1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề tài kinh tế công cộng: Độc quyền điện ở Việt Nam – Thực trạng và giải pháp

23 316 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 200,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ở Việt Nam hiện nay, việc sản xuất, phân phối điện năng vẫn do Nhà nước mà trực tiếp là tập đoàn điện lực Việt nam độc quyền.Tình trạng độc quyền này là một trong những nguyên nhân dẫn đến việc sản xuất không đủ cho tiêu dùng, thiếu điện xảy ra liên miên. Phải chăng đây là một thất bại của thị trường khi mà việc sản xuất, phân phối điện năng đã không được thực hiện theo cơ chế thị trường mà lại chịu sự can thiệp quá sâu của Nhà nước

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠOTRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

ĐỀ TÀI KINH TẾ CÔNG CỘNG:

ĐỘC QUYỀN ĐIỆN Ở VIỆT NAM – THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

GIẢNG VIÊN: Lý Hoàng Phú

SINH VIÊN: Đỗ Huy Cường

Nguyễn Minh Quân

Lê Quốc Hùng

Hà Nội – 2011

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

Công nghiệp năng lượng là một trong những ngành công nghiệp cốt lõi đểphát triển công nghiệp trong nước Trong các dạng năng lượng chủ yếu phục vụcho sản xuất và tiêu dùng, năng lượng điện chiếm một tỷ trọng không nhỏ Vìthế, phát triển ngành điện luôn là mối quan tâm của toàn xã hội.Trong bối cảnhcông nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, ngành điện là ngành có vai trò chiếnlược hết sức quan trọng, phải đi trước một bước, là động lực của nền kinh tế.Tuy vậy, ở Việt Nam hiện nay, việc sản xuất, phân phối điện năng vẫn doNhà nước mà trực tiếp là tập đoàn điện lực Việt nam độc quyền.Tình trạng độcquyền này là một trong những nguyên nhân dẫn đến việc sản xuất không đủ chotiêu dùng, thiếu điện xảy ra liên miên Phải chăng đây là một thất bại của thịtrường khi mà việc sản xuất, phân phối điện năng đã không được thực hiện theo

cơ chế thị trường mà lại chịu sự can thiệp quá sâu của Nhà nước Để tìm hiểu

sâu sắc hơn về vấn đề này, nhóm nghiên cứu đã quyết định chọn đề tài “Độc

quyền điện ở Việt Nam- Thực trạng và giải pháp” cho bài tiểu luận của mình.

Ngoài phần lời mở đầu, kết luận, và danh mục tài liệu tham khảo, bài tiểuluận gồm có 3 phần như sau:

I Tổng quan về tập đoàn điện lực Việt Nam

II Thực trạng độc quyền của tập đoàn điện lực Việt Nam

III.Giải pháp đề xuất

Trong phạm vi của một bài tiểu luận, chắc chắn có nhiều vấn đề nhómnghiên cứu chưa thể trình bày một cách thực sự thấu đáo Nhóm mong nhậnđược ý kiến đóng góp của thầy cô và các bạn để chúng tôi có thể làm tốt hơntrong những lần sau

Xin chân thành cám ơn!

Trang 3

I TỔNG QUAN VỀ TẬP ĐOÀN ĐIỆN LỰC VIỆT NAM

1 Lịch sử hình thành

Tổng Công ty Điện lực Việt Nam được chuyển đổi thành Tập đoàn Điện lựcViệt Nam – EVN từ năm 2006 theo Quyết định số 48/2006/QĐ-TTg của Thủtướng Chính phủ EVN kinh doanh đa ngành Trong đó, sản xuất, kinh doanhđiện năng, viễn thông công cộng và cơ khí điện lực là ngành nghề kinh doanhchính; gắn kết chặt chẽ giữa sản xuất, kinh doanh với khoa học, công nghệ,nghiên cứu triển khai, đào tạo

Ngày 25/6/2010, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số TTg về việc chuyển Công ty mẹ- Tập đoàn Điện lực Việt Nam thành công tytrách nhiệm hữu hạn một thành viên thuộc sở hữu Nhà nước

