Những vấn đề nêu trên đang gây ra áp lực rất lớn đối với cácnền kinh tế , đòi hỏi Việt Nam cũng như các quốc gia khác phải dần thay đổi quy mô pháttriển kinh tế, để đảm bảo sự phát triển
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU 2
CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ THUYẾT 4
1.1 Định nghĩa 4
1.1.1 Kinh tế tuần hoàn là gì? 4
1.1.2 Kinh tế tuyến tính là gì? 4
1.2 Sự khác biệt giữa kinh tế tuyến tính và kinh tế tuần hoàn 5
1.3 Một số điều kiện để hình thành nên nền kinh tế tuần hoàn 6
1.4 Vai trò của kinh tế tuần hoàn 8
CHƯƠNG II.TỔNG QUAN VỀ KINH TẾ TUẦN HOÀN Ở ĐỨC 11
2.1 Nền Kinh tế Đức và điều kiện cần thiết để thực hiện kinh tế tuần hoàn 11
2.2 Các chính sách phát triển nền kinh tế tuần hoàn ở Đức 12
2.2.1 Chính sách giảm thiểu, thu hồi, tái chế rác thải 12
2.2.2 Thực hiện nghiên cứu và đổi mới 16
2.2.3 Chiến lược và chính sách thúc đẩy giảm thiểu Carbon 17
2.3 Tổng kết thành tựu và khó khăn 22
2.3.1 Các thành tựu và nguyên nhân 22
2.3.2 Một số khó khăn và nguyên nhân 28
CHƯƠNG III NHÌN NHẬN THÀNH TỰU CỦA ĐỨC VÀ MỘT SỐ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ TUẦN HOÀN Ở VIỆT NAM 36
3.1 Tính cấp thiết phải phát triển kinh tế tuần hoàn tại Việt Nam 36
3.1.1 Động lực cho phát triển kinh tế tuần hoàn 36
3.1.2 Nguy cơ khi không nhanh chóng phát triển kinh tế tuần hoàn 37
3.2 Thuận lợi và khó khăn khi phát triển kinh tế tuần hoàn ở Việt Nam 38
3.2.1 Thuận lợi 38
3.2.2 Khó khăn 40
3.3 Một số bài học phát triển kinh tế tuần hoàn rút ra từ trường hợp của Đức
42
KẾT LUẬN 47
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 48
Trang 2Bảng 1: So sánh giữa Kinh tế tuyến tính và Kinh tế tuần hoàn 6
Bảng 2: Luật pháp, chính sách và các quy định của Đức hỗ trợ phát triển KTTH 14
Bảng 3: Lượng phát thải CO2 bình quân đầu người ở Đức giai đoạn 1990 - 2015 23
Bảng 4: Giảm thải khí nhà kính ở Đức năm 2018 và mục tiêu giảm phát đến 2030 29
DANH MỤC HÌNH ẢNH Hình 1: Các điều kiện để hình thành nên nền kinh tế tuần hoàn 6
Hình 2: Phần trăm thay đổi “tổng giá trị gia tăng” và “lượng rác thải” trong một số ngành ở khu vực châu Âu giai đoạn 2004 – 2012 9
Hình 3: Phát triển kinh tế tuần hoàn ở Đức 11
Hình 4: Mục tiêu giảm phát khí CO2 trong giai đoạn 2020 -2030 24
Hình 5: Tỷ lệ ô tô điện trên tổng doanh số xe năm 2018, theo quốc gia 25
Hình 6: Top 10 Quốc gia có tỷ lệ tái chế tái chế rác thải (MSW) cao nhất 26
Hình 7: Số lượng bao bì được sử dụng ở Đức giai đoạn 2000 - 2017 31
Hình 8: Phần trăm năng lượng nhập khẩu của Đức năm 2007 32
Hình 9: Các thành phần năng lượng ở Đức năm 2007 32
Hình 10: Các dòng FDI vào Việt Nam giai đoạn 1988-2016 39
Hình 11: Tỷ trọng đầu tư cho phát triển GDP ở một số thành viên ASEAN, Trung Quốc và Ấn Độ giai đoạn 2000 - 2022 41
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết của đề tài
Sự phát triển kinh tế trong những thập kỷ qua giúp chất lượng cuộc sống của conngười được nâng cao, nhưng cũng đồng thời làm suy kiệt tài nguyên thiên nhiên, phá vỡcân bằng sinh thái, tổn hại đến môi trường Theo thống kê của Chương trình Môi trườngLiên Hợp Quốc (UNEP), lượng tài nguyên mà con người khai thác trong năm 2017 tănggấp 3,4 lần so với 50 năm trước, và con số này vẫn tiếp tục tăng nhanh Lượng rác thải trênthế giới cũng tăng lên nhanh chóng Chỉ tính riêng ở Việt Nam, theo thống kê của Bộ Xâydựng, tổng lượng chất thải rắn sinh hoạt của cả nước gần 16 triệu tấn; rác thải nhựa thải ramỗi ngày ước tính 18 nghìn tấn và nằm trong 5 quốc gia xả rác hàng đầu ra biển, với khốilượng 1,8 triệu tấn mỗi năm Những vấn đề nêu trên đang gây ra áp lực rất lớn đối với cácnền kinh tế , đòi hỏi Việt Nam cũng như các quốc gia khác phải dần thay đổi quy mô pháttriển kinh tế, để đảm bảo sự phát triển bền vững
Trong bối cảnh đó, mô hình Kinh tế tuần hoàn nổi lên, được coi là giải pháp thúcđẩy nền kinh tế, trong khi giảm khai thác tài nguyên và giảm thiểu chất thải ra môitrường Như vậy, Kinh tế tuần hoàn được coi là xu hướng chuyển dịch tất yếu ở nhiềunơi trên thế giới, trong đó có Việt Nam
Cùng với những thuận lợi có được, Việt Nam cũng phải đối mặt với nhiều khókhăn và thách thức trong quá trình chuyển dịch sang nền kinh tế tuần hoàn Do đó, đòihỏi Đảng cần đưa ra những phương án, chính sách phù hợp để thúc đẩy qua trìnhchuyển dịch nền kinh tế, hướng đến phát triển bền vững
Mục tiêu nghiên cứu
Với đề tài “Kinh tế tuần hoàn: Mô hình thực tiễn của Đức và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam”, nhóm nghiên cứu đưa ra một cái nhìn khách quan về tình hình
phát triển kinh tế tuần hoàn của Đức Từ đó, rút ra bài học kinh nghiệm và đưa ra một
số chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế tuần hoàn ở Việt Nam
Trang 4Kết cấu tiểu luận
Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo mục lục và danhmục bảng biểu, đề tài được kết cấu thành ba chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý thuyết;
Chương 2: Tổng quan nền kinh tế tuần hoàn ở Đức;
Chương 3: Bài học kinh nghiệm phát triển kinh tế tuần hoàn ở Việt Nam
Do vốn kiến thức còn hạn chế và thời gian nghiên cứu hạn hẹp, bài tiểu luận của chúng
em còn nhiều thiếu sót Chúng em rất mong nhận được sự nhận xét, đóng góp ý kiếncủa thầy để bài tiểu luận của chúng em ngày một hoàn thiện hơn
Chúng em xin chân thành cảm ơn!
