1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận: Luật và chính sách môi trường việt nam

45 166 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 45
Dung lượng 69,53 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái niệm luật môi trường Xuất phát từ phạm vi của luật môi trường, có thể khái niệm về luật môi trườngnhư sau: “Luật môi trường là lĩnh vực pháp luật chuyên ngành bao gồm các quy phạmph

Trang 1

KHÁI QUÁT VỀ LUẬT VÀ CHÍNH SÁCH

MÔI TRƯỜNG VIỆT NAM1.1 Khái niệm luật môi trường Việt Nam

1.1.1 Môi trường

a Khái niệm về môi trường

Môi trường là một khái niệm rộng, được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau,đặc biệt sau hội nghị Stockholm, Thụy Điển về môi trường năm 1972

Trong tuyên ngôn của UNESCO năm 1981, môi trường được hiểu là: “Toàn bộcác hệ thống tự nhiên và hệ thống do con người tạo ra xung quanh mình, trong đó conngười sinh sống và bằng lao động của mình đã khai thác các tài nguyên thiên nhiênhoặc nhân tạo nhằm thỏa mãn các nhu cầu của con người”

Trong tài liệu “Môi trường và tài nguyên Việt Nam” – NXB Khoa học và kỹthuật - 1984 đã đưa ra khái niệm: “Môi trường là một nơi chốn trong số các nơi chốn,nhưng có thể là một nơi chốn đáng chú ý, thể hiện các màu sắc xã hội của một thời kìhay một xã hội”

Theo nghĩa rộng (Từ điển Tiếng Việt phổ thông của Viện Ngôn ngữ học, 2002):

“Môi trường là toàn bộ nói chung những điều kiện tự nhiên và xã hội, trong đó conngười hay một sinh vật tồn tại, phát triển trong mối quan hệ với con người hay sinh vậtấy”

Theo Điều 1 Luật Bảo vệ Môi trường 1993: “Môi trường bao gồm các yếu tố tựnhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, cóảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên”

Theo Điều 1 Luật Bảo vệ Môi trường 2005: “Môi trường bao gồm các yếu tố tựnhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất,

sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật”

Theo Điều 3, khoản 1 - Luật Bảo vệ Môi trường 2014: “Môi trường là hệ thốngcác yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển củacon người và sinh vật”

b Phân loại môi trường

Trang 2

Tùy theo mục đích nghiên cứu và sử dụng, có nhiều cách phân loại môi trườngkhác nhau Có thể phân loại môi trường theo các dấu hiệu đặc trưng sau:

- Theo chức năng: môi trường tự nhiên, môi trường xã hội, môi trường nhân tạo

- Theo quy mô: chủ yếu phân loại theo không gian địa lý như: môi trường toàncầu, môi trường khu vực, môi trường quốc gia, môi trường vùng, môi trường địaphương

- Theo thành phần:

+ Theo thành phần của tự nhiên chia thành: môi trường không khí, đất, nước.+ Theo thành của dân cư sinh sống: môi trường thành thị, môi trường nông thôn

c Vai trò của môi trường

* Môi trường là không gian sống của con người

Không gian sống của con người được biểu thị qua chất lượng của cuộc sống.Khi không gian đó không đầy đủ cho yêu cầu của cuộc sống thì chất lượng của cuộcsống bị đe doạ Từ môi trường, con người khai thác tài nguyên để tiến hành quá trìnhsản xuất ra các sản phẩm nhằm thỏa mãn nhu cầu sống của mình Ngoài ra môi trườngcòn đem lại cho con người các giá trị tinh thần: cảnh quan, thoả mái về tinh thần, nângcao thẩm mỹ

* Môi trường là nơi cung cấp tài nguyên cho cuộc sống và hoạt động sản xuất của con người

Con người sử dụng các loại tài nguyên trong môi trường để phục vụ cho nhu cầucủa mình Con người tác động lên đất đai xây dựng nhà cửa, hệ thống đê điều, côngtrình thủy lợi nhằm phục vụ cho mục đích sinh sống, tránh lũ lụt, hạn hán…; tác độnglên hệ thực vật, động vật nhằm tạo ra thức ăn để tồn tại, khai thác tài nguyên thiênnhiên để tạo ra năng lượng đáp ứng nhu cầu cuộc sống

* Môi trường là nơi chứa đựng chất thải

Toàn bộ chất thải ra từ hoạt động của con người được đưa vào môi trường.Trong đó một phần nhỏ được con người sử dụng lại để bổ sung cho tài nguyên phục vụđời sống sinh hoạt

Trang 3

Việc tái sử dụng các chất thải hoàn toàn phụ thuộc vào loại chất thải và khảnăng của con người, cụ thể hơn là vào công nghệ tái sử dụng Nếu chi phí để sử dụnglại chất thải mà ít hơn việc khai thác tài nguyên mới thì con người sẽ sẵn sàng làm,ngược lại, con người có thể sử dụng nguồn tài nguyên mới Nhưng nếu xét về mặt ýnghĩa môi trường thì con người cố gắng tìm mọi cách sử dụng lại các chất thải, cho dùhiệu quả kinh tế không lớn lắm Với công nghệ hiện đại, các chất thải kim loại được sửdụng lại với hiệu quả khá cao, rác thải hữu cơ đang được chế biến thành phân vi sinhphục vụ sản xuất nông - lâm nghiệp, nước thải được xử lý để sử dụng lại cho các mụcđích khác, Tuy nhiên, vẫn còn lượng lớn chất thải không xử lý và tái sử dụng đượcđưa vào môi trường Song, môi trường có một khả năng đặc biệt đó là quá trình đồnghoá các chất thải, biến các chất thải độc hại thành các chất ít độc hại hoặc không độchại Chẳng hạn, khi nước thải chứa chất hữu cơ đổ ra sông suối, ao, hồ chúng sẽ đượcpha loãng, được các vi sinh vật phân huỷ trong điều kiện kỵ khí hoặc thoáng khí nênchỉ trong thời gian ngắn tính độc hại sẽ giảm đi nhiều Vì vậy, một hồ lớn có thể chứađược một lượng nước thải nào đấy mà chất lượng nước hồ vẫn bảo đảm sử dụng chonhiều mục đích khác Hoặc, nếu khí thải có chứa lượng nhỏ bụi hoặc chất thải độc hạithì chúng sẽ không ảnh hưởng nhiều tới sức khoẻ của con người và hệ sinh thái Có thểcoi lượng chất thải lớn nhất mà môi trường có thể tiếp nhận, đồng hóa để không ảnhhưởng đến sức khoẻ và mục đích sử dụng khác là khả năng đồng hoá của môi trường.Tuy nhiên, khái niệm khả năng đồng hoá của môi trường chỉ mang tính tương đối,nghĩa là phụ thuộc vào mục đích sử dụng của con người Nếu như khả năng đồng hoácủa môi trường lớn hơn lượng thải thì chất lượng môi trường luôn luôn được đảm bảo,tài nguyên được cải thiện Nếu như khả năng đồng hoá của môi trường nhỏ hơn lượngthải thì chất lượng của môi trường bị suy giảm, gây tác động xấu đến tài nguyên