975/QĐ-Mục tiêu hoạt động của EVN thể hiện rõ qua 3 tiêu chí: Kinh doanh có lãi,bảo toàn và phát triển vốn chủ sở hữu nhà nước đầu tư tại EVN và vốn của EVNđầu tư vào các doanh nghiệp khác; Giữ vai trò trung tâm để phát triển một Tậpđoàn Điện lực Quốc gia Việt Nam đa sở hữu, trong đó sở hữu nhà nước là chiphối; Tối đa hóa hiệu quả hoạt động của Tập đoàn Điện lực Quốc gia Việt Nam

2 Các lĩnh vực hoạt động

Tập đoàn điện lực Việt Nam là một doanh nghiệp nhà nước của Việt Namkinh doanh đa ngành,trong đó sản xuất và kinh doanh điện năng, viễn thôngcông cộng, cơ khí điện lực là ngành kinh doanh chính; gắn kết chặt chẽ giữa sảnxuất, kinh doanh với khoa học, công nghệ, nghiên cứu triển khai, đào tạo; làmnòng cốt để ngành công nghiệp điện lực Việt Nam phát triển nhanh và bềnvững, cạnh tranh và hội nhập kinh tế quốc tế có hiệu quả

Hiện nay, EVN có 5 Tổng Công ty điện lực kinh doanh điện năng đến kháchhàng là Tổng Công ty Điện lực Miền Bắc, Tổng Công ty Điện lực Miền Nam,Tổng Công ty Điện lực Miền Trung, Tổng Công ty Điện lực TP Hà Nội, TổngCông ty Điện lực TP Hồ Chí Minh Lĩnh vực truyền tải cũng đang có nhữngbước phát triển mạnh mẽ với sự ra đời của Tổng Công ty Truyền tải Việt Nam

Trang 4

trên cơ sở tổ chức lại 4 công ty Truyền tải (Công ty Truyền tải 1, 2, 3, 4) và 3Ban Quản lý dự án (Ban Quản lý dự án miền Bắc, Trung, Nam).

Bên cạnh đó, lĩnh vực cơ khí điện lực và viễn thông công cộng ngày càngchiếm vị trí quan trọng trên thị trường Những cái tên như: Công ty CP Cơ khíĐiện lực, Công ty CP Chế tạo Thiết bị Điện Đông Anh… hay EVNTelecom đãtrở nên quen thuộc, đáp ứng một phần nhu cầu của khách hàng về các sản phẩm

cơ khí và dịch vụ viễn thông công cộng

Ngoài các lĩnh vực chính kể trên, cũng không ngừng phát huy thế mạnh củamình trên các lĩnh vực như:

- Giáo dục: Trường đại học Điện lực, Cao đẳng Điện lực TPHCM, Caođẳng điện lực Miền trung

- Viễn thông: Công ty Viễn thông Điện lực hoạt động trong lĩnh vực pháttriển mạng lưới dịch vụ điện thoại cố định nội tỉnh và đường dài trong nước,cùng mạng điện thoại di động, dịch vụ internet

- Tài chính ngân hàng: tập đoàn là cổ đông thể chế của ngân hàng thươngmại cổ phần An Bình

- Viện Năng lượng Việt Nam: cơ quan nghiên cứu trong lĩnh vực điện năngtrực thuộc tập đoàn

3 Thành tựu

Trong thời kỳ xây dựng và phát triển đất nước, ngoài việc khôi phục để bảođảm duy trì năng lực nguồn hiện có, ngành điện đã tập trung chuẩn bị các điềukiện vật chất, kỹ thuật, con người để thực hiện việc xây dựng cũng như pháttriển điện lực theo quy hoạch dài hạn Các nhà máy thủy điện Hòa Bình, nhiệtđiện Phả Lại và hệ thống lưới điện 220 kV được xây dựng

Từ năm 1992, Chính phủ quyết định xây dựng hệ thống tải điện 500 kV bắc

- nam với chiều dài 1.487 km và bốn trạm biến áp 500 kV, tổng vốn đầu tư5.300 tỷ đồng, hệ thống điện quốc gia được hình thành trên cơ sở liên kết lướiđiện các miền bắc – trung – nam thông qua trục xương sống là đường dây

Trang 5

500kV, giải quyết tình trạng thiếu điện ở miền trung và miền nam, tạo điều kiệnbảo đảm cung ứng điện an toàn, ổn định phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.

