho các công ty nước ngoài khi họ thuê các tòa nhà để thành lập trung tâm R & D.
Bộ Tư pháp Hàn Quốc cho biết, từ tháng 9/2014 những người nước ngoài đầu
tư trên 500.000 USD vào Hàn Quốc sẽ ngay lập tự nhận được thẻ cư trú vĩnhviễn (hạng F5)
Như vậy Hàn Quốc đã hạ mức tiền đầu tư từ 2 triệu USD xuống còn 500.000 USDnhằm khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài
Theo bộ tư pháp nước này, trước đây chính phủ chủ trường kiểm soát chặt chẽ việccấp visa dài hạn cho người nước ngoài Điều này không khuyến khích các nhà đầu tưtrong việc mở rộng quy mô và buộc họ phải xin visa đầu tư ngắn hạn (Hạng D8) Vớiviệc sửa đổi quy định này, nhà chức trách hy vọng số người nước ngoài đầu tư vàoHàn Quốc sẽ tăng nhanh chóng trong thời gian tới
→ Kết quả: Với tỷ lệ tự do hóa kinh tế đứng thứ 4, hệ số biến thiên của FDI là 0,81.
Hàn Quốc là một trong những quốc gia thu hút FDI nhiều nhất thế giới, quốc gia này
đã chứng minh họ là một thị trường năng động, là mảnh đất có tiềm năng thu được lợinhuận cao
Trước những năm 1980, dòng vốn FDI vào Hàn Quốc rất nhỏ do đây khôngphải quốc gia giàu tài nguyên và các chính sách hạn chế của chính phủ Tuy nhiên vớinhững thay đổi như trên, dòng vốn FDI đã tăng từ 143.140.00 USD ở năm 1980 đến422.350.000 USD vào năm 1984 và sau khi quốc gia này mở cửa thêm 26 ngành sảnxuất và vẫn hạn chế lĩnh vực dịch vụ, con số này đã tăng gần gấp đôi từ 532.200.000USD vào năm 1985 lên 1.063.851.000 USD vào năm 1987
Năm 1993, với chính sách cho phép các quốc gia thành viên OECD được tiếpcận với thị trường Hàn Quốc cùng với đó là việc mở cửa cho nhiều ngành công nghiệp
bị hạn chế trước đó, dòng vốn FDI đã tăng từ 1.044.270.000 USD năm 1993 lên1.970.430.000 năm 1995 và 3.205.480.000 USD năm 1996
Năm 1997 – 1998, trong bối cảnh khủng hoảng tài chính tiền tệ Châu Á, FDIHàn Quốc vẫn tăng mạnh từ 6.971.140.000 (1997) gấp đôi so với năm 1996
Trang 25Ngày 3/1/2018 Bộ Công nghiệp, thương mại và tài nguyên Hàn Quốc cho biếtđầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Hàn Quốc trong năm 2017 đã đạt 22,94 tỷ USD,tăng 7,7% so với năm 2016 Đây là mức cao nhất từ trước đến nay, đồng thời cũngđánh dấu năm thứ ba liên tiếp đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Hàn Quốc vượt ngưỡng
→ Đánh giá chung: Hàn Quốc có thể coi là một trong những nước thực hiện thành công
nhất chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài Sự thay đổi chính sách hợp lý quatừng thời kỳ chính là yếu tố quyết định giúp cho Hàn Quốc nhanh chóng đi từ hồi phụckinh tế đến phát triển và giành được vị trí xứng đáng trên bản đồ kinh tế thế giới
2.1.2.3 Chính sách phát triển đội ngũ nhân lực cao
Xuất phát điểm là một quốc gia nghèo tài nguyên, Hàn Quốc không có gì ngoàinguồn nhân lực dồi dào Tận dụng lợi thế này cùng với truyền thống hiếu học của dântộc, ngay từ đầu Chính phủ Hàn Quốc đã đề cao vai trò của giáo dục, coi giáo dục nhưmột ưu tiên chiến lược hàng đầu, là nền tảng để xây dựng đất nước
Về phát hiện và tuyển chọn tài năng trẻ:
Cũng giống như các quốc gia phát triển khác, Hàn Quốc đặc biệt quan tâm đến chiếnlược phát triển giáo dục, coi phát triển giáo dục là điều kiện sống còn để phát triển đấtnước Song song với phát triển giáo dục đại trà, Hàn Quốc đặc biệt coi trọng giáo dục
để phát hiện, đào tạo nhân tài trong những lĩnh vực xác định là mũi nhọn của đất nướcngay từ khi còn là học sinh “Hàn Quốc quan niệm trẻ em năng khiếu là một bộ phận
Trang 26không thể tách rời tổng thể tài nguyên và trí tuệ được coi là một loại tài nguyên quýnhất của một dân tộc, là tài sản quý nhất trong tương lai” “Họ cho rằng giáo dục năngkhiếu, tài năng là một chiến lược phát triển cơ bản phải được coi là ưu tiên số một sovới bất kỳ ngành phát triển nào” Hàn Quốc đã xây dựng chiến lược cụ thể để pháthiện và tuyển chọn học sinh năng khiếu.