* Chức năng lưu trữ và cung cấp thông tin cho con người

Môi trường trái đất được xem là nơi lưu trữ và cung cấp thông tin cho conngười Bởi vì chính môi trường trái đất là nơi:

- Cung cấp sự ghi chép và lưu trữ lịch sử trái đất, lịch sử tiến hoá của vật chất

và sinh vật, lịch sử xuất hiện và phát triển văn hoá của loài người

Trang 4

- Cung cấp các chỉ thị không gian và tạm thời mang tín chất tín hiệu và báođộng sớm các hiểm hoạ đối với con người và sinh vật sống trên trái đất như phản ứngsinh lý của cơ thể sống trước khi xảy ra các tai biến tự nhiên và các hiện tượng tai biến

tự nhiên, đặc biệt như bão, động đất, núi lửa

- Cung cấp và lưu giữ cho con người các nguồn gen, các loài động thực vật, các

hệ sinh thái tự nhiên và nhân tạo, các vẻ đẹp, cảnh quan có giá trị thẩm mỹ để thưởngngoạn, tôn giáo và văn hoá khác

* Bảo vệ con người và sinh vật khỏi những tác động từ bên ngoài

Các thành phần trong môi trường còn có vai trò trong việc bảo vệ cho đời sốngcủa con người và sinh vật tránh khỏi những tác động từ bên ngoài như: tầng Ozontrong khí quyển có nhiệm vụ hấp thụ và phản xạ trở lại các tia cực tím từ năng lượngmặt trời

d Các vấn đề môi trường toàn cầu

Những vấn đề môi trường toàn cầu là những vấn đề môi trường mà ảnh hưởng vàtác hại của nó không chỉ giới hạn trong phạm vi của quốc gia gây ra vấn nạn môitrường mà còn có thể xuyên biên giới và đạt đến mức độ toàn cầu Nói đến toàn cầubởi vì đây là những vấn đề mà cả thế giới đang quan tâm và cần phải giải quyết ở quy

mô toàn cầu Người ta phân biệt 9 vấn đề chính như sau:

- Sự nóng dần lên của trái đất;

- Sự suy thoái tầng ozon;

- Sự vận chuyển xuyên biên giới các chất thải nguy hiểm;

- Sự ô nhiễm biển và đại dương;

- Sự hoang mạc hoá;

- Sự suy giảm nhanh đa dạng sinh học;

- Mưa axit;

- Sự phá huỷ rừng nhiệt đới;

- Ô nhiễm môi trường ở các nước đang phát triển

Khi đề cập đến những vấn đề môi trường toàn cầu, cần chú ý đến ba đặc điểmsau:

Trang 5

- Là những vấn đề lớn về mặt không gian, thời gian và tác động của chúng cóthể kéo dài qua các thế hệ.

- Những vấn đề này không phải tách biệt và độc lập nhưng có quan hệ với nhaurất phức tạp Ví dụ: việc chặt phá và đốt rừng làm nương rẫy sẽ phá huỷ rừng, làm suygiảm tài nguyên đa dạng sinh học vì môi trường sống của sinh vật bị phá hủy Việcchặt phá và đốt rừng lại có tác động kép làm tăng lượng CO2 trong khí quyển: CO2 sinh

ra do đốt cây và lượng CO2 trong khí quyển tăng lên do giảm sự hấp thụ CO2 khi diệntích rừng bị giảm Một ví dụ khác của mối quan hệ phức tạp này là khi đốt các nhiênliệu hóa thạch như là dầu và than sẽ làm tăng lượng CO2 gây ra hiệu ứng nhà kính,đồng thời các khí NOx và SO2 sinh ra khi đốt sẽ góp phần gây ra mưa axit kéo theo sựhủy hoại rừng và các động thực vật và còn nhiều mối quan hệ phức tạp khác

- Những vấn đề môi trường toàn cầu phần lớn do chính con người là thủ phạmgây ra và cũng chính họ là những nạn nhân của các ảnh hưởng và tác hại của chúng.Con người đang sản xuất, tiêu thụ tài nguyên và loại thải một lượng lớn chất thải; đồngthời cũng đòi hỏi một lượng lớn về tài nguyên và năng lượng phục vụ cho việc sảnxuất, tiêu thụ và loại thải chúng Đây là một trong những nguyên nhân chính của cácvấn nạn Môi trường toàn cầu

1.1.2 Khái niệm luật môi trường

Xuất phát từ phạm vi của luật môi trường, có thể khái niệm về luật môi trườngnhư sau: “Luật môi trường là lĩnh vực pháp luật chuyên ngành bao gồm các quy phạmpháp luật, các nguyên tắc pháp lý điều chỉnh các quan hệ phát sinh giữa các chủ thểtrong quá trình khai thác, sử dụng hoặc tác động đến một hoặc một vài yếu tố của môitrường trên cơ sở kết hợp các phương pháp điều chỉnh khác nhau nhằm bảo vệ mộtcách có hiệu quả môi trường sống của con người”

Khái niệm trên đây của luật môi trường cho thấy cần phải nhận thức rõ mộtnguyên tắc cơ bản như sau: các quan hệ xã hội phát sinh thuộc phạm vi tác động củaluật môi trường phải gắn với việc bảo vệ môi trường sống của con người Điều này cónghĩa là không phải bất cứ sự tác động nào của các chủ thể vào các yếu tố của môitrường cũng làm phát sinh quan hệ pháp luật môi trường Các vấn đề pháp luật môitrường chỉ nảy sinh khi nào sự tác động đó gây tổn hại hoặc có nguy cơ gây tổn hại đếnmôi trường Ví dụ, xung quanh yếu tố môi trường là đất đai có nhiều mối quan hệ

Trang 6

Quan hệ sở hữu hay quan hệ sử dụng đất, quan hệ thương mại, quan hệ dân sự, quan hệhành chính Người sử dụng đất có thể có nhiều tác động đối với đất trồng như trồngcây, xây dựng công trình, đào ao,… Những tác động này có thể làm nảy sinh các quan

hệ khác nhau và tùy vào tính chất sẽ thuộc phạm vi điều chỉnh của các lĩnh vực phápluật khác nhau Tuy nhiên, nếu người sử dụng đất chôn vào lòng đất những hóa chấtđộc hại gây ô nhiễm cho môi trường xung quanh thì quan hệ phát sinh từ hành vi nàythuộc phạm vi điều chỉnh của luật môi trường (ví dụ: vụ chôn hóa chất độc hại tạikhuôn viên Công ty cổ phần Nicotex Thanh Thái, nhà máy đặt tại địa bàn 2 huyện YênĐịnh và Cẩm Thủy, Thanh Hóa) Rõ ràng, người sử dụng đất không hề vi phạm sở hữucủa người khác, không vi phạm hợp đồng với bất kỳ ai, không xâm phạm trực tiếp đếnlợi ích vật chất của bất cứ chủ thể cụ thể nào Thế nhưng điều rất dễ nhận thấy là tácđộng này đã làm cho môi trường sống bị ô nhiễm, quyền của cộng đồng được hưởngmôi trường sống an toàn, trong lành bị xâm hại Những ví dụ tương tự có thể đưa ra vớicác thành phần khác của môi trường như: nước, không khí Việc đổ chất thải ra đạidương thoạt nhìn không liên quan đến bất cứ quốc gia hay cộng đồng nào Thực tế, tất

cả các quốc gia kể cả quốc gia không có biển cũng đứng trước nguy cơ bị tổn hại vìhành vi đổ chất thải ra đại dương

