1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

tiểu luận môn tăng trưởng và phát triển nghiên cứu ứng dụng mô hình phá huỷ sáng tạo trong một số ngành công nghệ và gợi ý cho chính sách công nghệ ở việt nam hiện nay

73 191 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 1,85 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhưng nhờ có sự "hủy diệt sáng tạo" này mà các nhà sáng lập doanh nghiệp đã tạo ra một trong những phát minh quan trọng nhất của thế kỷ này - ví dụ như laptop ra đời đã hủy diệt nhiều cô

Trang 1

Mục lục

Lời mở đầu 1

Chương 1: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VỀ MÔ HÌNH PHÁ HỦY SÁNG TẠO SCHUMPETER 3

1.1 Nội dung mô hình phá hủy sáng tạo Schumpeter 3

1.1.1 Nội dung và mô hình gốc 3

1.1.2 Mô hình phá hủy sáng tạo theo cách nhìn của các nhà kinh tế khác và mô hình mở rộng 6

1.2 Ý nghĩa thực tiễn của mô hình Schumpeter 8

Chương 2: ỨNG DỤNG MÔ HÌNH PHÁ HUỶ SÁNG TẠO TRONG MỘT SỐ NGÀNH CÔNG NGHỆ HIỆN NAY 13

2.1 Phá hủy sáng tạo trong ngành điện thoại di động 13

2.1.1 Trường hợp của Nokia 13

2.1.2 Trường hợp của Apple 22

2.1.3 Trường hợp của Samsung 32

2.2 Ứng dụng trong lĩnh vực taxi công nghệ: 40

2.2.1 Sản phẩm truyền thống – thứ bị phá hủy 40

2.2.2 Sản phẩm taxi công nghệ - thứ được coi là sáng tạo 42

2.3 Phá hủy sáng tạo trong lĩnh vực thanh toán 50

2.3.1 Hình thức thanh toán cũ: bằng tiền mặt 51

2.3.2 Hình thức thanh toán công nghệ mới: Thanh toán điện tử và QR code 52 Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY SÁNG TẠO CÔNG NGHỆ Ở VIỆT NAM 57

3.1 Giải pháp về giáo dục đào tạo 57

3.1.1 Về phía nhà trường, các cơ sở giáo dục và đào tạo 57

3.1.2 Về phía gia đình, xã hội 58

Trang 2

3.2 Giải pháp thu hút đầu tư 59

3.2.1 Thu hút đầu tư sự quan tâm đến KH&CN của doanh nghiệp trong nước và Chính phủ 59

3.2.2 Thu hút đầu tư từ FDI 62

3.3 Giải pháp trong cơ chế quản lý và cơ sở pháp lý 64

3.3.1 Giải pháp trong cơ chế quản lý 64

3.3.2 Giải pháp về cơ sở pháp lý 65

3.4 Một số giải pháp khác 66

KẾT LUẬN 68

Tài liệu tham khảo 69

Trang 3

Danh mục các bảng biểu và hình ảnh

Bảng 2 1: Các dòng sản phẩm của Nokia 16

Bảng 2 2: Xếp hạng thương hiệu một số hãng taxi tại Hà Nội 41

Bảng 2 3: So sánh lợi thế của taxi công nghệ với taxi truyền thống 46

Biểu đồ 2 1: Doanh số điện thoại di động Nokia kể từ khi bắt đầu tuyên bố hợp tác chiến lược với Microsoft vào 11/2/2011 22

Biểu đồ 2 2: Thời hạn sản xuất các dòng máy iphone 29

Biểu đồ 2 3: Apple chiếm tới 66% lợi nhuận ngành smartphone toàn cầu trong Q3/2019 31 Biểu đồ 2 4: Số bằng sáng chế tiêu chuẩn của những hãng smartphone lớn 34

Biểu đồ 2 5: Lượng xe taxi Vinasun và Mai Linh 42

Biểu đồ 2 6: Lượng cài thêm app đặt xe theo tháng 46

Biểu đồ 2 7: Các hình thức được nhà đầu tư lựa chọn khi thanh toán trực tuyến 51

Biểu đồ 2 8: Hình thức thanh toán tại điểm bán hàng theo giá trị giao dịch 52

Biểu đồ 2 9: Chuyển dịch thanh toán toàn cầu năm 2017 54

Hình 2 1: Các mẫu máy dòng Samsung Galaxy 39

Hình 2 2: Giá cước xe 43

Hình 2 3: Kết quả kinh doanh của Vinasun và Mai Linh 44

Trang 4

Năm 1942, Joseph Schumpeter đưa ra khái niệm về phá hủy sáng tạo trong cuốn sách

“Capitalism Socialism and Demoncracy” Schumpeter cho rằng động lực giúp cỗ máy kinh tếvận hành chính là hàng hoá tiêu dùng mới, phương thức sản xuất hoặc vận tải mới, thị trườngmới, hình thức doanh nghiệp mới được tạo ra Các hoạt động thị trường không ngừng cải tổ

cơ cấu nền kinh tế từ bên trong, liên tục phá huỷ những cái cũ và tạo ra cái mới Chính quátrình này đã giúp cho kinh tế tăng trưởng Sáng tạo nhưng đồng thời cũng là sự huỷ diệt, việclàm, doanh nhiệp, toàn bộ một ngành, và những khách hàng, những vùng vệ tinh của chúng.Schumpeter cũng nhấn mạnh rằng chắc chắn có sự xung đột, sự phản đối từ phía thua cuộcnhưng kinh tế tăng trưởng nhờ thị trường tạo ra người thắng – kẻ thua Các doanh nhân vàcông nhân trong các ngành công nghệ mới sẽ tạo ra sự mất cân bằng và các cơ hội lợi nhuậnmới Các nhà sản xuất và công nhân gắn với công nghệ cũ hơn sẽ bị bỏ lại Đặc biệt, việc cáchtân trong công nghệ dễ tạo nên một làn sóng mạnh mẽ có thể nhấn chìm công nghệ cũ, đưađến một bước tiến mới trong KH&CN, mang lại nhiều lợi ích tích cực trong đời sống và sảnxuất mà tiêu biểu có thể kể đến cách tân công nghệ trong lĩnh vực taxi, smartphone, mã QR,

Phát triển KH&CN là một trong những nhiệm vụ quan trọng được Đảng và Nhà nước tađặt ra và quyết tâm triển khai thực hiện Trên cơ sở những chủ trương, đường lối của Đảng và Nhànước, nền khoa học và công nghệ nước nhà đã có những bước tiến tích cực, gắn bó hơn với sảnxuất và đời sống Tuy nhiên, đứng trước bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, nềnkhoa học và công nghệ nước ta vẫn còn khoảng cách khá xa so với các nước phát triển, chưa tạo

ra được những năng lực khoa học và công nghệ cần thiết để thực sự trở thành nền tảng và độnglực cho tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Trình độ công nghệ của nước ta cònthấp, chậm được đổi mới trong nhiều ngành sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý

Cho đến nay, đã có rất nhiều nhà nghiên cứu lựa chọn đề tài liên quan đến mô hìnhphá hủy sáng tạo ứng và ứng dụng trong công nghệ Nhìn chung, các nghiên cứu đều tậpchung phân tích tác động của việc phá hủy sáng tạo trong công nghệ, có thể kể đến như

Abernathy, W J., & Clark, K B (1985) với Innovation: Mapping the winds of creative hay Aron S.Spencer &Bruce A.Kirchhoff (2006) với Schumpeter and new technology based firms.

Tuy nhiên chưa có nghiên cứu nào phân tích về một số ngành công nghệ hiện đại cũng nhưđưa ra những gợi ý cho đối với việc thúc đẩy phá hủy sáng tạo ở Việt Nam

Trang 5

Chính vì những lý do này, nhóm tác giả đã quyết định chọn đề tài “Nghiên cứu ứng dụng mô hình phá huỷ sáng tạo trong một số ngành công nghệ và gợi ý cho chính sách công nghệ ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài cho bài tiểu luận của mình.

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phần nội dung của tiểuluận được kết cấu gồm 3 chương như sau:

Chương 1: Tổng quan lý thuyết về mô hình phá hủy sáng tạo schumpeter

Chương 2: Ứng dụng mô hình phá huỷ sáng tạo trong một số ngành công nghệ hiện

nay

Chương 3: Một số giải pháp thúc đẩy sáng tạo công nghệ ở Việt Nam

Bài phân tích sẽ khó tránh khỏi những sai sót do hạn chế về thời gian và kiến thức.Nhóm tác giả rất mong nhận được sự đóng góp từ phía thầy giáo hướng dẫn để bài tiểu luậnđược hoàn thiện hơn

Trang 6

Chương 1: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VỀ MÔ HÌNH

PHÁ HỦY SÁNG TẠO SCHUMPETER

1.1 Nội dung mô hình phá hủy sáng tạo Schumpeter

1.1.1 Nội dung và mô hình gốc

Sự hủy diệt mang tính sáng tạo là thuật ngữ để chỉ một cái gì đó mới mẻ ra đời giếtchết một cái cũ Nhưng nhờ có sự "hủy diệt sáng tạo" này mà các nhà sáng lập doanh nghiệp

đã tạo ra một trong những phát minh quan trọng nhất của thế kỷ này - ví dụ như laptop ra đời

đã hủy diệt nhiều công ty sản xuất máy tính mainframe Sự hủy diệt mang tính sáng tạo đượcJoseph Schumpeter đặt ra năm 1942 trong công trình mang tên Chủ nghĩa Tư bản, Chủ nghĩa

Xã hội và Dân chủ Khái niệm dùng để chỉ "quá trình biến đổi công nghiệp, liên tục cáchmạng hóa cơ cấu kinh tế từ bên trong, liên tục phá hủy cái cũ, liên tục tạo ra cái mới"

Joseph Schumpeter đặt ra cụm từ “Phá hủy mang tính Sáng tạo” (CreativeDestruction), đây là tiền đề mà qua đó những cách tân mới phá hủy các doanh nghiệp đã thànhlập và tạo ra các thị trường mới Clayton Christensen, đặt ra thuật ngữ “Cách tân mang tínhTriệt phá” (Disruptive Innovation), ở đây ông sử dụng cách tiếp cận do dữ liệu định hướng đểchứng minh bằng cách nào mà các công ty đã thành lập đang hoạt động bị những công ty mớigia nhập [thị trường] phá vỡ, những công ty này tạo ra các bất cân xứng về kĩ năng và độnglực để ngăn chặn những công ty đang hoạt động phản ứng với các mối đe dọa của chúng.Trong lý thuyết kinh tế Marx , khái niệm này đề cập rộng hơn đến các quá trình liên kết của sựtích lũy và hủy diệt của cải dưới chủ nghĩa tư bản

Schumpeter cho rằng cách tân sẽ tạo động lực cho các doanh nghiệp bằng việc đem lại

lợi nhuận từ độc quyền do doanh nghiệp sẽ có được sự độc quyền phát minh khi doanh

nghiệp thành lập trên cơ sở đổi mới sáng tạo Ông tin rằng cho phép các doanh nghiệp độcquyền phát minh sẽ giúp cho xã hội có nhiều lợi ích hơn từ việc có nhiều phát minh hơn

Đối với Schumpeter, trong quá trình phá hủy sáng tạo, sản phẩm cũ sẽ bị thay thế bằngnhững sản phẩm mới ưu việt hơn hoặc bằng phương thức sản xuất rẻ hơn Những sản phẩmnày tạo lập vị thế trên thị trường, tuy nhiên chỉ trong thời gian ngắn và sẽ không ngừng phảiđổi mới hoặc đứng trước nguy cơ bị thay thế bởi một sản phẩm sáng tạo hơn, đột phá hơn Vịthế thị trường luôn luôn bị cạnh tranh bởi các sản phẩm phát minh mới của các đối thủ do viễncảnh về lợi nhuận độc quyền

Mô hình phá hủy sáng tạo Schumperter:

g = ln(γ))( (1− ) − ⍺) − ) (1− ) + ) ⍺) − ⍺) −

3

Trang 7

Trong đó:

g: tốc độ tăng trưởng kinh tế

γ) tốc độ tăng năng suất

n tốc độ tăng dân

số r lãi suất

λ xác suất có phát kiến

⍺) − tỷ trọng đóng góp của lao động vào GDP

Tăng trưởng kinh tế và thay đổi công nghệ luôn đi cùng với sự phá hủy sáng tạo.Chúng thay cái cũ bằng cái mới Các khu vực mới thu hút nguồn lực từ các khu vực cũ Cáchãng mới lấy mất công việc kinh doanh của các hãng đã được xác lập Các công nghệ mới làmcho các kỹ năng và các máy móc hiện hành trở nên lỗi thời Quá trình tăng trưởng kinh tế vàcác thể chế kinh tế mà sự tăng trưởng dựa vào, tạo ra những người thua cũng như những kẻthắng trên chính thương trường Sự sợ hãi phá hủy sáng tạo thường nằm ở gốc rễ của sự chốngđối các thể chế bao gồm kinh tế và chính trị

Lịch sử Âu châu cho một thí dụ sinh động về các hậu quả của sự phá hủy sáng tạo Vàotrước Cách mạng công nghiệp trong thế kỷ mười tám, các chính phủ của hầu hết các nước Âuchâu đã được kiểm soát bởi các giới quý tộc và elite truyền thống, mà nguồn thu nhập chínhcủa họ đã từ việc làm chủ đất hoặc từ các đặc quyền buôn bán mà họ được hưởng nhờ sự độcquyền được ban cho và các rào cản tham gia được áp đặt bởi các quốc vương Phù hợp với ýtưởng về sự phá hủy sáng tạo, sự mở rộng của các ngành công nghiệp, các nhà máy, và các thịtrấn đã lấy đi các nguồn lực từ đất, đã làm giảm tiền thuê đất, đã làm tăng lương mà các địachủ phải trả cho những người làm công của họ Các elite này cũng đã thấy sự nổi lên của cácnhà kinh doanh và thương gia mới làm xói mòn các đặc quyền buôn bán của họ Xét về mọimặt, họ đã là những người thua thiệt kinh tế rõ ràng do công nghiệp hóa Việc đô thị hóa và sựnổi lên của các tầng lớp trung lưu và lao động có ý thức về mặt xã hội cũng đã thách thức độcquyền chính trị của các giới quý tộc có nhiều đất Như thế với sự mở rộng của Cách mạngCông nghiệp, các giới quý tộc đã không chỉ là những kẻ thua về mặt kinh tế; họ cũng còn bịrủi ro trở thành những kẻ thua về mặt chính trị, mất ảnh hưởng của họ lên quyền lực chính trị.Với quyền lực kinh tế và chính trị của họ bị đe dọa, các elite này thường đã tạo ra sự chống đốighê gớm chống lại công nghiệp hóa

Schumpter cho rằng động lực giúp cỗ máy kinh tế vận hành chính là hàng hoá tiêu dùngmới, phương thức sản xuất hoặc vận tải mới, thị trường mới, hình thức doanh nghiệp mới được tạo

ra, không chỉ vốn và lao động, hay chi tiêu chính phủ mà cụ thể hơn chính các thiết chế tổ

4

Trang 8

chức, các nhà kinh doanh và đổi mới công nghệ mới chính là trái tim của nền kinh tế và làđộng lực cho tăng trưởng.