Về đào tạo và bồi dưỡng tài năng trẻ:
Chính phủ Hàn Quốc coi đào tạo nhân lực là nhiệm vụ ưu tiên trong giáo dục để đảmbảo có nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa Giáo dục được thực hiệnsong hành với tiến trình công nghiệp hóa Trong giai đoạn đầu của công nghiệp hóa,vào những năm 1960 đến những năm 1970 của thế kỷ XX, Hàn Quốc tập trung vàophát triển công nghiệp nhẹ và điện tử, Hàn Quốc đã tập trung hoàn thành phổ cập giáodục tiểu học, phát triển giáo dục trung học cơ sở, khuyến khích trung học nghề và kỹthuật, hạn chế chỉ tiêu giáo dục đại học Sang những năm 1980 của thế kỷ XX, khichuyển từ sản xuất công nghệ trung bình sang công nghệ cao, giáo dục nghề nghiệp và
kỹ thuật được coi trọng ngay từ cấp trung học Hàn Quốc tập trung mở rộng quy môgiáo dục phổ thông, đẩy mạnh đào tạo nghề, nới rộng chỉ tiêu nhập đại học theo hướngphát triển các trường cao đẳng nghề và kỹ thuật, chương trình giáo dục phổ thông, tínhthực hành được coi trọng hơn tính hàn lâm Các trình độ từ dạy nghề đến trung cấp,cao đẳng, đại học, sau đại học được thường xuyên điều chỉnh về quy mô và chất lượngcho phù hợp với đòi hỏi về nguồn nhân lực của tiến trình công nghiệp hóa Hiện nay,Hàn Quốc có tỷ lệ dân số tốt nghiệp đại học cao so với các nước trong Tổ chức hợp tác
và phát triển kinh tế khác Những năm 2000, Hàn Quốc có 70% vào trung học phổthông và 30% vào trung học nghề, tỷ lệ học đại học của dân số Hàn Quốc là 78% BộKhoa học và Công nghệ Hàn Quốc đã phát động một chương trình đặc biệt từ năm1998-2000 tại 15 trường đại học trên cả nước với năm môn thi là: toán, lý, hóa, sinh vàtin học; tổ chức cho sinh viên tham gia các kỳ Olympic quốc tế nhằm tìm kiếm và pháthiện 2.200 sinh viên tài năng mỗi năm
Về thu hút nhân tài:
Nhằm thu hút tài năng từ nước ngoài và hạn chế chảy máu chất xám mà Hàn Quốc đã từng phải đối mặt giữa thập kỷ 1960 đến những năm 1980 Năm 1990, Hàn Quốc có
Trang 27chính sách tài trợ học bổng cho sinh viên nước ngoài đến Hàn Quốc học tập, nghiêncứu và làm việc ở Hàn Quốc Hàn Quốc cấp đưa ra chính sách cấp “thẻ vàng” cho cácnhà khoa học trẻ là người nước ngoài vào làm việc tại Hàn Quốc bằng nhiều chínhsách ưu đãi như trả lương cao, hỗ trợ phương tiện đi lại, nhà ở Từ chính sách thu hútnhân tài đó, Hàn Quốc đã tạo ra một lực lượng đông đảo cán bộ khoa học giỏi, tàinăng và tâm huyết trên nhiều lĩnh vực khoa học và công nghệ, đã góp phần đưa HànQuốc trở thành một trong những con rồng châu Á và là đối thủ cạnh tranh với cácnước phát triển hàng đầu trên thế giới
→ Kết quả: Nhờ sự coi trọng đầu tư cho giáo dục, Hàn Quốc đã đạt được nhiều
thành tựu lớn Ngay từ năm 1970, tỷ lệ gia nhập bậc tiểu học đã đạt 100% Tỷ lệ mù chữgiảm từ trên 10% năm 1970 xuống gần như bằng không năm 1997 Tỷ lệ nhập học bậctrung học đạt mức 40% năm 1970 và gần như phổ cập vào năm 1997 Còn đối với giáodục phổ thông, Hàn Quốc đứng thứ 3 trong số các quốc gia OECD về trình độ đạt được,