Trang 5CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ THUYẾT
1.1 Định nghĩa
1.1.1 Kinh tế tuần hoàn là gì?
Theo European Parliament, kinh tế tuần hoàn là một hệ thống kinh tế được tạo ra
để giảm lượng rác thải xuống mức tối thiểu Khi một sản phẩm không còn sử dụngđược nữa, nó vẫn tiếp tục được giữ lại trong nền kinh tế thay vì bị vứt bỏ ra ngoài môitrường Bằng cách áp dụng các biện pháp như tái chế, tái sử dụng, sửa chữa, tântrang…những gì thường bị coi là rác thải có thể trở thành nguồn tài nguyên giá trị.Theo WTO, trái ngược với nền kinh tế tuyến tính, kinh tế tuần hoàn là một môhình kinh tế trong đó giá trị của hàng hóa cũng như của tài nguyên và nhiên vật liệuđược duy trì càng lâu càng tốt để tạo ra càng nhiều giá trị mới khác Việc này giúp ngănngừa nguy cơ cạn kiệt tài nguyên và giá cả thị trường bất ổn định, giảm thiểu việc phátsinh rác thải và gia tăng việc sử dụng nguồn tài nguyên tái tạo bền vững
Có khá nhiều định nghĩa khác nhau về “kinh tế tuần hoàn” nhưng tựu chung lạiđều mang cùng một lớp ý nghĩa Nhóm nghiên cứu xin đưa ra định nghĩa đầy đủ nhấtdựa trên quá trình tự quan sát và tìm hiểu như sau:
Kinh tế tuần hoàn là một mô hình kinh tế (gần như) khép kín dựa trên cơ sở củaviệc tiết kiệm, tái chế, tái sử dụng, chia sẻ, cho thuê hay sửa chữa nhằm kéo dài tuổi thọcủa hàng hóa, tận dụng tối đa giá trị của các nguồn nguyên nhiên vật liệu được khaithác/thu thập, từ đó loại bỏ các tác động tiêu cực đến môi trường, nâng cao chất lượng
hệ sinh thái, kinh tế và xã hội về lâu dài.
1.1.2 Kinh tế tuyến tính là gì?
Kinh tế tuyến tính là mô hình kinh tế mà trong đó, vòng đời cơ bản của một hànghóa gồm 3 giai đoạn, đó là “take – make – dispose” Ở giai đoạn 1, các nguyên liệu thôcần thiết được khai thác/thu thập Sang giai đoạn 2, nguyên liệu thô được chế biếnthành sản phẩm Cuối cùng, ở giai đoạn 3, sau quá trình sử dụng, sản phẩm sẽ bị coi làphế thải và thải ra môi trường Trong mô hình này, giá trị kinh tế được tạo ra bằng cáchsản xuất và bán càng nhiều hàng hóa càng tốt
Trang 61.2 Sự khác biệt giữa kinh tế tuyến tính và kinh tế tuần hoàn
Thứ nhất, kinh tế tuần hoàn và kinh tế tuyến tính khác nhau ở cách hàng hóa được sản xuất và duy trì giá trị.
Trái ngược với với quy trình “take – make – dispose”, mô hình kinh tế tuần hoànđược vận hành dựa trên tiêu chí 3R: reduce – reuse – recycle Tức là: giảm thiểu việckhai thác tài nguyên thiên nhiên, tích cực tái sử dụng sản phẩm, và tái chế rác thảithành sản phẩm mới Trong mô hình này, giá trị kinh tế được tạo ra bằng cách tập trungvào việc bảo toàn và gìn giữ giá trị sản phẩm
Thứ hai, kinh tế tuần hoàn và kinh tế tuyến tính khác nhau ở quan điểm về tính bền vững.
Trong kinh tế tuyến tính, quan điểm về tính bền vững tập trung vào việc giảm bớtcác tác động tiêu cực đến hệ sinh thái Các hoạt động này tuy dễ thực hiện nhưng chỉgiải quyết được vấn đề trước mắt, không mang lại hiệu quả lâu dài do nó chỉ mang tínhchất kéo dãn thời điểm hệ sinh thái trở nên quá tải
Còn trong kinh tế tuần hoàn, quan điểm về tính bền vững tập trung vào việc giatăng hiệu suất của hệ sinh thái Tức là không chỉ các tác động xấu đến hệ sinh thái đượcgiảm thiểu mà hệ thống môi trường, kinh tế, xã hội cũng được cải thiện
Sự khác biệt này có thể được minh họa qua việc sản xuất thịt bò Việc nuôi bò lấythịt thải ra một lượng lớn khí metan rất có hại cho môi trường Trong nền kinh tế tuyếntính, để giảm bớt tác động xấu tới môi trường, bò sẽ được cho ăn ít đi để giảm lượngphân thải hoặc thịt bò được thay thế bằng thịt các loài động vật khác (gia cầm, thủy hảisản…) Còn trong kinh tế tuần hoàn, để đảm bảo sự phát triển bền vững, các nhà máytái chế chất thải tiên tiến sẽ được xây dựng, các thực phẩm như thịt bò chay (làm từ đậunành, lúa mì) được phổ biến rộng rãi hơn để dần thay thế cho thịt bò thật, cây cỏ đượctrồng nhiều hơn để có chỗ chăn thả bò tự nhiên Điều này tuy mất nhiều thời gian vàcông sức nhưng sẽ tác động tích cực đến hệ sinh thái trong thời gian dài: môi trường
Trang 7(thêm cây, giảm khí metan, giảm lượng nước tưới tiêu), kinh tế và xã hội (nhiều nhà máy, công việc mới xuất hiện giúp thúc đẩy kinh tế, giảm tỷ lệ thất nghiệp).
Bảng 1: So sánh giữa Kinh tế tuyến tính và Kinh tế tuần hoàn
Kinh tế tuyến tính Kinh tế tuần hoàn Hình thức take – make – dispose reduce – reuse – recycle
Đặc điểm ngắn hạn, đi thẳng từ sản xuất nhằm duy trì giá trị sản phẩmdài hạn, gồm nhiều vòng đời
Tập trung vào giảm bớt các tác động tiêu cựcđến hệ sinh thái gia tăng hiệu suất của hệ sinhtháiTái chế thành sản phẩm có giá trị thấphơn sản phẩm gốc thành sản phẩm có giá trị caohơn sản phẩm gốc
Nguồn : Tác giả tự tổng hợp
1.3 Một số điều kiện để hình thành nên nền kinh tế tuần hoàn
Hình 1: Các điều kiện để hình thành nên nền kinh tế tuần hoàn
Nguồn: themasites
Trang 8Kinh tế tuần hoàn là một mô hình phức tạp và đòi hỏi nhiều máy móc công nghệ cao, lực lượng lao động lành nghề.