Sáng tạo nhưng đồng thời cũng là sự huỷ diệt, việc làm, doanh nhiệp, toàn bộ mộtngành, và những khách hàng, những vùng vệ tinh của chúng Schumpeter cũng nhấn mạnhrằng chắc chắn có sự xung đột, sự phản đối từ phía thua cuộc nhưng kinh tế tăng trưởng nhờthị trường tạo ra người thắng – kẻ thua Uber và Amazon, hay cơ bản hơn như người máy, giúpmọi thứ trở nên tiện lợi hơn nhưng chúng lại loại bỏ các công việc lao động chân tay và/hoặclàm giảm tiền lương Đây là điển hình của quá trình “phá hủy sáng tạo” mà Joseph Schumpeter

đã mô tả như là “nàng hầu” của tăng trưởng trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa

Làn sóng đầu tiên của sáng tạo đột phá chủ yếu mang lại lợi ích cho một số ít cácdoanh nhân Rồi đến một làn sóng gây biến động việc làm, khi công nghệ được điều chỉnh đểphù hợp với các ngành công nghiệp hiện hữu Ba thập niên trước, chính Wal-Mart đã sử dụng

hệ thống máy tính và dịch vụ hậu cần để càn quét các cửa hàng nhỏ; nhưng ngày hôm nay, họđang phải gồng mình chống lại Amazon Một trong những ví dụ của Schumpeter đã sử dụng

đó là "tuyến đường sắt ở Trung Tây khi nó được khởi xướng bởi Trung tâm Illinois " Ông viết

"Trung tâm Illinois không chỉ có nghĩa là kinh doanh rất tốt trong khi các thành phố mới được xây dựng xung quanh nó và đất đai được canh tác, nhưng nó gây ra án tử hình cho nền nông nghiệp (cũ) của phương Tây"

Giao thông vận tải cung cấp một ví dụ ấn tượng, liên tục về sự phá hủy sáng tạo trongcông việc Với sự xuất hiện của năng lượng hơi nước vào thế kỷ XIX, đường sắt đã quét quaHoa Kỳ, mở rộng thị trường, giảm chi phí vận chuyển, xây dựng các ngành công nghiệp mới

và cung cấp hàng triệu việc làm mới Động cơ đốt trong đã mở đường cho ô tô vào đầu thế kỷtới Sự vội vàng đưa nước Mỹ lên các bánh xe sinh ra các doanh nghiệp mới; tại một thời điểmtrong những năm 1920, ngành công nghiệp này đã phình to hơn 260 nhà sản xuất xe hơi.Những gợn sóng của ô tô tràn vào dầu mỏ, du lịch, giải trí, bán lẻ và các ngành công nghiệpkhác Trên gót xe, chiếc máy bay bay vào thế giới của chúng ta, tạo ra sự bùng nổ của cácdoanh nghiệp và công việc mới

Các công ty đã từng cách mạng hóa và thống trị các ngành công nghiệp mới - ví dụ, Xerox trong máy photocopy hoặc Polaroid trong chụp ảnh tức thời - đã thấy lợi nhuận của họ giảm và sự

thống trị của họ biến mất khi các đối thủ tung ra các thiết kế cải tiến hoặc cắt giảm chi phí sảnxuất Về công nghệ, băng cassette đã thay thế 8 track và bị thay thế lần lượt bằng đĩa compact , sau

đó có thể tải xuống bởi các máy nghe nhạc MP3, còn hiện tại là sự chiếm dụng của các dịch vụphát nhạc trực tuyến trên web hoặc trên các thiết bị di động Một ví dụ về cách mà các trang web

hỗ trợ quảng cáo trực tuyến như Huffington Post đang dẫn đến sự phá hủy sáng tạo của tờ báotruyền thống Ở cấp quốc gia tại Hoa Kỳ, việc làm trong ngành kinh doanh báo chí đã giảm từ455.700 năm 1990 xuống còn 225.100 vào năm 2013 Trong cùng thời gian

Trang 9

đó, việc làm trong xuất bản và phát thanh truyền hình đã tăng lên từ 29.400 đến 121.200.Mạng lưới cựu sinh viên truyền thống của Pháp, thường tính phí sinh viên của họ lên mạngtrực tuyến hoặc thông qua các thư mục giấy, có nguy cơ bị phá hủy sáng tạo từ các trang mạng

xã hội miễn phí như LinkedIn và Viadeo

Trên thực tế, đổi mới thành công thường là một nguồn sức mạnh thị trường tạm thời,làm xói mòn lợi nhuận và vị thế của các công ty cũ, nhưng cuối cùng vẫn chịu khuất phụctrước áp lực của các phát minh mới được thương mại hóa bởi những người tham gia cạnhtranh Phá hủy sáng tạo là một khái niệm kinh tế mạnh mẽ bởi vì nó là động lực của thay đổicông nghiệp: sự chuyển đổi từ một thị trường cạnh tranh sang độc quyền, và trở lại Nó lànguồn cảm hứng của lý thuyết tăng trưởng nội sinh và cả kinh tế học tiến hóa

David Ames Wells (1890), người có thẩm quyền hàng đầu về tác động của công nghệđối với nền kinh tế vào cuối thế kỷ 19, đã đưa ra nhiều ví dụ về sự phá hủy sáng tạo do các cảitiến về hiệu quả của động cơ hơi nước , vận chuyển, mạng điện báo quốc tế, và cơ giới hóanông nghiệp

1.1.2 Mô hình phá hủy sáng tạo theo cách nhìn của các nhà kinh tế khác và mô hình mở rộng

Sự xuất hiện, hưng thịnh rồi lụi tàn lập tức của nhiều ông lớn công nghệ phần nào phảnánh mức độ khắc nghiệt của nền khoa học kĩ thuật ngày càng tiến bộ và đổi mới Với GaryBecker, chính sự định hình của các tên tuổi mới là minh chứng cho một phần của cạnh tranhnăng động - lý thuyết được định hình từ những năm 1980s trên cơ sở những ý tưởng ban đầu

về hủy diệt sáng tạo mà Joseph A Schumpeter đã sớm vạch ra

Theo cách diễn giải của Ricardo J Caballero (giải thưởng Risch Medal cùng vớiEduardo Engel năm 2002), hủy diệt sáng tạo là cơ chế đổi mới sáng tạo không ngừng các sảnphẩm và quy trình mà theo đó một sản phẩm mới sẽ thay thế cho một sản phẩm đã lỗi thời.Điều quan trọng là tiến trình sản xuất đó không chỉ lan tỏa rộng khắp, có tầm vĩ mô; đối với cảquá trình phát triển trong dài hạn và những biến đổi kinh tế nhất thời lẫn các thay đổi về mặtcấu trúc và chức năng của thị trường Thậm chí, xét về dài hạn, tiến trình hủy diệt sáng tạo cóthể chiếm hơn 50% mức tăng hiệu suất Ở cấp độ chu kỳ kinh doanh, quá trình tái cấu trúcthường thuyên giảm trong giai đoạn suy thoái kinh tế và điều này sẽ làm tăng chi phí đáng kểcho các quá trình đào thải Đương nhiên, những trở ngại cho tiến trình hủy diệt sáng tạo sẽmang lại những hệ lụy cho nền kinh tế vĩ mô, cả trong ngắn hạn lẫn dài hạn

Thực tế, lý thuyết này sau đó một lần nữa được minh chứng bởi những thay đổi ở Mỹ,Nhật Bản và tây Âu vào những năm 1980s hay tại Trung Quốc và Ấn Độ những năm 1990s Trênnền tảng công nghệ mới, các công ty, cấu trúc và lực lượng lao động có chuyên môn cũ đã

Trang 10

bị xóa sổ, thay vào đó là sự xuất hiện của các tổ chức công nghiệp và các mối quan hệ laođộng mới Đáng chú ý, việc ứng dụng công nghệ thông tin và internet với sự giảm thiểu đáng

kể về chi phí giao dịch chính là sự thay đổi nổi trội về mặt số lượng lẫn chất lượng cả khu vựckinh tế công và tư Thú vị là, một mặt phát triển ngoại tác (external growth) của các công tylớn thông qua việc thâu tóm các công ty khác tạo nét đặc trưng cho chủ nghĩa tư bản hiện đại,một mặt lại có sự xuất hiện mỗi ngày của các công ty nhỏ - chủ yếu được thành lập bởi chínhcác nhân viên điều hành của các công ty cũ vẫn đang hoạt động

Trong nghiên cứu của J Ellig cho thấy, theo lý thuyết cạnh tranh sáng tạo, các công tykhác nhau sẽ có khả năng khác nhau, có những phát kiến nhất định và sự đổi mới sáng tạoxuất hiện khi các công ty đã thử nghiệm nhiều hơn, và thậm chí có những hạn chế nhất định vềlượng thông tin mà người đưa ra quyết định có thể tiếp cận và tiệm cận Cuộc cạnh tranh vìvậy càng trở nên thú vị, khốc liệt và liên tục Hủy diệt sáng tạo thật sự là tiến trình tạo ra giátrị Và điều này mở ra một kênh mới cho quá trình cạnh tranh, trong lựa chọn sinh tồn hay diệtvong Hay nói cách khác, đó là cuộc cạnh tranh bằng “cái mới”; và sáng tạo khi đó là để hủydiệt, nhưng hủy diệt để sinh tồn Nhưng tồn tại khó bất biến, vì sáng tạo không ngừng

Theo Komlos J để khám phá khía cạnh này của khái niệm họ đã phân tách sự đổi mớithành một thành phần sáng tạo (C) và một thành phần phá hủy (D) được đo bằng đơn vị tiền tệhoặc việc làm Để đánh giá hiệu quả của một sự đổi mới đối với GDP hoặc việc làm, Komlosxác định tỷ lệ sáng tạo của Schumpeter là ScR = C – D D có thể được xem như là một ngoạiứng tiêu cực – một chi phí được áp dụng cho bên thứ ba

Hai tác giả Aghion P và Howitt P đã xây dụng mô hình tăng trưởng dựa trên mô hìnhphá hủy sáng tạo của Schumpeter trong quyển sách “Bureau Quốc gia nghiên cứu kinh tế”:Giả định:

T là bốn loại đối tượng không thể phá hủy: đất đai, lao động, hàng tiêu dùng và

hàng hóa trung gian Với tỷ lệ không đổi của thời gian r> 0 Giả sử một lợi ích cận biên củatiêu dùng là không đổi; do đó r cũng là lãi suất duy nhất trong nền kinh tế Không có bất đồng

từ việc cung cấp lao động Ngoài ra còn có nguồn cung cố định H đất đai Hàng tiêu dùngđược sản xuất bằng đất và hàng hóa trung gian, tùy thuộc vào lợi nhuận không đổi Vì H đã cốđịnh nên chúng ta có thể biểu thị hàm sản xuất là:

(2.1) y = f (Ftx (i)] / c (i)} di

Trong đó F '> 0, F "<0, y là đầu ra của dòng hàng hóa tiêu dùng, x (i) là lưu lượngtrung gian, đầu vào và c (i) một tham số cho biết, với giá nhân tố nhất định, chi phí đơn vị sảnxuất hàng hóa tiêu dùng bằng cách sử dụng đầu vào trung gian L.Mỗi hàng hóa trung gian iđược sản xuất chỉ sử dụng lao động phù hợp với mô hình tuyến tính:

(2.2) x (i) = L (i)

Trang 11

Trong đó L (i) là dòng lao động được sử dụng trong khu vực trung gian i Lao động cómột cách sử dụng khác để sản xuất hàng hóa trung gian Nó cũng có thể được sử dụng trongnghiên cứu, trong đó tạo ra một chuỗi đổi mới ngẫu nhiên Tỷ lệ anival Poisson của những đổimới trong nền kinh tế bất cứ lúc nào là n, trong đó n là dòng lao động được sử dụng trongnghiên cứu.