và có tới 84% số học sinh tốt nghiệp phổ thông gia nhập các trường đại học và cao đẳngvào năm 1998 Như vậy, có thể thấy, giáo dục ở Hàn Quốc phát triển khá nhanh chóng.Điều này giúp tăng năng lực cũng như trình độ của người lao động, giúp họ có thể tiếp thunhững tiến bộ công nghệ và đáp ứng kịp thời nhu cầu của nền kinh tế
có thể dễ dàng đạt được từ nước ngoài Nhìn chung, trong thời kỳ đầu, chính sách khoa
Trang 28học công nghệ của Hàn Quốc chủ yếu tập trung vào việc giới thiệu, tiếp thu và áp dụngcông nghệ nước ngoài.
Nền kinh tế Hàn Quốc tăng trưởng mạnh mẽ từ những năm 1980 là nhờ sự chuyểndịch sang các mặt hàng có hàm lượng kỹ thuật cao được hỗ trợ bởi hoạt động nghiên cứukhoa học trong nước Chính sách khoa học công nghệ mới có những thay đổi đáng kể,hướng đến nâng cao năng lực khoa học công nghệ quốc gia thông qua việc đẩy mạnh cáchoạt động nghiên cứu và triển khai (R&D) KHCN tạo điều kiện đổi mới trang thiết bị, tựđộng hóa quy trình sản xuất, và phát triển các sản phẩm công nghệ cao KHCN gia tăngnội lực sản xuất và lợi thế tương đối của quốc gia, đưa nền kinh tế lên vị trí cao hơn trongchuỗi giá trị toàn cầu Từ một nước nhập khẩu công nghệ và sản xuất hàng loạt, Hàn Quốc
đã trở thành nước chuyển giao công nghệ cho các nước đi sau, mở rộng quy mô nhà máy
ở các nước này và xuất khẩu những sản phẩm hoàn chỉnh có hàm lượng kỹ thuật và giá trịgia tăng cao đi khắp nơi trên thế giới
Các DNTN và chính phủ Hàn Quốc đã thực hiện nhiều biện pháp để thúc đẩynền KHCN trong nước phát triển Các doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việchợp tác với nước ngoài chuyển giao công nghệ, thành lập và đầu tư cho các việnnghiên cứu (Research Institution - RI) tư nhân Trong số các bằng sáng chế được cấp,
tỷ lệ bằng sáng chế do bộ phận R&D của các DNTN đăng ký tăng cao và đạt 75% vàonăm 1986 Chính phủ đã thành lập những RI quốc gia như Viện khoa học và côngnghệ Hàn Quốc (Korea Institute of Science and Technology - KIST) năm 1969, cáctrung tâm hỗ trợ hợp tác phát triển cụm KHCN như “thung lũng Tehran” năm 1997.Chính phủ đã gia tăng đáng kể mức độ và phạm vi bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ tại nướcnày Năm 1986, Đạo luật bản quyền (Copyright Act) được sửa đổi bổ sung để đáp ứngnhững mối quan tâm về vấn đề bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ
Cả nước đầu tư mạnh mẽ cho R&D Từ giữa những năm 1990, tỷ lệ GDP đầu
tư cho R&D của Hàn Quốc đã đạt trên 2%, trong đó hoạt động R&D của các DNTN đạt 80% tổng vốn đầu tư Trong khi đó tại các nước khác có thu nhập tương đương vớiHàn Quốc tại thời điểm này, tỷ lệ R&D/GDP chỉ đạt dưới 0,7% Hai bộ phận quan trọng nhất tạo nên những thành tựu KHCN của Hàn Quốc là các RI và các trường đại học, hoạt động với nhiệm vụ khác nhau Trong khi RI thực hiện các đề tài nghiên cứu