Các quan hệ xã hội mà các quy phạm pháp luật môi trường điều chỉnh có thểđược phân loại theo các nhóm sau:

- Các quan hệ giữa một bên là các cá nhân, tổ chức với một bên là nhà nước

phát sinh từ hoạt động quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường Các quan hệ này chứađựng những yếu tố của quan hệ pháp luật hành chính và chính vì thế có quan điểm chorằng luật môi trường thuộc nhóm luật hành chính Những quan hệ này bao gồm:

+ Quan hệ phát sinh từ hoạt động đánh giá tác động môi trường

+ Quan hệ phát sinh từ hoạt động thanh tra việc thực hiện pháp luật và chínhsách môi trường

+ Quan hệ phát sinh từ việc xử lý vi phạm pháp luật môi trường

- Quan hệ phát sinh giữa các tổ chức, cá nhân với nhau do thỏa thuận ý chí của

các bên Đặc trưng của quan hệ này là sự thỏa thuận, sự bình đẳng Các bên trong mốiquan hệ này thực hiện các quyền của mình trong lĩnh vực môi trường một cách bìnhđẳng trong khuôn khổ pháp luật Trong lĩnh vực môi trường, mối quan hệ này ngày

Trang 7

càng trở nên phổ biến hơn do khả năng định hướng hành vi chủ thể thông qua khôngphải là chế tài, hình phạt mà là các lợi ích kinh tế Luật môi trường trong bối cảnh đócần chú trọng hơn các giải pháp điều chỉnh thông qua các lợi ích kinh tế Ví dụ điểnhình cho sự phát triển của mối quan hệ này là nhiều nước đã chuyển sang mua bánquota chất thải, hay việc mua bán chứng chỉ giảm phát thải CERs (Certified EmissionReductions), 1CER = 1 tấn CO2 …

Các mối quan hệ mang tính chất dân sự thương mại như thế trong lĩnh môitrường bao gồm:

+ Quan hệ về bồi thường thiệt hại do việc gây ô nhiễm, suy thoái hay sự cố môitrường gây nên

+ Quan hệ phát sinh từ việc hợp tác khắc phục thiệt hại do ô nhiễm,suy thoáihoặc sự cố môi trường gây ra

+ Quan hệ phát sinh từ việc giải quyết tranh chấp môi trường

+ Quan hệ trong lĩnh vực phối hợp đầu tư vào các công trình bảo vệ môi trường

1.1.3 Các nguyên tắc chủ yếu của Luật môi trường

Các nguyên tắc của luật môi trường nêu dưới đây cần được phân biệt với cácnguyên tắc cụ thể được áp dụng trong các chế định hay nhóm quan hệ khác nhau của

nó Các nguyên tắc nêu dưới đây chi phối một cách toàn diện các quan hệ phát sinhviệc bảo vệ môi trường Những nguyên tắc hoặc những quy phạm pháp luật điều chỉnhđối với từng nhóm quan hệ luật môi trường cần pahri được ban hành nhằm thực hiệncác nguyên tắc cơ bản này Chẳng hạn, trong quản lý nhà nước về môi trường, cácnguyên tắc tổ chức và vận hành các thể chế nhà nước có chức năng kiểm soát ô nhiễm,bảo tồn thiên nhiên, xử phạt hành chính, các quy phạm điều chỉnh hành vi của tổ chức,

cá nhân đều phải xuất phát từ việc đảm bảo cho người dân được sống trong môi trường

Trang 8

Trong điều kiện đó, quyền sống của con người phải được gắn chặt với môi trường.Tuyên bố của Liên hợp quốc về môi trường đã đưa quyền con người được sống trongmôi trường trong lành thành một nguyên tắc của quan hệ giữa các quốc gia Nguyên tắc

số 1 của Tuyên bố Stockholm nêu rõ: “Con người có quyền cơ bản được sống trong một môi trường chất lượng, cho phép cuộc sống có phẩm giá và phúc lợi mà con người

có trách nhiệm trong bảo vệ, cải thiện cho thế hệ hôm nay và mai sau” Tuyên bố tại hội nghị thượng đỉnh ở Rio de Janeiro cũng khẳng định: “con người là trung tâm của các mối quan hệ về sự phát triển lâu dài Con người có quyền được hưởng một cuộc sống hữu ích, lành mạnh và hài hòa với thiên nhiên”.

Nguyên tắc này chi phối việc xây dựng pháp luật và chính sách của hầu hết cácquốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam

b Tính thống nhất trong quản lý và bảo vệ môi trường

Môi trường là một thể thống nhất của nhiều yếu tố vật chất khác nhau Vì vậy,trong quản lý và bảo vệ môi trường cần sự thống nhất và điều này được coi như là mộtnguyên tắc của luật môi trường Nguyên tắc đảm bảo tính thống nhất trong quản lý môitrường được xác định trong Điều 63 Hiến pháp năm 2013

Sự thống nhất của môi trường: được thể hiện ở 2 khía cạnh Khía cạnh thứ nhất

là sự thống nhất về không gian: môi trường không bị chia cắt bởi biên giới quốc gia,địa giới hành chính Bởi vì, thiệt hại về môi trường không chỉ giới hạn trong một quốc

gia Khía cạnh thứ 2 là sự thống nhất nội tại giữa các yếu tố cấu thành môi trường:

Giữa các yếu tố cấu thành môi trường luôn có quan hệ tương tác với nhau, yếu tố nàythay đổi dẫn đến sự thay đổi của yếu tố khác Ví dụ: sự thay đổi của rừng trên các lưuvực sông dẫn đến sự thay đổi về số lượng và chất lượng của nước trong lưu vực

c Nguyên tắc phát triển bền vững

Thuật ngữ “Phát triển bền vững” được nêu tại Hội nghị của LHQ về môi trường

và Phát triển tại Rio De Janeiro (Brazin) năm 1992 với 179 nước tham gia đã thông qua

27 nguyên tắc cơ bản và Chương trình Nghị sự 21 (Agenda 21) về giải pháp phát triểnbền vững chung cho toàn thế giới trong thế kỷ 21

Trang 9

Sau 10 năm, Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất tại Jophannesburg (Nam Phi) năm

2002 về Phát triển bền vững với 166 nước tham gia đã thông qua Tuyên bốJophannesburg và Bản Kế hoạch thực hiện phát triển bền vững

