Trong phạm vi của nghiên cứu này, chúng tôi khảo sát kỹlưỡng các đặc tính của hệ thống văn bản pháp luật Việt Nam và đề xuất phươngpháp mô hình hóa cho các văn bản và quan hệ giữa chúng.
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ
NGUYỄN HÀ THANH
NGHIÊN CỨU VÀ ĐỀ XUẤT PHƯƠNG PHÁP
MÔ HÌNH HÓA TRI THỨC CHO HỆ THỐNG VĂN BẢN LUẬT
LUẬN VĂN THẠC SỸ CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
HÀ NỘI - 2017
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ
NGUYỄN HÀ THANH
NGHIÊN CỨU VÀ ĐỀ XUẤT PHƯƠNG PHÁP
MÔ HÌNH HÓA TRI THỨC CHO HỆ THỐNG VĂN BẢN LUẬT
LUẬN VĂN THẠC SỸ CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS TS NGUYỄN VIỆT HÀ
HÀ NỘI - 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan công việc trong luận văn này được thực hiện bởi chính tôi.Các số liệu, kết quả được trình bày trong luận văn là hoàn toàn trung thực Tất cảcác tài liệu tham khảo, công trình nghiên cứu, kết quả công việc của người khácđược sử dụng trong đề tài đều được ghi rõ nguồn Nếu như những gì tôi nói trênđây là trái sự thật, tôi xin chịu mọi trách nhiệm theo pháp luật và quy định của nhàtrường
Hà Nội, ngày tháng năm Chữ
ký
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Thực hiện luận văn là việc cá nhân của mỗi học viên cao học để có thể lấybằng Thạc sỹ nhưng để luận văn có được chất lượng tốt và có đóng góp thực tiễncho xã hội thì đó là công sức của nhiều người
Đầu tiên, tôi xin cảm ơn gia đình tôi, những người đã ủng hộ tôi tuyệt đốitrên nhiều phương diện để tôi có thể theo đuổi sự lựa chọn của mình Tôi cũng xincảm ơn Thầy Nguyễn Việt Hà, người Thầy đã truyền cho tôi động lực, cho tôi nhiềukiến thức và kinh nghiệm quý báu trong nghiên cứu khoa học nói chung và trongthực hiện đề tài nói riêng
Tôi xin cảm ơn các thầy cô tại Trường Đại học Công nghệ và Khoa Luật, Đạihọc Quốc gia Hà Nội, những người đã đào tạo và giúp tôi trưởng thành trong nănglực nghề và năng lực nghiên cứu
Tôi xin cảm ơn các bạn sinh viên trong nhóm nghiên cứu Skylab, Trường Đạihọc Công nghệ, ĐHQGHN đã cùng tham gia đóng góp ý kiến cho đề tài và giúpsức cho tôi trong việc thu thập dữ liệu cũng như thử nghiệm phương pháp được đềxuất trong luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Trang 5MỤC LỤC
CHƯƠNG 1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.1 Lý do chọn đề tài 1
1.2 Các nghiên cứu liên quan 2
1.2.1 Các nghiên cứu về biểu diễn tri thức 2
1.2.2 Các nghiên cứu về Legal Engineering 4
1.3 Nhiệm vụ của luận văn 5
1.4 Cấu trúc luận văn 5
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 7
2.1 Mô hình hóa tri thức 7
2.1.1 Tri thức và biểu diễn tri thức 7
2.1.2 Mô hình tri thức 8
2.1.3 Phương pháp mô hình hóa tri thức bằng ngôn ngữ khung 8
2.1.4 Phương pháp mô hình hóa tri thức bằng luật sinh 9
2.1.5 Phương pháp mô hình hóa tri thức bằng mạng ngữ nghĩa 10
2.2 Văn bản pháp luật 12
2.2.1 Văn bản pháp luật và vai trò của văn bản pháp luật 12
2.2.2 Các loại văn bản pháp luật 12
2.2.3 Đặc trưng về hiệu lực của văn bản pháp luật 14
CHƯƠNG 3 MÔ HÌNH HÓA TRI THỨC CHO VĂN BẢN LUẬT 15
3.1 Mô tả bài toán 15
3.2 Phân tích tính chất của văn bản pháp luật 15
3.3 Mô tả phương pháp 17
3.3.1 Phân tích và lựa chọn kỹ thuật biểu diễn 17
3.3.2 Cấu trúc khung 18
3.3.3 Các luật suy diễn 23
3.5 Đánh giá phương pháp 24
3.5.1 Điểm mạnh của phương pháp 24
Trang 63.5.2 Hạn chế của phương pháp 25
CHƯƠNG 4 THỰC NGHIỆM 26
4.1 Phương pháp và dữ liệu thực nghiệm 26
4.2 Kết quả thực nghiệm và phân tích 29
4.3 Xây dựng hệ thống hướng dịch vụ 31
4.4 Đánh giá thực nghiệm 35
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN 36
PHỤ LỤC A CÁC CĂN CỨ PHÁP LÝ 37
PHỤ LỤC B CÀI ĐẶT CÁC LUẬT SINH 42
TÀI LIỆU THAM KHẢO 43
Trang 7Danh sách hình vẽ
Hình 1.1 Kiến trúc phân tầng của web ngữ nghĩa [39] 3
Hình 2.1 Dữ liệu, thông tin và tri thức [30] 7
Hình 2.2 Ví dụ về mạng ngữ nghĩa 10
Hình 2.3 Ví dụ về nhược điểm của mạng ngữ nghĩa 11
Hình 3.1 Minh họa quan hệ trích dẫn giữa các VBPL 21
Hình 3.2 Minh họa quan hệ hướng dẫn giữa các VBPL 22
Hình 3.3 Minh họa quan hệ thay thế giữa các VBPL 22
Hình 4.1 Dữ liệu thu thập được 26
Hình 4.2 Tình trạng văn bản 01/2000/NQ-HĐTP theo CSDLQG 31
Hình 4.3 Kiến trúc của hệ cơ sở tri thức 32
Hình 4.4 Truy vấn và phản hồi giữa client và server 33
Hình 4.5 Ứng dụng Hỗ trợ soạn thảo văn bản luật IEE 34
Hình 4.6 Ứng dụng hỗ trợ đọc văn bản luật 34
Danh sách bảng Bảng 3.1 Mức lương tối thiểu vùng thay đổi qua từng năm 17
Bảng 3.2 Các loại văn bản pháp luật 18
Bảng 3.3 Khung về loại văn bản 19
Bảng 3.4 Khung về văn bản pháp luật 20
Bảng 3.5 Khung về quan hệ 23
Bảng 3.6 Danh sách các luật suy diễn 24
Bảng 4.1 Thống kê dữ liệu theo loại văn bản 27
Bảng 4.2 Thống kê dữ liệu theo năm ban hành 28
Bảng 4.3 Kết quả thực nghiệm 29
Trang 8Cơ sở dữ liệu quốc giaGraphic processing unitIntegrated editing environmentThuật toán Knuth–Morris–PrattMegahertz.