Từ đó đến nay, tập đoàn điện lực Việt Nam đạt được một số thành tựu chínhnhư sau:

- Giữ vững, phát huy vai trò chủ đạo và đã đáp ứng một cách cơ bản nhu cầuđiện cho phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, góp phần duy trì tốc độ tăngtrưởng kinh tế ở mức cao trong nhiều năm liên tục Tính chung giai đoạn từ

1995 - 2008, tốc độ tăng trưởng điện thương phẩm ở nước ta luôn ở mức caonhất trong khu vực và trên thế giới, bình quân đạt 15,06% (GDP tăng bình quân7,49%)

- Thực hiện được khối lượng đầu tư lớn, quy mô nguồn và lưới điện khôngngừng được mở rộng Tính chung giai đoạn 1995 - 2008, Tập đoàn Điện lựcViệt Nam đã đầu tư trên 233 ngàn tỉ đồng cho xây dựng nguồn và lưới điện.Năm 1995, tổng công suất nguồn điện cả nước mới chỉ có 4.550 MW, sản lượng14,6 tỉ kWh, nhưng đến cuối năm 2008, công suất nguồn điện đã đạt 15.763

MW (tăng 3,46 lần), điện năng sản xuất đạt 74,225 tỉ kWh (tăng 5,08 lần)

- Hiệu quả vận hành hệ thống điện được nâng cao, thể hiện qua tỷ lệ tổn thấtđiện năng giảm từ 21,4% (năm 1995) xuống mức còn một con số 9,21% (năm2008)

- Đầu tư điện cho nông thôn, vùng sâu, vùng xa có bước phát triển vượt bậc.Đến cuối năm 2008, 100% số huyện, 97,24% số xã, 95,72% số hộ dân trên cảnước và 94,49% số hộ dân ở nông thôn có điện Từ đó, góp phần thay đổi cănbản diện mạo kinh tế và xã hội ở nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, đónggóp to lớn trong công cuộc xóa đói, giảm nghèo của Đảng và Nhà nước

- Sản xuất kinh doanh có hiệu quả, cân bằng được tài chính, bảo toàn vàphát triển vốn trong khi vẫn bảo đảm là công cụ điều tiết vĩ mô và thực hiệnchính sách an sinh xã hội của Chính phủ Lợi nhuận của Tập đoàn giai đoạn

1995 - 2008 đạt 31.975 tỉ đồng, thu nộp ngân sách nhà nước đạt 38.134 tỉ đồng,

Trang 6

giá trị tài sản cố định đến cuối năm 2008 đạt 192.679 tỉ đồng, tăng gấp 6,9 lần

so với năm 1995

Các hoạt động kinh doanh khác như ngân hàng, tài chính, cũng được từngbước phát triển, tạo thêm kênh huy động vốn hiệu quả cho các dự án đầu tư xâydựng nguồn và lưới điện của Tập đoàn Trong khuôn khổ Hiệp hội các nướcĐông Nam Á (ASEAN), các nước tiểu vùng sông Mê Kông (GMS), Tập đoànĐiện lực Việt Nam là một doanh nghiệp đi đầu trong việc thực hiện liên kết lướiđiện liên quốc gia, góp phần tăng cường quan hệ hợp tác, hữu nghị giữa nước ta

và các nước trong khu vực Tập đoàn đã thực hiện kết nối lưới điện ở cấp điện

áp 110 kV và 220 kV với Công ty lưới điện phương Nam (Trung Quốc), đangcung cấp điện cho Thủ đô Phnôm Pênh (Cam-pu-chia) qua 2 đường dây 220

kV, đồng thời bán điện cho nhiều địa phương khác của Cam-pu-chia và Lào ởnhiều điểm dọc biên giới