Khái niệm phát triển bền vững

Theo khoản 4, Điều 3, Luật BVMT 2014, phát triển bền vững được định nghĩalà: phát triển đáp ứng được nhu cầu của hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năngđáp ứng nhu cầu đó của các thế hệ tương lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữatăng trưởng kinh tế, bảo đảm tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường

Nói cách khác, phát triển bền vững chính là phát triển trên cơ sở duy trì đượcmục tiêu và cơ sở vật chất của quá trình phát triển Muốn vậy cần phải có sự tiếp cậnmang tính tổng hợp và bảo đảm sự kết hợp hài hòa giữa các mục tiêu; kinh tế-xã hội-môi trường

Tuy còn nhiều vấn đề tranh cãi về định nghĩa “phát triển bền vững”, song đã có

sự thống nhất cao là đều tập trung chú ý tới phúc lợi lâu dài của con người và đều baohàm những yêu cầu về sự phối hợp một cách hài hòa ít nhất 3 mặt: (1) tăng trưởng kinh

tế, (2) công bằng xã hội, (3) bảo vệ môi trường Ngoài ba mặt chủ yếu này, nhiều ngườicòn đề cập đến những khía cạnh khác của phát triển bền vững như chính trị, văn hóa,tinh thần, dân tộc và đòi hỏi phải tính toán và cân đối chúng trong khi hoạch định chiếnlược và chính sách phát triển kinh tế - xã hội cho từng quốc gia, từng địa phương cụthể

Yêu cầu của nguyên tắc:

- Kết hợp hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm tiến bộ xã hội và bảo vệmôi trường (báo cáo Brundland, nguyên tắc 13 của tuyên bố Stockholm, nguyên tắc 4của tuyên bố Rio De Janeiro)

- Hoạt động trong sức chịu đựng của trái đất, cụ thể ở 2 lĩnh vực khai thác tàinguyên và xả thải phải trong giới hạn, trong khả năng tự làm sạch của môi trường

- Trong lĩnh vực xả thải: phải xả thải trong khả năng tự làm sạch của trái đất(khả năng tự phân hủy các chất thải vào môi trường)

Nguyên tắc Phát triển bền vững

Trang 10

Để xây dựng một xã hội phát triển bền vững, Chương trình Môi trường Liên hợpquốc đã đề ra 9 nguyên tắc:

1 Tôn trọng và quan tâm đến cuộc sống cộng đồng

2 Cải thiện chất lượng cuộc sống của con người

3 Bảo vệ sức sống và tính đa dạng của Trái đất

4 Quản lý những nguồn tài nguyên không tái tạo được

5 Tôn trọng khả năng chịu đựng được của Trái đất

6 Thay đổi tập tục và thói quen cá nhân

7 Để cho các cộng đồng tự quản lý môi trường của mình

8 Tạo ra một khuôn mẫu quốc gia thống nhất, thuận lợi cho việc phát triển vàbảo vệ

9 Xây dựng một khối liên minh toàn cầu

d Nguyên tắc phòng ngừa (phương châm)

Môi trường khác với các hiện tượng xã hội khác ở chỗ khả năng phục hồi hiệntrạng hoặc là không thể thực hiện được hoặc rất khó khăn, tốn kém và mất nhiều thờigian Vì vậy, ngăn ngừa những hành vi gây hại cần được chú trọng hơn so với việc ápdụng các hình phạt hoặc chế tài khác

Như vậy, phòng ngừa là gì? Phòng ngừa chính là việc chủ động ngăn chặn rủi rođối với môi trường khi chưa xảy ra vì hai lý do chính:

- Chi phí phòng ngừa bao giờ cũng nhỏ hơn chi phí khắc phục.

- Có những tổn hại gây ra cho môi trường là không thể khắc phục được mà chỉ

có thể phòng ngừa (tuyệt chủng)

Yêu cầu của nguyên tắc:

- Lường trước những rủi ro mà con người và thiên nhiên có thể gây ra cho môi

trường

- Đưa ra những phương án, giải pháp để giảm thiểu rủi ro, loại trừ rủi ro.

e Nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền

Trang 11

Cơ sở xác lập: coi môi trường là một loại hàng hóa đặc biệt, tức là người gây

hậu quả, tác động xấu đến môi trường thì phải trả tiền (mua quyền khai thác, sử dụngmôi trường)

Ưu điểm của công cụ tài chính trong BVMT: người phải trả tiền theo nguyên tắcnày là người gây ô nhiễm hiểu theo nghĩa rộng bao gồm: người khai thác, sử dụng tàinguyên thiên nhiên; người có hành vi xả thải vào môi trường; người có những hành vikhác gây tác động xấu tới môi trường theo quy định của pháp luật

Mục đích của nguyên tắc:

- Định hướng hành vi tác động của các chủ thể vào môi trường theo hướngkhuyến khích những hành vi tác động có lợi cho môi trường thông qua việc tác độngvào chính lợi ích kinh tế của họ

- Bảo đảm sự công bằng trong hưởng dụng và BVMT (điều này cũng có nghĩa là

Ai gây ô nhiễm nhiều trả tiền nhiều, ai gây ô nhiễm ít trả tiền ít, ai không gây ô nhiễmthì không trả tiền)

- Tạo nguồn kinh phí cho hoạt động BVMT (thu ngân sách).

Yêu cầu của nguyên tắc:

- Tiền phải trả cho hành vi gây ô nhiễm phải tương xứng với tính chất và mức

độ gây tác động xấu tới môi trường (ngang giá)

- Tiền phải trả cho hành vi gây ô nhiễm phải đủ sức tác động đến lợi ích và

hành vi của các chủ thể có liên quan.(vì nếu không thì không có tác dụng gì để có thểhạn chế, răn đe hành vi gây ô nhiễm môi trường tiếp tục xảy ra)

Các hình thức trả tiền theo nguyên tắc

- Hình thức thứ 1: Thuế tài nguyên (Pháp lệnh Thuế tài nguyên): tiền phải trả

cho việc khai thác TNTN như: nước, rừng, khoáng sản, thủy sản, …hoặc một công tymua quyền độc quyền khai thác một loại thủy sản nào đó

- Hình thức thứ 2: thuế môi trường (Điều 112 LBVMT): tiền phải trả cho hành

vi gây tác động xấu đến môi trường

- Hình thức thứ 3: phí bảo vệ môi trường (Điều 113 LBVMT) Ví dụ: nộp phí

BVMT đối với nước thải theo NĐ 67/2003/NĐ-CP, Nộp phí BVMT đối với khai tháckhóang sản theo NĐ 137/2005/NĐ-CP…

Trang 12

- Hình thức thứ 4: tiền phải trả cho việc sử dụng dịch vụ (dịch vụ thu gom rác,

dịch vụ quản lý chất thải nguy hại…)

- Hình thức thứ 5: tiền phải trả cho việc sử dụng cơ sở hạ tầng ( tiền thuê kết

cấu hạ tầng trong khu công nghiệp bao gồm cả tiền thuê hệ thống xử lý chất thải tậptrung…)