Thời gian là liên tục và được lập từ 0 Biểu tượng t = 0,1 biểu thị khoảng bắt đầu với

sự đổi mới (hoặc với = 0 trong trường hợp t = 0) và kết thúc ngay trước t + l Độ dài của mỗikhoảng là ngẫu nhiên Mỗi đổi mới bao gồm phát minh ra một dòng hàng hóa trung gian mới,

có sử dụng làm đầu vào cho phép các phương pháp hiệu quả hơn được sử dụng trong sản xuấthàng tiêu dùng Tác giả có ý tưởng đổi mới 'đầu vào' như động cơ hơi nước, máy bay và máytính, có sử dụng các phương pháp sản xuất mới trong khai thác, vận chuyển và ngân hàng Cụthể, sử dụng dòng hàng hóa trung gian mới giúp giảm các tham số chi phí c (i) trong (2.1) bởifactori E (0,1) Giả định mọi sự chậm trễ trong hàng hóa trung gian hiện đại nhất luôn đượcsản xuất trong từng lĩnh vực và thông số chi phí đơn vị trong khoảng thời gian t là như nhaucho tất cả các ngành, do đó:

1.2 Ý nghĩa thực tiễn của mô hình Schumpeter

Internet có lẽ là ví dụ bao quát nhất về sự hủy diệt mang tính sáng tạo trong thời đạichúng ta Việt Nam hiện xếp thứ 13 trong top 20 quốc gia có số dân sử dụng mạng Internetđông nhất thế giới Dây chuyền lắp ráp của Henry Ford đã cách mạng hóa việc sản xuất ô tô

và nhiều ngành sản xuất khác, nhưng nó cũng thay thế các thị trường cũ và khiến nhiều laođộng mất việc Những người thua cuộc không chỉ là nhân viên bán lẻ và các chủ cửa hàng, màcòn là giao dịch viên ngân hàng, thư kí, đại lí du lịch và tài xế taxi Những người chiến thắng,ngoài các lập trình viên, có thể cũng đông không kém những người thất bại Ngành côngnghiệp giải trí đã bị đảo lộn bởi internet, nhưng nhu cầu về tài năng và sản phẩm sáng tạo vẫnnhư cũ hoặc thậm chí còn tăng lên Internet đã phá hủy nhiều doanh nghiệp nhỏ nhưng tạo ranhiều doanh nghiệp mới trực tuyến

Theo Seru A., giáo sư tài chính tại Đại học Kinh doanh Stanford, nghiên cứu xác nhậnrằng tốc độ đổi mới thực sự là một vấn đề quan trọng giữa các đối thủ cạnh tranh Nhưng cũngnhận thấy rằng các thời kỳ đổi mới công nghệ nhanh chóng, chẳng hạn như những năm 1920,

1960 và 1990, dẫn đến sự gia tăng đáng kể về năng suất và tăng trưởng kinh tế nói chung Seru

8

Trang 12

nói “Nếu sự đổi mới chỉ là về việc McDonald vượt lên trên Burger King, chúng tôi sẽ khôngthực sự quan tâm Nhưng nghiên cứu của chúng tôi cho thấy rằng một cái gì đó quan trọnghơn đang xảy ra Khi các công ty đổi mới, họ đang mở rộng chiếc bánh và chúng ta thấy sựtăng trưởng tổng hợp tăng lên” Cụ thể, các công ty trong top 10% về đổi mới có tốc độ tăngtrưởng hàng năm trong năm năm tiếp theo nhanh hơn từ 1 đến 3 điểm phần trăm so với cáccông ty chỉ có tốc độ đổi mới trung bình Cho rằng 10% là tốc độ tăng trưởng nhanh đối vớihầu hết các công ty, con số đó có lợi thế đáng kể Ngược lại, các công ty tụt hậu so với tốc độđổi mới của ngành công nghiệp đã chứng kiến sự tăng trưởng hàng năm của họ trong nămnăm tới chậm tới 2,5 điểm phần trăm Những kết quả này tương tự với những nghiên cứutrước đây chỉ nhìn vào giá trị khoa học của bằng sáng chế, nhưng kết quả mới cho thấy nhiềubằng chứng về sự phá hủy sáng tạo của Hồi giáo Các nghiên cứu trước đây không tìm thấynhiều thiệt hại cho các đối thủ kém sáng tạo.

Tất nhiên, câu hỏi lớn hơn là liệu sự đổi mới có làm tăng quy mô chung của nền kinh tếhay không Có phải phần thưởng của sự đổi mới chỉ dành cho những người chiến thắng, vớichi phí của các đối thủ hoặc của những người lao động có công việc trở nên không cần thiết?

Để trả lời điều đó, Seru A và các đồng nghiệp đã sử dụng dữ liệu của họ về các bằng sáng chếchuyển động thị trường để tạo ra một chỉ số đổi mới tổng hợp, và sau đó xem xét các chỉ sốtheo dõi với sự gia tăng của tăng trưởng kinh tế và năng suất Một lần nữa, kết quả đã xácnhận lý thuyết cơ bản về sự phá hủy sáng tạo Một bước nhảy đáng kể trong sản lượng đổimới tổng thể (sự gia tăng của độ lệch chuẩn) có liên quan đến sự gia tăng sản lượng kinh tếhàng năm từ 0,6 đến 6,5 điểm phần trăm Đó là một sự thúc đẩy lớn, cho rằng nền kinh tế Mỹthường mở rộng dưới 4% một năm Tuy nhiên, những gì công việc của Seru thể hiện rằngSchumpeter đã đúng

Mô hình phá hủy sáng tạo đem đến nhận thức sâu sắc về ý nghĩa của việc sáng tạo Sáng tạokhông đơn thuần là tạo ra cái mới, cái biến đổi, xây dựng nên các ý tưởng mới mà sâu hơn là sựchấm dứt của những ý tưởng lỗi thời, những bước đi cũ, giúp cải tiến trên nhiều lĩnh vực

Ý nghĩa cốt lõi của sự hủy diệt mang tính sáng tạo là quá trình tiến hóa thưởng cho những cảitiến, đổi mới và trừng phạt những cách thức phân phối tài nguyên kém hiệu quả hơn Cụ thể,phá hủy sáng tạo mang những ý nghĩa sau đây:

Mang đến cơ hội phát triển cho đang dạng dịch vụ và ngành nghề

Sự phát triển theo mô hình “phá hủy sáng tạo” mang lại cơ hội cho nền kinh tế số, sảnxuất và dịch vụ thông minh, các loại hình nông nghiệp thông minh, du lịch thông minh, dịch vụ tàichính - ngân hàng, logistic thông minh giúp tăng năng suất lao động, tiết kiệm chi phí quản lý,chi phí sản xuất, mang lại lợi ích to lớn cho Nhà nước, doanh nghiệp và người tiêu dùng Sự đổimới sáng tạo thường tạo ra cơ hội cho các công ty mới, với công nghệ mới mang tính đột phá,công nghệ mới mang tính phá hủy Với góc nhìn này, các công ty lớn và thành công có nhữngkhuyết tật chết người và tạo ra cơ hội cho các công ty mới, công ty nhỏ, cơ hội vươn lên

Trang 13

trở thành số 1 nhưng phải dựa vào công nghệ mới đột phá, đi từ các thị trường mới quay lại lật

đổ các thị trường truyền thống hiện tại Công nghệ số sẽ sinh ra những mô hình kinh doanhmới, thách thức mới, hoặc thay thế mô hình kinh doanh cũ Dưới góc nhìn của kinh tế số, thìđổi mới sáng tạo là doanh nghiệp tập trung vào chuyển đổi số để trở thành doanh nghiệp số.Chính phủ tập trung vào tạo môi trường pháp lý, cho phép các mô hình kinh doanh mới, ứngdụng công nghệ mới đột phá

Phá hủy sáng tạo có ý nghĩa rõ nét nhất trong ngành công nghiệp, không những giúpcải thiện năng suất lao động, chất lượng sản phẩm mà còn giúp các doanh nghiệp quản lý mộtcách dễ dàng, dần dần mở rộng quy mô sản xuất theo hướng tự động hóa Công nghiệp sángtạo được phát triển dựa trên nền tảng công nghiệp văn hóa nhưng không bị giới hạn, bó buộcbởi văn hóa, nó có phạm vi rộng hơn công nghiệp văn hóa Cả hai ngành đều vận dụng đến trítuệ, tính sáng tạo của con người, nên đều thuộc “nền kinh tế sáng tạo” - đó là nền kinh tế kếthợp ba yếu tố kinh tế, văn hóa và tiến bộ công nghệ Sáng tạo được coi là nguồn lực chính củanền kinh tế tri thức, nói cách khác “sáng tạo” là nguyên liệu đầu vào của nền kinh tế, và côngnghiệp sáng tạo giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế này Một thực tiễn khác, công nghiệpsáng tạo là công cụ quan trọng cho việc hình thành “quyền lực mềm” của quốc gia khi tạo rathương hiệu nổi tiếng được thế giới công nhận (ví dụ: truyền hình và phim ảnh Mỹ, phim tìnhcảm và mỹ phẩm Hàn quốc; các câu lạc bộ bóng đá Liverpool, Chelsea (Vương quốc Anh);thương hiệu Made in Japan )

Tạo ra sự thay đổi lớn về mô hình kinh doanh bền vững hơn và cơ hội cho các

DN khởi nghiệp sáng tạo.

Sáng tạo giúp nâng cao năng lực công nghệ của doanh nghiệp, thúc đẩy tăng năngsuất, chất lượng và sức cạnh tranh của doanh nghiệp và của cả nền kinh tế khiến đất nước cóthể bắt kịp công nghiệp 4.0 Vì vậy, nhà nước chỉ ra rằng lấy doanh nghiệp là trung tâm tiếpnhận công nghệ nhằm thực hiện chuyển đổi số, nâng cao năng lực công nghệ của doanhnghiệp sẽ hướng đến các nhóm doanh nghiệp nhỏ và vừa (chiếm trên 90% tổng số doanhnghiệp cả nước), cũng như đối với các doanh nghiệp có quy mô lớn Định hướng phát triểnnhững sản phẩm công nghệ riêng sẽ shướng đến sự dẫn dắt của các doanh nghiệp có quy môlớn, đi đầu, cùng với sự phát triển đột phá của các doanh nghiệp KHCN, doanh nghiệp côngnghệ cao và doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo

Mô hình sáng tạo ở ngành này có thể tạo ý tưởng cho ngành liên quan phát triển theo hìnhthức đổi mới đó, ví dụ khi mô hình kinh doanh taxi công nghệ sử dụng ứng dụng trên smartphone

ra đời thì doanh nghiệp tiếp đó phát triển thêm mô hình đặt đồ ăn qua điện thoại, mô hình Siêuthị Vinsmart 4.0 chỉ cần mở ứng dụng VinID sau đó lựa chọn tính năng Scan&Go và quét mã QRcác sản phẩm muốn mua Khi lựa chọn xong, người dùng có thể tiến hành thanh toán ngay trênứng dụng bằng thẻ Visa, ATM hoặc ví điện tử cũng tương tự như mua sắm online như Shoppee,Tiki, từ đó người dân không cần phải ra ngoài mua sắm mà cũng có thể mua được

Trang 14

thực phẩm tươi từ doanh nghiệp uy tín như Vinsmart, hơn nữa mô hình giúp con người hướngtới tương lai sử dụng tiền điện tử tối đa.

Tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh giữa các doanh nghiệp, các ngành nghề và các quốc gia

Đổi mới sáng tạo - Innovation đã trở thành động lực chính cho phát triển kinh tế vànâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia Theo Luật Khoa học và Công nghệ năm 2013, đổi mớisáng tạo là việc việc tạo ra, ứng dụng thành tựu, giải pháp kỹ thuật, công nghệ, giải pháp quản

lý để nâng cao hiệu quả phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị giatăng của sản phẩm, hàng hóa

Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp đóng vai trò then chốt trong thành công của cácdoanh nghiệp Năng lực này được cấu thành từ nhiều khía cạnh như kỹ thuật, công nghệ, quản

lý Trong thời đại công nghiệp 4.0 hiện nay, công nghệ thông tin và hoạt động đổi mới sángtạo là hai thành tố quan trọng đối với việc nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanhnghiệp Các doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo hiện nay không còn bán sản phẩmnữa, mà là bán mô hình kinh doanh Và mô hình đó của họ phải chạm tới được “nỗi đau” củangười dùng Bởi khi chạm được vào cảm xúc của người dùng, họ sẽ có sức cạnh tranh rất cao

so với các doanh nghiệp truyền thống, sẽ bán được hàng và có chỗ đứng trên thị trường

Đổi mới sáng tạo ở đây không phải câu chuyện về thách thức Trong thời buổi hiện nay,

nó thật sự áp lực, nhưng nó là đòi hỏi Để có thể có chỗ đứng bền vững và lâu dài, các nhà sảnxuất luôn hướng đến yếu tố mới lạ và cốt lõi bằng việc phá hủy sáng tạo Cái mới xuất hiện hoàntoàn có thể khắc chế và loại bỏ cái cũ Điều này thôi thúc các nhà sản xuất phải có chiến lượcvững chắc trong sáng tạo mới có thể tồn tại và cạnh tranh thị phần trên thị trường

Đổi mới sáng tạo có trong tất cả góc độ của nền kinh tế, điều này khẳng định đóng gópcủa đổi mới sáng tạo rất quan trọng Trong nền kinh tế tri thức, đổi mới và sáng tạo có tầmquan trọng đặc biệt đối với tăng trưởng kinh kế Ở góc độ khác, năng lực đổi mới, đặc biệt lànăng lực đổi mới khoa học và công nghệ là yếu tố quyết định ưu thế cạnh tranh quốc gia

Trong xu thế hội nhập ngày càng sâu rộng với thế giới và khu vực, đổi mới sáng tạo đã trởthành một triết lý tiến bộ về tư duy và phát triển kinh tế - xã hội Hướng tới một nền kinh tế pháttriển dựa trên vai trò dẫn dắt của đổi mới sáng tạo là mục tiêu chiến lược của nhiều quốc gia trênthế giới Xu hướng chung của nhiều quốc gia trên thế giới hiện nay là hội nhập quốc tế sâu rộng

và tăng cường năng lực cạnh tranh dựa trên tri thức với các giải pháp như tăng cường các hoạtđộng và việc làm dựa nhiều vào tri thức; đổi mới thể chế, tháo gỡ các rào cản đối với dòng chảytri thức, hỗ trợ cho việc sáng tạo tri thức, đẩy mạnh quá trình đổi mới sáng tạo

Mang lại tiềm năng cho các nước đang phát triển có thể rút ngắn quá trình công nghiệp hóa bằng cách đi tắt, đón đầu, phát triển nhảy vọt lên công nghệ cao hơn.