Ở giai đoạn khai thác nguyên liệu đầu vào, năng lượng tái tạo được sử dụng đểthay thế cho năng lượng hóa thạch Năng lượng tái tạo được hiểu là những nguồn nănglượng hay những phương pháp khai thác năng lượng mà nếu đo bằng các chuẩn mựccủa con người thì là vô hạn (năng lượng mặt trời, gió, nước, địa nhiệt…) Năng lượng
vô hạn có thể là năng lượng nhiều đến mức không thể cạn kiệt vì sự sử dụng của conngười hoặc là năng lượng có thể tự tái tạo trong thời gian ngắn và liên tục
Bên cạnh đó, cần phải coi môi trường tự nhiên như các tài sản có giá trị Quản lý,định giá, hạch toán và xem xét đến những tác nhân có thể ảnh hưởng đến tài sản vốn tựnhiên trong việc cung cấp các hàng hóa và dịch vụ trong tương lai Vốn tự nhiên là tậphợp các tài sản của hệ sinh thái (động thực vật, nước, khoáng sản…), kết hợp với cáccác nguồn vốn khác (vốn xã hội, vốn con người) tạo ra các dịch vụ thiết yếu cho sựphát triển kinh tế - xã hội và hỗ trợ phúc lợi của con người
Tiếp theo, ở giai đoạn sản xuất, đầu tiên trong khâu thiết kế sản phẩm, cần giảiquyết được các vấn đề như: Thiết kế nào cần ít đa nguyên liệu cho đầu vào nhất? Thiết
kế tháo rời hay liền khối sẽ dễ dàng hơn cho khách hàng trong việc sửa chữa? Sảnphẩm có thể tái chế hay tái sử dụng cho mục đích khác không?
Thứ hai, nên tích cực áp dụng mô hình doanh thu mới như công ty cho thuê, tứckhách hàng chỉ cần trả tiền cho việc sử dụng sản phẩm, còn sản phẩm vẫn thuộc sở hữucủa công ty Khách hàng vừa phải trả ít tiền hơn, mà năng suất của sản phẩm cũngđược tận dụng tối đa
Thứ ba, các doanh nghiệp cần tăng cường hợp tác với nhau để tạo nên chuỗi cungứng hiệu quả, làm việc cùng nhau để tạo ra lợi ích chung Có hai loại hợp tác chínhtrong chuỗi cung ứng: hợp tác theo chiều dọc và theo chiều ngang
Hợp tác theo chiều dọc là sự hợp tác giữa hai hoặc nhiều doanh nghiệp thuộc cáccấp hoặc giai đoạn khác nhau trong chuỗi cung ứng Ví dụ: hợp tác giữa Apple àSamsung, Samsung đóng vai trò trong khẩu sản xuất màn hình OLED
Trang 9Trong khi hợp tác theo chiều ngang là sự hợp tác giữa hai hoặc nhiều doanh nghiệp
ở cùng một cấp hoặc giai đoạn trong chuỗi cung ứng Ví dụ: Boeing sáp nhập vớiMcDonnell Douglas để tạo ra công ty hàng không vũ trụ lớn nhất thế giới
Việc hợp tác chuỗi cung ứng giúp các doanh nghiệp giảm chi phí cố định, cải thiệnhiệu suất, tiếp cận thị trường tốt hơn nhờ loại bỏ các công đoạn thừa thải, giảm số lượnghàng tồn kho, kiểm soát nguồn cung và phân phối tốt hợp lý Các thành viên trong chuỗi
có thể truy cập kết nối với các đối tác trong chuỗi để chia sẻ thông tin với nhau
Sau quá trình sử dụng, gần như 100% sản phẩm phải được tái chế hoặc tái sửdụng để gia tăng giá trị cũng như vòng đời của sản phẩm Chỉ một số ít sẽ được xử lý
và tiêu hủy hợp lý để không gây hại khi thải ra ngoài môi trường
1.4 Vai trò của kinh tế tuần hoàn
Thứ nhất, kinh tế tuần hoàn tác động tích cực đến môi trường sinh thái.
Theo SITRA, đến năm 2050, lượng khí thải nhà kính toàn cầu sẽ giảm 62% nếunền kinh tế tuần hoàn trở thành hiện thực
Bên cạnh đó, nguồn tài nguyên thiên nhiên (đất, nước, nhiên liệu hóa thạch…) sẽđược tiết kiệm đáng kể, không bị quá tải bởi các chất độc hại hay bị khai thác cạn kiệtnhư trong nền kinh tế tuyến tính Về lý thuyết, trong kinh tế tuần hoàn, 100% nguyênliệu thô sẽ được tái chế hoàn toàn Chúng ta gần như sẽ không phải khai thác thêm bất
kì tài nguyên nào cho việc sản xuất nữa
Trong những năm gần đây, mô hình kinh tế tuần hoàn đang ngày càng nhận đượcnhiều sự quan tâm, song năm 2019, chỉ có 9% tổng số nguyên liệu thô được tái chếhoàn toàn
Thứ hai, kinh tế tuần hoàn thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Một trong những nguyên tắc quan trọng của kinh tế tuần hoàn đó là tách rời tăngtrưởng kinh tế khỏi việc tiêu thụ nguyên liệu thô Theo Chương trình Môi trường LiênHiệp Quốc (UNEP), đến năm 2050, nền kinh tế toàn cầu sẽ hưởng lợi khoảng hơn2,000 tỷ đô/năm nhờ việc sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên
Trang 10Thứ ba, kinh tế tuần hoàn giúp cải thiện vấn đề việc làm.
Trong nền kinh tế tuần hoàn, giá trị người lao động được đánh giá cao hơn so vớinền kinh tế tuyến tính Để tạo ra một vòng khép kín giữa hoạt động sản xuất - tiêu thụcũng như việc phát triển và kéo dài vòng đời sản phẩm đòi hỏi lực lượng lao động cótay nghề cao hơn Cùng với đó, nhu cầu khai thác và xử lý nguyên liệu thô cũng giảmdẫn đến giảm bớt số lượng công việc ít chuyên môn
Thứ tư, kinh tế tuần hoàn kích thích những đổi mới và cải tiến.