Trang 29theo yêu cầu của chính phủ và các doanh nghiệp, thì các trường đại học là nơi đào tàocác nhà khoa học làm việc tại RI trong tương lai
→ Kết quả: Với sự đầu tư thích đáng cho khoa học công nghệ, hiệu suất của nền
kinh tế Hàn Quốc nhờ vậy mà tăng lên Chúng ta có thể thấy rằng, năng suất các nhân
tố tổng hợp (TFP) đóng góp lớn cho tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn 1982- 1995(44%) – gia tăng vượt bậc so với con số chi 6% giai đoạn 1970-1982 Tóm lại, HànQuốc đã cho thấy sự đúng đắn khi sớm đầu tư cho phát triển khoa học công nghệ bởiđến một thời điểm nào đó, khi các nhân tố đầu vào như lao động và vốn không còn làlợi thế so sánh của quốc gia đó nữa thì sự tiến bộ khoa học và kỹ thuật hay năng suấtcác nhân tố tổng hợp sẽ chính là yếu tố góp phần thúc đẩy tăng trưởng bền vững
2.1.3 Hàn Quốc sau khi vượt qua bẫy thu nhập trung bình
Theo số liệu của Ngân hàng Thế giới World Bank, từ năm 2003 đến nay, thunhập bình quân đầu người của Hàn Quốc có xu hướng tăng dần, tính đến năm 2018 đạt30,600 USD, đứng thứ 30 Thế giới, tăng một bậc so với năm 2017
Hình 2 4 GNI bình quân đầu người của Hàn Quốc giai đoạn 2003 – 2018
Đơn vị: USD
Nguồn World Bank 3 , truy cập ngày 23/02/2020
Trang 30Năm 2009, do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế, GNI bình quân đầungười của Hàn Quốc giảm xuống ở mức 21,040 USD Sau đó, năm 2010, kinh tế có sựphục hồi và thu nhập bình quân tăng trưởng 6,325%.
Ngân hàng thế giới (WB) cho biết Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) danh nghĩacủa Hàn Quốc năm 2018 là 1.619,4 tỷ USD, duy trì vị trí thứ 12 trên tổng số 205 nướctrên thế giới, nối tiếp năm 2017
Trước đó, GDP của Hàn Quốc liên tiếp giữ vị trí thứ 14 từ năm 2009 đến năm
2013, tăng một bậc lên vị trí thứ 13 vào năm 2014, vượt lên giữ vị thứ 11 từ năm 2015đến năm 2016, sau đó tụt xuống vị thứ 12 trong năm 2017
Năm 2017, tỷ lệ đóng góp của nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ trong GDPlần lượt là 1,96%; 35,87% và 52,84% (Ngân hàng thế giới World Bank), không thay đổinhiều so với những năm cuối của thời gian mắc bẫy thu nhập trung bình
Hình 2 5 Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Hàn Quốc giai đoạn 2003-2018
Đơn vị: tỷ USDĐầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Hàn Quốc (2003 - 2018)
Trang 31Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Hàn Quốc từ 2003 đến nay khá biến động khi
có rất nhiều lần sụt giảm Điển hình là năm 2015, đầu tư trực tiếp nước ngoài giảmmạnh, chỉ còn ở mức 4,1041 tỷ USD Từ năm 2015 - 2017, FDI tăng đều và tới năm
2018, đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Hàn Quốc lại có xu hướng giảm Năm 2018giảm 3,4336 tỷ USD
Về chất lượng nguồn nhân lực, với các chính sách giáo dục và phát triển nguồnnhân lực từ những năm mắc bẫy thu nhập trung bình, Hàn Quốc đã vươn lên vượt bậc.Năm 2018, chỉ số nguồn nhân lực của Hàn Quốc đạt 0,84 điểm, đứng thứ hai trong số