Trang 15

Sáng tạo chính là bước đà thuận lợi cho những nước đang phát triển là không phải chiquá tốn kém để phá hủy cái cũ thay thế cái mới Khi cái mới ra đời, cái cũ bị mất ưu thế, bộc

lộ ra nhiều bất cập tồn tại bao nhiêu năm mà chưa giải quyết được

Sáng tạo giúp mở ra cho các nước đang phát triển nhiều cơ hội trong việc nâng caotrình độ công nghệ, năng lực sản xuất và cạnh tranh trong chuỗi giá trị toàn cầu Các nước có

cơ hội để hợp tác với các doanh nghiệp nước ngoài hàng đầu trong lĩnh vực kinh tế số nóiriêng cũng như các lĩnh vực khác nói chung là rất lớn

Công nghiệp 4.0 là cuộc cách mạng bùng nổ diễn biến rất nhanh, các doanh nghiệp Việtcần hành động nhanh để thích ứng cũng như chấp nhận thay đổi phương cách quản trị, đối mặtnhững cuộc “phá hủy sáng tạo” cũng như thay đổi về năng lực của con người để vươn lên

Liên Hợp Quốc đã khẳng định nền kinh tế sáng tạo là lựa chọn khả thi đối với cácnước đang phát triển trong bối cảnh kinh tế-xã hội đang biến đổi nhanh chóng như hiện nay.Thực tế, ngay cả khủng hoảng kinh tế toàn cầu cũng mang tới những cơ hội tốt cho nhiềunước, đặc biệt là các nước đang phát triển năng động có thể thử nghiệm các lựa chọn đườnglối kinh tế mới và tạo ra được các bước nhảy vọt như thực tiễn đã chứng minh giai đoạn suythoái kinh tế vừa qua (như bài học của Việt Nam)

Trang 16

Chương 2: ỨNG DỤNG MÔ HÌNH PHÁ HUỶ SÁNG TẠO TRONG MỘT

SỐ NGÀNH CÔNG NGHỆ HIỆN NAY

2.1 Phá hủy sáng tạo trong ngành điện thoại di động

2.1.1 Trường hợp của Nokia

a) Hình thành

Năm 1966, tập đoàn Nokia được thành lập từ sự sáp nhập của ba công ty Phần Lan:Nokia Company (nhà máy sản xuất bột gỗ làm giấy), Finnish Rubber Works (nhà sản xuấtủng cao su, lốp xe và các sản phẩm cao su công nghiệp và tiêu dùng) và Finnish Cable Works(nhà cung cấp dây cáp cho các mạng truyền tải điện, điện tín và điện thoại)

Nokia có trụ sở chính tại Espoo ở Phần Lan, bao gồm hai tập đoàn kinh doanh: Nokia Mobile Phones và Nokia Networks Nokia Mobile Phones là nhà sản xuất điện thoại di động

lớn nhất thế giới, Nokia Networks là nhà cung cấp hàng đầu cơ sở vật chất mạng di động,

băng thông rộng và IP và các dịch vụ có liên quan Ngoài ra, công ty còn có đơn vị Nokia Venture Organization riêng biệt (nhận diện và phát triển ý tưởng kinh doanh mới) và đơn vị nghiên cứu Nokia Research Center (tạo khả năng cạnh tranh và đổi mới công nghệ của Nokia trong lĩnh vực công nghệ thiết yếu).

Trong những năm 2000, Nokia dần trờ thành “ông hoàng” về các thiết bị di động với thị

phẩn lớn nhất thế giới được duy trì trong nhiều năm liền (đỉnh cao là năm 2008 các sản phẩmcủa Nokia chiếm 40% thiết bị di động được phân phối toàn cầu) Không chỉ sản xuất các thiết

bị mang thương hiệu Nokia, tập đoàn đã phát triển quy mô sang dòng điện thoại cao cấp và

sang trọng với nhãn hiệu Vertu Mặc dù tên thương hiệu con này ít người biết được là của

Nokia song những gì Vertu đóng góp cho tập đoàn mẹ cũng đã góp phần tăng trưởng mạnh

mẽ về doanh số

Tháng 6/2006, Nokia đã liên doanh với Siemens thành lập nên công ty chuyên cung

cấp thiết bị mạng Nokia Siemens Networks và Nokia đã phụ thuộc rất nhiều vào công ty liên

doanh này

Tuy nhiên, chính thời kỳ cột mốc hoàng kim này (từ năm 2008 trở đi), Nokia đã chínhthức tụt dốc với sự phát triển bởi cạnh tranh của các dòng smarphone mới ra đời Có thể nói,mặc dù đi trước về thế hệ điện thoại cảm ứng, song Nokia đã bị Apple vượt mặt một cách

ngoạn ngục bởi dòng điện thoại “điện dung đa điểm” và đây chính là điểm yếu của Nokia.

Mặc dù vậy, ảnh hưởng của đế chế Nokia vẫn giúp thương hiệu này duy trì trong tâm trí củakhách hàng với 1 nhãn hiệu bền, đa dạng về mẫu mã và thực sự phổ biến

b) Tầm nhìn và sứ mạng của công ty

“The vision of nokia company is that rule on mobile world And the mission is

to provide more cheapest and valuable mobiles to the people of world.”

Tầm nhìn của công ty Nokia là quy tắc trên thế giới di động Và nhiệm vụ là cung cấp điện thoại di động với giá rẻ nhất và có giá trị cho người dân của thế giới

Trang 17

c) Chiến lược hoạt động

Sau khi Apple nhúng tay vào thị trường, nhận thấy sự lớn mạnh của Apple cùng chiếc

smartphone iPhone sử dụng hệ điều hành iOS Ngày 24/6/2008, Nokia đã chi 410 triệu USD

để mua nốt số cổ phần còn lại của Symbian, và công bố miễn phí hệ điều hành này cho tất cả các hãng điện thoại khác, động thái này được coi là nước cờ “phòng vệ” của Nokia trước

những đối thủ mới đáng gờm

Khi Apple kí kết hợp đồng với hãng viễn thông AT&T để giảm giá bán iPhone xuống còn

200 USD, iPhone tràn ngập khắp nơi, kéo theo cuộc chạy đua cải tiến Nokia cố gắng củng cố vị

thế của mình bằng một loạt smartphone màn hình cảm ứng, một động thái không mấy hiệu quả khi mà “lõi” của Symbian tỏ ra đuối sức trước iOS, một hệ điều hành trẻ có những chiêu bài cạnh

tranh vô cùng “khó chịu” Việc ì ạch bám níu một hệ điều hành đang có xu hướng đi xuống đãkhiến Nokia hụt hơi trong việc chiếm lĩnh thị trường Và như một tất yếu, theo thống kê của công

ty Garner và IDC, thị phần của Nokia giảm từ 49,4% năm 2007 xuống còn 43,7% năm 2008: quý IV/ 2008 là giai đoạn khó khăn đối với Nokia, doanh số smartphone giảm đển 16,8% so với cùng

kì năm 2007 Và thị phần trong quý IV/2008 cũng giảm xuống 40,8% so với 2007 và đến quý 3năm 2009 Nokia đã rời khỏi top 5 hãng sản xuất smartphone hàng đầu khi chiếc điện thoại đầutiên chạy Android được bán vào tháng 10 năm 2008

Nhưng thời điểm đó, Nokia lại quyết định lấn sân sang thị trường máy tính bằng cáchtung ra sản phẩm Booklet 3G Việc phải phân tán sức mạnh về tài chính, nhân lực khi phảicăng sức để phát triển các ngành hàng mới vốn đã là thế mạnh của đối thủ trước đó đã đẩyNokia đã khó khăn lại càng thêm rối rắm, mất định hướng Và hậu quả đúng như các chuyêngia dự báo: cả smartphone lẫn netbook đều thất bại

Liên tiếp có những bước đi sai lầm, cuối năm 2010, Nokia bãi nhiệm tổng giám đốcđiều hành (CEO) của hãng và thay thế bằng Stephen Elop, một người từng gắn bó lâu năm vớiMicrosoft Với một CEO mới và sự thay đổi chiến lược khi không còn coi Symbian là hệ điều

hành chủ đạo nữa, Nokia đã có một quyết định táo bạo: bắt tay với Microsoft sản xuất dòng

điện thoại Lumia chạy trên hệ điều hành Windows Phone nhằm cạnh tranh với iPhone và

các loại smartphone chạy Android.

Và kết quả là trong 12 tháng của năm 2012, Nokia đã có được những cải thiện bước đầu

về doanh số và từng bước lấy lại thị phần Cuối năm 2013, Nokia xác nhận đã bán được 30triệu chiếc điện thoại Lumia, cao hơn gấp đôi so với 13,3 triệu máy của năm 2012, đây đượccoi là bước chuyển mình của hãng sản xuất điện thoại Phần Lan

Nokia có 2 nhóm nghiên cứu làm việc độc lập: một nhóm tìm cách tân trang lại Symbian

- hệ điều hành cũ kỹ chạy trên hầu hết các smartphone của Nokia, một nhóm khác xây dựng

hệ điều hành MeeGo Những người tham gia phát triển cả hai hệ điều hành này nói rằng cả

hai đội nghiên cứu đều cạnh tranh với nhau để nhận được hỗ trợ từ công ty và thu hút sự chú ý của các nhà điều hành - một vấn đề ngăn cản những hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D) của Nokia.

Trang 18

Sau khi đảm nhận vị trí Tổng giám đốc của Nokia vào năm 2010, ông Stephen Elopquyết định từ bỏ các hệ điều hành smartphone “tự chế” của Nokia để sử dụng nền tảngWindows Phone của Microsoft Theo ông Elop, bằng cách này, Nokia có thể cho ra đời dòngđiện thoại cạnh tranh với iPhone trong chưa đầy một năm, nhanh hơn nếu Nokia cứ bám lấyphần mềm của riêng mình.

Tuy nhiên, điện thoại Windows Phone không được tiêu thụ mạnh Nokia ngày càng lúnsâu vào khó khăn Giữa tháng 6, ông Elop bị buộc phải tuyên bố sa thải thêm 10.000 nhânviên và cắt giảm chi phí 1,7 tỷ USD ở bộ phận nghiên cứu và phát triển Khi Elop đảm nhận

vị trí CEO vào năm 2010, Nokia đã tiêu tốn 5 tỷ euro mỗi năm vào hoạt động R&D, chiếm30% của tổng số ngành công nghiệp điện thoại di động, theo nghiên cứu của Bernstein

─ Chiến lược khác biệt hóa: Nhận thấy điện thoại sẽ dần trở nên phổ biến và thiết yếu.

Trong khi các đối thủ như Motorola đầu tư nâng cấp tính năng kỹ thuật của điện thoại,Nokia lại đầu tư vào tính năng thời trang ví dụ như thiết kế đẹp hơn, nhiều màu sắc đểkhách hàng lựa chọn, nhiều tính năng giải trí… Kết quả là Nokia đã dẫn đầu thị trường

từ việc khác biệt hoá mà ban đầu tưởng chừng như chẳng liên quan gì đến sản phẩm

mà họ kinh doanh Trọng tâm của Nokia là tính sáng tạo và nhấn mạnh yếu tố bảo vệmôi trường cũng là điểm khác biệt của Nokia so với các đối thủ cạnh tranh Hơn nữa,Nokia được yêu thích bởi tính bền, một trong các tính năng khác biệt của nó

─ Chiến lược chi phí thấp nhất: Nokia đã tung ra nhiều dòng sản phẩm có giá tương đối

rẻ, phù hợp với nhiều đối tượng người dùng tại Việt Nam Tuy nhiên, vì chỉ nhắm đếnchiến lược chi phí thấp mà không đầu tư quá nhiều vào cấu hình máy, đó là một trongcác điểm yếu của Nokia

─ Chiến lược tập trung: Khách hàng mục tiêu của Nokia là học sinh, sinh viên, những

người có thu nhập trung bình Hãng có nhiều dòng sản phẩm với mức giá linh độngứng với từng phân khúc Thay đổi chiến lược phân phối theo chiều ngang sang phânphối theo chiều dọc; tức là nếu như trước đây, một đối tác phân phối sẽ phân phối sảnphẩm của Nokia trên toàn quốc, thì nay sẽ chuyển sang phân phối theo địa lý Nhờvậy, Nokia đảm bảo được sự tập trung chuyên nghiệp trong việc phát triển, quản lý hệthống phân phối cũng như tăng tốc độ và chất lượng phục vụ khách hàng Tuy nhiên,các Smartphone của Nokia cũng gặp không ít khó khăn với các sản phẩm cạnh tranhnhư Samsung Galaxy Trend Lite, Lenovo A526, HTC 8S,…

Với những khác biệt trong sản phẩm, bộ phận sản xuất của Nokia đã cung cấp chongười dùng trên toàn cầu các thiết bị điện thoại di động được cho là không đối thủ nào sánhbằng về tính năng, màu sắc, kiểu dáng và một điều đặc biệt nhất đó chính là độ bền các sảnphẩm của hãng này

Trang 19

Và rồi những sai lầm từ công tác quản trị cấp cao, sự lơ là trong khâu tìm hiểu thị hiếukhách hàng cũng như xu hướng thị trường ngày một đổi mới, sự trì trệ của bộ phận nghiêncứu và phát triển (R&D) đã đẩy Nokia dần rơi vào tính thế khó khăn và liên tiếp để mất thịphần điện thoại di động vào tay các đối thủ cạnh tranh.

a) Sự hình thành phát triển của sản phẩm mới

Nokia 7xxx – Dòng Fashion và

1999 - 2010Experimental

Nokia 8xxx – Dòng Premium 1996 - 2007Nokia 9xxx – Dòng Communicator 1996 - 2007

─ Năm 1979: Nokia sát nhập với Salora để thành lập nên công ty Mobira Oy, bắt đầu phát

triển các điện thoại di động dựa vào chuẩn NMT của Bắc Âu Đây cũng là hệ thống mạng

di động đầu tiên được đưa vào vận hành trong năm 1981

Trang 20

─ Năm 1982: Mobira giới thiệu chiếc car phone đầu tiên của mình.