4 Quy mô vốn

Tổng tài sản của EVN tính đến 31/12/2007 là 185.180 tỷ đồng, tương đương11.492 triệu USD (tỷ giá USD/VNĐ: 16.114), trong đó Tổng tài sản (nguồnvốn) của Công ty mẹ là 118.242 tỷ đồng So với năm 2006, Công ty mẹ huyđộng nguồn vốn vào hoạt động SXKD tăng thêm 37.442 tỷ đồng (31,71%), chủyếu là tăng vốn đầu tư của chủ sở hữu (21.352 tỷ đồng) do đó đã làm vốn chủ sởhữu từ 42,60% năm 2006 tăng thành 46,07% tại thời điểm 31/12/2007 Xét toàn

bộ EVN, tổng số vốn huy động trong năm tăng lên 47.398 tỷ đồng (34,40%) do

cả 3 nguồn đều tăng: nợ phải trả tăng 23.737 tỷ đồng (28,48%), Vốn chủ sở hữutăng 22.017 tỷ đồng (42,02%), Lợi ích cổ đông thiểu số tăng 1.642 tỷ đồng(80,20%)

Khả năng thanh toán nợ của EVN tại thời điểm 31/12/2007 cơ bản đảm bảo.Khả năng thanh toán hiện hành (Tổng tài sản/Tổng nợ phải trả) của Công ty mẹ

là 1,85 lần, của EVN là 1,73 lần Tỷ lệ nợ phải trả/vốn chủ sở hữu khá lànhmạnh, tại Công ty mẹ là 1,17 lần, EVN là 1,44 lần, cho thấy EVN và Công ty

mẹ hoạt động chủ yếu bằng vốn tự có Khả năng thanh toán nợ ngắn hạn (Tài

Trang 7

sản lưu động và đầu tư ngắn hạn/Tổng nợ ngắn hạn) tại Công ty mẹ là 1,6 lần,EVN là 1,94 lần.

Vật tư tồn kho tại một số đơn vị còn lớn, trong đó có vật tư chậm luânchuyển gây ứ đọng vốn trong khi phải huy động vốn vay làm ảnh hưởng đến kếtquả kinh doanh (Công ty Điện lực 1 hơn 915 tỷ đồng bằng 17,31% vốn chủ sởhữu; Công ty Điện lực TP Hồ Chí Minh hơn 902 tỷ đồng bằng 40,28% vốn chủ

sở hữu, trong đó có lượng điện kế điện tử tồn kho từ lâu 127,4 tỷ đồng là tangvật của vụ án)

Quản lý tài sản cố định và đầu tư dài hạn: Tổng giá trị TSCĐ ròng là 80.861

tỷ đồng Tuy vốn chủ sở hữu lớn như đã nêu ở trên nhưng chưa đủ tài trợ choTSCĐ

Trang 8

II THỰC TRẠNG ĐỘC QUYỀN CỦA TẬP ĐOÀN ĐIỆN LỰC VIỆT NAM

nó cũng tạo ra sự mất cân đối trong từng vùng miền và trong cả 3 khâu: phátđiện, truyền tải và phân phối

1.1 Độc quyền trong sản xuất

EVN đang quản lý hệ thống nhà máy phát điện gồm cả thủy điện và nhiệtđiện Một số nhà máy điện được tiến hành cổ phần hóa như Vũng Áng, Phả Lại,Cát Bà… trong đó có một số nhà máy do PVN, TKV làm chủ đầu tư nhưngnhững doanh nghiệp này mới chỉ có thể tham gia xây dựng tạo nguồn điện.Chính vì việc độc quyền sản xuất mà EVN đã sử dụng nguồn vốn khổng lồvào việc đầu tư mất cân đối Có thể minh họa điều này bằng sự ra đời rất nhanhtrung tâm nhiệt điện rất lớn ở Phú Mỹ (gần 4.000MW) trong giai đoạn 1998-