Việc chuyển đổi từ nền kinh tế tuyến tính sang kinh tế tuần hoàn là điều không
hề dễ dàng, đòi hỏi chúng ta phải liên tục tối ưu hóa toàn bộ hệ thống Từ đó dẫn đếnnhững tư duy mới mẻ, các mô hình hợp tác hiệu quả giữa nhà sản xuất, nhà thiết kế vànhà tái chế để tạo nên chuỗi cung ứng khép kín
Dưới đây là ví dụ về vai trò của kinh tế tuần hoàn trong việc giảm bớt những tácđộng tiêu cực đến môi trường và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thông qua chính sáchgiảm thiểu rác thải của các nước châu Âu
Hình 2: Phần trăm thay đổi “tổng giá trị gia tăng” và “lượng rác thải” trong một
số ngành ở khu vực châu Âu giai đoạn 2004 – 2012
Nguồn: Europa
Trang 11Từ Hình 2, nhìn chung tổng giá trị gia tăng của các ngành có xu hướng tăng nhẹtrong khi lượng rác thải giảm liên tục.
Cụ thể, trong ngành sản xuất, so với năm 2004, tổng giá trị gia tăng của ngành vào năm
2012 tăng 7% trong khi lượng rác thải vẫn giảm 25% Tương tự với ngành dịch vụ làtăng 13% và giảm 23%, chi tiêu hộ gia đình tại các đô thị tăng 7% nhưng lượng rác thảivẫn giảm 2%
Có thể kết luận được rằng, chính sách giảm thiểu rác thải của châu Âu không hềkìm hãm sự tăng trưởng của nền kinh tế mà ngược lại, thúc đẩy nền kinh tế đi lên mộtcách bền vững và toàn diện hơn
Trang 12CHƯƠNG II TỔNG QUAN VỀ KINH TẾ TUẦN HOÀN Ở ĐỨC2.1 Nền Kinh tế Đức và điều kiện cần thiết để thực hiện kinh tế tuần hoàn
Trong tiến trình chuyển đổi sang nền kinh tế tuần hoàn, Đức đã đưa ra rất nhiềuchính sách, nỗ lực hành động để đạt được các mục tiêu về hiệu quả nền kinh tế xanh.Các chính sách phát triển này được xây dựng dựa trên 04 nguyên tắc phát triển bềnvững: đảm bảo công bằng giữa các thế hệ, chất lượng cuộc sống, gắn kết xã hội, tráchnhiệm quốc tế Mô hình sản xuất khép kín được xem “khung sườn” của kinh tế tuầnhoàn ở Đức và từ đó, xây dựng các chính sách phù hợp để phát triển nền kinh tế
HìnhHình2.1: Phát3:Pháttri ểtriểnkinhkinhtế tutếầtuầnhoànhoànởĐứởĐức
Thiết kế Tăng cường trách của nhà sản xuất
Thu hồi rác thải về hệ thống
Nguồn: Heck (2006)
Trang 13Vào năm 1996, Quốc hội Đức thông qua luật về nền kinh tế tuần hoàn(kreislaufwirtschaft), thay đổi trách nhiệm sản phẩm của các nhà sản xuất Cụ thể ở giaiđoạn thiết kế, các sản phẩm phải được thiết kế phù hợp đáp ứng yêu cầu các yêu cầutrong phát triển bền vững, giảm thiểu suy thoái môi trường Vai trò của các nhà sảnxuất được mở rộng khi chính phủ yêu cầu nhà sản xuất phải chịu trách nhiệm thu hồibao bì, chất thải và tái sử dụng trong cả sản xuất và tiêu dùng Một số luật, chính sách
và quy định đã được thực hiện để đảm bảo tính tuần hoàn của vật liệu Ví dụ, tất cả cácthiết bị điện và điện tử cũ sẽ được trả lại và các nhà sản xuất có nghĩa vụ phải chấpnhận chúng miễn phí bắt đầu từ tháng 3 năm 2006 Để tăng hiệu quả của quá trình thuhồi, các nhà sản xuất đã liên kết nhà bán lẻ thực hiện chương trình thu hồi rác thải về
hệ thống từ người tiêu dùng Sau khi thu hồi, đương nhiên không phải 100% rác thải cóthể tái chế, chính phủ Đức sẽ chịu trách nhiệm quản lý, xử lý chất thải này Đồng thời,đảm bảo trách nhiệm quản lý rác thải thông xây dựng thêm các quy định về xử lý rácthải, nhằm hạn chế tối đa lượng rác thải ra môi trường
2.2 Các chính sách phát triển nền kinh tế tuần hoàn ở Đức
2.2.1 Chính sách giảm thiểu, thu hồi, tái chế rác thải
2.2.1.1 Thông qua các đạo luật nhằm giảm thiếu rác thải
Đức khởi đầu khá sớm trên con đường hướng tới kinh tế tuần hoàn Quốc gia này bắtđầu thực hiện triển khai Kinh tế tuần hoàn vào năm 1996 Nền tảng của việc phát triển
kinh tế tuần hoàn ở quốc gia là chính sách tái chế gắn liền với Luật đóng gói
(Verpackungsverordnung) được thông qua vào năm 1991 Luật này được ban hành nhằm
tránh hoặc giảm tác động môi trường của chất thải bao bì thông qua hoạt động thu hồi bao
bì để tái chế sau quá trình vận chuyển và tiêu dùng sản phẩm Nội dung của Luật đóng gói
có quy định “ tất cả các bao bì được đưa ra thị trường trong phạm vi của luật
Kinh tế Thông tư, bất kể nó được sản xuất trong công nghiệp, thương mại, hành chính,thương mại, ngành dịch vụ, trong hộ gia đình…”; “ Các nhà sản xuất và nhà phân phối
Trang 14có nghĩa vụ lấy lại bao bì vận chuyển sau khi sử dụng ” ; “Nhà phân phối cung cấphàng hóa trong bao bì bên ngoài có nghĩa vụ loại bỏ bao bì bên ngoài khi bàn giao hànghóa cho người tiêu dùng cuối hoặc cho người tiêu dùng cuối cơ hội gỡ bỏ và trả lại bao
bì bên ngoài miễn phí tại điểm bán hoặc tại cơ sở thuộc điểm bán…” Chính phủ Đứchướng đến mục tiêu, đến năm 2009 ít nhất 65% khối lượng của tất cả chất thải bao bìphải được tái chế Khi chính sách này được áp dụng, đồng thời nền công nghiệp Đứccũng phát triển một hệ thống thu gom vật liệu có thể tái chế cùng với hệ thống thu gomrác thải thông thường Hệ thống này, được có nhiệm vụ giúp cải thiện tỷ lệ tái chế từ
mức hiện tại là 62% chất thải đô thị (theo EEA,2013).