- Hình thức thứ 6: chi phí phục hồi môi trường trong khai thác tài nguyên

1.1.4 Vai trò của luật trong bảo vệ môi trường

Vai trò của pháp luật trong bảo vệ môi trường có vị trí đặc biệt quan trọng Môitrường bị hủy hoại chủ yếu do các hoạt động của con người trong quá trình phát triểncủa chính mình Do vậy, hơn bất kỳ biện pháp nào khác, việc tác động, điều chỉnh cáchành vi của con người sẽ là biện pháp có hiệu quả nhất trong bảo vệ môi trường

Vai trò của pháp luật trong bảo vệ môi trường thể hiện qua những khía cạnh sau:

- Pháp luật quy định các quy tắc xử sự mà con người phải thực hiện khi khai

thác và sử dụng các yếu tố của môi trường Môi trường vừa là điều kiện sống, vừa làđối tượng của sự tác động hàng này của con người Sự tác động của con người làmbiến đổi rất nhiều tình trạng của môi trường theo chiều hướng tiêu cực, làm suy thoáicác yếu tố thành phần môi trường Trong một mối quan hệ hữu cơ giữa con người vàmôi trường, con người sẽ phải chịu những tác động bất lợi từ phía môi trường Chính vì

lý do đó, việc khai thác có định hướng, có tính đến sự cân bằng của môi trường có tácdụng rất lớn trong bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, môi trường

Trang 13

- Pháp luật quy định các chế tài hình sự, hành chính, kinh tế để buộc các cá

nhân, tổ chức phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của mình với môi trường Việc đưa racác tiêu chuẩn để định hướng các hành vi khai thác các thành phần môi trường có ýnghĩa quan trọng

- Pháp luật quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các tổ chức bảo vệ

môi trường Bảo vệ môi trường là một công việc khó khăn và phức tạp Nhiều yếu tốcủa môi trường có phạm vi rộng lớn, có cấu tạo phức tạp nên việc bảo vệ chúng đòi hỏiphải có hệ thống các tổ chức thích hợp Thông qua pháp luật, nhà nước tạo ra cơ chếhoạt động cho các tổ chức bảo vệ môi trường

- Pháp luật quy định các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về môi trường mà

thông qua pháp luật, chúng trở thành những tiêu chuẩn pháp lý mà tất cả các cá nhân,

tổ chức trong xã hội phải tuân theo khi khai thác, sử dụng các thành phần của môitrường

- Pháp luật giải quyết các tranh chấp liên quan đến môi trường, sử dụng các

thành phần môi trường và bảo vệ môi trường

1.2 Những vấn đề cơ bản về pháp luật

1.2.1 Nguồn gốc của pháp luật

Theo học thuyết của Mác – Lênin về nhà nước và pháp luật, pháp luật cũnggiống như nhà nước, cùng xuất hiện, cùng tồn tại, cùng phát triển và cùng tiêu vongtrong những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định Nguồn gốc của pháp luật thể hiện ởnhững nội dung sau: Trong xã hội công xã nguyên thủy không có pháp luật, nhưng đãtồn tại những quy tắc xử sự chung thống nhất Những quy tắc đó là các quy phạm xãhội, thể hiện ý chí chung của tất cả các thành viên trong xã hội Những quy phạm xãhội này đã phản ánh đúng trình độ phát triển kinh tế - xã hội của chế độ công xãnguyên thủy, để điều chỉnh các quan hệ xã hội lúc đó

Những nguyên nhân dẫn đến sự ra đời của nhà nước cũng chính là nhữngnguyên nhân ra đời của pháp luật Khi chế độ tư hữu xuất hiện và xã hội đã phân chiathành giai cấp đối kháng nhau thì những tập quan đó không còn phù hợp nữa, vì tậpquán thể hiện ý chí chung của mọi người trong thị tộc Trong điều kiện lịch sử mới, khinhững xung đột giai cấp diễn ra gay gắt và không thể điều hòa được, thì cần thiết phải

có một loại quy phạm mới thể hiện ý chí của giai cấp thống trị, đó là quy phạm pháp

Trang 14

luật Nhà nước thừa nhận hay đặt ra các quy phạm pháp luật nhằm điều chỉnh các quan

hệ xã hội Tuy nhiên, trong lịch sử khoa học pháp lý, cũng có những quan điểm khácnhau về nguồn gốc của pháp luật như thuyết thần học, thuyết pháp luật tự nhiên, thuyếtpháp luật linh cảm…

1.2.2 Bản chất của pháp luật

a Tính giai cấp của pháp luật

Pháp luật là sử phản ánh ý chí của giai cấp thống trị Nhờ nắm trong tay quyềnlực nhà nước, giai cấp thống trị đã thể hiện ý chí của mình một cách tập trung, thốngnhất và thể chế hóa thành pháp luật Trong xã hội có giai cấp tồn tại nhiều loại quyphạm khác nhau, thể hiện ý chí và nguyện vọng của các giai cấp, các lực lượng xã hộikhác nhau, nhưng chỉ có một hệ thống pháp luật thống nhất chung cho toàn xã hội

Tính giai cấp của pháp luật còn thể hiện ở mục đích điều chỉnh các quan hệ xãhội Mục đích của pháp luật trước hết nhằm điều chỉnh quan hệ giữa các giai cấp, tầnglớp trong xã hội, là công cụ để thực hiện sự thống trị giai cấp

Bản chất giai cấp là thuộc tính chung của bất kỳ kiểu pháp luật nào, nhưng mỗikiểu pháp luật lại có đặc điểm riêng và cách biểu hiện không giống nhau khi thể hiệnbản chất của giai cấp thống trị Pháp luật chủ nô công khai quy định quyền lực vô hạncủa chủ nô Pháp luật phong kiến công khai quy định đặc quyền, đặc lợi của địa chủphong kiến Pháp luật tư sản quy định về mặt pháp lý những quyền tự do, dân chủ.Pháp luật xã hội chủ nghĩa thể hiện ý chí của giai cấp công nhân và nhân dân lao động,

là công cụ để xây dựng một xã hội mới

b Tính xã hội của pháp luật

Vì pháp luật do nhà nước ban hành, mà nhà nước là tổ chức duy nhất đại diệnchính thức cho xã hội trong những giai đoạn phát triển nhất định, nên nó còn mang tính

xã hội Điều đó thể hiện ở chỗ ý chí của giai cấp, tầng lớp khác trong xã hội được thểhiện ở mức độ nhất định trong pháp luật tùy thuộc vào điều kiện kinh tế, xã hội, đườnglối và các trào lưu chính trị trong mỗi quốc gia, ở mỗi thời kỳ nhất định

Như vậy, pháp luật là một hiện tượng vừa mang tính giai cấp, vừa mang tính xãhội Tính giai cấp và tính xã hội của pháp luật có mối liên hệ mật thiết với nhau, tácđộng qua lại lẫn nhau, nhưng luôn thể hiện ý chí của giai cấp thống trị, là sản phẩm củacuộc đấu tranh giai cấp và là công cụ sắc bén để thực hiện quyền lực của nhà nước, duy

Trang 15

trì địa vị của giai cấp thống trị và bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị Nhà nước banhành ra pháp luật và bảo đảm cho pháp luật được thực hiện bằng lực lượng vật chất donhà nước thiết lập ra.