Million instructions per secondNghị định
Nghị quyếtQuy phạm pháp luậtRandom Access MemoryRepresentaion State TransferThông tư
Văn bản áp dụng pháp luậtVăn bản hành chính
Văn bản pháp luậtVăn bản quy phạm pháp luật
Trang 9Tóm tắt
Văn bản pháp luật đóng một vai trò quan trọng trong hệ thống pháp luật củamọi quốc gia Với mục tiêu xử lý tự động các thông tin và phát huy hiệu quả củacác tri thức từ văn bản pháp luật, chúng ta cần một phương pháp mô hình hóa trithức phù hợp cho chúng Trong phạm vi của nghiên cứu này, chúng tôi khảo sát kỹlưỡng các đặc tính của hệ thống văn bản pháp luật Việt Nam và đề xuất phươngpháp mô hình hóa cho các văn bản và quan hệ giữa chúng Thách thức chính củacông việc này là xử lý được tính chất luôn thay đổi của các văn bản luật, khoảngthời gian có hiệu lực và các mối liên hệ chặt chẽ giữa chúng Các tính chất và cácmối quan hệ được biểu diễn trong cơ sở tri thức mà chúng tôi thiết kế được lựachọn để thông tin trong các văn bản pháp luật trở nên hữu dụng nhất Khi biểu diễn
cơ sở tri thức của mình, chúng tôi so sánh ba phương pháp biểu diễu tri thức phổbiến là: Mạng ngữ nghĩa, Luật sinh và Ngôn ngữ khung, trên cơ sở đó, các điểmmạnh của các phương pháp này được kế thừa trong phương pháp được đề xuấttrong nghiên cứu Bên cạnh đó, chúng tôi cài đặt một hệ thống hướng dịch vụ cungcấp dịch vụ truy vấn tri thức cho các hệ thống khác
Từ khóa
Mô hình hóa tri thức, Văn bản pháp luật Việt Nam, Ngôn ngữ Khung, Luật sinh
Trang 10Legal documents play an important role in legal system of every nation Inorder to automated process information and make use of knowledge from legaldocuments, we need an appropriate knowledge representation for them In thisresearch, we investigate properties of Vietnamese legal document system andpropose a representation for the documents and their relationships The mainchallenge for this task is dynamic charateristics, validity period and bindingrelationships among legal documents Properties and relationships which we design
to represent in our knowlege base are selective in order to make use of informationwithin legal documents In order to represent our knowlege base, we compare threemethods: Semantic Network, Production Rules, Frame Language and make use oftheir advantages in our representation Moreover, we implement a service-orientedsystem providing knowledge querying service for other application systems based
on our research result
Keywords
Knowledge representation, Vietnamese Legal Document System, Framelanguage, Production rule
Trang 11CHƯƠNG 1 ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Lý do chọn đề tài
Mặc dù được xây dựng bởi những người được đào tạo bài bản về pháp luậtnhưng với khối lượng tri thức đồ sộ chứa trong các bộ luật và các văn bản hướngdẫn thì việc xảy ra sai sót là chuyện không tránh khỏi [2] Ngoài ra, hệ thống phápluật không phải là một hệ thống bất biến, khi có một sửa đổi nhỏ tại một văn bảnnào đó, để giữ được tính thống nhất, những phần liên quan khác trong toàn bộ hệthống cũng cần được sửa đổi theo, đây là công việc nhàm chán và dễ sai sót đối vớicon người [41] Vì những lý do trên, việc tin học hóa hệ thống văn bản pháp luật sẽgóp phần nâng cao kỹ thuật lập pháp, đảm bảo cơ chế bảo hiến [1] trong hệ thốngpháp luật Việt Nam cũng như giải quyết được sự chồng chéo trong hệ thống vănbản pháp luật [3]
Xã hội của chúng ta được điều chỉnh bởi các quy phạm pháp luật có mốiquan hệ ràng buộc lẫn nhau [8] Trong định hướng xây dựng một xã hội thông minh
có sự phục vụ và hỗ trợ của hệ thống máy tính (e-Society), luật pháp đóng vai tròrất quan trọng [28] Từ kinh nghiệm của các quốc gia, những nghiên cứu và ứngdụng khoa học máy tính, kỹ thuật phần mềm và trí tuệ nhân tạo vào pháp luật sẽgiúp nâng cao chất lượng của hệ thống pháp luật [41]
Để thực hiện điều đó, các tri thức trong miền ứng dụng này cần được sắp xếp
và biểu diễn dưới hình thức thuận tiện tối đa cho máy tính trong việc hiểu và ápdụng hiệu quả trong các giải thuật tự động [33] Vì vậy, chúng tôi nghiên cứu và đềxuất một mô hình tri thức cho hệ thống văn bản luật Việt Nam dựa trên phân tíchđặc điểm, tính chất của hệ thống này
Phương pháp của chúng tôi kế thừa một số kỹ thuật biểu diễn tri thức đã có vàcải tiến chúng hướng tới mục tiêu đáp ứng được sự thay đổi không ngừng của hệ thốngvăn bản luật Đây là tiền đề cho các nghiên cứu khác về trí tuệ nhân tạo có thể tiếp cậntốt hơn, giải quyết triệt để hơn các bài toán đặt ra trong miền tri thức này
Trang 121.2 Các nghiên cứu liên quan
1.2.1 Các nghiên cứu về biểu diễn tri thức
Biểu diễn và mô hình hóa tri thức là bài toán cơ sở trong trí tuệ nhân tạo Bàitoán này đầu tiên được khởi xướng để phục vụ cho Hệ giải Bài toán Tổng quát [34]của Allen Newell và Herbert A Simon Cho đến nay, biểu diễn tri thức là chủ đềnghiên cứu của nhiều nhà khoa học và các tổ chức nghiên cứu phát triển trên thếgiới Dưới đây là những nghiên cứu biểu diễn tri thức trong các hệ chuyên gia,trong cuộc cách mạng web ngữ nghĩa và trong các ứng dụng trợ lý ảo