Bên cạnh Luật đóng gói, Đức ban hành thêm về Luật quản lý chất thải theo chu
trình khép kín (1996) với ý tưởng tuần hoàn nhiên liệu Chính phủ Đức ý thức được
rằng, nền kinh tế công nghiệp nặng của Đức luôn cần nhiên liệu đầu vào, do đó việc
tuần hoàn nhiên liệu sẽ giúp giảm phụ thuộc vào tài nguyên, đồng thời đảm bảo pháttriển bền vững lâu dài Vì vậy, luật cung cấp các khuôn khổ khép kín và đảm bảo việc
xử lý chất thải tương thích với môi trường cũng như khả năng đồng hóa chất thải.
(Nguyễn Hoàng Nam, 2019)
Đức là thành viên của Liên minh châu Âu (EU) Do đó các định hướng phát triểnkinh tế xanh của quốc gia này cũng tuân theo một định hướng phát triển chung của cácnước EU Trong những thập kỉ qua, liên minh châu Âu (EU) đã thông qua một số điều
luật để thúc đẩy kinh tế tuần hoàn, ví dụ như Chỉ thị về khuôn khổ chất thải (WFD),
Chỉ thị chôn lấp (The Landfill Directive), Chỉ thị về bao bì và rác thải bao bì (The Packaging and Packaging Waste Directive) Mục đích chính của những chính sách và
biện pháp được ban hành trên là nhằm tái sử dụng, sửa chữa, tân trang và tái chế vật
liệu và sản phẩm được sản xuất trong 28 nước thành viên Điều này phản ánh sự thayđổi trong suy nghĩ về những gì từng bị gọi là “chất thải” và bây giờ được xem là tàinguyên Mục tiêu cốt lõi của phương pháp tiếp cận này chính là nhằm giảm đáng kể sựphát triển kinh tế từ tiêu thụ tài nguyên
Trang 15Bảng 2: Luật pháp, chính sách và các quy định của Đức hỗ trợ phát triển KTTH
Luật pháp, chính sách và các quy định được ban hành Năm
Luật đóng gói (Verpackungsverordnung) 1991Chu trình quản lý chất thải khép kín 1996
Pháp lệnh về bãi chứa rác thải sinh hoạt không nguy hại đến môi
2002trường
Quy định về tuổi thọ của phương tiện giao thông 2002
Luật về kinh tế tuần hoàn (“kreislaufwirtschaftgesetz KrWG”) 2012
Luật về năng lượng tái tạo (sửa đổi) 2017
Nguồn : Heck (2006)
Trang 162.2.1.2 Mô hình phân loại tái chế tại nguồn ở Đức
Hoàn Tiền khi trả lại vỏ chai
Theo luật bao bì đóng gói, tất cả bao bì được đưa ra thị trường đều cần được thuhồi để tái chế, và vỏ chai cũng không phải ngoại lệ Để thuận tiện cho qua trình thu hồi
vỏ chai đã sử dụng, thì các cửa hàng tạp hóa hay siêu thị sẵn sàng hoàn tiền khi ngườidân mang vỏ chai đến đổi Ở các cửa hàng tạp hóa bạn, người dân có thể đưa chai trựctiếp cho nhân viên bán hàng để nhận tiền hoàn lại; còn ở các siêu thị, người dân sẽ chủđộng đến các máy Pfand để quét mã trên từng vỏ chai, sau đó nhận được một biên lai
số tiền được hoàn trả, số tiền này có thể được trừ khi thanh toán hóa đơn mua hàng ởsiêu thị, hoặc có thể đổi ra tiền mặt Thông thường, người dân sẽ được nhận lại 8 centkhi mang trả chai thủy tinh hoặc các loại lon, 25 cent khi mang trả chai nhựa
“Sáng kiến Green Dot” – phân loại rác theo màu thùng rác
Để thuận tiện cho việc phân loại, tái sử dụng và xử lý rác thải, chính phủ Đức đãcho áp dụng quy tắc phân loại rác này rộng rãi trên toàn nước Đức Theo quy định sẽ
có năm màu sắc ứng với 5 loại rác khác nhau, cụ thể như sau:
Thùng rác màu nâu chứa các loại rác hữu cơ có thể phân hủy, như thức ăn thừa, rau hoa quả, vỏ trứng, vỏ các loại hạt, bã cà phê và chè, lá cây rụng, cỏ
Thùng rác màu xám hoặc màu đen chứa rác thải, không có chất độc hại, nhưngkhó phân hủy, như: tàn thuốc lá, tro, đầu mẩu thuốc lá, mẩu cao su thừa, bănggạc vệ sinh, bỉm trẻ em, sản phẩm làm từ da và đồ giả da
Thùng rác màu vàng đựng các loại chất dẻo như túi ni lông, đồ hộp/lon rỗng, hộp đựng nước
Thùng rác màu xanh dương chứa báo cũ, tạp chí cũ, tờ rơi, sách cũ, bao bì bằng giấy, hoặc bìa cứng
Đặc biệt, thùng to tròn màu trắng cho chất liệu sáng, và màu xanh lá cây cho thủy tinh màu
Trang 17Các thùng rác theo mã màu như vậy được đặt khắp mọi nơi, từ vỉa hè tới nhà gatàu điện ngầm, các quảng trường của thị trấn, hoặc công viên công cộng, trường học,hay sân vận động Trên thùng có hướng dẫn viết bằng tiếng Anh và tiếng Đức để giúpngười nước ngoài dễ nhận biết và bỏ rác vào thùng đúng quy định Khi phân loại khôngđúng, rác sẽ không được thu gom, nếu các công ty môi trường phát hiện ra người nàovứt rác bừa bãi, có thể bị phạt tiền Điểm mấu chốt của hệ thống “Green Dot” là cácnhà sản xuất và bán lẻ phải trả tiền để có được Green Dot (điểm xanh) in trên bao bìsản phẩm Nếu lượng bao bì càng lớn, doanh nghiệp càng phải trả nhiều chi phí Để tiếtkiệm chi phí, doanh nghiệp buộc phải sử dụng ít giấy hơn, thủy tinh mỏng hơn và hạn
chế kim loại, nhờ vậy, lượng rác thải ra môi trường sẽ giảm đi rất nhiều (Nguyễn Viết
Cường, 2018)
2.2.2 Thực hiện nghiên cứu và đổi mới
Nhận ra cốt lõi của việc phát triển kinh tế tuần hoàn hiệu quả, là dựa trên các kếtquả của việc nghiên cứu lý thuyết, rồi đưa ra các chính sách áp dụng vào thực tiễn,chính phủ Đức sẵn sàng “mạnh tay” đầu tư vào hoạt động nghiên cứu trong nước, cũngnhư “năng nổ” tham gia vào các chương trình nghiên cứu mang tầm quốc tế
Năm 2010, Đức lần đầu tiên đưa ra một chương trình nghiên cứu được thiết kế để
mở đường cho sự thay đổi hướng tới một ngành công nghiệp và xã hội dựa trên sinh
học Chương trình Nghiên cứu bền vững của Đức (Forschung für Nachhaltigkeit;
BMBF 2015), gồm các dự án đang thực hiện trong lĩnh vực nghiên cứu sinh thái xã hội,
những bước đầu tiên đã được thực hiện Điều đó thể hiện một nền tảng mà trên đó tầm
quan trọng của nghiên cứu kinh tế tuần hoàn có thể được củng cố hơn nữa Vào cuốinăm 2016, 2,4 tỷ euro đã được đầu tư vào các dự án nghiên cứu kinh tế sinh học Nộidung của dự án nghiên cứu này hướng đến: Xây dựng nguồn cung thực phẩm sẽ trởnên lành mạnh hơn nhờ một hệ thống nông nghiệp bền vững; Dầu mỏ sẽ được thay thếbằng các vật liệu thông minh và các nguồn năng lượng mới trong mọi tình huống màmặt trời và gió không có sẵn như là sự thay thế
Trang 18Ở cấp khu vực, liên quan đến đổi mới trong các lĩnh vực biến đổi khí hậu, hiệu
quả tài nguyên và phát triển bền vững, Đức đóng một vai trò lớn, tham gia vào Chương
trình khung nghiên cứu và đổi mới của EU (Horizon 2020) Đây là chương trình nghiên
cứu lớn nhất thế giới với gần 80 tỷ euro tài trợ có sẵn trên 7 năm (2014 - 2020), sẽ
được đầu tư vào các thách thức xã hội, lãnh đạo công nghiệp và khoa học xuất sắc Mộtyếu tố quan trọng của chương trình là thúc đẩy nền kinh tế tuần hoàn hơn