157 quốc gia Có nghĩa là trẻ em sinh ra tại Hàn Quốc có năng suất bằng 84% so vớitrẻ em sinh ra hôm nay được hưởng ưu đãi toàn diện về y tế, sức khỏe Chỉ số nguồnnhân lực của bé gái tại Hàn Quốc là 0,85 điểm, cao hơn bé trai (0,81 điểm)
* Chỉ số nguồn nhân lực là chỉ số phản ánh tình trạng y tế, giáo dục của một quốc gia, đo lường tổng nguồn nhân lực của những trẻ em sinh ra hôm nay cho tới năm 18 tuổi Đây còn là một chỉ số phản ánh năng suất trong tương lai của đứa trẻ vừa ra đời Chỉ số này có giá trị từ 0 tới 1, so sánh với khi một đứa trẻ được hưởng ưu đãi về giáo dục và y tế toàn diện.
Về khoa học công nghệ, Hàn Quốc có nền KHCN hiện đại và phát triển, với sốlượng các bằng sáng chế rất cao so với khu vực và trên thế giới
2.2 Quá trình vượt qua bẫy thu nhập trung bình của Nhật Bản
2.2.1 Nhật Bản trong giai đoạn thu nhập trung bình (1965-1984)
Nhật Bản chính chuyển từ một nước có thu nhập thấp sang nước có thu nhậptrung bình thấp vào năm 1929 Tuy nhiên, sau đó Nhật Bản lại trải qua những biếnđộng lớn về kinh tế, chính trị, quân sự (Đại khủng hoảng, Chiến tranh Nhật Trung, Thếchiến thứ II…) Từ quan điểm kinh tế, sự thất bại tại Thế chiến II đã có tác động tiêucực nghiêm trọng nhất đối với nền kinh tế Nhật Bản
Trong khi GDP bình quân đầu người của Nhật Bản là 2,659 đô la vào năm
1944, nó đã giảm xuống còn 1,346 đô la vào năm 1945, và là 1.444 vào năm 1946 Nóicách khác, Nhật Bản trở lại một quốc gia có thu nhập thấp ngay sau chiến tranh
Trang 32Theo dữ liệu từ World Bank, Nhật Bản lần thứ hai trở thành một nước có thunhập trung bình vào năm 1965 với mức GDP bình quân đầu người là 919.777 Đô la
Mỹ và vươn lên thành nước có thu nhập cao vào năm 1984 với mức GDP bình quânđầu người là 10,984.866 đô la Mỹ
Hình 2 6 GDP bình quân đầu người của Nhật Bản từ năm 1963-1985
Đơn vị: USD
Nguồn World Bank 5 , truy cập ngày 25/02/2020
Từ năm 1965 đến năm 1984, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đầu người thấpnhất là -3.093% vào năm 1974 và cao nhất là 12.507% vào n ăm 1968 Trong thời kỳnày thì tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đầu người không ổn định
5 https://data.worldbank.org/indicator/NY.GDP.PCAP.CD?end=1985&locations=JP&start=1963
Trang 33Hình 2 7 Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đầu người của Nhật Bản 1964-1984
Đơn vị: %
Nguồn World Bank 6 , truy cập ngày 25/02/2020
Một loạt các cuộc khủng hoảng kinh tế đã xảy ra vào các năm 1973-1975,
1981-1982 Hai cuộc khủng hoảng này đều có nguyên nhân chính là các cú sốc dầu lửa Lànước phụ thuộc gần như hoàn toàn vào dầu lửa nhập khẩu (mà giá dầu lại tăng vọt) và nhucầu nước ngoài (mà thị trường nước ngoài cũng bị khủng hoảng), nên cuộc khủng hoảng1973-1975 đã làm kinh tế Nhật Bản rơi vào tình trạng đình lạm sâu sắc Mức độ khủnghoảng (căn cứ vào tốc độ tăng trưởng GDP thực tế và sản lượng công nghiệp) của NhậtBản nghiêm trọng nhất trong các nước công nghiệp phát triển và nghiêm trọng hơn cả hồiĐại khủng hoảng Những ngành công nghiệp sử dụng nhiều năng lượng như đóng tàu,luyện thép, hóa dầu, dệt, gia công kim loại bị khủng hoảng nặng nề