Vào những năm 70, 80 của thế kỷ XX, các hệ trí tuệ nhân tạo sử dụng nềntảng tri thức của một miền ứng dụng cụ thể phát triển dưới tên là các hệ chuyên gia[27] Tri thức được xây dựng trong các hệ chuyên gia bao gồm các thông tin về thếgiới và áp dụng các cơ chế suy diễn trên tập tri thức để có thể trả lời các câu hỏi.Vào cùng thời điểm đó, các nhà nghiên cứu phát triển khái niệm mang tên ngônngữ khung [22] và luật suy diễn [25] Sự kết hợp của chúng tạo nên các hệ thốngmạnh mẽ, tiêu biểu là hệ thống KL-ONE [11] thời bấy giờ
Được đề xuất năm 2001 bởi Berners-Lee, Hendler, và Lassila, công nghệweb ngữ nghĩa [10] đã trở thành một phong trào toàn cầu Công nghệ này cung cấpcho chúng ta một cách tiếp cận mới trong việc quản lý thông tin, các quá trình pháttriển cũng như các nguyên tắc trong tạo lập và sử dụng siêu dữ liệu ngữ nghĩa [18].Dẫn đầu bởi W3C, phong trào này khuyến khích các nhà phát triển web tái cấu trúcnội dung của website thành dữ liệu web ngữ nghĩa Thay vì chỉ mục website dựatrên từ khóa, web ngữ nghĩa tạo nên các mô hình tri thức lớn tập hợp các khái niệm[19] Công nghệ này cải thiện kết quả tìm kiếm của người dùng web cũng như hoạt động xử lý thông tin tự động của các tác tử [7]
Các máy tìm kiếm sử dụng các tác tử tự động truy cập vào các trang web đểtiến hành xếp hạng chúng với những từ khóa cho trước [24] Mặc dù vậy, do chúngkhông thể can thiệp được vào cấu trúc và nội dung các trang web nên đôi lúc kếtquả trả về không đúng với nhu cầu tìm kiếm của người dùng Web ngữ nghĩa vớinền móng là các phương pháp biểu diễn tri thức đã góp phần giải quyết vấn đề này.Với mục tiêu như vậy, W3C đưa ra những ngôn ngữ chuẩn có thể biểu diễn được
mô hình tri thức (ontology) giữa các website như OWL [12] , RDF [42] và RDF
Trang 13Hình 1.1 Kiến trúc phân tầng của web ngữ nghĩa [39]
Năm 2011, trợ lý ảo Siri trên dòng sản phẩm iPhone và iPad của Apple thuhút được sự chú ý của những người dùng điện thoại thông minh trên toàn thế giớivới khả năng nhận yêu cầu của người sử dụng thông qua giọng nói Kể từ đó trở đi,phát triển các ứng dụng trợ lý ảo trở thành xu hướng của các hãng công nghệ hàngđầu thế giới [9]
Để các chương trình trợ lý ảo có thể xử lý tự động các công việc và thực hiệnchức năng của mình, trong quá trình cài đặt chúng, việc mô hình hóa tri thức là tốiquan trọng Những tri thức cần được mã hóa là các nhà hàng, các bộ phim, các sựkiện, những lời đánh giá, danh sách các địa điểm, các yêu cầu [16]
Các chương trình này thực hiện các phép suy diễn để có thể tìm ra phương ántốt nhất, thực hiện những hành động phù hợp nhất đối với người sử dụng Ngoài rachương trình có thể tự mở rộng và tái cấu trúc khi có thêm những nguồn thông tinmới từ phía các hệ thống mà nó tương tác cũng như từ người dùng
Trang 141.2.2 Các nghiên cứu về Legal Engineering
Legal Engineering (LE) [38] là một hướng nghiên cứu mới dựa trên ý tưởngnếu coi xã hội là một hệ thống thì pháp luật là đặc tả của hệ thống ấy Một hệ thốngpháp luật tốt sẽ góp phần tạo nên một xã hội tốt đẹp hơn Các nghiên cứu này sửdụng khoa học máy tính để áp dụng vào pháp luật để giảm tải công sức trong việcxây dựng và sửa đổi luật, cũng như thiết kế các hệ thống thông tin phục vụ tronglĩnh vực này Dưới đây là một số nghiên cứu tiêu biểu về Legal Engineering trênthế giới
Tại Viện Khoa học và Công nghệ tiên tiến Nhật Bản (JAIST), nhóm của giáo
sư Takuya Katayama có những nghiên cứu trong việc kiểm chứng sự vận hành của
xã hội điện tử thông qua các kỹ thuật kiểm chứng mô hình [29] Các yêu cầu đốivới một xã hội điện tử bao gồm: Tính đúng đắn, Tính giải trình, Tính bảo mật, Tínhkháng lỗi, Tính tiến hóa và Tính tin cậy của cơ sở hạ tầng Những nghiên cứu nàydựa trên ý tưởng vai trò của luật pháp đối với một xã hội tương ứng với vai trò củabản đặc tả hình thức đối với một xã hội điện tử, vì vậy khi hình thức hóa pháp luật,
ta có thể sử dụng các kỹ thuật kiểm chứng phần mềm để kiểm chứng xã hội điện tử
Cũng tại đây, nhóm của giáo sư Shimazu và PGS TS Nguyễn Lê Minh cónhững nghiên cứu về xử lý ngôn ngữ tự nhiên đối với cấu trúc của văn bản luậtnhư: Đưa ra mô hình cấu trúc logic của một đoạn văn bản luật [15], Phát hiện phầngiả định và phần hiệu lực trong một câu luật [14], Chuyển đổi các câu luật sanghình thức logic [31] Các phương pháp đưa ra trong các nghiên cứu dựa trên phântích đặc trưng của đoạn văn bản luật, cấu trúc của câu luật để áp dụng các thuậttoán phù hợp
Tại đại học Exeter của vương quốc Anh, giáo sư Ajit Narayanan và giáo sưMervyn Bennun đã viết cuốn “Law, Computer Science, and Artificial Intelligence”[32] gồm tập hợp các quan điểm của những nhà nghiên cứu về luật, khoa học máytính và trí tuệ nhân tạo Cuốn sách này đề cao vai trò của việc kết hợp những ngànhkhoa học đó để có được những nghiên cứu thiết thực hơn Đại học Toronto củaCanada có bài tổng hợp các quan điểm trong việc kết hợp Luật và Khoa học máytính [41] Giáo sư Benjamin Alarie, Khoa Luật đại học Toronto phân tích con ngườikhả năng ghi nhớ giới hạn và sự thiếu khách quan trong tiếp cận các vấn đề pháp lý,
do đó một hệ thống như Watson [26] rất hữu ích trong các bài toán trong
Trang 15lĩnh vực này, hệ thống có thể đọc mọi thứ và đưa ra quan điểm một cách khôngthiên vị.