1.2.3 Các thuộc tính của pháp luật

a Tính quy phạm phổ biến

Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự, đó là những khuôn mẫu được xác định

cụ thể Tính quy phạm của pháp luật nói lên giới hạn cần thiết mà nhà nước quy định

để mọi chủ thể có thể xử sự trong phạm vi quy định Vượt quá giới hạn đó là vi phạmpháp luật Như vậy, đòi hỏi phải có những quy phạm cụ thể để căn cứ vào đó xem xéthành vi nào là trái luật, là vi phạm pháp luật; hành vi nào là đúng luật, là hợp pháp

b Tính xác định chặt chẽ về mặt hình thức

Khác với những quy phạm xã hội như tập quán, đạo đức, tôn giáo… không phảibao giờ cũng được xác định thành văn, nội dung của các quy tắc, khuôn mẫu trongpháp luật được quy định rõ ràng, chính xác và chặt chẽ trong các điều khoản của phápluật Mọi chủ thể đều tuân theo một khuôn mẫu chung, thống nhất

Tính xác định chặt chẽ về mặt hình thức còn thể hiện trong các hình thức vănbản quy phạm pháp luật

Hình thức văn bản quy phạm pháp luật của nhà nước ta hiện nay được thực hiệntheo Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 12/11/1996 đã được sửa đổi bổsung ngày 16/12/2002 và Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồngnhân dân, Ủy ban nhân dân ngày 03/12/2004

c Tính bắt buộc chung

Pháp luật được áp dụng bắt buộc đối với mọi người, mọi chủ thể, không phụthuộc vào ý muốn chủ quan của mỗi cá nhân, tổ chức Tất cả mọi người, mọi chủ thểkhông phân biệt giàu nghèo, địa vị xã hội… đều phải tuân thủ pháp luật như nhau.Thông thường, nhà nước bảo đảm thực hiện pháp luật bằng hai cách:

- Nhà nước tạo điều kiện giúp đỡ bằng các biện pháp giáo dục, hướng dẫn,

khuyến khích, tổ chức, cung cấp cơ sở vật chất hoặc các hình thức khác để các chủ thể

tự mình thực hiện pháp luật

Trang 16

- Nhà nước đảm bảo những biện pháp chế tài đã được quy định trong các văn

bản quy phạm pháp luật bằng cách thực hiện sự cưỡng chế, nếu không được chủ thể tựnguyện thực hiện

1.2.4 Vi phạm pháp luật

a Khái niệm và dấu hiệu vi phạm pháp luật

- Khái niệm: vi phạm pháp luật là hành vi trái pháp luật và có lỗi do chủ thể có

năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện, xâm hại đến các quan hệ xã hội được pháp luậtbảo vệ

- Dấu hiệu của vi phạm pháp luật: hành vi vi phạm pháp luật phải có đủ những

dấu hiệu cơ bản sau:

+ Vi phạm pháp luật phải là hành vi xác định của cá nhân, pháp nhân và các chủthể khác Hành vi (hành vi có thể ở dạng hành động hoặc không hành động) được hiểu

là những biểu hiện ra bên ngoài của chủ thể, là sự tỏ bày ý muốn, là những suy nghĩ, tưtưởng đã được vật chất hóa, đã biểu hiện thành các hành vi cụ thể

+ Vi phạm pháp luật là hành vi trái với những quy định của pháp luật, xâm hạiđến những quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ Hành vi trái pháp luật là những hành

vi được thực hiện không đúng với những quy định của pháp luật Như vậy, chỉ khi cóquy định của pháp luật mà không được các chủ thể có năng lực hành vi nhất định thựchiện đúng, thì mới có vi phạm pháp luật xảy ra

+ Tính có lỗi của vi phạm pháp luật Lỗi là sự thể hiện thái đội tâm lý của chủthể đối với hành vi trái pháp luật của mình và đối với hậu quả do hành vi trái pháp luật

đó gây ra Lỗi là yếu tố chủ quan không thể thiếu được để xác định vi phạm pháp luật,

vì nếu một hành vi trái pháp luật được thực hiện trong những hoàn cảnh và điều kiệnkhách quan, nhưng về mặt chủ quan, hành vi không thể ý thức được, nên không thể cócách lựa chọn nhất định theo quy định của pháp luật thì hành vi đó không có lỗi và nhưthế, không thể là vi phạm pháp luật

+ Chủ thể thực hiện hành vi trái pháp luật phải có năng lực trách nhiệm pháp lý.Năng lực chịu trách nhiệm pháp lý và khả năng nhận thức và điều khiển được hành vicủa mình và chịu trách nhiệm về hành vi đó Như vậy, những hành vi do người mắcbệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác nhau làm mất khả năng nhận thức và điều khiểnhành vi của mình hay do người chưa đến tuổi chịu trách nhiệm pháp lý theo quy định

Trang 17

của pháp luật, thì mặc dù hành vi đó trái pháp luật, cũng không thể coi là vi phạm phápluật.

b Các loại vi phạm pháp luật

Vi phạm pháp luật trong xã hội rất đa dạng và phức tạp, theo quan điểm củakhoa học pháp lý hiện nay, vi phạm pháp luật được phân chia thành bốn loại cơ bảnnhư sau:

Theo nghĩa thứ nhất, trách nhiệm pháp lý được hiểu đó là những yêu cầu củapháp luật đối với các chủ thể khi tham gia vào các quan hệ pháp luật nhất định

Theo nghĩa thứ hai, trách nhiệm pháp lý được hiểu là sự phản ứng của nhà nướcđối với các chủ thể vi phạm luật vì đã không lựa chọn cách xử sự phù hợp với các yêucầu của pháp luật mặc dù có khả năng và điều kiện để lựa chọn, nên phải chịu tráchnhiệm về hành vi của mình, phải gánh chịu những hậu quả pháp lý bất lợi, chịu sựtrừng phạt của nhà nước…

Trách nhiệm pháp lý chỉ do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng đốivới các chủ thể vi phạm pháp luật trong khuôn khổ pháp luật quy định Truy cứu tráchnhiệm pháp lý tức là các cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng các biện phápcưỡng chế nhà nước đã được quy định trong pháp luật

Như vậy, trách nhiệm pháp lý là một quan hệ pháp luật đặc biệt giữa nhà nướcvới các chủ thể vi phạm pháp luật, trong đó, chủ thể vi phạm pháp luật phải gánh chịu

Trang 18

những hậu quả bất lợi, những biện pháp cưỡng chế nhà nước được quy định trong chếtài của các quy phạm pháp luật.