2003 trong khi miền Bắc chẳng có thêm nguồn điện nào trong thời gian dài saukhi NMNĐ Phả Lại 2 vào vận hành Vì vậy mới có việc trong thời gian kỷ lục 2năm, EVN đã phải gấp rút hoàn thành đường dây 500kV mạch 2 để tải điện từNam ra Bắc, trong khi nếu đầu tư phát triển hài hòa thì có thể tránh khỏi việcđầu tư tập trung quá nhiều vào lưới truyền tải lớn trong giai đoạn 2003-2006như đã làm

Một trong những nguyên nhân dẫn đền độc quyền trong sản xuất chính bởiviệc đàm phán với EVN hết sức khó khăn Nhiều nhà đầu tư cũng muốn đầu tưvào lĩnh vực điện, nhưng họ sợ khi xây xong nhà máy thì nhà phân phối điệnđộc quyền là EVN không mua, hay mua điện với giá quá rẻ Vì vậy mới nói,

Trang 9

khâu truyền tải và phân phối độc quyền của EVN tất yếu sẽ dẫn tới khâu độcquyền sản xuất điện

1.2 Độc quyền trong truyền tải và phân phối

EVN còn nắm giữ chủ chốt khâu truyền tải và phân phối: vừa thực hiệnchức năng quản lý nhà nước về lĩnh vực điện, vừa thực hiện chức năng kinhdoanh công với chức năng phân phối điện Mặc dù, khi nhận thấy khả năngkhông thể tự đáp ứng cung cấp điện từ phía EVN cho nền kinh tế quốc dân,chính phủ Việt Nam đã cho phép nhiều thành phần kinh tế tham gia đầu tư vàongành điện Nhưng cũng chính bởi cơ chế độc quyền cả 3 khâu mà gây ra cảntrở lớn cho các nhà đầu tư bên ngoài EVN

Đơn cử như công ty AES, một công ty năng lượng lớn của Mỹ, đã phải mất

5 năm đàm phán với EVN để có một bản hợp đồng mua bán điện tại nhà máynhiệt điện Mông Dương 2 (Quảng Ninh) Còn đối với các nhà đầu tư trongnước, việc đàm phán mua bán điện với EVN rất khó khăn và thường bị EVNyêu cầu cắt giảm chi phí và đưa ra giá thành một cách bất hợp lý

Ngay cả khi các công trình nguồn điện của các chủ đầu tư bên ngoài nhưPetro Vietnam, TKV hay các chủ đầu tư khác đã vào vận hành, với chính sách

"điều độ tập trung" hay "điều tiết hợp lý", các nguồn điện của chủ đầu tư bênngoài thường không được huy động hết khả năng cung cấp của mình so vớinăng lực của các nhà máy hoặc so với các nhà máy điện tương tự của EVN

1.3 Độc quyền trong định giá

Nếu như ở những lĩnh vực kinh doanh khác, có nhiều doanh nghiệp thamgia, doanh nghiệp nào có chất lượng sản phẩm tốt, phục vụ chu đáo, giá cả hợp

lý sẽ được khách hàng lựa chọn Tuy nhiên, ở ngành điện khi người dân và cácdoanh nghiệp buộc phải mua điện với mức giá do EVN định sẵn trong khi chấtlượng dịch vụ, cung ứng còn rất nhiều tồn tại, bất cập

Có thể so sánh ngành điện với dịch vụ viễn thông nhiều năm trước đây khixảy ra tình trạng độc quyền, cước phí đắt đỏ Nhưng chỉ mấy năm trở lại đây,

Trang 10

khi có nhiều nhà mạng cạnh tranh độc lập với nhau và thiếu đi sự hậu thuẫn củanhà nước, người dân được hưởng dịch vụ tốt hơn với giá thành rẻ hơn Qua đó

có thể thấy, cũng nên duy trì một môi trường cạnh tranh giữa các doanh nghiệp,

để người dân có thể sử dụng nguồn điện đảm bảo hơn, giá cả hợp lý và hạn chếtình trạng thiếu điện