Nghiên cứu về Legal Engineering là hướng nghiên cứu nhận được sự quantâm của các nhà khoa học trên thế giới Tại mỗi quốc gia, hệ thống luật có nhữngđặc trưng riêng nên cần những giải pháp tương ứng Chúng tôi mong muốn rằng kếtquả nghiên cứu được đề xuất trong luận văn có thể góp phần giúp cho các nghiêncứu về Legal Engineering tại Việt Nam phát triển mạnh mẽ hơn
1.3 Nhiệm vụ của luận văn
Trên thế giới, đặc biệt là các nước theo truyền thống pháp luật dân sự [40]như Việt Nam, hệ thống văn bản luật là nguồn chính yếu trong việc điều chỉnh cácmối quan hệ xã hội Trong hệ thống này, các văn bản luật có mối quan hệ chặt chẽ
và mật thiết với nhau Một văn bản không thể tự nó quy định đầy đủ các khía cạnhcủa các quy phạm pháp luật mà phải được kế thừa, trích dẫn, giải thích bởi một haynhiều văn bản pháp luật khác Bên cạnh đó, hệ thống văn bản pháp luật là hệ thốngluôn vận động, một sự thay đổi nhỏ tại một văn bản cũng có thể ảnh hưởng đến tínhnhất quán trong toàn hệ thống Tính chất đặc thù này của văn bản pháp luật khiếncho việc mô hình hóa tri thức và giải tự động các bài toán đối với văn bản pháp luật
có những thử thách nhất định so với các loại văn bản khác
Nhận thấy tầm quan trọng của việc mô hình hóa tri thức hệ thống văn bảnluật, trong phạm vi luận văn này, chúng tôi nghiên cứu và đề xuất một mô hình biểudiễn tri thức cho hệ thống văn bản pháp luật tiếng Việt, sau đó cài đặt mô hình vàomột hệ thống hướng dịch vụ, cung cấp dịch vụ tri thức cho các hệ thống ứng dụng.Phương pháp được sử dụng trong luận văn là phương pháp biểu diễn tri thức sửdụng cấu trúc khung [22] kết hợp với phương pháp mô hình hóa tri thức bằng luậtsinh [25] Cấu trúc khung và tập các luật sinh được đề xuất dựa trên tính chất đặctrưng của văn bản luật
1.4 Cấu trúc luận văn
Luận văn được trình bày trong 5 chương gồm các nội dung tổng quan về lĩnhvực nghiên cứu, mô tả bài toán, cơ sở lý thuyết, phương pháp đề xuất, kết quả thựcnghiệm và hướng phát triển trong tương lai Ngoài chương 1 đã được trình bày, cácphần còn lại luận văn có nội dung như sau:
Trang 16Chương 2 nêu ra những cơ sở lý thuyết quan trọng làm nền móng cho việc đềxuất phương pháp mô hình hóa tri thức của luận văn Phần đầu chương nêu lênnhững lý thuyết về tri thức và mô hình hóa tri thức gồm những khái niệm vàphương pháp chung của lĩnh vực Tiếp đó là những lý thuyết về văn bản pháp luật,phân loại và đặc trưng của chúng.
Chương 3 của luận văn phân tích kỹ những đặc điểm riêng có của hệ thốngvăn bản pháp luật Việt Nam và đề xuất phương pháp mô hình hóa tri thức cho hệthống này dựa trên những phân tích và cơ sở đã có Phần cuối chương nêu ra nhữngđánh giá sơ bộ về phương pháp trên phương diện những điểm mạnh, hạn chế vànguyên nhân của chúng
Chương 4 trình bày phương pháp thực nghiệm, dữ liệu dùng cho thựcnghiệm, kết quả thực nghiệm và phân tích các kết quả đó để đưa ra được nhữngnhận xét và hướng phát triển trong tương lai Bên cạnh, chúng tôi cũng trình bàynhững kết quả bước đầu trong việc áp dụng hệ thống vào các ứng dụng thực tế
Chương 5 tổng kết toàn bộ những kết quả đã đạt được trong luận văn Cácnội dung về xuất xứ bài toán, phương pháp, kết quả thực nghiệm, ý nghĩa và hướngphát triển của nghiên cứu được thể hiện trong chương này
Trang 17CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT
2.1 Mô hình hóa tri thức
2.1.1 Tri thức và biểu diễn tri thức
Tri thức hay kiến thức là những sự kiện, thông tin hay kỹ năng thu đượcthông qua trải nghiệm hoặc giáo dục, những hiểu biết lý thuyết hay thực tiễn về mộtvấn đề [35] Trong khi tri thức hiện có thể được giải thích, mã hóa dưới dạng ngônngữ, văn bản, âm thanh, phim, ảnh thì tri thức ẩn là những tri thức thu được từ trảinghiệm thực tế, ẩn trong mỗi cá nhân và khó mã hóa cũng như chuyển giao ví dụnhư niềm tin, thái độ, kỹ năng Trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo, biểu diễn tri trức làbiểu diễn được trạng thái của một miền bài toán như các đối tượng, thuộc tính củacác đối tượng và quan hệ giữa chúng [36]
Biểu diễn tri thức nhằm thể hiện thông tin về thế giới dưới hình thức thuậntiện cho các hệ thống máy tính sử dụng Biểu diễn tri thức được đặt trên nền tảngnghiên cứu về con người, cách con người giải quyết các vấn đề, và biểu diễn trithức với mục đích đưa ra được mô hình giúp đơn giản hóa việc thiết kế và xây dựngcác hệ thống phức tạp Biểu diễn tri thức có mối liên hệ chặt chẽ với logic để có thểthực thi tự động các phép suy diễn, phổ biến là các phép suy diễn trên tập hợp [17].Giá trị của dữ liệu tăng lên khi nó được chuyển thành tri thức, là cơ sở đưa ra cácquyết định phù hợp Hình 2.1 là lược đồ thể hiện quan hệ giữa Dữ liệu, Thông tin