─ Năm 1984: Ra mắt Mobira Talkman, chiếc điện thoại có thể di chuyển đầu tiên trên thế

giới Và ba năm sau, Nokia giới thiệu một trong những chiếc điện thoại cầm tay đầu

tiên của thế giới, chiếc Mobira Cityman 900 cho mạng NMT-900 Nó thậm chí còn trở

thành một biểu tượng cho thấy địa vị xã hội cao của người đang sử dụng máy.

─ Ngày 1/7/1991: Cuộc gọi điện GSM đầu tiên trên thế giới được thực hiện dựa trên mạng

do Nokia cung cấp bởi Thủ tướng Phần Lan Harri Holkeri Chiếc điện thoại mà ông cầmcũng là một bản mẫu điện thoại GSM của Nokia

hiệu model được ghép từ ngày ra mắt, tức 10/11 Đây là sản phẩm rất quan trọng có ảnhhưởng sâu sắc đến sự phát triển của thế giới GSM về sau, tiến tới một thế giới với chuẩnmạng di động chung Nokia 1011 là chiếc điện thoại di động bán chạy nhất trong lịch sử, vớihơn 250 triệu máy được bán ra trên toàn cầu Đặc biệt, chiếc điện thoại di động thứ 1 tỷ đượctiêu thụ của Nokia cũng chính là 1100, được bán ra tại Nigeria vào năm 2005

─ Năm 1994: Nokia tích hợp đoạn nhạc chuông nổi tiếng của mình vào các điện thoại Nokia

2100 series

─ Năm 1996: Nokia đưa hệ điều hành Symbian làm hệ điều hành nền tảng cho hầu hết các

thiết bị điện thoại di động của mình và cho ra đời chiếc smartphone đầu tiên (Nokia 8110,một chiếc điện thoại nắp trượt hướng đến các doanh nhân) Cùng năm, Nokia tung rachiếc Communicator 9000, máy có màn hình 4,5″ (vẫn lớn hơn nhiều máy ngày nay), vi

xử lí 24MHz và bàn phím QWERTY vậy lý đầy đủ Communicator 9000 sở hữu dạng mởngang thân máy

─ Năm 1999: Nokia trình làng mẫu 8210 có ăn-ten gắn bên trong thân thiết bị – một tính năng nay cực kì phổ biến ngày nay nhưng rất lạ lẫm vào năm 1999 Thiết bị này cũng có

trọng lượng rất nhẹ, chỉ 790g Và mặc dù rất gọn gàng nhưng 8210 vẫn có những chứcnăng cao cấp như cổng hồng ngoại để cho phép hai người cùng chơi chò bắt rắn (Snake)huyền thoại Nokia 3310, thiết bị tiếp nối của 3210, sở hữu nhiều đặc điểm thiết kế tươngđồng với 8210 và được thêm thắt một số chi tiết khác Nhờ việc cân bằng giữa tính năng

và giá bán, Nokia đã bán được 125 triệu chiếc 3310 trên toàn thế giới Mẫu máy này đượcbán từ năm 2000 đến 2003

─ Năm 2001: Nokia 7650 là chiếc điện thoại đầu tiên của Nokia chạy Symbian OS – hệ điều hành mà rất nhiều smartphone sử dụng trong nhiều năm liền sau đó Đây cũng là

điện thoại đầu tiên của Nokia có camera tích hợp Máy sử dụng CPU 32-bit xung nhịp104MHz dựa trên kiến trúc ARM-9, RAM 4MB và ROM 16MB

─ Năm 2002: Nokia 6800 là một trong những thiết bị chứng minh khả năng sáng tạo không

ngừng nghỉ của Nokia Thiết bị này có thể gập để tiết lộ một bàn phím QWERTY, cònkhi cần thì có thể xếp lại để trở về thân hình gọn gàng của một chiếc điện thoại thôngthường Sau đó còn có những mẫu máy kế nhiệm như 6810, 6820, 6822

Trang 21

─ Giai đoạn 2003-2007: Nokia và Symbian hết sức thành công với Symbian qua các dòng

điện thoại: Nokia 6600 và Nokia 7610 Vào thời gian này, Nokia được biết đến như mộtđàn anh trong thị trường điện thoại di động Những mẫu điện thoại dành cho doanh nhân,giới trẻ, người có thu nhập thấp mang mác Nokia đồng nghĩa với chất lượng cao, sự tiệndụng và giá cả hợp lý Không chỉ là nhà sản xuất điện thoại lớn nhất thế giới, Nokia còn

là tập đoàn kinh tế lớn có tầm ảnh hưởng đến mức tăng trưởng GDP của cả một quốc gia

Năm 2003: Nokia 7600 là một trong những điện thoại đầu tiên của Nokia hỗ trợ kết nối

3G

Năm 2004: Ra mắt Nokia 7610, chiếc điện thoại “môi son” Nokia 7280 không có bàn phím mà sử dụng các phím trượt và vòng xoay, đồng thời cũng ra mắt 7710 - chiếc điện

thoại đầu tiên của hãng có màn hình cảm ứng

Năm 2005: Nokia 9300 ra là nỗ lực của Nokia trong việc mang dòng smartphone

Communicator vốn chỉ dành cho doanh nhân ra thị trường đại chúng 9300 vẫn giữ lạikiểu thiết kế độc đáo mang tính biểu tượng của Communicator (theo dạng mở ra sẽ cómàn hình và bàn phím)

 Cũng năm 2005, Nokia ra mắt chiếc Nokia 770 Internet Tablet, thiết bị đầu tiên của hãngchạy hệ điều hành Maemo (sau này đổi tên thành MeeGo), thiết bị này sử dụng CPUTexas Instrument OMAP 1710 xung nhịp 252MHz, RAM 64MB, bộ nhớ trong 128MB(người dùng có thể xài được khoảng 64MB), có thẻ nhớ RS-MMC, màn hình 4,1″ với độphân giải 800 x 480 (225ppi) Máy có khả năng truy cập Wi-Fi b/g, bluetooth 1.2, USB

Tháng 7 năm 2006: Nokia tung ra N93 với kiểu dạng độc đáo Máy vừa có thể mở dạng

nắp gập thẳng, vừa có thể mở ngang Cụm camera lớn độ phân giải 3,2MP với thấu kínhCarl Zeiss và zoom quang 3x của N93 đã làm không biết bao nhiêu người đam mê côngnghệ phải thèm thuồng Máy được quảng bá như là một mẫu smartphone tích hợpcamcorder khi có thể quay phim độ phân giải VGA (640 x 480)

─ Từ giữa năm 2007: Apple đã cho ra mắt sản phẩm iPhone thu hút được sự quan tâm mạnh

mẽ của người tiêu đùng Hàng loạt các hãng khác như Samsung, HTC cũng bắt đầutham gia vào vào sản xuất sản phẩm đang rất có tiền năng phát triển này Trước sự cạnhtranh gay gắt từ những đối thủ, Nokia dần mất đi vị trí dẫn đầu, những sản phẩmsmartphone tiếp theo không còn tạo được dấu ấn rõ nét Nokia vẫn giữ được ngôi dẫn đầu

về thị phần cho đến hết năm 2010, dù doanh số rất cao nhưng dòng smartphone vẫn liêntục suy giảm về thị phần

 Nokia N95, “sát thủ của iPhone” Máy chạy Symbian và có một phần trượt ở bên trên để

lộ các phím điều khiển việc chơi nhạc, còn trượt xuống thì tiết lộ bàn phím T9 Sau đó,Nokia tung ra mẫu N95 8GB với màu đen, hơn rất nhiều so với dung lượng 147,3MB củaphiên bản trước đó

 Nokia ra mắt N82, chiếc điện thoại chuyên chụp ảnh với đèn flash Xenon, cảm biến 5MP vàống kính Carl Zeiss, được xem là mẫu máy có khả năng chụp ảnh tốt nhất trên thị trường

Trang 22

lúc mới ra đời Máy thậm chí còn được Hiệp hội TIPA trao giải “thiết bị nhiếp ảnh di động tốt nhất Châu Âu” hồi năm 2008.

─ Năm 2009: Nokia tung ra N97 với màn hình cảm ứng to như iPhone, có cả bàn phím trượt

dạng ngang Thế nhưng máy không thành công vì nhiều lý do khác nhau Đồng thời, Nokia ramắt chiếc máy tính xách tay Booklet 3G để hòa cùng xu thế netbook trên toàn cầu Booklet3G thực sự là một chiếc máy được làm rất cao cấp, từ nguyên liệu cho đến các kết nối Làchiếc netbook đầu tiên do Nokia sản xuất nên nó cũng mang tính chất di động cao với các kếtnối không dây lẫn có dây như: HDMI, WIFI chuẩn b/g/n, USB 2.0, và tất nhiên là khe gắnSIM 3G… Nokia Booklet 3G còn được Nokia trang bị ổ cứng 120GB, vi xử lý Intel AtomZ530, tốc độ 1.6GHz và đặc biệt là Windows 7 Đây là một chiến lược mạo hiểm vì nhảy vàothị trường laptop, nơi mà các hãng điện tử khác đã chiếm lĩnh phần lớn thị phần và khôngngừng lớn mạnh, với tỷ lệ lãi cực thấp động thái này sẽ khiến cho lợi nhuận của Nokia càng

bị thâm hụt Việc phải phân tán sức mạnh về tài chính, nhân lực khi phải căng sức để pháttriển các ngành hàng mới vốn đã là thế mạnh của đối thủ trước đó đã đẩy Nokia đã khó khănlại càng thêm rối rắm, mất định hướng

─ Nokia E71 có chất lượng phần cứng tốt, cao cấp, bàn phím thuộc hàng tốt, nhưng lại bịkéo lại bởi hệ điều hành Symbian đang dần trở nên già cỗi Nokia N8, chiếc điện thoạiđầu tiên của Nokia chạy Symbian 3 Hệ điều hành này sau đó được đổi tên thành Annarồi kế tiếp là Belle Nokia X7, chiếc điện thoại của Nokia thuộc dòng X-Series chạySymbian 3 Chữ X ở đây đại diện cho từ “Xpress”, và chiếc X7 cũng có thiết kế khác lạ

so với những chiếc điện thoại khác trên thị trường

Năm 2011: Dòng smartphone còn chiếm được 5,1% thị phần: chỉ còn một phần mười so

với thời hoàng kim của Nokia Lumia 800, chiếc điện thoại đầu tiên của Nokia chạyWindows Phone (có thể được xem là một chiếc N9 thay đổi hệ điều hành)

─ Năm 2012: Việc tung ra các dòng smartphone Lumia chạy Windows Phone đã giúp Nokia có

được những cải thiện về doanh số bán hàng 808 PureView (2012) là một sản phẩm mangtính cột mốc nhờ vào cảm biến PureView với độ phân giải 41 megapixel và kĩ thuậtoversampling giúp tạo ra những bức ảnh tốt rất ấn tượng Đáng tiếc, máy chạy Symbian nên

bị hạn chế phần nào trong việc tiếp cận với người dùng Đây cũng là mẫu điện thoại cuốicùng chạy Symbian trước khi Nokia chính thức từ bỏ OS cũ kĩ này hồi đầu năm 2013

Năm 2013: Tổng doanh số smartphone Lumia của Nokia trong năm 2013 cao hơn gấp 2

lần so với năm 2012 Đây được coi là một tín hiệu đáng mừng cho hãng điện thoại diđộng Phần Lan trong công cuộc khôi phục lại vị thế

Ngày 3/9/2013: Microsoft thông báo đã mua lại mảng thiết bị và dịch vụ của Nokia (Nokia Devices & Business) với giá 3,79 tỷ Euro và thêm 1,65 tỷ Euro nữa cho một số

bằng sáng chế mà công ty Phần Lan đang nắm giữ Quy ra đô la Mỹ thì tổng tiền vàokhoảng 7,3 tỷ USD Sẽ có 32.000 nhân viên Nokia chuyển sang làm việc cho Microsoft,bao gồm cả cựu tổng giám đốc Stephan Elop, 4700 nhân viên Phần Lan và 18300 nhânviên phụ trách sản xuất

Trang 23

─ Năm 2014: Nokia ra mắt những mẫu điện thoại X series chạy Android 75% app Android

đang xuất hiện trên Google Play có thể chạy tốt khi mang sang Nokia X Platform màkhông cần tinh chỉnh gì Số 25% còn lại có thể được chuyển thể chỉ trong vòng 8 giờđồng hồ, là một bài thử nghiệm cho chiến lược điện toán đám mây

HMD Global , một công ty mới được thành lập bởi cựu giám đốc Nokia Jean-Francois

Baril và một nhà máy liên kết tại Việt Nam cho công ty con FIH Mobile của Foxconn

b) Quá trình sản phẩm mới thay thế sản phẩm cũ

Ban đầu, Nokia sản xuất điện thoại mang chuẩn tiền di động "0G" Giai đoạn này,Nokia sản xuất một loạt thiết bị di động nhưng nó giống radio hơn là điện thoại

Năm 1987, Nokia cho ra mắt chiếc điện thoại cầm tay đầu tiên trên thế giới, so với chiếcMobira Senator (1982) nặng 9,8kg và Talkman (1984) nặng 5kg, thiết bị Mobira Cityman nàychỉ có trọng lượng 800g đã kèm pin Mặc dù có giá cao, lên tới 5999 USD, nhưng máy vẫnđược tiêu thụ khá nhiều Vào năm 1992, Nokia cho ra mắt Nokia 1011 là chiếc điện thoại diđộng GMS (2G) đầu tiên trên thế giới

Năm 1998, Nokia vượt lên trở thành hãng điện thoại bán chạy nhất nhờ các miễu điện thoại

c ó nhiều màu sắc đa dạng và nắp lưng có thể thay thế được gọi là Xpress-on Năm 2001, Nokia

đã phát hành chiếc điện thoại chạy hệ điều hành Symbian (là hệ điều hành điện thoại thông

minh phổ biến nhất trên mức trung bình trên toàn thế giới cho đến cuối năm 2010).