2.2.3 Chiến lược và chính sách thúc đẩy giảm thiểu Carbon.
Đức cam kết giảm 40% lượng khí thải GHG nếu các quốc gia thành viên EU khácđồng ý với mục tiêu giảm 30% lượng khí thải của EU cho năm 2020 Mục tiêu toàn nềnkinh tế này dựa trên Chương trình Năng lượng và Khí hậu Tích hợp của Đức Haichương trình này đưa ra các biện pháp chính sách cho ngành năng lượng Nhìn chung,Đức và EU đã cho thấy một số tiến bộ hợp lý trong việc giảm phát thải GHG Một sốchính sách để thực hiện các mục tiêu này bao gồm các biện pháp chính như Đạo luậtNăng lượng tái tạo (Erneuerbare-Energiene-Gesetz, EEG) và cải cách thuế sinh thái.Đạo luật Năng lượng tái tạo không chỉ thúc đẩy thế hệ năng lượng tái tạo, nănglượng gió và quang điện trong nước, đặc biệt, mà còn thúc đẩy sự đổi mới trong cácngành năng lượng tái tạo ở Đức Nó cung cấp các ưu đãi cho các doanh nghiệp và cánhân để tạo ra năng lượng tái tạo mà họ sẽ nhận được mức thuế ưu đãi, cao hơn giátrung bình và nhằm thu hẹp khoảng cách về giá năng lượng tái tạo điện năng hiện tại vàcung cấp lâu dài các ưu đãi cho nhà đầu tư Cải cách thuế sinh thái đóng một vai tròquan trọng trong việc khu yến khích tăng hiệu quả sử dụng năng lượng và giảm thiểucác hoạt động tiêu thụ nhiều năng lượng
2.2.3.1 Chính sách quốc gia về giảm phát thải GHG từ vận tải đường bộ ở Đức
Đức đề ra các biện pháp vận tải nhằm giảm 30 triệu tấn khí thải GHG mỗi năm vào
năm 2020 so với năm 2005 (ITF, 2010) Do mức giảm trong các lĩnh vực khác có thể
Trang 19nhỏ hơn như ước tính ban đầu, lượng khí thải CO2 từ giao thông cần phải giảm 40 triệutấn mỗi năm vào năm 2020 để đảm bảo đạt được mục tiêu bảo vệ khí hậu của ĐứcHiện tại, chính phủ liên bang cùng với các bên liên quan trong các lĩnh vực khoahọc, công nghiệp, chính trị và xã hội dân sự đang phát triển một chiến lược liên quanđến vận tải và nhiên liệu Chiến lược này nhằm xác định các lĩnh vực hành động và tíchhợp các biện pháp vận chuyển carbon thấp để đạt được các mục tiêu cắt giảm khí thải
(BMVBS, 2012).
2.2.3.2 Thuế và chuẩn thải cho phương tiện giao thông
Đức đã thực hiện các biện pháp có liên quan trong những năm gần đây kết hợpthuế nhiên liệu và phương tiện giao thông để cải thiện hiệu quả sử dụng nhiên liệu chocác phương tiện vận tải và giảm thiểu chất thải từ các loại phương tiện này
Thuế nhiên liệu là một phần của Cải cách Thuế sinh thái của Đức ('Ökosteuer'),giá xăng và dầu diesel tăng 3,07 cent mỗi lít và năm (tổng cộng tăng 15,34 cent mỗi lítvào năm 2003) từ năm 1999 đến 2003 Điều này nhằm mục đích nội bộ hóa một phầnchi phí bên ngoài và tăng hiệu quả năng lượng trong lĩnh vực giao thông Vào năm
2012, thuế năng lượng đối với nhiên liệu vận tải là 65,45 cent mỗi lít xăng, 47,04 centmỗi lít dầu diesel và 18 cent mỗi kg CNG1 hoặc LNG2 (BMF, 2012).