và Tri thức
Hình 2.1 Dữ liệu, thông tin và tri thức [30]
Trang 18- Các cá thể: Các đối tượng cơ bản, nền tảng
- Các lớp: Các tập hợp, hay kiểu của các đối tượng
- Các thuộc tính: Thuộc tính, tính năng, đặc điểm, tính cách, hay các thông
số của các đối tượng
- Các mối liên hệ: Cách thức mà các đối tượng liên hệ tới một đối tượng khác
2.1.3 Phương pháp mô hình hóa tri thức bằng ngôn ngữ khung
Ngôn ngữ khung [22] cho phép các đối tượng trong thế giới thực được biểudiễn một cách đầy đủ và linh hoạt Sử dụng ngôn ngữ khung, các đối tượng đượcđóng gói thành một thực thể có cấu trúc, bên cạnh đó các thao tác trên tri thức cũngđược định nghĩa trên cấu trúc đó, ví dụ khi mô tả khái niệm về một ma trận, cácthao tác có thể định nghĩa thêm có thể là phép tính định thức, tính ma trận nghịchđảo hay véc tơ riêng của ma trận đã cho
Khung (Frame) là cấu trúc tổng quát nhất bao gồm hai thành phần là Slot vàFacet Slot thể hiện một thuộc tính của đối tượng được đặc tả bằng Khung Mỗi Slotlại được đặc tả chi tiết hơn bởi các Facet, đó là các thông tin hoặc thủ tục của thuộctính đặc tả bởi Slot Facet có thể được định nghĩa gồm nhiều loại khác nhau:
- Value (giá trị) : thể hiện giá trị hiện tại của thuộc tính mô tả bởi Slot
- Default (giá trị mặc định): giá trị này được lấy nếu như Slot có giá trị rỗng
- Range (miền giá trị): cho biết miền giá trị hợp lệ mà Slot có thể nhận
- If added: thủ tục được gọi khi Slot được thêm vào hoặc cập nhật
- If needed: Facet này mô tả một hàm để tính giá trị của slot
Trang 19Các hệ thống trí tuệ nhân tạo trong thực tế thường sử dụng nhiều Khung,chúng được liên kết với nhau theo một quan hệ nhất định Đặc tính phân cấp và kếthừa của Khung giúp cho ngữ nghĩa được thể hiện tốt hơn Trong cây kế thừa, gốccây thể hiện mức độ trừu tượng cao nhất, các nút lá thể hiện Khung có mức độ trừutượng thấp nhất Các Khung ở mức thấp có thể kế thừa tất cả những tính chất củanhững Khung cao hơn Đặc tính này của Khung đã được kế thừa và tạo thành lợithế của các ngôn ngữ hướng đối tượng Cấu trúc phân cấp của khung cho phépgiảm bớt độ phức tạp trong quá trình xây dựng cơ sở tri thức và cho phép dễ dàngphân loại tri thức.
2.1.4 Phương pháp mô hình hóa tri thức bằng luật sinh
Biểu diễn tri thức bằng luật sinh [25] là một kiểu biểu diễn tri thức có cấutrúc Ý tưởng cơ bản của phương pháp này là mô tả tri thức dưới một cấu trúc nhânquả: “Nếu A thì B” Luật sinh là công cụ mô tả tri thức phổ biến và được áp dụngrộng rãi trong nhiều hệ thống thông minh vì nó có thể giải quyết các vấn đề thực tế.Các luật sinh giúp giảm không gian tìm kiếm từ đó giảm độ phức tạp tính toán chocác hệ thống Bên cạnh đó, luật sinh có thể sử dụng để mã hóa các quyết định củachuyên gia
Một cách tổng quát luật sinh có dạng như công thức 2.1 :
(2.1)Trong đó là các biểu thức logic Trong đó là mệnh đề điều kiện và là mệnh đềkết luận Mệnh đề điều kiện không chứa toán tử
OR ( ) giữa các biểu thức, trong trường hợp mệnh đề điều kiện chứa toán tử OR thìluật ban đầu sẽ được tách thành hai luật mới không chứa toán tử OR Mệnh đề kếtluận chỉ gồm duy nhất một biểu thức logic
Bên cạnh những ưu điểm được nêu phía trên, biểu diễn tri thức bằng luật sinh
có những hạn chế riêng của nó Đối với hệ thống luật chứa vòng lặp hoặc chứa mâuthuẫn, quá trình suy diễn sẽ không dừng hoặc cho ra sai kết quả Ngoài ra, phươngpháp biểu diễn bằng luật sinh mang lại sự khó khăn nếu muốn bổ sung cập nhật cơ
sở tri thức
Trang 202.1.5 Phương pháp mô hình hóa tri thức bằng mạng ngữ nghĩa
Mạng ngữ nghĩa [37] là phương pháp biểu diễn tri thức dưới dạng một đồ thịnhư một mô hình của bộ nhớ con người Trong đồ thị, các đỉnh là các đối tượng(khái niệm) còn các cung chỉ ra mối liên kết (quan hệ) giữa chúng Đây là cách biểudiễn tri thức phù hợp với nhu cầu giao tiếp của con người
Hình 2.2 là một ví dụ của mạng ngữ nghĩa Chúng ta có những khái niệm như
“Họa mi”, “Chim”, “Lông vũ”, “Tổ”, “Cánh” được kết nối bằng các quan hệ nhưtrong đồ thị Bằng việc tìm kiếm trên đồ thị này, ta có được những kết luận như
“Họa mi có cánh”, “Họa mi có lông vũ” hay “Họa mi làm tổ” Ta thấy rằng cáchbiểu diễn này dễ hiểu đối với con người
Họa mi
Lông vũlà
cóChim