Năm 2002, Nokia tích hợp thêm camera cho điện thoại đồng nghĩa với màn hình màu

với hệ điều hành Symbian phiên bản 6.1 trong chiếc Nokia 7650

Năm 2003, Nokia có ra mắt chiếc Nokia 6800 với thiết kế bàn phím tách và gập thân,khác hoàn toàn so với thiết kế dạng thanh đơn thuần từ trước đến nay của hãng Vào quý 2

cùng năm, hãng ra mắt các phiên bản có hỗ trợ kết nối bluetooth, bộ nhớ có thể mở rộng cùng

tính năng chơi nhạc/video, có thẻ nhớ ngoài

Cuối năm 2004, Nokia 7710 là thiết bị với cảm ứng đầu tiên của hãng đồng thời được

nâng cấp thẻ nhớ nhưng do chạy trên hệ điều hành Symbian 90 nên đã bị thu hồi

Qua năm 2005, Nokia gây bất ngờ khi cho ra mắt N90 – dòng chuyên giải trí đa phươngtiện của hãng, với camera và đèn flash tích hợp, màn hình có thể quay 2700 như một máy

quay phim thông thường Năm này hãng cũng ra mắt chiếc điện thoại kết nối 3G đầu tiên và

kết nối cả wifi

Năm 2008, Nokia tích hợp và hoàn chỉnh tính năng, ra mắt chiếc điện thoại di động vớimàn hình cảm ứng điện trở trên chiếc Nokia 5800 XpressMusic chạy Symbian 60

Năm 2011, sau khi hợp tác với Microsoft, Nokia cho ra mắt chiếc điện thoại đầu tiên

chạy hệ điều hành Windows Phone, dòng Lumia với thiết kế không có nút bấm Quý 2, hãng

thêm chức năng sim kép trên chiếc Nokia C2-00 Năm 2012, trang bị camera PureView Pro

41 Mpx đầu tiên trên chiếc 808 PureView

Trang 24

Đầu năm 2014, sau khi bán mảng thiết bị và dịch vụ cho Microsoft, Nokia bất ngờ tung

ra mẫu điện thoại chạy hệ điều hành Androi đầu tiên – Nokia X Dòng Nokia Lumia trong năm này nâng cấp lên hỗ trợ mạng 4G.

Sau khi Microsoft Mobile bán mảng kinh doanh điện thoại Nokia cho HMD Global,năm 2016, Nokia trình diễn và tiếp tục nghiên cứu mạng 5G

Năm 2019, HMD Global ra mắt Nokia 9 PureView là smartphone đầu tiên trên thế

giới có cụm 5 camera có khả năng chụp ảnh ở định dạng RAW DNG không nén và tự chỉnh

sửa chúng trực tiếp trên điện thoại nhờ vào sự hợp tác với Adobe Lightroom.

Vào những năm 2008, khi đang ở trên đỉnh cao của thành công, Nokia bỗng nhiên dầnlao dốc và đánh mất vị thế

Từ giữa năm 2004 cho tới thời điểm gần như phá sản vào năm 2013, Nokia đã trải quatới 4 lần tái cấu trúc lớn Việc quá vội vàng khi đưa vào áp dụng một cấu trúc công ty mớitrong khi thiếu kinh nghiệm và kỹ năng quản lý khiến nội bộ Nokia chia rẽ và 5 nhà lãnh đạotrong thời điểm thành công của Nokia – “The Five”, lần lượt rời công ty Lúc này, tư duychiến lược của Nokia đã không còn sắc bén như trước và sự liên kết giữa các mảng kinhdoanh đã không còn tốt nữa

Khi Apple và Google ra mắt hai hệ điều hành iOS và Android thì hãng vẫn trung thànhvới hệ điều hành lỗi thời là Symbian Hệ điều hành này yêu cầu phải viết lại toàn bộ mã chomỗi mẫu điện thoại mới nên nhiều nhà phát triển ứng dụng chán ghét từ lâu Để khắc phụcvấn đề, nhân viên của Nokia đã phát triển một hệ điều hành thay thế là Maemo và được đổitên thành MeeGo vào năm 2010 Tuy nhiên, ban lãnh đạo Nokia lại không quá mặn mà đểphát triển hệ điều hành này, MeeGo bị bỏ rơi và quên lãng Vậy tại sao Nokia không thử sảnxuất điện thoại Android sau khi từ bỏ MeeGo Câu trả lời là Microsoft đã trả hàng tỷ USD đểNokia chỉ sử dụng duy nhất một hệ điều hành là Windows Phone Tuy nhiên, Windows Phonelại không thể cạnh tranh được với Android và iOS trên rất nhiều phương diện

Cuối năm 2010, với một CEO mới và sự thay đổi chiến lược khi không còn coi Symbian

là hệ điều hành chủ đạo nữa, Nokia đã có một quyết định táo bạo: bắt tay với Microsoft sản

xuất dòng điện thoại Lumia chạy trên hệ điều hành Windows Phone nhằm cạnh tranh với

iPhone và các loại smartphone chạy Android

Trang 25

Biểu đồ 2 1: Doanh số điện thoại di động Nokia kể từ khi bắt đầu tuyên bố hợp tác chiến

lược với Microsoft vào 11/2/2011

Đơn vị: Triệu USD

Nguồn: Business Insider

Mặc dù đã bán được 2,9 triệu điện thoại Lumia dùng Windows Phone trong Q3/2012nhưng Nokia vẫn lỗ 755 triệu USD trong tổng doanh thu 9,4 tỉ USD của công ty Tổng cộng,Nokia đã bán được 10,2 triệu smartphone trong năm 2012, trong khi Samsung đã bán được50,5 triệu smartphone và Apple là 26 triệu

Điện thoại Windows Phone không được tiêu thụ mạnh Nokia ngày càng lún sâu vàokhó khăn Giữa tháng 6, ông Elop bị buộc phải tuyên bố sa thải thêm 10.000 nhân viên và cắtgiảm chi phí 1,7 tỷ USD ở bộ phận R&D Khi Elop đảm nhận vị trí CEO vào năm 2010,Nokia đã tiêu tốn 5 tỷ euro mỗi năm vào hoạt động R&D, chiếm 30% của tổng số ngành côngnghiệp điện thoại di động, theo nghiên cứu của Bernstein

Những sai lầm từ công tác quản trị cấp cao, sự lơ là trong khâu tìm hiểu thị hiếu kháchhàng cũng như xu hướng thị trường ngày một đổi mới, sự trì trệ của bộ phận nghiên cứu vàphát triển (R&D) đã đẩy Nokia dần rơi vào tính thế khó khăn và liên tiếp để mất thị phần điệnthoại di động vào tay các đối thủ cạnh tranh

2.1.2 Trường hợp của Apple

2.1.2.1 Tổng quan về Apple

a) Hình thành

Trang 26

Apple – tên thương mại là Apple Inc, được thành lập vào 1/4/1976 bởi 2 nhà đồng sánglập Steve Job và Wozniak – ra đời với tư cách là 1 công ty chuyên sản xuất máy tính và cácphần mềm ứng dụng trên môi trường của riêng mình (HĐH Macintosh) chuyên phục vụ chocông việc thiết kế Ngay từ những sản phẩm đầu tiên của hãng – Chiếc máy tính iMac – Apple

đã đặt tên sản phẩm với chữ “i” ở đầu là viết tắt của từ “intelligent” (thông minh) và kể từ đó,tất cả những sản phẩm của Apple khách hàng đều có thể dễ dàng nhận ra với các tên sản phẩm

có chữ “i” phía trước

Vào những năm 2000 – Apple đã bắt đầu đánh dấu tên mình trên thị trường với dòng sảnphẩm máy nghe nhạc MP3 iPod – cạnh tranh với đối thủ cùng thời là Walkmen và Sony Erricson– song với nền tảng sức mạnh của iPod MP3 – Apple đã phát triển lên máy giải trí cầm tayiPod MP4 và đặc biệt là iPod Touch (2005) làm tiền đề cho việc phát triển sản phẩm iPhonevào năm lịch sử 2007

Năm 2007, việc iPhone ra đời đã chính thức đưa Apple vào cuộc đua với các hãng điệnthoại di động khổng lồ khác đó chính là Nokia, Samsung, LG,… Song ngoài các tính năngthông minh và mới lạ thu hút được người tiêu dùng, Apple đã tiếp tục chú trọng đến việc gắnliền việc “nhận diện thương hiệu” vào các sản phẩm của mình bằng cách tiếp tục sử dụng chữcái “i” không chỉ trên các thiết bị (iPod, iPhone,…) mà trên cả các ứng dụng của mình nhưiCloud, iPhoto,…, nền tảng iOS hay phát triển Apps Store rất nổi tiếng

Bên cạnh đó, việc gắn liền hình ảnh “quả táo cắn dở” trên các thiết bị, nơi trưng bày vàphân phối sản phẩm,… đã khiến khách hàng nói chúng ấn tượng và có sự nhận biết thương

hiệu điện thoại ở mức “Recall” và đối với một số quốc gia phát triển vào những năm

2007-2008 thì sự nhận biết thương hiệu điện thoại thông minh đạt mức “Top of mind” Ngoài ra,

việc áp dụng những điều luật rất khắt khe về việc mở chi nhánh, đại lý phân phối tại các quốcgia cũng cho thấy sự bảo vệ rất chắc chắn về hình ảnh của thương hiệu gắn liền với các dịch

vụ cung cấp đi kèm

b) Chiến lược hoạt động

─ Chiến lược tăng trưởng tập trung

Thâm nhập và phát triển thị trường với các hình thức khá đa dạng như xuất khẩu sangcác đại lý ủy quyền ở các nước, liên minh chiến lược với các tập đoàn, hay gia công quốc tếcho việc sản xuất linh kiện điện tử và lắp ráp

─ Phát triển thị trường

Gia công quốc tế là một trong những hình thức kinh doanh ngoại thương khá phổ biến

hiện nay Foxconn, thương hiệu của công ty Đài Loan Hon Hai Precision Industry Co (Ltd.),

là một trong những hãng chế tạo linh kiện điện tử và máy tính lớn nhất thế giới, và chủ yếuchế tạo theo hợp đồng với các đơn vị khác Apple có thể xem là một khách hàng lớn đối vớiFoxconn, chỉ riêng năm 2010 Apple đặt Foxconn 24 triệu máy iPhone 4G

Trang 27

Xuất khẩu gián tiếp thông qua các nhà đại lý ủy quyền Iphone là sản phẩm cao cấp

nên Apple đưa sản phẩm đến các nước thông qua những công ty chuyên phân phối được

Apple lựa chọn

Xuất khẩu trực tiếp thông qua của hàng đại diện Ngày 19/5/2001, Apple mở các cửa

hàng bán lẻ chính thức đầu tiên của mình tại hai bang Virginia và California Sau đó là sựxuất hiện Cửa hàng Apple, bằng kính trong suốt với thang máy hình trụ và cầu thang xoắn dẫnvào bên trong, trên Đại lộ số 5, New York Sự kiện này làm sửng sốt cả các nhà đầu tư lẫnngười tiêu dùng lúc bấy giờ

─ Chiến lược đa dạng hóa

Đầu tiên là dòng máy tính Mac, sau đó Apple đã thêm vào iPod, iPhone, và một nhữngnăm gần đây là iPad Gần 20 năm qua, Apple đã đi từ là một công ty máy tính trở thành mộtthương hiệu của người tiêu dùng thực sự

Năm 2012, theo số liệu so sánh từ công ty phân tích thị trường Statista, lợi nhuận củaApple thậm chí còn cao hơn 7 tỷ USD so với tổng lợi nhuận của Microsoft, Google,Facebook, Amazon, Yahoo và eBay cộng lại Ấn tượng hơn khi lợi nhuận của Apple cao gấpđôi mức lợi nhuận 19,4 tỷ USD của các hãng sản xuất máy tính lớn nhất thế giới, gồm: Intel,IBM, Lenovo, Acer, Asus, HP và Dell

Apple đã tiến hành phân khúc thị trường theo 2 tiêu chí và đây là một trong những yếu tốtạo sự thành công của công ty:

- Thứ nhất theo tiêu chí vùng địa lý

- Thứ hai theo tiêu chí khách hàng

Apple đã chọn ra thị trường mục tiêu của mình là các nước có nền công nghệ kĩ thuật số cao, bên cạnh một số nước mới nổi cũng được công ty đưa vào danh sách thị trường mục tiêu

của mình Trước sự bão hòa của thị trường bởi các đối thủ cạnh tranh, Trước nguy cơ đó,Apple đã xây dựng một chiến lược để tăng doanh số bán hàng nhiều hơn nữa vào phân khúcgiá rẻ của thị trường điện thoại thông minh toàn cầu với mức giá tầm trung

─ Tiên phong trong việc tạo ra các dòng sản phẩm mới.

Các sản phẩm của Apple đều ra đời từ ý tưởng độc lập của Steve Jobs và các cộng sựcủa ông Việc không dựa vào ý kiến của khách hàng để phát triển sản phẩm khiến Applekhông bị bó buộc trong cách tư duy hạn hẹp của người tiêu dùng

Iphone còn tập trung nhiều vào các yếu tố khác biệt hoá: màn hình rộng, cảm ứng đachạm đầu tiên giúp người dùng có thể giao tiếp nhẹ nhàng bằng ngón tay, tích hợp với cácthiết bị ngoại vi: điều khiển, thiết bị ôtô, trình duyệt web rất tiện lợi…

─ Xây dựng chiến lược định vị sản phẩm là sản phẩm có chất lượng cao.