Đức áp dụng thuế đối với các loại phương tiện giao thông, kể từ tháng 1 năm 2009,thuế xe cơ giới (thuế lưu thông hàng năm) đã bao gồm một tính toán dựa trên CO2 Hệthống mới chỉ áp dụng cho ô tô mới đăng ký Thuế này tính đến lượng khí thải CO2 điểnhình của xe cộ và có mức thuế thấp hơn đối với các phương tiện có lượng khí thải đặc biệtthấp Loại thuế này đã thay thế cho lợi thế thuế khoáng sản dầu mỏ ưa chuộng động cơdiesel Ngoài việc đánh thuế dựa trên kích thước động cơ, thuế CO2 quy định 2 euro
1Compressed Natural Gas : Khí nén thiên nhiên, là nguyên liệu sạch, thân thiện với môi trường
2Liquefied Petrolium Gas : Khí đốt hóa lỏng
Trang 20mỗi gram CO2, cao hơn mức 110 gram trong năm 2012 - 2013 và trên 95 gram vào năm
2014 Việc thực hiện đánh thuế xe cơ giới dựa trên CO2 được ước tính sẽ giảm khoảng
3 triệu tấn CO2 mỗi năm vào năm 2020 Đối với các phương tiện phục vụ vào ngày 31tháng 12 năm 2008, thuế xe cơ giới không liên quan trực tiếp đến lượng khí thải CO2
mà là về kích thước động cơ và tiêu chuẩn khí thải châu Âu Thuế suất đã tăng đối vớicác loại phát thải Euro 2, Euro 3 và Euro 43 liên quan đến thuế phụ thuộc khí thải củacác phương tiện khác và đối với các phương tiện cũ trong loại Euro 1 trở xuống, mức
thuế cao hơn được giữ lại (ITF, 2010)
Ngoài ra, Châu Âu đề ra chiến lược định hương CO2 cho ô tô, chính vì thế, tạiĐức các mục tiêu phát thải CO2 đã được ban hành Trung bình, ô tô chở khách đượcyêu cầu phải đạt được mức trung bình, mức phát thải là 130gCO2 / km vào năm 2015
và mức thắt chặt là 95gCO2/km vào năm 2020 Vì yêu cầu yêu cầu lượng carbon trungbình của đội tàu, nhà sản xuất có thể có một số phương tiện phát ra cao hơn trong độitàu vì phương tiện phát ra ít carbon hơn mức trung bình Với tỷ lệ tương đối cao củanhững chiếc xe nặng hơn ở Đức, giới hạn châu Âu dự kiến sẽ dẫn đến mức phát thảiCO2 trung bình là 143gCO2 / km vào năm 2015 và 105gCO2/km vào năm 2020 cho tất
cả các xe ô tô mới đăng ký tại Đức Ngoài những mức giảm sẽ đạt được thông qua cảitiến động cơ hoặc nhà máy điện này, việc cắt giảm lượng khí thải 10gCO2/ km dự kiến
sẽ được thực hiện từ việc không sử dụng động cơ
2.2.3.3 Đặt ra tiêu chuẩn sử dụng năng lượng hiệu quả
“Dán nhãn phát thải” dựa trên mức tiêu thụ nhiên liệu và lượng khí thải CO2 cho
ô tô mới được chính phủ Đức ban hành vào tháng 1/2008 Mức tiêu chuẩn năng lượng hiệuquả được xác định dựa trên lượng khí thải CO2 và trọng lượng xe Việc phân loại hiệu quả,
từ A + (tốt nhất) đến G (tệ nhất), phụ thuộc vào mứcc độ lệch của một mẫu xe cụ thể sovới giá trị tham chiếu cho loại xe tương ứng Việc phân loại hiệu quả cho phép
3 Mức tiêu chuẩn khí thải : giới hạn tối đa của khí thải xe cơ giới được phép thải ra môi trường
Trang 21ít hơn 111,5 g CO2 / km đối với ô tô có 1000 kg trọng lượng không tải với mức nănglượng hiệu quả loại A và tăng lên 171,5 g CO2 / km đối với ô tô có trọng lượng khôngtải là 2000 kg Tuy nhiên, UBA (2012) cho thấy rằng biện pháp này tự nó chỉ có tácdụng hạn chế trong việc giảm thiểu CO2.
2.2.3.4 Phát triển nguồn năng lượng thay thế
Phát triển nguồn năng lượng thay thế là một phần của Gói kích thích kinh tế thứhai, chính phủ Đức đã đầu tư rất nhiều vào việc phát triển và thương mại hóa phương
tiện di chuyển bằng điện (Electric Mobility) Một phần của chương trình này là việc
thiết lập các khu vực thí điểm cho các loại phương tiện điện này, bao gồm việc thiết lậpcác địa điểm thử nghiệm và cơ sở hạ tầng cơ bản cùng với các chương trình nghiên cứu
để đánh giá hiệu quả của các dự án Tuy nhiên, một nghiên cứu của Viện Wuppertal vềcác khu vực mô hình điện từ cho thấy rằng lợi ích khí hậu đáng kể có thể không đạtđược trước năm 2030 Điều này rút ra rằng Đức cần phải nỗ lực không ngừng nghỉ để
có thể cho ra được kết quả trong tương lai gần
Ngoài ra, khí tự nhiên được hỗ trợ làm nhiên liệu vận chuyển thông qua việc áp dụngmức thuế suất thấp hơn đối với khí đốt tự nhiên cho với xe khách hoặc xe chở hàng Mộtmức thuế thấp cũng được áp dụng cho khí dầu mỏ hóa lỏng Mặc dù mức thuế giảm cóhiệu lực đến cuối năm 2018 và một phần mở rộng của chương trình này đến năm 2030đang được thảo luận, tuy nhiên, Cơ quan Môi trường Liên bang đã tuyên bố rằng khí đốt tựnhiên có tiềm năng rất hạn chế khi có liên quan đến giảm thiểu GHG trong lĩnh vực giaothông vì việc khai thác và vận chuyển loại khí này có liên quan đến rò rỉ khí Mê-tan dokhoảng cách cung cấp khí đốt tự nhiên rất xa (chủ yếu từ Nga) nên tỷ lệ rò rỉ cao
Mặc dù nhiên liệu sinh học từ lâu đã được coi là một phần quan trọng trong chínhsách giảm thiểu lượng carbon của Đức, nhưng quan điểm này đã phần nào thay đổi trongnhững năm gần đây Chính phủ liên bang đã trợ cấp dầu diesel sinh học bằng cách áp thuếthấp hơn so với các loại nhiên liệu khác Mức thuế giảm khiến Đức trở thành nhà sản xuấtdầu diesel sinh học lớn nhất ở EU với hơn 3 tỷ lít được sản xuất trong năm 2007,
Trang 22chủ yếu từ hạt cải dầu Tuy nhiên, việc sản xuất dầu diesel sinh học ở Đức đã giảm nhẹxuống còn 2,7 tỷ lít vào năm 2011 Một yếu tố gây ra sự suy giảm này là giai đoạnmiễn thuế đối với dầu diesel sinh học, dẫn đến việc tăng thuế lên 45,03 cent mỗi lít chỉ
từ 18,6 cent trước năm 2011
Một số quy định pha trộn được áp dụng cho xăng (10%) và dầu diesel (7 %) Tuynhiên, nhiên liệu sinh học ngày càng được xem xét thận trọng hơn đối với lợi ích phátthải trong vòng đời của chúng và cũng được công chúng nhìn nhận ít tích cực hơn Năm
2009, chính phủ đã ban hành một quy định để đảm bảo tính bền vững của nhiên liệusinh học khi xem xét phát thải vòng đời Quy định nêu rõ rằng nhiên liệu sinh học chỉ
có thể được tuyên bố là bền vững nếu chúng dẫn đến việc giảm phát thải ít nhất 35% sovới chuỗi sản xuất và cung ứng so với nhiên liệu hóa thạch Nhiên liệu sinh học khôngđáp ứng các tiêu chuẩn này sẽ không đủ điều kiện để giảm thuế và hạn ngạch nhiên liệusinh học
Một phương tiện chính cho các hoạt động trong tương lai của chính phủ liên bangđối với các nhà cung cấp năng lượng thay thế và các lựa chọn cho việc di chuyển là
Chiến lược di chuyển và nhiên liệu (The Mobility and Fuel Strategy) Chiến lược này
hiện đang được chính phủ liên bang phát triển, xây dựng trên quy trình đối thoại trêndiện rộng với khoảng 400 doanh nghiệp, các hiệp hội và các chuyên gia từ xã hội,
ngành công nghiệp, chính trị và cộng đồng khoa học (BMVBS, 2012) Trong 18 hội
thảo và thảo luận chuyên gia vào năm 2012, các bên liên quan bày tỏ quan điểm của họ
về những thách thức hiện tại và nhu cầu tương lai cho hành động chính trị trong cáclĩnh vực khác nhau của ngành giao thông, tập trung vào nhiên liệu