2 Tác động

Điện cũng giống như xăng dầu, là nguồn năng lượng thiết yếu để duy trìcuộc sống sinh hoạt của người dân Nó tác động trực tiếp đến cuộc sống củangười dân, vì vậy nếu tình trạng độc quyền điện kéo dài dẫn đến thiếu điện liêntục xảy ra sẽ dẫn tới những hệ lụy ảnh hưởng tới cuộc sống con người, gây racác vấn đề tiêu cực trong xã hội

2.1 Ảnh hưởng đối với người dân

Cắt điện tràn lan

Mùa hè năm 2010, tình trạng cắt điện luân phiên kéo dài từ cuối tháng 3 chođến cuối tháng 6 và phạm vi ảnh hưởng lớn, trải rộng ra hầu hết các địa phương,tỉnh thành trên cả nước

Việc cắt điện tràn lan đã khiến cuộc sống sinh hoạt của người dân bị đảolộn, chất lượng cuộc sống bị giảm sút: cắt điện trong thời gian nắng nóng có khilên tới 400C làm ảnh hưởng tới sức khỏe của người dân, đặc biệt là người già vàtrẻ nhỏ; cắt điện luân phiên cả ngày lẫn đêm ảnh hưởng tới việc thi cử của nhiềuhọc sinh, sinh viên, tình trạng cắt điện kéo dài khiến hoạt động tưới tiêu, giảihạn đồng ruộng bị ngưng trệ, gây thất bát mùa màng đối với người nông dân…

2.2 Ảnh hưởng đối với xã hội

Tăng chi phí lớn cho doanh nghiệp

Tình trạng thiếu điện không những ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượngcuộc sống của người dân mà còn đe dọa hoạt động sản xuất kinh doanh, đặc biệt

là với những ngành hàng xuất khẩu Lịch cắt điện làm ảnh hưởng đến tiến độsản xuất kinh doanh, thời gian sản xuất hàng hóa không đúng tiến độ ghi trong

Trang 11

hợp đồng, nhân công ngày làm ngày nghỉ và có khi phải tăng ca về đêm đã dẫnđến thiệt hại vật chất lên tới hàng tỷ đồng

Việc thiếu điện còn làm ảnh hưởng đến doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnhvực dịch vụ như du lịch, khách sạn Hầu hết những doanh nghiệp này đều phảimua máy phát điện hay các thiết bị tích điện khác làm ảnh hưởng đến hoạt độngcủa doanh nghiệp và ô nhiễm môi trường

Ví dụ như công ty xuất nhập khẩu may mặc MSA-HAPRO có đăng trênhãng thông tấn Đức DP, ít nhất mỗi tuần 1 lần công ty lại bị cắt điện Công typhải mua một máy phát điện cũ với giá 21.000 đôla để duy trì sản xuất và mỗingày công ty phải chi thêm 3000 đô la nhiên liệu chạy máy “Ít nhất mỗi tuầnmột lần công ty tôi lại bị cắt điện”, bà Phạm Thị Liễu, Tổng giám đốc Công ty

xuất khẩu may mặc MSA-HAPRO nói với hãng thông tấn Đức DPA, cao gấp 6

lần so với giá điện mà nhà độc quyền EVN cung cấp

3 Nguyên nhân

3.1 Chính sách của nhà nước

Trong nhiều năm qua, nước ta chưa có một kế hoạch phát triển điện nghiêmchỉnh Khi so sánh với các nước lân cận trong khu vực, chẳng hạn như Thái Lanrất chú trọng về kĩ nghệ điện còn Việt Nam lại khác biệt hẳn Chính vì chưa xâydựng được kế hoạch, chiến lược ngắn và dài hạn mà việc đầu tư còn dàn trải,thiếu tính cạnh tranh do độc quyền và thiếu minh bạch

Ngày đăng: 30/07/2020, 12:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w