Các loại trách nhiệm pháp lý: tương ứng với bốn loại vi phạm pháp luật là bốn

loại trách nhiệm pháp lý như sau:

- Trách nhiệm hình sự: là loại trách nhiệm pháp lý nghiêm khắc nhất do Tòa án

áp dụng đới với những cá nhân có hành vi phạm tội theo quy định của pháp luật

- Trách nhiệm hành chính: trách nhiệm hành chính là loại trách nhiệm do cơ

quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng đối với các chủ thể (cá nhân, tổ chức, pháp nhân

và các chủ thể khác) vi phạm pháp luật hành chính theo quy định của pháp luật

- Trách nhiệm dân sự: là loại trách nhiệm pháp lý do Tòa án áp dụng đối với

các chủ thể (cá nhân, tổ chức, pháp nhân và các chủ thể khác) vi phạm pháp luật dân sựkhi có yêu cầu của các đương sự theo quy định của pháp luật

- Trách nhiệm kỷ luật: là trách nhiệm do thủ trưởng các cơ quan, tổ chức, đơn

vị áp dụng đối với thành viên của các cơ quan, tổ chức đó khi những người này viphạm những quy định trong điều lệ, quy chế, nội quy, quy định… của cơ quan, tổ chức,đợn vị mình

d Quan hệ pháp luật

- Khái niệm: trong cuộc sống, con người luôn luôn tham gia vào những quan

hệ rất đa dạng và phong phú, đó là quan hệ gia đình, bạn bè, quan hệ lao động, quan hệtài sản, quan hệ nhân thân, quan hệ chính trị, quan hệ đạo đức… Các quan hệ đó có thểphát sinh trong hoạt động sản xuất, kinh doanh hoặc trong các hoạt động chính trị, kinh

tế, văn hóa… là những quan hệ xã hội Trong lịch sử, người ta đã dùng nhiều loại quytắc xử sự khác nhau (quy phạm xã hội) để điều chỉnh các quan hệ xã hội, có thể là quyphạm đạo đức, phong tục, tập quán hoặc các quy phạm pháp luật

Tuy nhiên, trong hệ thống các quy phạm xã hội, quy phạm pháp luật điều chỉnhquan hệ xã hội có hiệu quả cao nhất Vì quy phạm pháp luật được đảm bảo thực hiệnbằng biện pháp cưỡng chế nhà nước, trong khi các quy phạm xã hội khác nhìn chungđược thực hiện theo sự tự nguyện, tự giác của các chủ thể tham gia chứ không có biệnpháp cưỡng chế bắt buộc thực hiện bằng lực lượng vật chất của nhà nước Không phải

là mọi quan hệ xã hội đều do pháp luật điều chỉnh mà chỉ những quan hệ xã hội quantrọng, ảnh hưởng đến sự thống trị của giai cấp thống trị xã hội mà nhà nước thấy cần

Trang 19

phải điều chỉnh bằng pháp luật mới quy định cách xử sự, quy định các quyền, nghĩa vụ,trách nhiệm các bên trong quan hệ.

Như vậy, quan hệ pháp luật là những quan hệ xã hội quan trọng được các quy phạm pháp luật điều chỉnh thông qua sự kiện pháp lý.

- Đặc điểm:

+ Quan hệ pháp luật là quan hệ xã hội có ý chí

+ Quan hệ pháp luật xuất hiện trên cơ sở quy phạm pháp luật

+ Quan hệ pháp luật là quan hệ mà các bên tham gia quan hệ đó mang quyền vànghĩa vụ pháp lý, là nội dung của quan hệ pháp luật

+ Việc thực hiện quan hệ pháp luật được đảm bảo bằng sự cưỡng chế của nhànước

- Cấu trúc của quan hệ pháp luật: quan hệ pháp luật được cấu thành bởi 3 yếu

tố: chủ thể của quan hệ pháp luật, nội dung của quan hệ pháp luật, khách thể của quan

hệ pháp luật

+ Chủ thể của quan hệ pháp luật: là các bên tham gia vào mối quan hệ pháp luật

có năng lực chủ thể để thực hiện các quyền chủ thể và nghĩa vụ pháp lý trong quan hệ

đó Các tổ chức, cá nhân hoặc các chủ thể khác thỏa mãn những điều kiện theo quyđịnh của pháp luật cho mỗi loại quan hệ thì có thể trở thành chủ thể của quan hệ phápluật đó Khi các chủ thể có đủ những điều kiện theo quy định của pháp luật cho mỗiloại quan hệ thì được coi là có năng lực chủ thể Năng lực chủ thể bao gồm: năng lựcpháp luật và năng lực hành vi Năng lực pháp luật là khả năng có quyền và nghĩa vụpháp lý được nhà nước quy định cho các chủ thể nhất định Năng lực hành vi là khảnăng mà nhà nước thừa nhận cho các chủ thể khi có những điều kiện nhất định, có thểbằng chính những hành vi của mình có thể tham gia vào các quan hệ pháp luật nhấtđịnh và chịu trách nhiệm về việc thực hiện các hành vi đó, xác lập và thực hiện trênthực tế quyền và các nghĩa vụ pháp lý trong quan hệ pháp luật tham gia

+ Nội dung của quan hệ pháp luật: nội dung của quan hệ pháp luật bao gồmquyền và nghĩa vụ pháp lý của các chủ thể khi tham gia quan hệ pháp luật

Quyền của chủ thể: là cách xử sự mà pháp luật cho phép chủ thể của quan hệ đótiến hành

Trang 20

Nghĩa vụ pháp lý của chủ thể: là cách xử sự bắt buộc mà chủ thể trong quan hệpháp luật phải tiến hành nhằm đáp ứng việc thực hiện quyền của chủ thể khác

+ Khách thể của quan hệ pháp luật: là cái mà các bên tham gia quan hệ pháp luậthướng tới để tác động, là những lợi ích mà các chủ thể trong quan hệ pháp luật hướngtới

1.3 Khái quát sự phát triển của luật môi trường Việt Nam

Luật môi trường là ngành khoa học mới đối với phần lớn các quốc gia đang pháttriển trên thế giới Điều này có lý do của riêng nó Pháp luật với tư cách là công cụ điềutiết xã hội luôn luôn chịu sự chi phối của nhu cầu xã hội Khi việc BVMT chưa được ýthức rõ, chưa trở thành thách thức xã hội thì luật môi trường chưa được chú ý Trongsuốt thế kỷ XIX và nửa đầu thế kỷ XX, khi sự phát triển kinh tế là động lực phát triểncủa các quốc gia thì tài nguyên, môi trường không phải là vấn đề quan trọng Các quốcgia sẵn sàng khai thác hết tài nguyên để phát triển Môi trường chưa phải là thử tháchkhi vấn đề phát triển, vấn đề dân số chưa đạt tới sự báo động Chỉ đến khi tất cả cácquốc gia phải đối mặt với sự cạn kệt các nguồn tài nguyên, sự mất cân bằng sinh thái

và những sự trả thù khốc liệt của thiên nhiên thì vấn đề BVMT mới nổi lên như mộtthách thức xã hội Luật môi trường ra đời như là một biện pháp giải quyết thách thức

đó Luật môi trường phát triển sớm ở các nước phát triển - nơi thách thức môi trườngtrở nên quyết liệt do tốc độ công nghiệp hóa, ô nhiễm công nghiệp ở các nước đó Tuynhiên, ở mỗi quốc gia sự thách thức của vấn đề môi trường khác nhau, nhất là khi xemxét ở những thành phần cụ thể của môi trường