Trang 342.2.2 Chính sách kinh tế - xã hội giúp Nhật Bản vượt qua bẫy thu nhập trung bình
2.2.2.1 Chính sách nông nghiệp
Phát triển khoa học kỹ thuật nông nghiệp
Sau chiến tranh, nông nghiệp đạt ở mức rất thấp, nguyên liệu và lương thựctrong nước thiếu thốn trầm trọng Do vậy trong điều kiện đất chật người đông, để pháttriển nông nghiệp, Nhật Bản coi phát triển khoa học kỹ thuật nông nghiệp là biện pháphàng đầu Nhật Bản tập trung vào các công nghệ tiết kiệm đất như: tăng cường sử dụngphân hoá học; hoàn thiện công tác quản lý và kỹ thuật tưới tiêu nước cho ruộng lúa; laitạo và đưa vào sử dụng đại trà những giống kháng bệnh, sâu rầy và chịu rét; nhanhchóng đưa sản xuất nông nghiệp sang kỹ thuật thâm canh, tăng năng suất Đây là mộtthành công quan trọng về định hướng đầu tư khiến cho sản xuất nông nghiệp vào năm
1950 đã được phục hồi xấp xỉ mức trước chiến tranh Sản xuất tiếp tục phát triển và tới
1953 đã vượt mức trước chiến tranh 30% Sản xuất nâng cao là điều kiện thuận lợi đểNhật Bản thực hiện Chương trình hiện đại hoá sản xuất nông nghiệp
Để phát triển khoa học - kỹ thuật nông nghiệp, Nhật Bản chủ yếu dựa vào cácviện nghiên cứu nông nghiệp của Nhà nước và của chính quyền các địa phương Thờigian này, những viện nghiên cứu vùng được nhà nước thành lập, trong đó Viện quốcgia về khoa học nông nghiệp được thành lập ở cấp Nhà nước là cơ quan có trách nhiệmtổng hợp gắn kết toàn bộ các viện nghiên cứu cấp ngành thành một khối
Cải cách ruộng đất
Do yêu cầu của các ngành công nghiệp, vì thế nhiều diện tích canh tác bịchuyển sang các mục tiêu sử dụng khác Để duy trì, bảo vệ những vùng đất tốt dùngcho mục đích nông nghiệp, năm 1969 Nhà nước đã ban hành luật “Cải tạo và phát triểnnhững vùng đất có khả năng mở rộng sản xuất nông nghiệp” Đến năm 1970, Luật đấtđai nông nghiệp và luật hợp tác xã nông nghiệp được sửa đổi bổ sung nới rộng quyềnhạn cho thuê, phát canh đất sản xuất nông nghiệp cũng như quyền quản lý cho các tậpđoàn và các hợp tác xã nông nghiệp Hệ thống tập đoàn nông dân thành lập vào năm
1970 được xem là chính sách hoàn thiện cơ cấu tổ chức đối với những người nông dântrực tiếp sản xuất
Trang 35Năm 1975, Nhật Bản quyết định thực hiện chính sách phát triển nông nghiệptoàn diện, bao gồm: đảm bảo an toàn lương thực; xem xét lại chính sách giá cả; hoànthiện cơ cấu sản xuất, đẩy mạnh các công trình phúc lợi trong các làng xã Đồng thờichương trình “Đẩy mạnh sử dụng đất nông nghiệp” được triển khai Chương trình nàyđược bổ sung vào năm 1980, và nhờ vậy nó giữ vai trò quan trọng trong việc hoànthiện cơ cấu sản xuất nông nghiệp.