Trang 21ngữ nghĩa Các cung thể hiện quan hệ giữa hai đối tượng, vì vậy việc tìm kiếm trên
đồ thị chính là thực hiện cơ chế suy diễn trong mô hình tri thức
Bên cạnh đó, việc thể hiện tri thức theo cách này giúp giảm bớt số lượng đồthị cần lưu trữ bằng việc kết hợp lưu trữ và tính toán suy diễn thông qua các thuậttoán trên đồ thị Đối với đồ thị thông thường, các cung trong một đồ thị cùng biểudiễn một ý nghĩa nhất định, do đó với mỗi quan hệ cần có một đồ thị riêng mô tảquan hệ ấy Điều này gây lãng phí tài nguyên và không thích hợp cho miền tri thứckhông ngừng mở rộng như hệ thống văn bản pháp luật
Mạng ngữ nghĩa phù hợp trong phân tích vấn đề nhưng điểm yếu của phươngpháp này khi cài đặt vào máy tính gặp phải những trở ngại kỹ thuật Ví dụ trongHình 2.3, nếu ta thêm “Cánh cụt” vào đồ thị, ta sẽ có được “Cánh cụt có lông vũ”,đây là một kết luận không chính xác Sự sai lầm ở đây xuất phát từ các trường hợpngoại lệ trong quan hệ kế thừa, nếu ta can thiệp vào đồ thị để giải quyết các trườnghợp ngoại lệ này, các trường hợp khác trong toàn mạng ngữ nghĩa sẽ bị ảnh hưởng
Cánh cụt
là
cóChim
Hình 2.3 Ví dụ về nhược điểm của mạng ngữ nghĩa
Trang 222.2 Văn bản pháp luật
2.2.1 Văn bản pháp luật và vai trò của văn bản pháp luật
Tại Việt Nam, văn bản pháp luật là văn bản do các cơ quan nhà nước có thẩmquyền ban hành, có hình thức và thủ tục do luật định, nội dung chứa đựng ý chíNhà nước dùng để điều chỉnh các quan hệ xã hội trong hoạt động quản lý Nhà nước[6] Những người không hoạt động trong lĩnh vực pháp lý thường đồng nhất phápluật với nội dung của các văn bản pháp luật, đây là một nhận thức chưa đúng đắn.Các nguồn tạo nên pháp luật bao gồm: tập quán pháp, tiền lệ pháp và văn bản phápluật [5]
Mặc dù chỉ là một trong số những nguồn tạo nên pháp luật, hệ thống các vănbản pháp luật là nguồn quan trọng trong thực tiễn áp dụng, thực thi pháp luật vàgiải quyết tranh chấp Đối với các nước theo truyền thống pháp luật dân sự [40], hệthống văn bản pháp luật là nguồn pháp luật chính trong giải quyết tranh chấp cũngnhư xử lý người phạm tội, chủ thể vi phạm hành chính
Việt Nam là một nước theo truyền thống pháp luật dân sự, văn bản quy phạmpháp luật có vai trò không thể thay thế trong điều chỉnh các mối quan hệ xã hội, làxương sống của cả hệ thống pháp luật Việt Nam “Luật ban hành các văn bản quyphạm pháp luật” [4] được Quốc hội Việt Nam thông qua và ban hành để đảm bảotính thống nhất và hiệu quả cao nhất trong hệ thống văn bản pháp luật
Các thiết chế có thẩm quyền ban hành các loại văn bản quy phạm pháp luậtbao gồm Quốc hội, Ủy ban thường vụ quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Thủtướng chính phủ, Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan trực thuộc Chính phủ, Tòa ánnhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhândân [4] Như vậy có thể thấy khối lượng văn bản pháp luật được ban hành rất lớn và
có ảnh hưởng sâu rộng đến các hoạt động của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trongmột quốc gia
2.2.2 Các loại văn bản pháp luật
Do sự đa dạng về tiêu chí phân loại và mục đích phân loại nên văn bản phápluật có thể được phân loại theo nhiều cách khác nhau Mặc dù vậy, để phục vụ chomục tiêu mô hình hóa tri thức của chúng, chúng tôi trình bày cách thức phân loại
Trang 23dựa trên mục đích, tính chất của văn bản quy pháp luật Theo đó, văn bản pháp luật
có thể chia thành ba loại: văn bản quy phạm pháp luật, văn bản áp dụng pháp luật,văn bản hành chính [6]
Văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL): được quy định rõ trong Luật banhành văn bản quy phạm pháp luật Để hiểu được khái niệm này, cần phải hiểu khái
niệm Quy phạm pháp luật (QPPL) [5], đó là “quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc chung, được áp dụng lặp đi lặp lại nhiều lần đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phạm vi cả nước hoặc đơn vị hành chính nhất định, do cơ quan Nhà nước, người có thẩm quyền quy định trong Luật này ban hành và được Nhà nước bảo đảm thực hiện”
Điều 2, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2015 quy định “Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản có chứa quy phạm pháp luật, được ban hành theo đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục quy định trong Luật này Văn bản có chứa quy phạm pháp luật nhưng được ban hành không đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục quy định trong Luật này thì không phải là văn bản quy phạm pháp luật”.