Chất lượng sản phẩm là yếu tố quan tâm hàng đầu của công ty Tất cả các sản phẩm của Apple đều được cấp chứng nhận ISO 9000 Mỗi một thế hệ sản phẩm mới ra đời đều có sự cải

Trang 28

tiến các đặc tính kỹ thuật, hoặc bổ sung các chức năng mới giúp nó ưu việt hơn, số lượngchủng loại sản phẩm của Apple khá phong phú và đa dạng.

Với 400.000 ứng dụng của Apple Store, iPhone có thể được cá biệt hóa để trở thành 1sản phẩm mang phong cách của người dùng Các công ty phần mềm và Internet trên thế giớithậm chí đã xây dựng thị trường ứng dụng của Apple như một cách để có được khách hànghoặc giữ chân những khách hàng của họ

Apple đã áp dụng kết hợp đồng thời các chiến lược giá cơ bản, đó là:

- Chiến lược giá hớt váng để đạt được lợi nhuận cao.

Tận dụng sự tin tưởng của khách hàng vào các sản phẩm trước cùng với sự kỳ vọng caocủa khách hàng về những tính năng độc đáo và chất lượng của iPhone, Apple đã áp dụng ngaychiến lược giá hớt váng, định giá cao cho sản phẩm của mình ở thời điểm bắt đầu bán vànhanh chóng trở về mức giá bình thường sau khoảng 3 tháng

Nhìn chung, trên thị trường sản phẩm thì giá của các sản phẩm Apple tương đối caonhưng không thuộc vào hàng xa xỉ, điều này rất phù hợp khi khách hàng mục tiêu của công ty

Apple cố gắng đưa chi phí thực hiện dự án về điểm cân bằng giữa lợi nhuận, rủi ro vàtiềm năng Bên cạnh đó, hãng sẵn sàng tận dụng nguồn quỹ khổng lồ của mình để trói châncác đơn vị cung ứng bộ phận thiết bị trong nhiều năm liền Bằng cách mua trước toàn bộ nănglực sản xuất, Apple buộc các đối thủ phải đấu đá lẫn nhau, tranh giành những bộ phận vốn dĩvẫn có sẵn, khiến chi phí sản phẩm của họ bị đội lên

- Chiến lược định giá tùy theo thị trường.

Giá sản phẩm Apple không thật sự đắt với khách hàng châu Âu vì lợi nhuận ở thị trườngnày vẫn ổn định với mức giá mà họ đã xác định trước Tuy nhiên, với thị trường Châu Á thìchiến lược giá mềm hơn vì ở đây hàng xách tay rất phổ biến và công nghệ nhái hàng Apple rấtphát triển

- Chiến lược giảm giá theo vòng đời sản phẩm để cạnh tranh và tạo ra ô giá.

“Chiếc ô giá” là khái niệm chỉ trạng thái thị trường khi công ty dẫn đầu tung ra một mứcgiá cho sản phẩm, khiến cho các công ty có thị phần nhỏ hoặc muốn gia nhập phải liên tụcđưa ra sản phẩm có giá rẻ hơn Với chiến lược này, Apple tận dụng lợi thế dẫn đầu đang bópnghẹt thị trường và đẩy các dòng smartphone khác xuống mức lợi nhuận thấp nhất

Trang 29

Hãng tập trung vào khách hàng, tạo dựng thương hiệu đẳng cấp và đưa ra những chiến lược PR nhiều hơn là những clip quảng cáo rầm rộ.

─ Quảng bá sản phẩm dựa trên giá trị với sự tiện lợi và đẳng cấp thay vì giá trị

sử dụng: Không nhằm vào sự trải nghiệm công nghệ cao, giá thành rẻ, hay định vị thị

trường cố định, người dùng iphone sẽ có cảm giác về đẳng cấp, sự khác biệt, thích thú,cũng như sự "chiêu đãi" của Apple với những khách hàng của mình

sản phẩm, các thông tin chi tiết về sản phẩm mới chứ không chỉ chỉ gói gọn trong mộtthông cáo báo chí Thậm chí, việc PR của Apple còn gắn liền với những hoạt động liênkết, hợp tác vừa nhằm nâng tầm giá trị của Apple, vừa tạo tiếng nói trong dư luận

Chuyển khách hàng ảo thành khách hàng thật: Trên các trang mạng xã hội như

Facebook, Twitter, My Space,…đều có những thông điệp của công ty cũng như cácforum yêu thích sản phẩm của Apple Các thông tin đại chúng vô tình trở thành bạncủa Apple khi giúp họ đăng tải tin về hàng loạt người xếp hàng chờ đón sự xuất tiệncủa một phiên bản Iphone mới

Kiểm soát thông tin và đánh vào tâm lý dư luận: Nói một cách đơn giản thì đây là nghệ thuật úp-mở thông tin của Apple để tạo dư luận Thông tin mới về sản

phẩm không hề được hãng công bố, thay vào đó là bưng bít đến phút chót Khi trí tò

mò của khách hàng bị đẩy lên mức cao thì hãng lại khéo léo dùng dư luận tung ranhững tin đồn, càng tiếp tục làm khách hàng bị kích động

Quan hệ khách hàng: Để bảo vệ vị trí, Apple đã tăng cường sử dụng marketing

quan hệ với khách hàng thông qua các buổi ra mắt sản phẩm mới và các buổi tiếp xúctruyền thông để giải quyết các vấn đề liên quan sản phẩm của lãnh đạo công ty

Chiến lược kiềm hàng tạo cơn sốt giá: Khi sản phẩm trở nên hút hàng, Apple

không những không kịp thời cung cấp hàng mà còn chủ động kiềm hàng để tạo cơn sốtgiá, đồng thời thương hiệu Apple được nhắc tới nhiều hơn

Phân phối độc quyền qua các nhà mạng lớn: Để trở thành nhà phân phối iphone của Apple, các nhà mạng phải đảm bảo các tiêu chuẩn nghiêm ngặt, ký kết các

yêu cầu và chính sách với các điều kiện khắc nghiệt

Kết hợp chiến lược giá với các nhà phân phối: Apple sử dụng phương pháp định giá chia nhỏ để bán: cung ứng sản phẩm iPhone cho nhà mạng với mức giá thực

tế thấp để nhà mạng này có thể bán sản phẩm này tới tay khách hàng với giá thấp hơnban đầu và sau đó sẽ cùng nhau hưởng lợi từ các gói cước dịch vụ mà nhà mạng buộckhách hàng phải kí kết hợp đồng sử dụng khi mua iPhone Hiện nay, các nhà mạng đãđồng ý cho khách hàng có thể mua Iphone với giá cao hơn nhưng không ràng buộchợp đồng nữa

Chiến lược quản lý chuỗi cung ứng:

Trả trước cho các nhà cung ứng chủ chốt một số vốn rất lớn để đặt hàng

Trang 30

Trong nhiều tuần trước khi công bố, các nhà máy làm việc thêm giờ để xây dựng hàngtrăm nghìn thiết bị Để theo dõi hiệu quả và đảm bảo sự bí mật, Apple đặt các màn hình điện

tử trong một số hộp của các bộ phận cho phép những người quan sát tại Cupertino theo dõimọi việc tại các nhà máy tại Trung Quốc, nhằm ngăn chặn sự rò rỉ

Công ty có thể theo dõi nhu cầu theo cửa hàng và theo giờ, sau đó điều chỉnh dự đoánsản xuất hàng ngày

Những đối tác liên minh của Apple thường là những “ông lớn” trong ngành như IBM,

HP, Motorola hay những nhà cung cấp dịch vụ sừng sỏ như Google, Microsoft

Năm 1997, Steve Jobs tuyên bố Microsoft đã đồng ý liên minh với Apple: đầu tư 150triệu đô la mua cổ phần của công ty và hai bên đã đi đến một thoả thuận giấy phép sử dụngsáng chế trong 5 năm

Liên minh này vào thời điểm lúc bấy giờ đã đem lại khá nhiều lợi ích cho Apple, kéogiá cổ phiếu của Apple từ việc giảm 50% khiến nó tăng lên gần 35%

Tháng 8/2007, iMac mới ra mắt, nó cũng cung cấp cái nhìn sâu sắc hơn nữa vào mốiquan hệ ấm cúng phát triển giữa Apple và Google, với việc tích hợp tốt hơn giữa các dòng sảnphẩm này

Apple Google bằng cách tạo ra các sáng kiến kinh nghiệm người dùng mà Google cóthể nhanh chóng sao chép lợi ích Giúp Apple tăng lợi nhuận, và làm tê liệt đối thủ cạnh tranhtrực tiếp

2.1.2.2 Sản phẩm “sáng tạo” của Apple và những thứ bị “phá hủy”

a) Sự hình thành phát triển của sản phẩm mới

- Năm 2007: Apple chính thức giới thiệu chiếc iPhone đầu tiên của hãng với thiết kế đột

phá bằng nhôm và có màn hình cảm ứng điện dung 3.5 inch (kích thước màn hình vàoloại lớn khi đó) và hệ điều hành (được gọi là iPhone chạy OS X) mượt mà dễ dùngcùng con chip lõi đơn nhưng chưa chạy được trên băng tần mạng 3G

- Năm 2008: iphone 3G (bắt sóng 3G) ra mắt đi kèm với cửa hàng ứng dụng App Store

-một sự khởi đầu của ngành kinh doanh trị giá hàng trăm tỷ USD và chính thức thayđổi cách người ta dùng ứng dụng trên smartphone Kho ứng dụng này cũng sinh ramột lĩnh vực việc làm mới: phát triển ứng dụng trên smartphone

- Năm 2009: iPhone 3GS ra mắt với camera 3 MP, có khả năng quay phim Từ sau phiên bản này, khả năng chụp ảnh trên iPhone luôn là điều khiến đối thủ phải so kè

qua từng thế hệ

- Năm 2010: iPhone 4 là bản nâng cấp lớn của Apple Model này được bổ sung camera

trước 0,3 MP và tính năng FaceTime gây sốt cho đến tận bây giờ Đây cũng là phiên

Trang 31

bản đầu tiên sử dụng màn hình Retina với mật độ điểm ảnh đạt 326 ppi, cùng với khả năng đa nhiệm.

- Năm 2011: iPhone 4S ra mắt cùng với trợ lý ảo Siri Sau này, một loạt trợ lí ảo của các

hãng khác được giới thiệu như Cortana, Google Assitant hay Alexa Khả năng chụpảnh và quay phim của iPhone 4S cũng được tăng cường với camera 8 MP, quay videofull HD

- Năm 2012: iPhone 5 nổi bật vì 2 đặc điểm, cổng Lightning và kết nối LTE.

- Năm 2013: iPhone 5s kèm theo bảo mật Touch ID Đây cũng là lần đầu tiên iPhone có

phiên bản màu vàng, vi xử lý 64 bit và đèn flash kép

- Năm 2014: iPhone 6 và 6 Plus ra mắt đồng thời Apple đã mạnh dạn tăng kích thước

màn hình iPhone 6 lên 4,7 inch cùng với phiên bản cỡ lớn Plus 5,5 inch Kể từ đây,Apple luôn ra mắt ít nhất 2 phiên bản iPhone màn hình kích thước khác nhau cùng mộtthời điểm Năm 2015, 2 phiên bản được nâng cấp với camera 12 MP và tính năng cảmứng lực 3D Touch

- Năm 2016: Apple tự phá vỡ chu kì ra mắt iPhone vào tháng 9 hàng năm khi giới thiệu

iPhone SE vào tháng 3 Model này có màn hình 4 inch, giá rẻ hơn, thiết kế dựa trêniPhone 5s nhưng mang theo cấu hình của iPhone 6S Phiên bản này còn được nâng cấpthêm một lần nữa trong năm 2017 với việc tăng gấp đôi bộ nhớ Đến năm 2018, Applekhai tử iPhone SE mà không tung ra thêm phiên bản kế nhiệm nào

chống nước, nút Home cảm ứng Apple đã dũng cảm bỏ jack cắm tai nghe và trình làng

tai nghe không dây AirPods tại sự kiện này Phiên bản iPhone 7 Plus cũng được trang bị

camera kép với chế độ chụp ảnh xóa phông đã khiến cho các đối thủ Android điên cuồng

tung ra smartphone có 2, 3, thậm chí là đến 4 camera sau Cùng năm, iPhone 8 và 8 Plus

ra mắt bổ sung sạc không dây, nâng cấp cấu hình và các tính năng khác

- Cũng trong năm 2017: phiên bản kỷ niệm 10 năm iPhone X mở ra một xu hướng mới

của ngành công nghiệp di động Apple bỏ nút Home, giảm tối đa viền màn hình, đưa

thiết kế notch (tai thỏ) lên iPhone, mở khóa bằng công nghệ nhận diện khuôn mặt 3D Face ID Dù không phải là smartphone đầu tiên có màn hình khuyết đỉnh nhưng

chính Apple đã làm cho thiết kế này trở thành trào lưu kéo dài từ năm 2017 đến nay

- Năm 2018: iPhone XS, XS Max, XR ra đời, đánh dấu việc Apple sẽ lấy X là tên gọi tiếp theo sau thời gian dài đánh số cho các phiên bản iPhone Kích thước màn hình

cũng được nâng lên mức mới, 5,8 inch cho bản XS và 6,4 inch đối với XS Max.IPhone XR là model bán chạy nhất năm 2018 của Apple và là smartphone bán chạynhất thế giới năm 2019

A13 Bionic (tiến trình 7nm) với Neural Engine thế hệ thứ 3 tân tiến nhất của Apple

Nó còn được trang bị tiêu chuẩn chống nước, chống bụi IP68 (chịu được tối đa 2 mét trong vòng 30 phút) IPhone 11 Pro và 11 Pro Max nâng cấp thành 3 camera sau

Trang 32

Biểu đồ 2 2: Thời hạn sản xuất các dòng máy iphone

Nguồn: Thư viện thông cáo báo chí Apple

b) Quá trình sản phẩm mới thay thế sản phẩm cũ

Năm 2007, ngoài chức năng hoạt động trên bốn băng tần GSM và EDGE, iphone đầu đã

được trang bị màn hình cảm ứng, camera, khả năng chơi nhạc và chiếu phim Bộ nhớ trong

4, 8 hoặc 16 GB Điện thoại có bỏ bằng nhôm và kính, trong khi điện thoại của Nokia vàSamsung vỏ nhựa

Sau chiếc iphone đầu tiên, iphone 3G, 3G S đã hỗ trợ kết nối mạng 3G, bộ nhớ trong 8,

16 hoặc 32 GB, có thêm la bàn số, kết nối blutooth Phiên bản 3G S có thêm camera trước.