Phát triển sản xuất có chọn lọc, nâng cao chất lượng nông sản
Chính sách nông nghiệp của Nhật Bản đã nhấn mạnh tới việc chuyển từ chỗtăng sản lượng lương thực một cách đơn thuần sang phát triển nông nghiệp trên cơ sởtăng hiệu quả kinh tế Bước ngoặt của chính sách nông nghiệp thực sự bắt đầu khi LuậtNông nghiệp cơ bản được ban hành vào năm 1961, với hai phương hướng chính sáchchủ yếu: Phát triển sản xuất có chọn lọc, cụ thể là đẩy mạnh sản xuất những sản phẩm
có nhu cầu tiêu thụ ngày càng tăng và giảm sản xuất những nông phẩm có sức tiêu thụkém Hoàn thiện cơ cấu nông nghiệp, kể cả việc phát triển những nông hộ và hợp tác
xã có năng lực về quản lý kinh doanh và canh tác Chính sách giá cả được xem là quantrọng nhưng Nhật Bản còn ngần ngại khi thực hiện nâng giá, lý do đơn giản là sợ làmtăng nhanh nguồn thu nhập của nông dân
Các chính sách về mua bán và chế biến nông phẩm như: hoàn thiện và củng cốmạng lưới bán buôn từ cấp trung ương tới địa phương; tổ chức hệ thống tín dụng chonhững người tham gia dịch vụ mua bán; hướng dẫn kỹ thuật và quản lý cho nhữngngười quản lý các xí nghiệp nhỏ; bảo hộ cho người tiêu dùng cũng được thực hiện
Phát triển hợp tác xã (HTX) và các tổ chức hợp tác xã dịch vụ
Chính phủ rất coi trọng thể chế vận hành các HTX nông nghiệp và đã ban hành,thực hiện nhiều chính sách giúp đỡ phát triển, không ngừng mở rộng quy mô sản xuấtnhằm giúp người nông dân thoát khỏi cảnh đói nghèo và cùng hội nhập vào nền kinh tếthế giới Theo Luật hợp tác xã nông nghiệp, năm 1972 Liên hiệp các HTX nông nghiệpquốc gia Nhật Bản (ZEN-NOH) chính thức được thành lập và được chính phủ giao thựchiện các mục tiêu về phát triển nông nghiệp và nông thôn Hệ thống HTX nông nghiệpNhật Bản được phân làm 3 cấp, hoạt động với tôn chỉ dựa vào sự nỗ lực hợp tác giữa
Trang 36các hợp tác xã nông nghiệp cấp cơ sở, các liên đoàn cấp tỉnh và cấp trung ương tạo thành một bộ máy thống nhất hoàn chỉnh từ trung ương đến địa phương.
Hỗ trợ nông nghiệp
Về chính sách giá cả, đặc biệt chính sách trợ giá cho lúa gạo khá lớn, đã kíchthích sản xuất và dẫn đến sản xuất thừa gạo Các sản phẩm nông nghiệp khác như lúa
mì và hoa màu đều giảm Từ năm 1970, Nhật Bản bắt đầu hạn chế mức sản xuất gạo,
do vậy Nhật Bản chỉ đáp ứng được 40% nhu cầu lương thực trong nước so với 79%của năm 1960 Theo quan điểm an ninh lương thực là mục tiêu số một nên ngành nôngnghiệp được bảo hộ rất cao Nhật Bản luôn khuyến khích sản xuất nông nghiệp theokiểu tự cung tự cấp thông qua việc hạn chế nhập khẩu một cách tối đa Điều này dẫntới mức giá nông phẩm cao và khuyến khích sản xuất trong nước Nhà nước có sự can
dự rất sâu trong kiểm soát việc cung cấp và ấn định các mức giá cho một số loại hànghoá nông phẩm ở thị trường nội địa Chỉ riêng việc duy trì giá gạo cao, trong vòng hơn
30 năm qua Nhật Bản đã phải chi một khoản trợ cấp rất lớn 6 tỷ yên cho chính sáchnày và sau đó lại cần đến 5 tỷ yên để bán hết số gạo dư thừa đó