Ở Việt Nam, luật môi trường xuất hiện chậm Có thể nói trong hệ thống phápluật hiện hành của Việt Nam thì luật môi trường là lĩnh vực mới nhất Chính vì vậy,lịch sử phát triển của luật môi trường không chứa đựng những sự phân kỳ phức tạp,những giai đoạn thăng trầm như một số lĩnh vực luật khác Quá trình phát triển của luậtmôi trường có thể được chia ra thành hai giai đoạn chính sau đây:

Giai đoạn trước năm 1986:

Giai đoạn này luật môi trường với tư cách là lĩnh vực riêng chưa xuất hiện.Trong giai đoạn này chúng ta khó có thể tìm thấy văn bản pháp luật riêng nào về vấn

đề môi trường Trong giai đoạn này, mặc dù Nhà nước đã có những ý tưởng về việcBVMT song việc thể chế hóa các ý tưởng này chưa được toàn diện mặc dù Chính phủ

Trang 21

cũng đã có những cố gắng nhất định Sắc lệnh số 142/SL do Chủ tịch Hồ Chí Minh kýngày 21/21/1949 quy định việc kiểm soát lập biên bản các hành vi vi phạm pháp luậtbảo vệ rừng có thể được coi là văn bản pháp luật sớm nhất đề cập đến vấn đề môitrường Một số văn bản khác của Chính phủ tuy không chính thức điều chỉnh các vấn

đề môi trường song cũng có thể coi là có liên quan đến các vấn đề môi trường Đó làNghị quyết 36/CP ngày 11/3/1961 của Hội đồng Chính phủ về việc quản lý, bảo vệ tàinguyên dưới lòng đất; chỉ thị số 127/CP ngày 24/5/1971 của Hội đồng Chính phủ vềcông tác điều tra cơ bản tài nguyên và điều kiện thiên nhiên; Chỉ thị số 07/TTg ngày16/1/1964 về thu tiền bán khoán lâm sản và thu tiền nuôi rừng; Nghị quyết số 183/CPngày 25/9/1996 về công tác trồng cây gây rừng và đặc biệt là pháp lệnh bảo vệ tàinguyên rừng ban hành ngày 11/9/1972

Khái quát lịch sử phát triển của luật môi trường Việt Nam trong giai đoạn này,chúng ta có thể rút ra một số đặc điểm sau:

+ Các quy định của pháp luật chỉ liên quan đến một số khía cạnh của BVMTxuất phát từ yêu cầu của quản lý Nhà nước Các quy định này chưa nhằm trực tiếp vàobảo vệ các yếu tố môi trường

+ Các quy định về môi trường hoặc liên quan đến môi trường nằm rải rác trongcác văn bản pháp luật đơn hành được ban hành để điều chỉnh các quan hệ xã hội khácnhau với mục tiêu là đảm bảo sự quản lý chặt chẽ của Nhà nước Khía cạnh môi trườngchỉ là phần thứ yếu, phát sinh trong văn bản đó Chính vì thế, cách tiếp cận mang tínhmôi trường chưa thể hiện đậm nét trong các quy định pháp luật ban hành trong giaiđoạn này

+ Các quy định của pháp luật về môi trường trong thời kỳ này được ban hànhchủ yếu bằng hình thức văn bản dưới luật Ngoại trừ Điều 36 Hiến pháp năm 1980,toàn bộ các quy định còn lại đều được ban hành trong các nghị định, nghị quyết, thông

tư, chỉ thị của Chính phủ

Tình trạng kém phát triển của pháp luật môi tường trong giai đoạn này, đặc biệt

là sự thiếu vắng của luật môi trường trong giai đoạn trước năm 1986 có những lý docủa nó:

+ Trước hết, hoàn cảnh lịch sử của đất nước trong thời kỳ nước năm 1986 khôngcho phép đất nước ta chú ý nhiều đến việc BVMT Tất cả những cố gắng trong thời kỳ

Trang 22

đó đều tập trung cho việc chiến thắng đế quốc Mỹ, giành độc lập dân tộc Tiếp đó, saukhi giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, vấn đề môi trường cũng bị đẩy lùi vềphía sau vì mối quan tâm lớn của Đảng và Nhà nước ta là hàn gắn vết thương chiếntranh, phát triển kinh tế và thoát ra khỏi sự khủng hoảng kinh tế xã hội đang hoànhhành từ thời gian sau chiến tranh đến năm 1986, khi chính sách đổi mới được khởixướng

+ Trong giai đoạn trước năm 1986, các biến động xấu của thiên nhiên do sự hủyhoại môi trường chưa thể hiện ở mức cao Sự ô nhiễm trong các đô thị và vùng nôngthôn chưa đến mức báo động do số lượng ô tô, xe máy, các thiết bị, máy móc chưađược sử dụng nhiều Phân bón, thuốc trức sâu trong sản xuất nông nghiệp cũng được

sử dụng ở mức hạn chế Những lý do đó dẫn đến tình trạng ít người quan tâm đến việcBTMT

+ Hệ thống pháp luật của Việt Nam trước năm 1986 chưa phải là hệ thống phápluật hoàn thiện Cơ chế bao cấp với sự ngự trị của hệ thống chỉ tiêu kế hoạch trong cácquan hệ kinh tế, xã hội đã hạn chế sự phát triển của pháp luật Ngay cả những ngànhluật thiết thực nhất trong thời kỳ đó như luật kinh tế, luật ngân hàng, luật tài chính vẫnkhông phát triển Trong một hệ thống pháp luật như vậy thì sự thiếu vắng của luật môitrường là điều tất yếu

+ Nội dung các quy định của pháp luật môi trường ở giai đoạn này chưa phảnánh và đáp ứng được những đòi hỏi khách quan hợp tác quốc tế trong BVMT Sựtương hợp của các quy định pháp luật mà Nhà nước ta đã ban hành với các công ướcquốc tế còn hạn chế

Giai đoạn từ năm 1986 đến nay:

Với sự ra đời của nền kinh tế thị trường, tốc độ phát triển kinh tế của nước ta đã

có một bước tiến vượt bậc Nhưng cùng với nó là sự suy thoái môi trường Vì chạytheo lợi nhuận, làm giàu bằng mọi giá nên các nguồn tài nguyên của đất nước bị khaithác bừa bãi Nạn dân chúng đua nhau đi khai thác vàng, gỗ quý, đá quý… diễn ra ởquy mô lớn đã làm cho môi trường ở nhiều nơi bị suy thoái nghiêm trọng Quá trình đôthị hóa dưới tác động của kinh tế thị trường diễn ra khá nhanh chóng cũng đã làm giatăng sức ép môi trường ở các thành phố và thị xã, nhất là ở các trung tâm kinh tế lớncủa đất nước Số lượng máy móc, thiết bị, ô tô, xe máy tăng lên gấp nhiều lần so với 10

Ngày đăng: 30/07/2020, 10:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w