2.2.3.5 Phát triển ngành ô tô điện.
Ngành công nghiệp ô tô Đức cam kết thúc đẩy sự phát triển của các phương tiện
di chuyển bằng điện vì bảo vệ khí hậu, sự khan hiếm ngày càng tăng của nhiên liệu hóathạch và nhu cầu di chuyển ngày càng tăng do dân số tăng đòi hỏi các giải pháp mới và
hệ thống đẩy thay thế Xe điện có thể đóng góp đáng kể để bảo vệ môi trường và tránh
Trang 23khí thải Do đó, xe điện là một thành phần quan trọng trong chiến lược đa dạng của cácnhà sản xuất và nhà cung cấp Đức.
Thông qua bước nhảy vọt gần đây trong công nghệ pin di động điện trở thành mộtlựa chọn cho di động trong tương lai Các kỹ sư đã tập trung vào việc sử dụng nhữnglợi thế hiện có của động cơ điện so với động cơ đốt trong Đó là ví dụ mức độ hiệu quảcao của động cơ điện Trong khi động cơ đốt trong chỉ sử dụng tối đa 50 phần trămnăng lượng nhiên liệu, một động cơ điện có thể khai thác từ 80 đến gần 100 phần trămnăng lượng có sẵn Do đó, động cơ điện có thể bao phủ khoảng cách xa hơn với cùngmột năng lượng và đồng thời yêu cầu bảo trì thấp Bộ ly hợp và hộp số đã lỗi thời cộngvới động cơ có ít bộ phận hơn, điều này tạo thuận lợi cho việc bảo trì đáng kể
Việc điện khí hóa các phương tiện trong tương lai đang trở nên quan trọng hơn vàthúc đẩy sự phát triển của toàn bộ hệ thống di động điện Hệ thống này kết nối cácphương tiện điện - từ xe hybrid cắm điện (PHEV) và phương tiện mở rộng phạm vi(REEV) đến phương tiện chạy bằng pin (BEV) và phương tiện pin nhiên liệu (FCEV) -với hệ thống điện và hệ thống giao thông, do đó cải tiến việc di chuyển trong tương lai
và thêm vào đó là hệ thống điện
cùng kỳ, số lượng xe được cấp phép tăng thêm 8,8 triệu lên 25,8 triệu và số lượng nhà ở
được sưởi ấm tập trung tăng khoảng 3 triệu đơn vị lên khoảng 25 triệu (Schiffer, 1986) Con số không chỉ tăng lên, mà ô tô còn đạt được động cơ lớn hơn và ngôi nhà trở nên rộng
hơn và thoải mái hơn Mặc dù có sự gia tăng đáng kể này, tổng năng lượng tiêu dùng thực
tế không đổi Tất nhiên từ cú sốc giá dầu đầu tiên thông qua sự sụt giảm của
Trang 24giá dầu vào giữa những năm 1980, Trường hợp của Đức cho thấy một bức tranh về sự
kết hợp giữa thay thế dầu và bảo tồn năng lượng (Hohensee, 1996) Trong những năm
này (1973 và 1984), mức tiêu thụ năng lượng chính của xăng dầu giảm từ 208,9 triệutấn than tương đương (MTCE) xuống còn khoảng 161 MTCE, sự suy giảm gần một
phần tư (Statistisches-Bundesamt, 2006).
Đức đã đạt được mức giảm 385,4 triệu tấn CO2, tương đương 30,8% so với mức
phát thải năm 1990 vào năm 2018 So với năm 2017, số liệu sơ bộ năm 2018 cho thấy lượng phát thải giảm 4,5%, sau giai đoạn đình trệ giữa năm 2014 và Năm 2017.
Năm 2019, Agora Energiewende ước tính rằng lượng khí thải giảm xuống khoảng 811triệu tấn CO2, hoặc giảm 35% so với năm 1990, do sử dụng than giảm và sản xuấtnăng lượng tái tạo cao hơn.
Bảng 3: Lượng phát thải CO2 bình quân đầu người ở Đức giai đoạn 1990 - 2015
quân đầu người
Từ số liệu được thể hiện ở bảng 2.2 có thể thấy, từ năm 1990 tổng lượng khí CO2
và lượng khí thải bình quân đầu người của Đức đều có xu hướng giảm, cụ thể năm
1990 lượng khí thải bình quân đầu người là 12,69 tấn/ người thì đến năm 2015 giảmxuống chỉ còn 9,36 tấn/ người Đây là dấu hiệu đáng mừng cho thấy chính sách giảmkhí thải của Đức bước đầu có hiệu quả, làm bước đệm để Đức tiếp tục thực hiện các dự
án giảm lượng khí thải trong thời gian tới
Trang 25Hình 4: Mục tiêu giảm phát khí CO2 trong giai đoạn 2020 -2030
Đơn vị : triệu tấn
Nguồn: Kerstine Appunn (2018)
2.3.1.2 Về việc sử dụng ô tô điện
Tính đến năm 2018, Đức đứng thứ 17 thế giới về tỷ lệ ô tô điện trên tổng doanh
số xe nhưng đứng thứ 3 thế giới về số lượng trạm sạc, cho thấy sự khuyến khích của
chính phủ trong việc sản xuất và sử dụng xe ô tô điện để giảm thiểu khí thải ra môitrường
Trang 26Hình 5: Tỷ lệ ô tô điện trên tổng doanh số xe năm 2018, theo quốc gia
Nguồn : Bloomberg
Đến tháng 11/2019, 57.533 xe ô tô điện mới đã được đăng ký tại Đức giúp đức vượt Nauy thành thị trường xe điện lớn nhất Châu Âu Việc áp dụng xe điện cắm ở Đức được Chính phủ Liên bang Đức hỗ trợ tích cực hơn nữa khi tính đến tháng
12 năm 2018, tổng cộng có 196.750 phích cắm điện xe hơi đã được đăng ký tại Đức từnăm 2010 Vào cuối năm 2019, có khoảng 24.000 điểm sạc công cộng ở Đức, tăng gần50% so với năm trước