Thất nghiệp ở mức cao và thu nhập thực tế giảm sút khiến cho người tiêu dùng
đã có những phản ứng khi họ phải trả mức giá cao khi mua nông sản được sản xuất ởtrong nước khi so sánh với mức giá trên thị trường thế giới Trong khi đó việc nới lỏng
tự do hoá nhập khẩu khiến cho giá một số hàng nông phẩm thấp đi
Như vậy, có thể thấy các chính sách hỗ trợ trong quá khứ của Nhật dường như
sẽ không còn phù hợp nữa và Nhật Bản đã đưa ra “Luật cơ bản mới về lương thực,nông nghiệp và khu vực nông thôn” vào cuối năm 1999 với hứa hẹn có những cuộc cảicách mới trong lĩnh vực nông nghiệp Song thực tế cải cách nông nghiệp diễn ra hếtsức chậm chạp Việc này được lý giải bởi các ảnh hưởng chính trị của những ngườinông dân và các hợp tác xã nông nghiệp vẫn còn rất lớn trong xã hội Nhật Bản
Với việc duy trì mức thuế cao, Nhật Bản đang phải đối mặt với những phản ứngcủa các đối tác thương mại trên các diễn đàn song phương và đa phương về sức ỳ quálớn của Nhật Bản đối với tiến trình tự do hoá trong lĩnh vực nông nghiệp
Trang 372.2.2.2 Chính sách công nghiệp
Chính phủ, cụ thể hơn là Bộ Thương mại và Công nghiệp (MITI), đã theo đuổi haimục tiêu là nâng cấp các ngành công nghiệp chính hiện có và thúc đẩy các ngành côngnghiệp mũi nhọn cùng một lúc Các ngành công nghiệp truyền thống bao gồm côngnghiệp sắt thép và công nghiệp khai thác than, và sau này bao gồm cả ngành công nghiệp
ô tô, cụ thể hơn là ngành công nghiệp xe khách Nhật Bản tiến hành đổi mới thiết bịdành cho các ngành hàng hóa trung gian cơ bản và thúc đẩy mạnh mẽ những nền côngnghiệp mới
Với những mục đích như vậy và hướng đi chuyển đổi sang nền kinh tế thịtrường, các công cụ chính sách mới đã được đưa ra là: các tổ chức chính sách công,thuế và phân bổ ngoại hối
a Chính sách phục hồi sau chiến tranh
Năm năm đầu tiên sau chiến tranh, Nhật Bản bị thiếu hụt hàng hóa và dự trữngoại tệ trầm trọng Chính phủ Nhật Bản đã thực hiện “kế hoạch sản xuất ưu đãi”(Keisha Seisan Hoshiki, 1946-1948) Theo đó, chính phủ Nhật Bản ưu tiên phân bổnguyên vật liệu và tài chính Tài nguyên cho ngành công nghiệp là thép và than đá.Ngành thép tiếp nhận nhiều than và ngành than đã nhận được nhiều thép Việc xử lý
ưu tiên này đã góp phần giải quyết tình trạng thiếu năng lực sản xuất và chuẩn bị thànhcông cho công nghiệp hoá trong giai đoạn tiếp theo Hơn nữa, chính phủ Nhật Bản canthiệp trực tiếp vào thị trường bằng cách kiểm soát giá kết hợp với trợ cấp, phân bổkhoản vay và phân bổ các vật liệu nhập khẩu bị hạn chế
Năm 1948, một chính sách ổn định, gọi là Kế hoạch Dodge, đã được giới thiệu, qua
đó Chính phủ Nhật Bản kiểm soát các khoản vay mới và trợ cấp đã bị bãi bỏ và ngânsách đã được kiểm soát chặt chẽ Lạm phát biến mất nhanh chóng Chính sách côngnghiệp trong giai đoạn này cần được xem là đặc biệt Nhiều can thiệp trực tiếp giốngnhư kế hoạch kinh tế xã hội chủ nghĩa Chúng ta nên đánh giá giai đoạn này làm nềntảng cho sự tăng trưởng cao trong giai đoạn tiếp theo
b Chính sách cho giai đoạn thiết lập