Năm 2010, iphone 4 có chức năng quay video HD, màn hình Retina trong và nét hơn gấp

4 lần, chức năng gọi facetime Năm 2011, Iphone 4S được ra mắt cùng với trợ lý ảo Siri, trước tính năng S Voice – trợ lý ảo kĩ thuật số của Samsung Bộ nhớ trong có thêm phiên bản

64 GB.

Năm 2013, iphone 5S được thêm chức năng cảm biến vân tay Touch ID lần đầu xuất

hiện, Samsung sang đến năm 2014, chức năng này mới có trên Galaxy S5

Năm 2015, iphone 6S và 6S Plus ra mắt với tính năng 3D Touch - cảm ứng theo lực

nhấn để mở nhanh các menu ứng dụng và sự xuất hiện của màu sắc mới là màu Rose Gold(vàng hồng) đã và đang trở thành xu hướng mới cho màu sắc điện thoại thông minh ngày nay

Trang 33

Năm 2016, iphone 7 và 7Plus ra mắt, Apple chính thức bỏ phiên bản dung lượng 16GB

và thay thế bằng model thấp nhất 32GB Bên cạnh đó, người dùng có hai lựa chọn dung lượng

cao 128GB và 256GB Lần đầu camera kép được sử dụng trên7 Plus với tính năng làm mờ

hậu cảnh tạo ra hiệu ứng bokeh

Năm 2017, iphone 8 và 8 Plus với phiên bản dung lượng thấp nhất là 64GB, cao nhất là256GB và sạc không dây Iphone X thêm tính năng nhận diện khuôn mặt được đặt tên là

"Face ID" với tính năng theo dõi khuôn mặt được sử dụng cho Animoji, màn hình OLED Năm 2018, iphone XS và XS Max được nâng cấp lên tiêu chuẩn chống nước chống

bụi IP68 (cho phép các thiết bị ngâm nước tại độ sâu lên tới 2 mét trong thời gian 30 phút),

tốt hơn so với khả năng chống nước IP67 của Galaxy S5 năm 2014.

Năm 2019, iphone 11 Pro và 11 Pro Max nâng cấp thành 3 camera sau, hỗ trợ Face ID

2 (cảm biến gương mặt 3D).

─ Camera với độ phân giải cực cao đem lại trải nghiệm tuyệt vời cho người dùng

─ Khả năng bảo mật cao

─ Giao diện người dùng: tích hợp dịch vụ iCloud một cách đồng bộ

─ Thẩm mỹ: luôn luôn đổi mới và được đánh giá cao các ở các dòng máy sau

─ Kho ứng dụng khổng lồ: chạm mức 775000 ứng dụng và đã đạt 40 tỷ lượt tải

về cho các sản phẩm của hãng (năm 2012)

─ Tên dễ nhớ: iPod, iPhone, iMac,

Phương châm của Apple là “tự thỏa mãn trước”, nghĩa là “làm cho sản phẩm mà bạn (độithiết kế) thực sự mong muốn” hơn là thực hiện nghiên cứu, khảo sát thị trường thông thường.Các sản phẩm của Apple luôn khiến chúng ta phải bất ngờ rất nhiều lần, bởi vì họ luônđưa các công nghệ cũng như những thiết kế đi đầu lên các mẫu iPhone Cùng nhìn về quákhứ, thời điểm ra mắt iPhone 2G, không ai trong chúng ta có thể tưởng tượng được thế nào làcảm ứng điện dung, thao tác trên màn hình cảm ứng chỉ bằng các cử chỉ nhẹ nhàng

Năm 2007: Nhiều người cho rằng công nghệ cảm ứng đa điểm (multi-touch) chính là phát minh đột phá đến từ phòng thí nghiệm (R&D) của “Quả Táo cắn dở”, nhưng sự thật lại

hoàn toàn khác Công nghệ này đã tồn tại từ lâu trước khi iPhone ra đời và đã được biết đến từtháng 2/2006 bởi Jeff Han tại hội nghị TED Talk Việc Apple sở hữu multi-touch là kết quảcủa vụ mua lại một công ty có tên FingerWorks vào 2005 Cảm ứng đa điểm không phải doApple khai sinh, nhưng đã đưa công nghệ này trở thành đặc sản mang thương hiệu và làmnhiều nhà sản xuất smartphone thời đó phải “vắt chân lên cổ” để đưa công nghệ này lên cácsản phẩm của mình nhằm thỏa mãn người tiêu dùng

Tất cả những gì Apple đưa ra công chúng vào thời điểm đó đã loại bỏ hoàn toàn cáckhái niệm về cảm ứng điện trở hay phải dùng lực rất mạnh trên màn hình

Trang 34

Từ chip, hệ điều hành đều do chính Apple thiết kế, nên mọi thứ kết hợp với nhau đều rấtmượt mà, hiệu năng được tối ưu nhất có thể Không như Android, tình trạng phân mảnh hệđiều hành vẫn chưa khắc phục hoàn toàn được Các hãng điện thoại khác cũng rất khó để giảiquyết vấn đề này, bởi vì việc tạo và xây dựng một hệ điều hành mới là vô cùng khó khăn.

Có thể nói ở phần này, Apple đã làm rất tốt và đây là một trong những nguyên nhânchính khiến công ty trở nên thành công rực rỡ

Mặc dù có rất nhiều công nghệ cũng như tính năng mà Apple luôn đem chúng lêniPhone sau đối thủ, tuy nhiên hãng lại khiến những công nghệ đó là thứ tốt nhất Điển hình là

Apple đã biến mở khóa bằng dấu vân tay thành công nghệ không thể thiếu trong tất cả các

smartphone trong nhiều năm liền

Hay chính xác hơn là cảm biến nhận diện gương mặt, mặc dù nó đã xuất hiện từ khá

lâu trên các máy Android, nhưng tới thế hệ iPhone người ta mới biết và quan tâm nó thôngqua cái tên Face ID

Một trong những chiến lược của Apple là luôn đi trước đón đầu về công nghệ và chocông chúng thấy được sự liên kết của mình với các hãng sản xuất linh kiện uy tín (Foxcon,IBM,…) điều này là 1 sự đảm bảo và cam kết cho thương hiệu của Apple

Trong các quý của năm 2019, Apple liên tục tăng tốc và bỏ xa các đối thủ của mìnhtrong ngành smartphone Cụ thể, theo Counterpoint Research, trong quý 3/2019, Apple đangnắm giữ đến 66% tổng lợi nhuận của thị trường smartphone toàn cầu

Cùng kỳ năm ngoái, Apple từng chiếm đến 80% lợi nhuận của thị trường smartphonetrong mùa mua sắm nhộn nhịp nhất năm tại các nước phương Tây

Biểu đồ 2 3: Apple chiếm tới 66% lợi nhuận ngành smartphone toàn cầu trong Q3/2019

Nguồn: Nhóm tác giả tự tổng hợp

Trang 35

Thành tích của Apple càng ấn tượng khi so sánh với đối thủ ở vị trí thứ 2 là Samsung,khi chỉ chiếm 17% lợi nhuận trong Q3 Một mình Apple chiếm tới 66% lợi nhuận ngànhsmartphone toàn cầu trong Q3/2019 17% lợi nhuận còn lại của thị trường được chia đều chocác nhà sản xuất Trung Quốc như Huawei, Oppo, Vivo, Xiaomi Mặc dù hoạt động ở mức lợinhuận thấp, nhưng các hãng này được đánh giá đã tăng trưởng tốt hơn so với các năm trước.Ngoài ra, 5G cũng được cho là một nhân tố có tiềm năng làm thay đổi cuộc chơi, khiđược hầu hết các “ông lớn” tham gia một cách mạnh mẽ.

2.1.3 Trường hợp của Samsung

2.1.3.1 Tổng quan về Samsung

a) Sự hình thành

Samsung được sáng lập bởi Lee Byung-chul – một doanh nhân kiêm nhà tư bản côngnghiệp người Hàn Quốc vào năm 1938, được khởi đầu là một công ty buôn bán nhỏ lẻ Sau 3thập kỉ, tập đoàn Samsung dần đa dạng hóa các ngành nghề bao gồm các ngành chế biến thựcphẩm, dệt may, bảo hiểm, chứng khoán và bán lẻ Samsung tham gia vào lĩnh vực côngnghiệp điện tử vào cuối thập niên 60, xây dựng và công nghiệp đóng tàu vào giữa thập niên

70 Sau khi Lee Byung-chul mất vào năm 1987, Samsung tách ra thành 4 tập đoàn – Samsung,Shinsegae, CJ và Hansol

Samsung – tên thương mại là Samsung Electronics (thành lập năm 1969) – một hãngsản xuất thiết bị điện tử, di động thuộc tập đoàn Samsung của Hàn Quốc Trong những năm

80, Samsung bắt đầu đầu tư vào việc phát triển các thiết bị di động tại một số quốc gia vàvùng lãnh thổ: Hàn Quốc, Nhật Bản, Hongkong, Đài Loan và Trung Quốc…

Từ thập niên 90, Samsung mở rộng hoạt động trên quy mô toàn cầu, tập trung đầu tưnghiên cứu, phát triển chiến lược nhiều nhất vào lĩnh vực điện tử tiêu dùng, cụ thể là cácmảng điện thoại di động và chất bán dẫn sau đó đã có những đóng góp quan trọng vào tổngdoanh thu của cả tập đoàn Đến năm 1990, Samsung đã bắt đầu đẩy mạnh việc phát triển sảnphẩm và thương hiệu của mình vào nhiều nơi trên thế giới Với sự bùng nổ của Smartphonetrong những năm trở lại đây, nắm bắt được xu thế và sự phát triển của HĐH Androi (do nhàphát triển Google) Samsung đã đầu tư vào việc cải tiến các sản phẩm điện thoại di động hoạtđộng trên nền tảng Android và duy trì sự phát triển, hỗ trợ nâng cấp thông qua mạng Internetmột cách hữu hiệu

Có thể nhận ra triết lý không thay đổi của Samsung: đáp ứng nhu cầu của người dùng.Nhìn sâu hơn, Samsung làm được điều này nhờ nền tảng công nghệ rất vững Samsung làcông ty hiếm hoi sở hữu đầy đủ quy trình nghiên cứu, phát triển và sản xuất phần lớn các linhkiện trong điện thoại Điều đó giúp cho họ dễ dàng nắm bắt được những bước tiến về côngnghệ Mỗi năm, Samsung bỏ ra hơn 10 tỉ USD để nghiên cứu và phát triển, thường xuyên nằmtrong top 5 công ty bỏ nhiều chi phí nghiên cứu nhất

Trang 36

Samsung chiếm một tỉ trọng lớn trong tổng GDP của nước sở tại, Hàn Quốc Năm 2017,CNN đã báo cáo tổng tài sản của Tập đoàn Samsung chiếm khoảng 15% GDP của đất nước.Trên thị trường chứng khoán Hàn Quốc, hơn 20% giá trị thị trường này dựa trên các công tycon của tập đoàn Samsung, đặc biệt là Samsung Electronics Tính cho đến năm 2019,Samsung có giá trị thương hiệu toàn cầu lớn nhất châu Á và đứng thứ 4 trên thế giới.

b) Chiến lược phát triển

Biểu tượng chữ “S” – chữ cái đầu trong thương hiệu Samsung đã được gắn liền với các

dòng sản phẩm điện thoại Galaxy S, Galaxy SII, SIII, SIV,… và bên cạnh đó cũng là 1 loạt các ứng dụng trên HĐH Android mang tên S-Note, S-Voice, S-Beam,… Cho thấy được Samsung

cũng đã tăng khả năng nhận diện thương hiệu của mình gắn liền với sản phẩm Đặc biệt khi

dòng sản phẩm Galaxy Note ra đời, sự xuất hiện của chiếc bút mang tên S-Pen cũng đã khẳng

định thương hiệu của Samsung với việc đột phá khả năng cảm ứng (touch) không chỉ bằng tay

mà qua chiếc bút đi kèm với khả năng nhận diện nét chữ, điểm chạm,… đạt thông số kỹ thuậthoàn hảo

Không chỉ có smartphone và tablet, Samsung còn dẫn đầu thế giới về công nghệ OLED(màn hình dẻo), TV, pin và thiết kế chip Vì vậy, về mặt đổi mới sáng tạo Samsung cũng làmđược không ít, chỉ có điều ít người biết

Các đối thủ cạnh tranh như Google thường dành ra 20% thời gian cho những dự án lớn,tìm kiếm sự đột phá ; hay Apple, khi một dự án đến giai đoạn quan trọng, công ty này cử ra

ba đội phát triển cạnh tranh với nhau; cũng như chúng ta đã biết tầm quan trọng của “tư duythiết kế và trải nghiệm của khách hàng” (“công thức” của bậc thầy sáng tạo Steve Jobs).Theo số liệu của Cơ quan Sáng chế và Nhãn hiệu Mỹ (UPSTO), trong năm 2013Samsung có số bằng sáng chế được cấp nhiều thứ hai (4.675 bằng), chỉ sau IBM (6.809 bằng).Đây là năm thứ sáu liên tiếp Samsung đứng ở vị trí thứ hai trong bảng xếp hạng những công

ty sáng tạo nhất thế giới

Ngày đăng: 30/07/2020, 15:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w