Văn bản áp dụng pháp luật (VBADPL) là văn bản do chủ thể có thẩm quyềnban hành theo hình thức và trình tự thủ tục do pháp luật quy định, nhằm cá biệt hóacác quy phạm pháp luật thành những mệnh lệnh cụ thể, áp dụng một lần đối với cánhân, tổ chức nhất định Đây là văn bản cụ thể hóa các quy định của văn bản quyphạm pháp luật và chỉ có hiệu lực đối với những người liên quan
Văn bản hành chính (VBHC) là loại văn bản trong hệ thống hành chính nhànước, mang tính chất thông tin điều hành, nhằm cụ thể hóa việc thi hành những quyđịnh chung, quyết định quy phạm của cơ quan nhà nước cấp trên hoặc quy định quyphạm của cơ quan mình nhằm giải quyết những vụ việc cụ thể trong khâu quản lý
Ba loại văn bản này có sự khác nhau về thẩm quyền, trình tự thủ tục banhành, nội dung, số lần áp dụng, điều kiện có hiệu lực và đối tượng thi hành Việcxây dựng cơ sở tri thức cho hệ thống VBPL cần thể hiện được loại văn bản đểkhông bị mất mát nội dung trong lưu trữ, đây là điều kiện tiên quyết để những phépsuy diễn trên cơ sở tri thức không bị bế tắc hoặc đưa ra kết quả sai không chính xác
so với nguyên tắc của hệ thống VBPL
Trang 242.2.3 Đặc trưng về hiệu lực của văn bản pháp luật
Thời điểm có hiệu lực và hết hiệu lực của văn bản pháp luật là thuộc tínhquan trọng để xác định xem những văn bản nào đang quy định các quan hệ xã hộitại một thời điểm cụ thể Các thời điểm này được quy định rõ trong Luật Ban hànhvăn bản quy phạm pháp luật [4], có thể trích xuất được từ chính văn bản đó vànhững văn bản có liên quan
Thông thường thời điểm có hiệu lực của văn bản pháp luật được ghi rõ trênvăn bản đó Mặc dù vậy, đối với văn bản quy phạm pháp luật được ban hành theotrình tự, thủ tục rút gọn thì có thể có hiệu lực từ ngày thông qua hay ký ban hành
Hiệu lực hồi tố là hiệu lực trở về trước của VBQPPL, trước khi nó được banhành Về cơ bản, pháp luật Việt Nam chỉ chấp nhận hiệu lực hồi tố trong một số ítcác trường hợp đối với các VBQPPL cấp trung ương Trong phạm vi của luận văn,chúng tôi không giải quyết vấn đề hiệu lực hồi tố đối với các VBQPPL
Một VBQPPL bị ngưng hiệu lực thi hành khi thuộc một trong các trườnghợp: (1) Bị đình chỉ thi hành, (2) Bị ra quyết định bãi bỏ, (3) Quyết định ngưnghiệu lực thi hành trong một thời hạn nhất định Sự kiện và thời điểm ngưng hiệu lựcđược ghi rõ tại văn bản quy phạm pháp luật khác
Văn bản quy phạm pháp luật hết hiệu lực thi hành khi thuộc một trong cáctrường hợp: (1) Hết thời hạn có hiệu lực đã được quy định trong văn bản, (2) Đượcsửa đổi, bổ sung hoặc thay thế bằng văn bản quy phạm pháp luật mới của chính cơquan nhà nước đã ban hành văn bản đó (3) Bị bãi bỏ bằng một văn bản của cơ quannhà nước có thẩm quyền
“Văn bản quy phạm pháp luật hết hiệu lực thì văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết thi hành, văn bản đó cũng đồng thời hết hiệu lực” [4] Quy định
mới này tại Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2015 được đánh giá là một
sự cải tiến lớn trong kỹ thuật lập pháp, giúp hệ thống hóa các VBQPPL Đây cũng
là cơ sở quan trọng trong việc tạo các luật suy diễn được đề xuất ở Chương 3
Về hiệu lực về không gian, văn bản quy phạm pháp luật trung ương có hiệulực trong phạm vi cả nước, văn bản quy phạm pháp luật địa phương có hiệu lựctrong phạm vi đơn vị hành chính, được quy định cụ thể ngay trong văn bản đó [4]
Trang 25CHƯƠNG 3 MÔ HÌNH HÓA TRI THỨC CHO VĂN BẢN LUẬT
3.1 Mô tả bài toán
Nhiệm vụ của đề tài là khái quát cơ sở lý thuyết, kế thừa những nghiên cứu
đã có, đề xuất phương pháp và xây dựng được hệ thống mô hình hóa tri thức chovăn bản luật Việt Nam Để tiện cho việc trình bày các kết quả nghiên cứu, bài toánđược mô tả như công thức 3.1
=Trong đó, là mốc thời gian, vàlà tập hợp các văn bản luật có hiệu lực
và quan hệ giữa chúng tại thời điểm Hệ thống văn bản pháp luật không ngừngvận động, tại mỗi thời điểm, tập hợp các văn bản pháp luật và quan hệ giữa chúng
là khác nhau Ví dụ, ngày 31/12/2016, Bộ luật dân sự 2005 (số 33/2005/QH11)được gọi là bộ luật dân sự hiện hành Sau đó một ngày, ngày 1/1/2017 và kể từ đótrở đi, Bộ luật dân sự 2015 (số 91/2015/QH13) bắt đầu có hiệu lực và thay thếBLDS 2005 Điều này kéo theo hàng loạt các thay đổi trong quan hệ của các vănbản trong hệ thống
Việc trả lại tập hợp các văn bản có hiệu lực và quan hệ giữa chúng tại mộtthời điểm không đơn thuần là gọi ra các thông tin được lưu trữ sẵn trong các bảngcủa hệ cơ sở dữ liệu quan hệ Hệ tri thức bên cạnh khả năng lưu trữ, cần có cơ chếsuy diễn để tính toán và đưa ra được tập hợp và một cách chính xác nhất Cơ chếlưu trữ thông tin và suy diễn cần dựa trên tính chất khách quan của các văn bảnpháp luật, các tính chất này được phân tích chi tiết trong Phần 3.2
3.2 Phân tích tính chất của văn bản pháp luật
Trong việc xây dựng cơ sở tri thức cho văn bản luật trong phạm vi luận văn,mỗi tính chất đặc trưng của văn bản pháp luật đóng một trong hai vai trò, hoặc là hỗtrợ chứng minh tính đúng đắn của luật sinh hoặc quy định các ràng buộc mà hệ trithức này cần đáp ứng Để có thể xây dựng một khung tri thức linh hoạt, đầy đủ
Trang 26và có cấu trúc phù hợp với nhu cầu của các bài toán thực tế, chúng tôi nghiên cứu
kỹ lưỡng các tính chất của hệ thống văn bản pháp luật
Tính chất 1: Các sự kiện (thêm, sửa, xóa) một văn bản phải tuân theo quyđịnh pháp luật, tức là được thể hiện văn bản pháp luật khác Tính chất này là cơ sởcho luật sinh được đề xuất trong luận văn Một hệ tri thức phải có năng lực tự độngcập nhật mô hình tri thức của mình khi thu nhận thêm từ các nguồn như internet
Tính chất 2: Để đảm bảo tính quy phạm, hình thức của mọi văn bản pháp luậtđều tuân theo các chuẩn mực được quy định thống nhất, mang tính bắt buộc ápdụng chung Ngày 19 tháng 01 năm 2011, Bộ nội vụ đã ra thông tư số 01/2011/TT-BNV quy định về Hướng dẫn thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản hành chính.Theo đó, tất cả các ký hiệu văn bản đều được đặt theo quy tắc quy định tại điều 8
Ví dụ, nghị quyết của Chính phủ ban hành được ghi: Số: …/NQ-CP, chỉ thị của Thủtướng Chính phủ được ghi: Số: …/CT-TTg
Tính chất 3: Tính có cấu trúc được thể hiện ở cả hệ thống văn bản, của từngvăn bản và từng quy định trong văn bản pháp luật Tính có cấu trúc của hệ thốngvăn bản thể hiện thông qua sự phân chia thành các ngành luật như Luật hiến pháp,Luật hành chính, Luật tài chính, Luật ngân hàng, Luật đất đai, Luật dân sự, Luật laođộng, Luật hình sự và Luật kinh tế Tính có cấu trúc của từng văn bản thể hiện ởviệc chia thành các Phần, các Chương, các Mục, các Điều, các Khoản, và đơn vịnhỏ nhất là các Điểm Tính có cấu trúc của từng quy định chính là cấu trúc của cácquy phạm pháp luật gồm ba phần: Giả định, Quy định và Chế tài Tính chất nàygiúp cho việc mô hình hóa tri thức nói riêng và việc áp dụng các phương pháp tựđộng để xử lý văn bản luật là khả thi và có cơ sở khoa học
Tính chất 4: Các câu chữ trong văn bản pháp luật được thiết kế để được hiểutheo một nghĩa Các từ ngữ có khả năng gây nhầm lẫn sẽ không được sử dụng hoặc
sẽ được giải thích rõ trong một điều của một văn bản pháp luật nào đó Tính chấtnày mang lại lợi thế cho việc áp dụng các phương pháp xử lý ngôn ngữ tự nhiêntrên miền tri thức này
Tính chất 5: Hệ thống văn bản pháp luật được bổ sung, thay thế, sửa đổi theothời gian để phù hợp với sự thay đổi của cuộc sống Khi một văn bản pháp luậtđược sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế thì tính chất về hiệu lực của các văn bản pháp
Trang 27năng cập nhật linh hoạt để tương thích với các sự kiện bổ sung, thay thế, sửa đổicủa hệ thống văn bản pháp luật.
Tính chất 6: Mọi văn bản pháp luật đều có sự liên kết tới một hoặc nhiều vănbản khác trong hệ thống văn bản pháp luật Một văn bản luật riêng lẻ không đủ đểđiều chỉnh một quan hệ xã hội do đó chúng cần trích dẫn, được bổ sung từ các vănbản khác Tính chất này đặt ra yêu cầu đối với hệ tri thức trong việc thể hiện mốiliên kết giữa các văn bản
3.3 Mô tả phương pháp
3.3.1 Phân tích và lựa chọn kỹ thuật biểu diễn
Với 6 tính chất được phân tích ở mục trước, các văn bản pháp luật chứa cảnhững thuộc tính tĩnh và những thuộc tính động Ví dụ số hiệu của một văn bản làthuộc tính tĩnh, tính có hiệu lực của nó là thuộc tính động phụ thuộc vào thời gian.Bên cạnh đó, giữa các VBPL tồn tại cả những quan hệ mang tính chất bất biến vànhững quan hệ có thể thay đổi theo thời gian Ví dụ bộ luật lao động quy địnhkhung pháp lý về mức lương tối thiểu và quy định chi tiết thi hành do chính phủban hành thay đổi theo từng năm nên quan hệ giữa chúng luôn thay đổi (Bảng 3.1)
Bảng 3.1 Mức lương tối thiểu vùng thay đổi qua từng năm
kỹ thuật rời rạc hóa thời gian thì số lượng đồ thị phải lưu trữ vẫn là rất lớn
Trang 28Bên cạnh đó, sử dụng riêng lẻ luật sinh hoặc ngôn ngữ khung đều không đủhiệu quả trong biểu diễn tri thức cho văn bản luật Luật sinh có nhược điểm tronghoạt động định nghĩa, mô tả các đối tượng hoặc những mối liên kết tĩnh giữa cácđối tượng Ngược lại, ngôn ngữ khung không cung cấp cơ chế suy diễn nên khôngthích ứng được với tính chất luôn vận động thay đổi của hệ thống VBPL.
Vì những lý do trên, luận văn đề xuất sử dụng kết hợp hai phương pháp làngôn ngữ khung và luật sinh đề mô hình hóa tri thức cho hệ thống văn bản luật.Ngôn ngữ khung hiệu quả trong đặc tả những đối tượng xuất hiện trong luật, tạo chỉmục và phân loại, luật sinh cung cấp cơ chế suy diễn hiệu quả, giúp cơ sở tri thức cóthể trả lời truy vấn một cách linh hoạt và chủ động cập nhật khi có thông tin mới
3.3.2 Cấu trúc khung
Hệ thống văn bản luật là hệ thống có cấu trúc, đây là tính chất thuận tiện choviệc phân loại chúng Phân loại VBPL giúp cho việc tổ chức thông tin được hiệuquả Các văn bản pháp luật cùng một loại thường có những tính chất chung Bêncạnh đó, phân loại văn bản pháp luật là cơ sở để phát hiện quan hệ giữa chúng.Bảng 3.2 thể hiện danh sách các loại văn bản pháp luật của Việt Nam
Bảng 3.2 Các loại văn bản pháp luật
- Hiến pháp
- Luật
- Nghị quyết
Ủy ban thường vụ Quốc hội với Đoàn Chủ tịch Ủy ban - Nghị quyết liên tịch.trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam