1.1.1. Khái niệm phân tích tình hình tài chính doanh nghiệpPhân tích tài chính là một tập hợp các khái niệm, phương pháp và các công cụ cho phép thu thập và xử lý các thông tin kế toán và các thông tin khác về quản lý nhằm đánh giá tình hình tài chính của một doanh nghiệp, đánh giá rủi ro, mức độ và chất lượng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp đó, khả năng và tiềm lực của doanh nghiệp, giúp người sử dụng thông tin đưa ra các quyết định tài chính, quyết định quản lý phù hợp.Mối quan tâm hàng đầu của các nhà phân tích tài chính là đánh giá rủi ro tác động tới các doanh nghiệp mà biểu hiện của nó là khả năng thanh toán, đánh giá khả năng cân đối vốn, năng lực hoạt động cũng như khả năng sinh lãi của doanh nghiệp. Trên cơ sở đó, các nhà phân tích tài chính tiếp tục nghiên cứu và đưa ra những dự đoán về kết quả hoạt động nói chung và mức doanh lợi nói riêng của doanh nghiệp trong tương lai. 1.1.2. Mục đích phân tích tình hình tài chính doanh nghiệpHoạt động tài chính có mối quan hệ trực tiếp với hoạt động kinh doanh. Do đó tất cả các hoạt động kinh doanh đều có ảnh hưởng đến tình hình tài chính của doanh nghiệp. Ngược lại, tình hình tài chính tốt hay xấu đều có tác dụng thúc đẩy hoặc kìm hãm đối với quá trình sản xuất kinh doanh. Các báo cáo tài chính phản ánh kết quả và tình hình hoạt động của doanh nghiệp bằng các chỉ tiêu kinh tế. Tuy nhiên, nhu cầu sử dụng thông tin trên các báo cáo tài chính của những người sử dụng rất khác nhau phụ thuộc vào mục đích của họ.•Đối với các chủ doanh nghiệp và các nhà quản trị doanh nghiệpMối quan tâm hàng đầu của họ là tìm kiếm lợi nhuận và khả năng tài trợ. Ngoài ra, các nhà quản trị doanh nghiệp còn quan tâm đến nhiều mục tiêu khác nhau như: tạo công ăn việc làm, nâng cao chất lượng sản phẩm, cung cấp nhiều sản phẩm hàng hóa, dịch vụ với chi phí thấp, đóng góp phúc lợi xã hội bảo vệ môi trường… Tuy nhiên, một doanh nghiệp chỉ có thể thực hiện được các mục tiêu này nếu đáp ứng được hai thử thách sống còn và là hai mục tiêu cơ bản là: kinh doanh có lãi và thanh toán được nợ. Một doanh nghiệp bị lỗ liên tục rốt cuộc sẽ bị cạn kiệt các nguồn lực và buộc phải đóng cửa. Một doanh nghiệp nếu không có khả năng thanh toán nợ đến hạn thì cũng bị buộc phải ngừng hoạt động và đóng cửa.•Đối với các chủ ngân hàng và nhà cho vay tín dụngMối quan tâm hàng đầu của họ hướng chủ yếu vào khả năng trả nợ của doanh nghiệp. Vì vậy, họ đặc biệt chú ý đên lượng tiền và các tài sản khác có thể chuyển đổi thành tiền nhanh, từ đó so sánh với số nợ ngắn hạn để biết được khả năng thanh toán tức thời của doanh nghiệp. Bên cạnh đó họ cũng rất quan tâm tới số lượng vốn của chủ sỡ hữu vì số vốn này là khoản bảo hiểm cho họ trong trường hợp doanh nghiệp gặp rủi ro. Không mấy ai sẵn sàng cho vay nếu các thông tin cho thấy người vay không đảm bảo chắc chắn rằng khoản vay đó có thể sẽ được thanh toán ngay khi đến hạn.•Đối với các nhà cung cấp vật tư, hàng hóa, dịch vụMối quan tâm hàng đầu của họ cũng giống như chủ ngân hàng, họ cần phải biết khả năng thanh toán của khách hàng hiện tại và thời gian sắp tới. Để từ đó họ quyết định xem có cho phép khách hàng sắp tới được mua chịu hàng hay không?•Đối với các nhà đầu tưMối quan tâm hàng đầu của họ hướng chủ yếu vào các yếu tố như sự rủi ro, mức độ sinh lãi, thời gian hoàn vốn, khả năng thanh toán vốn… Vì vậy họ cần những thông tin về khả năng tài chính, tình hình hoạt động, về kết quả kinh doanh và các tiềm năng tăng trưởng của doanh nghiệp đồng thời các nhà đầu tư cũng rất quan tâm đến tính hiệu quả của công tác quản lý. Những điều đó nhằm đảm bảo sự an toàn và tính hiệu quả cho các nhà đầu tư.Bên cạnh các chủ doanh nghiệp (chủ sở hữu), các nhà quản lý, chủ ngân hàng… và những người khác quan tâm tới thông tin tài chính của doanh nghiệp đó là cơ quan tài chính, thuế, thống kê, cơ quan chủ quản, các nhà phân tích tình hình tài chính, những người lao động… mục đích của họ cũng giống như các chủ ngân hàng, các nhà đầu tư… bởi vì nó liên quan đến quyền lợi và trách nhiệm đến khách hàng và tương lai của họ.Các cơ quan tài chính, thuế, thống kê, cơ quan chủ quản, các nhà phân tích tình hình tài chính, những người lao động… là hoạt động của doanh nghiệp có thích hợp và hợp pháp không? Doanh nghiệp có thể tăng thêm thu nhập cho người lao động không? Như vậy, mục đích tối cao và quan trọng nhất của phân tích tình hình tài chính là cung cấp thông tin hữu ích cho các đối tượng khác nhau nhằm giúp họ đưa ra quyết định lựa chọn phương án kinh doanh tối ưu và đánh giá chính xác thực trạng, tiềm năng của doanh nghiệp.1.1.3. Ý nghĩa của phân tích tình hình tài chính doanh nghiệpHoạt động tài chính có mối quan hệ trực tiếp với hoạt động sản xuất kinh doanh. Do đó tất cả các hoạt động sản xuất kinh doanh đều có ảnh hưởng đến tài chính của doanh nghiệp. Ngược lại, tình hình tài chính tốt hay xấu đều có tác động thúc đẩy hoặc kìm hãm đối với quá trình sản xuất kinh doanh. Chính vì vậy, phân tích tình hình tài chính có ý nghĩa quan trọng đối với bản thân chủ doanh nghiệp và các đối tượng bên ngoài có liên quan đến tài chính của doanh nghiệp.Cung cấp đầy đủ, kịp thời và chính xác các thông tin về tài chính do chủ sở hữu, người cho vay, nhà đầu tư, ban lãnh đạo Công ty. Để họ có những quyết định đúng đắn trong tương lai để dạt được hiệu quả cao nhất về tình hình thực tế của doanh nghiệp.Đánh giá hiệu quả thực trạng của Công ty trong kỳ báo cáo về vốn, tài sản, mật độ.Hiệu quả của việc sử dụng vốn và tài sản hiện có tìm ra sự tồn tại và nguyên nhân của sự tồn tại đó để có biện pháp phù hợp trong kỳ dự đoán.Để có những chính sách điều chỉnh thích hợp nhằm đạt được mục tiêu mà Công ty đã đặt ra.Cung cấp thông tin về tình hình huy động vốn , chính sách vay nợ, mật độ sử dụng đòn bẩy kinh doanh, đòn bẩy tài chính với mục đích làm gia tăng lợi nhuận trong tương lai . Kết quả phân tích tài chính phục vụ cho những mục đích khác nhau, của nhiều đối tượng sự dụng thông tin trên báo cáo tài chính.1.2. Phương pháp phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp1.2.1. Phương pháp so sánhSo sánh giữa số thực hiện kỳ này với số thực hiện kỳ trước để thấy rõ xu hướng thay đổi về tài chính của doanh nghiệp, thấy được tình hình tài chính được cải thiện hay xấu đi như thế nào để có biện pháp khắc phục trong kỳ tới.So sánh giữa số thực hiện với số kế hoạch để thấy rõ mức độ phấn đấu hoàn thành kế hoạch của doanh nghiệp.So sánh giữa số thực hiện kỳ này với mức trung bình của ngành để thấy tình hình tài chính doanh nghiệp đang ở trong tình trạng tốt hay xấu, được hay chưa được so với doanh nghiệp cùng ngành.So sánh theo chiều dọc để thấy được tỷ trọng của từng tổng số ở mỗi bản báo cáo và qua đó chỉ ra ý nghĩa tương đối của các loại các mục, tạo điều kiện thuận lợi cho việc so sánh.So sánh theo chiều ngang để thấy được sự biến động cả về số tuyệt đối và số tương đối của một khoản mục nào đó qua các niên độ kế toán liên tiếp.Khi sử dụng phương pháp so sánh phải tuân thủ 2 điều kiện sau:Điều kiện một: Phải xác định rõ “gốc so sánh” và “kỳ phân tích”.Điều kiện hai: Các chỉ tiêu so sánh (Hoặc các trị số của chỉ tiêu so sánh) phải đảm bảo tính chất có thể so sánh được với nhau. Muốn vậy, chúng phải thống nhất với nhau về nội dung kinh tế, về phương pháp tính toán, thời gian tính toán.1.2.2. Phương pháp tỷ lệPhương pháp này dựa trên các ý nghĩa chuẩn mực các tỷ lệ của đại lượng tài chính trong các quan hệ tài chính. Về nguyên tắc, phương pháp này yêu cầu phải xác định được các ngưỡng, các định mức để nhận xét, đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp, trên cơ sở so sánh các tỷ lệ của doanh nghiệp với giá trị các tỷ lệ tham chiếu.Đây là phương pháp có tính hiện thực cao với các điều kiện được áp dụng ngày càng được bổ sung và hoàn thiện hơn. Vì:Nguồn thông tin kế toán và tài chính được cải tiến và cung cấp đầy đủ hơn là cơ sở để hình thành những tham chiếu tin cậy nhằm đánh giá một tỷ lệ của một doanh nghiệp hay một nhóm doanh nghiệp.Việc áp dụng tin học cho phép tích luỹ dữ liệu và thúc đẩy nhanh quá trình tính toán hàng loạt các tỷ lệ.Phương pháp này giúp các nhà phân tích khai thác có hiệu quả những số liệu và phân tích một cách hệ thống hàng loạt tỷ lệ theo chuỗi thời gian liên tục hoặc theo từng giai đoạn.Khi phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp, các tỷ lệ tài chính được phân thành các nhóm tỷ lệ đặc trưng, phản ánh những nội dung cơ bản theo các mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp:+ Tỷ lệ về khả năng thanh toán+ Tỷ lệ về cơ cấu và nguồn vốn,+ Tỷ lệ về năng lực hoạt động kinh doanh,+ Tỷ lệ về khả năng sinh lời.1.3. Tài liệu phục vụ cho phân tích tình hình tài chính doanh nghiệpBáo cáo tài chính là những báo cáo tổng hợp nhất về tình hình tài sản, nguồn vốn, kết quả kinh doanh, tình hình lưu chuyển tiền tệ trong mỗi thời kỳ cụ thể của doanh nghiệp. Báo cáo tài chính cung cấp các thông tin kinh tế tài chính chủ yếu cho người sử dụng thông tin kế toán trong việc đánh giá, phân tích và dự đoán tình hình tài chính, kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Báo cáo tài chính được sử dụng như nguồn dữ liệu chính khi phân tích hoạt động tài chính doanh nghiệp.Theo Chế độ kế toán doanh nghiệp hiện hành Thông tư số 2002014TTBTC ngày 22 12 2014 của Bộ Tài chính, hệ thống báo cáo tài chính áp dụng cho tất cả các doanh nghiệp thuộc mọi lĩnh vực, mọi thành phần kinh tế trong cả nước ở ViệtNam bao gồm 4 biểu mẫu báo cáo sau:Bảng cân đối kế toán (Mẫu số B01 DN);Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh (Mẫu số B02 DN);Báo cáo lưu chuyển tiền tệ (Mẫu số B03 DN);Bản thuyết minh báo cáo tài chính (Mẫu số B09 DN).1.3.1. Bảng cân đối kế toánBảng cân đối kế toán là một báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh tổng quát toàn bộ tài sản của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định dưới hình thái tiền tệ theo giá trị tài sản và nguồn vốn hình thành tài sản. Về bản chất bảng cân đối kế toán là một bảng cân đối tổng hợp giữa tài sản và vốn chủ sở hữu và công nợ phải trả.Kết cấu bảng cân đối kế toán được trình bày thành hai phần:Phần phản ánh giá trị tài sản gọi là “Tài sản”: Phản ánh toàn bộ giá trị tài sản hiện có của doanh nghiệp tại thời điểm lập báo cáo theo cơ cấu tài sản và hình thức tồn tại trong quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Tài sản được chia thành 2 phần: Tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn. Phần phản ánh nguồn hình thành tài sản gọi là “Nguồn vốn”: Phản ánh nguồn hình thành tài sản hiện có của doanh nghiệp tại thời điểm lập báo cáo. Các chỉ tiêu nguồn vốn thể hiện trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp đối với tài sản đang quản lý và sử dụng tại doanh nghiệp. Nguồn vốn được chia thành nợ phải trả và nguồn vốn chủ sở hữu.Hai phần tài sản và nguồn vốn của bảng cân đối kế toán đều có tổng cộng ở các năm bằng nhau theo đúng công thức: Tổng tài sản = Tổng nguồn vốnTổng tài sản = Nợ phải trả + Nguồn vốn chủ sở hữu
Trang 2MỤC LỤC
MỤC LỤC 2
DANH MỤC BẢNG 5
DANH MỤC HÌNH 6
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH 9
1.1 Khái niệm, mục đích, ý nghĩa của phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp9 1.1.1 Khái niệm phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp 9
1.1.2 Mục đích phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp 9
1.1.3 Ý nghĩa của phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp 11
1.2 Phương pháp phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp 11
1.2.1 Phương pháp so sánh 11
1.2.2 Phương pháp tỷ lệ 12
1.3 Tài liệu phục vụ cho phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp 12
1.3.1 Bảng cân đối kế toán 13
1.3.2 Báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh 15
1.3.3 Báo cáo lưu chuyển tiền tệ 16
1.3.4 Thuyết minh báo cáo tài chính 20
1.4 Nội dung phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp 21
1.4.1 Phân tích khái quát tình hình tài chính doanh nghiệp 21
1.4.2 Phân tích cơ cấu tài sản và nguồn vốn 24
1.4.3 Phân tích tình hình đảm bảo nguồn vốn cho hoạt động kinh doanh 26
1.4.4 Phân tích tình hình và khả năng thanh toán 29
1.4.5 Phân tích hiệu quả sử dụng vốn và tài sản 32
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY TNHH VẬN TẢI NAM VÂN 37
2.1 Giới thiệu chung về Công ty Cổ phần TNHH Vận Tải Nam Vân 37
2.1.1: Thông tin chung về Công ty 37
2.1.2: Quá trình hình thành và phát triển 37
2.1.3: Lĩnh vực, ngành nghề kinh doanh 38
Trang 32.1.3.1 Ngành nghề kinh doanh 38
2.1.3.2 Ngành nghề kinh doanh chính: Vận tải hàng hóa đường bộ 38
2.1.4 Cơ cấu tổ chức của Công ty TNHH Vân Tải Nam Vân 39
2.1.4.1 Sơ đồ cơ cấu bộ máy tổ chức quản lý 39
2.1.4.2 Chức năng nhiệm vụ của các bộ phận 39
2.1.4.3 Cơ cấu tổ chức bộ máy kế toán tại Công ty TNHH Vận Tải Nam Vân: 41
2.1.4.4 Tình hình nhân sự 43
2.2 Khái quát kết quả hoạt động kinh doanh của công ty TNHH Vận Tải Nam Vân 45
2.2.1 Về doanh thu 45
2.2.2 Về chi phí 46
2.2.3 Về lợi nhuận 47
CHƯƠNG III: PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY TNHH VẬN TẢI NAM VÂN NĂM 2019 48
3.1 Phân tích khái quát tình hình tài chính của công ty Cổ phần TNHH Vận Tải Nam Vân 48
3.1.1 Phân tích khái quát tình hình tài chính của Công ty TNHH vận tải Nam Vân qua bảng cân đối kế toán 48
3.1.2 Phân tích khái quát tình hình tài chính qua bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của công ty năm 2019 50
3.2 Phân tích tài sản và nguồn vốn 53
3.2.1 Phân tích tình hình tài sản 53
3.2.2 Phân tích nguồn vốn 56
3.3.1 Vốn lưu động thường xuyên 59
3.3.2 Nhu cầu vốn lưu động thường xuyên 60
3.3.3 Mối quan hệ giữa vốn lưu động thường xuyên và nhu cầu vốn lưu động thường xuyên 61
3.4 Phân tích tình hình và khả năng thanh toán 61
3.4.1 Phân tích tình hình thanh toán 61
3.4.2 Phân tích khả năng thanh toán 65
3.5 Phân tích hiệu quả sử dụng vốn và tài sản 67
3.5.1 Phân tích hiệu suất sử dụng vốn và tài sản 67
Trang 43.5.2 Phân tích khả năng sinh lời 69
3.6 Biện pháp cải thiện tình hình tài chính của công ty 71 3.6.1 Nhận xét chung về tình hình tài chính của Công ty TNHH Vận Tải Nam Vân 71 3.6.2 Đề xuất một số giải pháp cải thiện tình hình tài chính tại Công ty TNHH Vận Tải Nam Vân 72 KẾT LUẬN 73
Trang 5DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Bảng cân đối kế toán 14Bảng 1.2.Bảng báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh 15Bảng 1.3 Báo cáo lưu chuyển tiền tệ (theo phương pháp trực tiếp) 19Bảng 2.1 Cơ cấu lao động tại Công ty TNHH Vận Tải Nam Vân năm 2018 và năm 2019 44Bảng 2.2 Tình hình thực hiện doanh thu của Công ty TNHH Vận Tải Nam Vân năm 2018– 2019 45Bảng 2.3 Bảng chi phí của Công ty TNHH Vận Tải Nam Vân năm 2018 và 2019 46Bảng 2.4 Bảng lợi nhuận của Công ty TNHH Vận Tải Nam Vân năm 2018 và 2019 47Bảng 3.1 Bảng phân tích khái quát tình hình tài chính của Công ty TNHH Vận Tải Nam Vân qua bảng cân đối kế toán năm 2019……… 48Bảng 3.2 Phân tích khái quát tình hình tài chính hoạt động sản xuất kinh doanh của công
ty TNHH Vận Tải Nam Vân……… 51Bảng 3.3 Bảng phân tích cơ cấu tài sản của công ty TNHH Vận Tải Nam Vân năm
2019………54
Bảng 3.4 Phân tích tình hình biến động nguồn vốn và cơ cấu nguồn vốn của Công ty
TNHH Vận Tải Nam Vân năm 2019 ………57Bảng 3.5 Bảng phân tích vốn lưu động thường xuyên của Công ty TNHH Vận Tải Nam Vân năm 2019 59Bảng 3.6 Bảng phân tích nhu cầu vốn lưu động thường xuyên 60Bảng 3.7 Bảng mối quan hệ giữa vốn lưu động thường xuyên và nhu cầu vốn lưu động thường xuyên 61Bảng 3.9 Bảng phân tích các khoản nợ phải trả của Công ty TNHH Vận Tải Nam Vân năm 2019 63Bảng 3.10 So sánh các khoản phải thu và nợ phải trả 65Bảng 3.11 Bảng phân tích khả năng thanh toán của Công ty TNHH Vận Tải Nam Vân năm 2019 65
Bảng 3.12 Bảng hiệu suất sử dụng vốn và tài sản của Công ty TNHH Vận Tải Nam Vân
giai đoạn 2018 – 2019 67Bảng 3.13 Bảng phân tích khả năng sinh lời của Công ty TNHH Vận Tải Nam Vân năm
2018 – 2019 69
Trang 6DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1 Sơ đồ cơ cấu tổ chức quản lý của Công ty TNHH Vận Tải Nam Vân 39
Hình 2.2 Sơ đồ bộ máy kế toán tại Công ty TNHH Vận Tải Nam Vân 41
Hình 3.1 Cơ cấu tài sản đầu năm 2019……… 55
Hình 3.2 Cơ cấu tài sản cuối năm 2019……….55
Hình 3.3 Cơ cấu nguồn vốn đầu năm 2019 58
Hình 3.4 Cơ cấu nguồn vốn cuối năm 2019……… 58
Trang 7LỜI MỞ ĐẦU
Hòa cùng xu hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, công nghệ 4.0 đang là
xu thế cùng với sự phát triển của khoa học kĩ thuật nhu cầu về thông tin Bưu chính Viễnthông ngày càng cao giúp cho việc giao lưu, hội nhập về kinh tế, khoa học kĩ thuật củanước ta với các nước khác trên thế giới Với những yêu cầu về đổi mới công nghệ, để chủđộng trong hoạt động sản xuất kinh doanh và nhằm đạt được hiệu quả cao trong quá trìnhsản xuất Phân tích tình hình tài chính chính sẽ giúp cho các nhà doanh nghiệp thấy rõthực trạng tài chính hiện tại, xác định đầy đủ và đúng đắn các nguyên nhân, mức độ ảnhhưởng của các nhân tố đến tình hình tài chính
Muốn tiến hành sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp phải có một lượng vốn nhấtđịnh bao gồm: vốn lưu động, vốn cố định và vốn chuyên dùng khác Nhiệm vụ của doanhnghiệp là phải tổ chức, huy động và sử dụng vốn sao cho có hiệu quả nhất trên cơ sở tôntrọng các nguyên tắc về tài chính, tín dụng và chấp hành luật pháp Vì vậy để kinh doanhđạt hiệu quả mong muốn, hạn chế rủi ro xảy ra, doanh nghiệp phải phân tích hoạt độngkinh doanh của mình, đồng thời dự đoán điều kiện kinh doanh trong thời gian tới, vạch rachiến lược phù hợp Đánh giá được đúng thực trạng tài chính sẽ giúp cho các nhà doanhnghiệp thấy rõ thực trạng tài chính hiện tại, xác định đầy đủ và đúng đắn các nguyênnhân, mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến tình hình tài chính Thông qua đó đưa racác quyết định quản trị ngắn hạn, dài hạn và giúp doanh nghiệp dự báo, đề phòng và hạnchế những rủi ro trong kinh doanh Chính vì thế để tồn tại, đứng vững và phát triển trong
xu thế cạnh tranh ngày càng khốc liệt, đòi hỏi doanh nghiệp phải nghiêm túc, cẩn thậntrong việc phân tích tình hình tài chính của mình Thông qua việc phân tích tình hình tàichính để đưa ra những giải pháp cho đơn vị trong năm tới và khắc phục sự cố có thể xảy
ra để có thể đạt được hiệu quả cao trong hoạt động sản xuất kinh doanh, tăng sức cạnhtranh
Phân tích tình hình tài chính chính là công cụ cung cấp thông tin cho các nhà quảntrị, nhà đầu tư, nhà cho vay, mỗi đối tượng quan tâm đến tài chính doanh nghiệp trên góc
độ khác nhau để phục vụ cho lĩnh vực quản lý, đầu tư của họ Chính vì vậy, phân tích tìnhhình tài chính doanh nghiệp là công việc làm thường xuyên không thể thiếu trong quản lýtài chính doanh nghiệp, nó có ý nghĩa thực tiễn và là chiến lược lâu dài Chính vì tầm
quan trọng đó em chọn đề tài “Phân tích tình hình tài chính tại Công ty TNHH Vận Tải Nam Vân” để làm đồ án tốt nghiệp
Qua việc nghiên cứu đề tài em có thể vận dụng những kiến thức đã được học vàothực tiễn, tiến hành xem xét, tổng hợp phân tích các số liệu, các báo cáo tài chính được
Trang 8công ty cung cấp, từ các cơ sở đó đánh giá tình hình tài chính của công ty Trên thực tế
đó em mạnh dạn đề xuất một số giải pháp với mong muốn đóng góp một phần nhỏ vào sựphát triển chung của cả công ty
Em xin gửi lời cảm ơn tới Ban lãnh đạo, các phòng ban chức năng của Công tyTNHH Vân Tải Nam Vân và quý thầy cô bộ môn Kinh tế Bưu chính Viễn thông –Trường Đại học Giao thông vận tải, đặc biệt là Thầy Giáo- PGS.TS Nguyễn ĐăngQuang đã giúp em hoàn thành đồ án tốt nghiệp Trong quá trình làm đồ án tốt nghiệp nàykhông thể tránh khỏi những thiếu sót, vì vậy em mong sự góp ý của quý Thầy, Cô
Trang 9CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÂN TÍCH TÌNH
HÌNH TÀI CHÍNH 1.1 Khái niệm, mục đích, ý nghĩa của phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp
1.1.1 Khái niệm phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp
Phân tích tài chính là một tập hợp các khái niệm, phương pháp và các công cụ chophép thu thập và xử lý các thông tin kế toán và các thông tin khác về quản lý nhằm đánhgiá tình hình tài chính của một doanh nghiệp, đánh giá rủi ro, mức độ và chất lượng hiệuquả hoạt động của doanh nghiệp đó, khả năng và tiềm lực của doanh nghiệp, giúp người
sử dụng thông tin đưa ra các quyết định tài chính, quyết định quản lý phù hợp
Mối quan tâm hàng đầu của các nhà phân tích tài chính là đánh giá rủi ro tác độngtới các doanh nghiệp mà biểu hiện của nó là khả năng thanh toán, đánh giá khả năng cânđối vốn, năng lực hoạt động cũng như khả năng sinh lãi của doanh nghiệp Trên cơ sở đó,các nhà phân tích tài chính tiếp tục nghiên cứu và đưa ra những dự đoán về kết quả hoạtđộng nói chung và mức doanh lợi nói riêng của doanh nghiệp trong tương lai
1.1.2 Mục đích phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp
Hoạt động tài chính có mối quan hệ trực tiếp với hoạt động kinh doanh Do đó tất cảcác hoạt động kinh doanh đều có ảnh hưởng đến tình hình tài chính của doanh nghiệp.Ngược lại, tình hình tài chính tốt hay xấu đều có tác dụng thúc đẩy hoặc kìm hãm đối vớiquá trình sản xuất kinh doanh Các báo cáo tài chính phản ánh kết quả và tình hình hoạtđộng của doanh nghiệp bằng các chỉ tiêu kinh tế Tuy nhiên, nhu cầu sử dụng thông tintrên các báo cáo tài chính của những người sử dụng rất khác nhau phụ thuộc vào mụcđích của họ
Đối với các chủ doanh nghiệp và các nhà quản trị doanh nghiệp
Mối quan tâm hàng đầu của họ là tìm kiếm lợi nhuận và khả năng tài trợ Ngoài ra,các nhà quản trị doanh nghiệp còn quan tâm đến nhiều mục tiêu khác nhau như: tạo công
ăn việc làm, nâng cao chất lượng sản phẩm, cung cấp nhiều sản phẩm hàng hóa, dịch vụvới chi phí thấp, đóng góp phúc lợi xã hội bảo vệ môi trường… Tuy nhiên, một doanhnghiệp chỉ có thể thực hiện được các mục tiêu này nếu đáp ứng được hai thử thách sốngcòn và là hai mục tiêu cơ bản là: kinh doanh có lãi và thanh toán được nợ Một doanhnghiệp bị lỗ liên tục rốt cuộc sẽ bị cạn kiệt các nguồn lực và buộc phải đóng cửa Mộtdoanh nghiệp nếu không có khả năng thanh toán nợ đến hạn thì cũng bị buộc phải ngừnghoạt động và đóng cửa
Trang 10Đối với các chủ ngân hàng và nhà cho vay tín dụng
Mối quan tâm hàng đầu của họ hướng chủ yếu vào khả năng trả nợ của doanhnghiệp Vì vậy, họ đặc biệt chú ý đên lượng tiền và các tài sản khác có thể chuyển đổithành tiền nhanh, từ đó so sánh với số nợ ngắn hạn để biết được khả năng thanh toán tứcthời của doanh nghiệp Bên cạnh đó họ cũng rất quan tâm tới số lượng vốn của chủ sỡhữu vì số vốn này là khoản bảo hiểm cho họ trong trường hợp doanh nghiệp gặp rủi ro.Không mấy ai sẵn sàng cho vay nếu các thông tin cho thấy người vay không đảm bảochắc chắn rằng khoản vay đó có thể sẽ được thanh toán ngay khi đến hạn
Đối với các nhà cung cấp vật tư, hàng hóa, dịch vụ
Mối quan tâm hàng đầu của họ cũng giống như chủ ngân hàng, họ cần phải biết khảnăng thanh toán của khách hàng hiện tại và thời gian sắp tới Để từ đó họ quyết định xem
có cho phép khách hàng sắp tới được mua chịu hàng hay không?
Đối với các nhà đầu tư
Mối quan tâm hàng đầu của họ hướng chủ yếu vào các yếu tố như sự rủi ro, mức độsinh lãi, thời gian hoàn vốn, khả năng thanh toán vốn… Vì vậy họ cần những thông tin vềkhả năng tài chính, tình hình hoạt động, về kết quả kinh doanh và các tiềm năng tăngtrưởng của doanh nghiệp đồng thời các nhà đầu tư cũng rất quan tâm đến tính hiệu quảcủa công tác quản lý Những điều đó nhằm đảm bảo sự an toàn và tính hiệu quả cho cácnhà đầu tư
Bên cạnh các chủ doanh nghiệp (chủ sở hữu), các nhà quản lý, chủ ngân hàng… vànhững người khác quan tâm tới thông tin tài chính của doanh nghiệp đó là cơ quan tàichính, thuế, thống kê, cơ quan chủ quản, các nhà phân tích tình hình tài chính, nhữngngười lao động… mục đích của họ cũng giống như các chủ ngân hàng, các nhà đầu tư…bởi vì nó liên quan đến quyền lợi và trách nhiệm đến khách hàng và tương lai của họ.Các cơ quan tài chính, thuế, thống kê, cơ quan chủ quản, các nhà phân tích tình hìnhtài chính, những người lao động… là hoạt động của doanh nghiệp có thích hợp và hợppháp không? Doanh nghiệp có thể tăng thêm thu nhập cho người lao động không?
Như vậy, mục đích tối cao và quan trọng nhất của phân tích tình hình tài chính làcung cấp thông tin hữu ích cho các đối tượng khác nhau nhằm giúp họ đưa ra quyết địnhlựa chọn phương án kinh doanh tối ưu và đánh giá chính xác thực trạng, tiềm năng củadoanh nghiệp
Trang 111.1.3 Ý nghĩa của phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp
Hoạt động tài chính có mối quan hệ trực tiếp với hoạt động sản xuất kinh doanh Do
đó tất cả các hoạt động sản xuất kinh doanh đều có ảnh hưởng đến tài chính của doanhnghiệp Ngược lại, tình hình tài chính tốt hay xấu đều có tác động thúc đẩy hoặc kìm hãmđối với quá trình sản xuất kinh doanh Chính vì vậy, phân tích tình hình tài chính có ýnghĩa quan trọng đối với bản thân chủ doanh nghiệp và các đối tượng bên ngoài có liênquan đến tài chính của doanh nghiệp
Cung cấp đầy đủ, kịp thời và chính xác các thông tin về tài chính do chủ sở hữu,người cho vay, nhà đầu tư, ban lãnh đạo Công ty Để họ có những quyết định đúng đắntrong tương lai để dạt được hiệu quả cao nhất về tình hình thực tế của doanh nghiệp.Đánh giá hiệu quả thực trạng của Công ty trong kỳ báo cáo về vốn, tài sản, mậtđộ.Hiệu quả của việc sử dụng vốn và tài sản hiện có tìm ra sự tồn tại và nguyên nhân của
sự tồn tại đó để có biện pháp phù hợp trong kỳ dự đoán.Để có những chính sách điềuchỉnh thích hợp nhằm đạt được mục tiêu mà Công ty đã đặt ra
Cung cấp thông tin về tình hình huy động vốn , chính sách vay nợ, mật độ sử dụngđòn bẩy kinh doanh, đòn bẩy tài chính với mục đích làm gia tăng lợi nhuận trong tươnglai Kết quả phân tích tài chính phục vụ cho những mục đích khác nhau, của nhiều đốitượng sự dụng thông tin trên báo cáo tài chính
1.2 Phương pháp phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp
1.2.1 Phương pháp so sánh
- So sánh giữa số thực hiện kỳ này với số thực hiện kỳ trước để thấy rõ xu hướng
thay đổi về tài chính của doanh nghiệp, thấy được tình hình tài chính được cải thiện hayxấu đi như thế nào để có biện pháp khắc phục trong kỳ tới
- So sánh giữa số thực hiện với số kế hoạch để thấy rõ mức độ phấn đấu hoàn thành
kế hoạch của doanh nghiệp
- So sánh giữa số thực hiện kỳ này với mức trung bình của ngành để thấy tình hình
tài chính doanh nghiệp đang ở trong tình trạng tốt hay xấu, được hay chưa được so vớidoanh nghiệp cùng ngành
- So sánh theo chiều dọc để thấy được tỷ trọng của từng tổng số ở mỗi bản báo cáo
và qua đó chỉ ra ý nghĩa tương đối của các loại các mục, tạo điều kiện thuận lợi cho việc
so sánh
- So sánh theo chiều ngang để thấy được sự biến động cả về số tuyệt đối và số tương
đối của một khoản mục nào đó qua các niên độ kế toán liên tiếp
Trang 12Khi sử dụng phương pháp so sánh phải tuân thủ 2 điều kiện sau:
- Điều kiện một: Phải xác định rõ “gốc so sánh” và “kỳ phân tích”.
- Điều kiện hai: Các chỉ tiêu so sánh (Hoặc các trị số của chỉ tiêu so sánh) phải đảm
bảo tính chất có thể so sánh được với nhau Muốn vậy, chúng phải thống nhất với nhau
về nội dung kinh tế, về phương pháp tính toán, thời gian tính toán
1.2.2 Phương pháp tỷ lệ
Phương pháp này dựa trên các ý nghĩa chuẩn mực các tỷ lệ của đại lượng tài chínhtrong các quan hệ tài chính Về nguyên tắc, phương pháp này yêu cầu phải xác định đượccác ngưỡng, các định mức để nhận xét, đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp, trên cơ
sở so sánh các tỷ lệ của doanh nghiệp với giá trị các tỷ lệ tham chiếu
Đây là phương pháp có tính hiện thực cao với các điều kiện được áp dụng ngàycàng được bổ sung và hoàn thiện hơn Vì:
- Nguồn thông tin kế toán và tài chính được cải tiến và cung cấp đầy đủ hơn là cơ sở
để hình thành những tham chiếu tin cậy nhằm đánh giá một tỷ lệ của một doanh nghiệphay một nhóm doanh nghiệp
- Việc áp dụng tin học cho phép tích luỹ dữ liệu và thúc đẩy nhanh quá trình tính
toán hàng loạt các tỷ lệ
- Phương pháp này giúp các nhà phân tích khai thác có hiệu quả những số liệu và
phân tích một cách hệ thống hàng loạt tỷ lệ theo chuỗi thời gian liên tục hoặc theo từnggiai đoạn
Khi phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp, các tỷ lệ tài chính được phân thànhcác nhóm tỷ lệ đặc trưng, phản ánh những nội dung cơ bản theo các mục tiêu hoạt độngcủa doanh nghiệp:
+ Tỷ lệ về khả năng thanh toán
+ Tỷ lệ về cơ cấu và nguồn vốn,
+ Tỷ lệ về năng lực hoạt động kinh doanh,
+ Tỷ lệ về khả năng sinh lời
1.3 Tài liệu phục vụ cho phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp
Báo cáo tài chính là những báo cáo tổng hợp nhất về tình hình tài sản, nguồn vốn,kết quả kinh doanh, tình hình lưu chuyển tiền tệ trong mỗi thời kỳ cụ thể của doanh
Trang 13dụng thông tin kế toán trong việc đánh giá, phân tích và dự đoán tình hình tài chính, kếtquả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Báo cáo tài chính được sử dụng như nguồn
dữ liệu chính khi phân tích hoạt động tài chính doanh nghiệp
Theo Chế độ kế toán doanh nghiệp hiện hành Thông tư số 200/2014/TT-BTC ngày
22 / 12 /2014 của Bộ Tài chính, hệ thống báo cáo tài chính áp dụng cho tất cả các doanhnghiệp thuộc mọi lĩnh vực, mọi thành phần kinh tế trong cả nước ở Việt
Nam bao gồm 4 biểu mẫu báo cáo sau:
- Bảng cân đối kế toán (Mẫu số B01 - DN);
- Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh (Mẫu số B02 - DN);
- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ (Mẫu số B03 - DN);
- Bản thuyết minh báo cáo tài chính (Mẫu số B09 - DN).
1.3.1 Bảng cân đối kế toán
Bảng cân đối kế toán là một báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh tổng quát toàn bộtài sản của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định dưới hình thái tiền tệ theo giá trị tàisản và nguồn vốn hình thành tài sản Về bản chất bảng cân đối kế toán là một bảng cânđối tổng hợp giữa tài sản và vốn chủ sở hữu và công nợ phải trả
Kết cấu bảng cân đối kế toán được trình bày thành hai phần:
- Phần phản ánh giá trị tài sản gọi là “Tài sản”: Phản ánh toàn bộ giá trị tàisản hiện có của doanh nghiệp tại thời điểm lập báo cáo theo cơ cấu tài sản và hình thứctồn tại trong quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Tài sản được chiathành 2 phần: Tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn
- Phần phản ánh nguồn hình thành tài sản gọi là “Nguồn vốn”: Phản ánhnguồn hình thành tài sản hiện có của doanh nghiệp tại thời điểm lập báo cáo Các chỉtiêu nguồn vốn thể hiện trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp đối với tài sản đangquản lý và sử dụng tại doanh nghiệp Nguồn vốn được chia thành nợ phải trả và nguồnvốn chủ sở hữu
Hai phần tài sản và nguồn vốn của bảng cân đối kế toán đều có tổng cộng ở cácnăm bằng nhau theo đúng công thức:
Tổng tài sản = Tổng nguồn vốn
Tổng tài sản = Nợ phải trả + Nguồn vốn chủ sở hữuNên bảng cân đối kế toán được trình bày trong bảng 1.1 như sau:
Trang 14Bảng 1.1 Bảng cân đối kế toán
minh
Đầu năm Cuối năm
A Tài sản ngắn hạn
I Tiền và các khoản tương đương tiền
II Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn
III Các khoản phải thu ngắn hạn
III Bất động sản đầu tư
IV Các khoản đầu tư tài chính dài hạn
Trang 15Tổng cộng nguồn vốn
1.3.2 Báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là một báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánhtình hình và kết quả hoạt động kinh doanh theo từng loại hoạt động của doanh nghiệp.Báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhấtđịnh
Bảng 1.2.Bảng báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh
1 Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ 01
2 Các khoản giảm trừ doanh thu 02
3 Doanh thu thuần về bán hàng và cung cấp dịch vụ
9 Chi phí quản lý doanh nghiệp 26
10 Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh
{30 = 20 + (21 - 22) - (25 + 26)} 30
Trang 1613 Lợi nhuận khác (40 = 31 - 32) 40
14 Tổng lợi nhuận kế toán trước thuế (50 = 30 + 40) 50
15 Chi phí thuế TNDN hiện hành 51
16 Chi phí thuế TNDN hoãn lại 52
17 Lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp (60=50
18 Lãi cơ bản trên cổ phiếu (*) 70
19 Lãi suy giảm trên cổ phiếu (*) 71
1.3.3 Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ là báo cáo tài chính tổng hợp phản ánh việc hình thành
và sử dụng lượng tiền phát sinh trong kỳ báo cáo của doanh nghiệp
Dựa vào báo cáo lưu chuyển tiền tệ người ta sử dụng có thể đánh giá được khả năngtạo ra các khoản tiền và việc sử dụng những khoản tiền đã tạo ra đó trong hoạt động sảnxuất kinh doanh của doanh nghiệp đặc biệt là đối với những nhà đầu tư, các chủ nợ Báo cáo lưu chuyển tiền tệ có tác dụng chủ yếu sau:
- Cung cấp thông tin cho các đối tượng sử dụng để phân tích, đánh giá về thời gian
cũng như mức độ chắc chắn của việc tạo ra những khoản tiền chắc chắn trong tương lai
- Cung cấp thông tin để kiểm tra dự toán, các đánh giá trước đây về các luồng tiền:
kiểm tra mối quan hệ giữa khả năng sinh lời với lượng lưu chuyển tiền thuần và nhữngtác động của thay đổi giá cả
- Cung cấp thông tin về các nguồn tiền hình thành từ các lĩnh vực hoạt động kinh
doanh, đầu tư và tài chính của doanh nghiệp làm tăng khả năng đánh giá khách quan vềtình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và khả năng so sánh giữa các doanhnghiệp vì nó loại trừ được ảnh hưởng của việc sử dụng các phương pháp kế toán khácnhau cho cùng giao dịch và hiện tượng
- Cung cấp thông tin để đánh giá các thay đổi trong tài sản thuần, cơ cấu tài sản, khả
năng chuyển đổi của tài sản thành tiền, khả năng thanh toán và khả năng của doanhnghiệp trong việc tạo ra các luồng tiền trong quá trình hoạt động trong chu kỳ hoạt động
Trang 17Nội dung của báo cáo lưu chuyển tiền tệ gồm ba phần:
Lưu chuyển tiền từ hoạt động kinh doanh
- Hoạt động kinh doanh: Là các hoạt động tạo ra doanh thu chủ yếu của doanh
nghiệp và các hoạt động khác không phải là các hoạt động đầu tư hay hoạt động tài chính
- Luồng tiền phát sinh từ hoạt động kinh doanh là luồng tiền có liên quan đến các
hoạt động tạo ra doanh thu chủ yếu của doanh nghiệp, nó cung cấp thông tin cơ bản đểđánh giá khả năng tạo tiền của doanh nghiệp từ các hoạt động kinh doanh để trang trảicác khoản nợ, duy trì các hoạt động, trả cổ tức và tiến hành các hoạt động đầu tư mới màkhông cần đến các nguồn tài chính bên ngoài Thông tin về các luồng tiền từ hoạt độngkinh doanh, khi được sử dụng kết hợp với các thông tin khác, sẽ giúp người sử dụng dựđoán được luồng tiền từ hoạt động kinh doanh trong tương lai Các luồng tiền chủ yếu từhoạt động kinh doanh, gồm:
- Tiền thu được từ việc bán hàng, cung cấp dịch vụ
- Tiền chi trả cho người cung cấp hàng hóa và dịch vụ
- Tiền chi trả cho người lao động về tiền lương, tiền thưởng, trả hộ người lao động
về bảo hiểm, trợ cấp…
- Tiền thu được từ doanh thu khác (tiền thu bản quyền, phí, hoa hồng và các khoản
khác trừ các khoản tiền thu được được xác định là luồng tiền từ hoạt động đầu tư và hoạtđộng tài chính)
- Tiền chi trả lãi vay
- Tiền chi nộp thuế thu nhập doanh nghiệp
- Tiền thu do được hoàn thuế
- Tiền thu do được bồi thường, được phạt do khách hàng vi phạm hợp đồng kinh tế
- Tiền chi trả công ty bảo hiểm về phí bảo hiểm, tiền bồi thường và các khoản tiền
khác theo hợp đồng bảo hiểm
- Tiền chi trả do bị phạt, bị bồi thường do doanh nghiệp vi phạm hợp đồng kinh tế
Các luồng tiền liên quan đến mua, bán chứng khoán vì mục đích thương mại đượcphân loại là các luồng tiền từ hoạt động kinh doanh
Lưu chuyển tiền từ hoạt động đầu tư
- Luồng tiền phát sinh từ hoạt động đầu tư là luồng tiền có liên quan đến việc mua
sắm, xây dựng, nhượng bán, thanh lý tài sản dài hạn và các khoản đầu tư khác khôngthuộc các khoản tương đương tiền Các luồng tiền chủ yếu từ hoạt động đầu tư gồm:
Trang 18- Tiền chi để mua sắm, xây dựng tài sản cố định và các tài sản dài hạn khác, bao
gồm cả những khoản tiền chi liên quan đến chi phí triển khai đã được vốn hóa là tài sản
cố định vô hình
- Tiền thu từ việc thanh lý, nhượng bán tài sản cố định và các tài sản dài hạn khác.
- Tiền chi cho vay đối với bên khác, trừ tiền chi cho vay của ngân hàng, tổ chức tín
dụng và các tổ chức tài chính, tiền chi mua các công cụ nợ của các đơn vị khác, trừtrường hợp tiền chi mua các công cụ nợ được coi là các khoản tương đương tiền và muacác công cụ nợ dùng cho mục đích thương mại
- Tiền thu hồi cho vay đối với bên khác, trừ trường hợp tiền thu hồi cho vay của
ngân hàng, tổ chức tín dụng và các tổ chức tài chính, tiền thu do bán lại các công cụ nợcủa đơn vị khác, trừ trường hợp thu tiền từ bán các công cụ nợ được coi là các khoảntương đương tiền và bán các công cụ nợ dùng cho mục đích thương mại
- Tiền chi đầu tư góp vốn vào đơn vị khác, trừ trường hợp tiền chi mua cổ phiếu vì
mục đích thương mại
- Tiền thu hồi đầu tư góp vốn vào đơn vị khác, trừ trường hợp tiền thu từ bán loại cổ
phiếu đã mua vì mục đích thương mại
- Tiền thu lãi cho vay, cổ tức và lợi nhuận nhận được.
Lưu chuyển tiền từ hoạt động tài chính
- Luồng tiền phát sinh từ hoạt động tài chính là luồng tiền có liên quan đến việc thay
đổi về quy mô và kết cấu của vốn chủ sở hữu và vốn vay của doanh nghiệp Các luồngtiền chủ yếu từ hoạt động tài chính, gồm:
+ Tiền thu từ phát hành cổ phiếu, nhận vốn góp của chủ sở hữu
+ Tiền chi trả vốn góp cho các chủ sở hữu, mua lại cổ phiếu của chính doanh nghiệp
đã phát hành
+ Tiền thu từ các khoản đi vay ngắn hạn, dài hạn
+ Tiền chi trả các khoản nợ gốc đã vay
+ Tiền chi trả nợ thuê tài chính
+ Cổ tức, lợi nhuận đã trả cho chủ sở hữu
- Có hai phương pháp lập báo cáo lưu chuyển tiền tệ là phương pháp trực tiếp vàphương pháp gián tiếp Mỗi báo cáo lập theo phương pháp khác nhau thì tuân theonguyên tắc cơ sở số liệu và cách lập các chỉ tiêu khác nhau
Trang 19Bảng 1.3 Báo cáo lưu chuyển tiền tệ ( theo phương pháp trực tiếp)
I Lưu chuyển tiền từ hoạt động kinh doanh
1 Tiền thu từ bán hàng, cung cấp dịch vụ và doanh
3 Tiền chi trả cho người lao động 03
4 Tiền lãi vay đã trả 04
5 Thuế thu nhập doanh nghiệp đã nộp 05
6 Tiền thu khác từ hoạt động kinh doanh 06
7 Tiền chi khác cho hoạt động kinh doanh 07
II Lưu chuyển tiền từ hoạt động đầu tư
1.Tiền chi để mua sắm, xây dựng TSCĐ và các tài sản
5.Tiền chi đầu tư góp vốn vào đơn vị khác 25
6.Tiền thu hồi đầu tư góp vốn vào đơn vị khác 26
7.Tiền thu lãi cho vay, cổ tức và lợi nhuận được chia 27
Trang 20Lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động đầu tư 30
III Lưu chuyển tiền từ hoạt động tài chính
1 Tiền thu từ phát hành cổ phiếu, nhận vốn góp của
chủ sở hữu
31
2 Tiền trả lại vốn góp cho các chủ sở hữu, mua lại cổ
phiếu của doanh nghiệp đã phát hành
32
3 Tiền thu từ đi vay 33
4 Tiền trả nợ gốc vay 34
5 Tiền trả nợ gốc thuê tài chính 35
6 Cổ tức, lợi nhuận đã trả cho chủ sở hữu 36
Lưu chuyển tiền thuần trong kỳ (50 = 20+30+40) 50
Tiền và tương đương tiền đầu kỳ 60
Ảnh hưởng của thay đổi tỷ giá hối đoái quy đổi ngoại
tệ
61
Tiền và tương đương tiền cuối kỳ (70 = 50+60+61) 70
1.3.4 Thuyết minh báo cáo tài chính
Thuyết minh báo cáo tài chính là báo cáo được trình bày bằng lời văn nhằm cungcấp các thông tin về tình hình sản xuất kinh doanh chưa có trong hệ thống báo cáo tàichính, đồng thời giải thích thêm chi tiết những nội dung thay đổi về tài sản, nguồn vốn
mà các dữ liệu bằng số trong các báo cáo tài chính không thể hiện được
Những điều cần diễn giải thường là:
- Đặc điểm của doanh nghiệp như: Hình thức sở hữu, lĩnh vực kinh doanh, tổng sốcông nhân viên và những ảnh hưởng quan trọng đến tình hình kinh doanh trong năm báocáo của doanh nghiệp
Trang 21- Hình thức kế toán đã và đang áp dụng như: Niên độ kế toán, đơn vị tiền tệ, hìnhthức sổ kế toán áp dụng, phương pháp kế toán tài sản cố định, phương pháp kế toán hàngtồn kho, chính sách kế toán đối với các chi phí đi vay
- Một số chỉ tiêu trong báo cáo tài chính: chi phí sản xuất kinh doanh, hàng tồn kho,tình hình tăng giảm tài sản cố định
- Giải thích và thuyết minh một số tình hình và kết quả hoạt động sản xuất, kinhdoanh
- Một số chỉ tiêu đánh giá khái quát tình hình hoạt động của doanh nghiệp
1.4 Nội dung phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp
1.4.1 Phân tích khái quát tình hình tài chính doanh nghiệp
Phân tích khái quát tình hình tài chính nhằm cung cấp những thông tin khái quát vềtình hình tài chính của doanh nghiệp trong kỳ là khả quan hay không khả quan Xuất phát
từ mục đích này, phân tích khái quát tình hình tài chính được thể hiện qua các vấn đề cơbản sau:
- Xem xét tình hình huy động và sử dụng vốn của doanh nghiệp trong kỳ;
- Đánh giá mức độ độc lập về mặt tài chính của doanh nghiệp
- Đánh giá khả năng thanh toán của doanh nghiệp
- Phân tích các chỉ tiêu tài chính cơ bản như doanh thu, chi phí lợi nhuận và khảnăng sinh lời
Khi phân tích khái quát tình hình tài chính thường dùng phương pháp so sánh đốichiếu
1.4.1.1 Phân tích khái quát tình hình tài chính qua bảng cân đối kế toán
1 Phân tích quy mô sử dụng vốn và khả năng huy động vốn trong kỳ
Phân tích quy mô sử dụng vốn trong kỳ cũng như khả năng huy động vốn của doanhnghiệp trong kỳ bằng cách so sánh sự biến động cuối kỳ so với đầu năm về tài sản vànguồn vốn của doanh nghiệp Đồng thời xem xét cơ cấu tài sản và biến động cơ cấu tàisản của doanh nghiệp có hợp lý hay không?
2 Đánh giá mức độ độc lập về mặt tài chính của doanh nghiệp
Như chúng ta đã biết bên cạnh việc huy động và sử dụng vốn, khả năng tự đảm bảo
về mặt tài chính và mức độ độc lập về mặt tài chính cũng cho thấy một cách khái quát
Trang 22tình hình tài chính của doanh nghiệp Khả năng tự đảm bảo về mặt tài chính và mức độđộc lập về mặt tài chính của doanh nghiệp thường được đánh giá thông qua chỉ tiêu tỷsuất tài trợ hay hệ số nợ.
Tỷ suất tài trợ phản ánh khả năng tài trợ cho tài sản của doanh nghiệp bằng nguồnvốn chủ sở hữu
Tỷ suất tài trợ = Nguồn vốn chủ sở hữuTổng tài sản
Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ mức độ độc lập về mặt tài chính của doanh nghiệpcàng cao, bời vì hầu hết tài sản mà doanh nghiệp có đều được đầu tư bằng số vốn củamình
Hệ số nợ phản ánh tình hình tàu trợ cho tài sản của doanh nghiệp bằng nguồn vốn từ đầu
tư bên ngoài
Hệ số nợ = Nợ phải trảTổng nguồn vốn
Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ mức độ độc lập về mặt tài chính của doanh nghiệpcàng thấp, bởi vì phần lớn tài sản mà doanh nghiệp hiện có đều được hình thành bằngnguồn vốn từ bên ngoài
3 Phân tích khả năng thanh toán
Tình hình tài chính của doanh nghiệp còn được thể hiện qua khả năng thanh toán.Nếu doanh nghiệp có đủ khả năng thanh toán thì tình hình tài chính sẽ khả quan và ngượclại Chính vì vậy khi phân tích khái quát tình hình tài chính không thể không đánh giá khảthanh toán của doanh nghiệp
Khả năng thanh toán của doanh nghiệp thường được đánh giá bằng các chỉ tiêu:
- Khả năng thanh toán ngắn hạn
Hệ số thanh toán ngắn hạn = Tài sản ngắn hạnTổng số nợ ngắn hạn
Ý nghĩa của chỉ tiêu này là mức độ trang trải của tài sản ngắn hạn đối với nợ ngắnhạn mà không cần tới một khoản vay nợ thêm Nếu hệ số này lớn hơn 1 thì doanh nghiệp
có đủ khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn và tình hình tài chính là bình thường
- Khả năng thanh toán tức thời:
Trang 23Hệ số thanh toán tức thời = Tiền và các chứng khoán ngắn hạnTổng số nợ ngắn hạn
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng đáp ứng ngay của tài sản ngắn hạn trước các khoản
nợ ngắn hạn Thực tế cho thấy nếu chỉ tiêu này tính ra mà lớn hơn 0.5 hoặc nhỏ hơn 0.1đều không tốt vì sẽ gây ứ đọng vốn hoặc thiếu tiền để thanh toán
- Khả năng thanh toán nhanh:
Hệ số thanh toán nhanh = TSNH-Hàng tồn khoTổng số nợ ngắn hạn
Hệ số thanh toán nhanh đo lường mức độ đáp ứng nhanh của tài sản ngắn hạntrước các khoản nợ ngắn hạn Khoản có thể dùng để thanh toán nhanh là tiền và cácchứng khoán ngắn hạn cộng với các khoản phải thu
Khi phân tích thường sử dụng phương pháp so sánh để đánh giá khả năng thanhtoán của doanh nghiệp là khả quan hay không khả quan Việc so sánh được thực hiệnbằng cách so sánh chỉ tiêu cuối kỳ so với đầu năm, so sánh với mức trung bình trongnghành hay so sánh với chỉ tiêu của các doanh nghiệp khác trong nghành
1.4.1.2 Phân tích khái quát tình hình tài chính qua báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh
Phân tích khái quát tình hình tài chính qua báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
là phân tích tình hình biến động của các chỉ tiêu doanh thu, chi phí, lợi nhuận cũng nhưkhả năng sinh lời của doanh nghiệp Mục đích của việc phân tích là đánh giá, xem xétdoanh thu, chi phí, lợi nhuận được tạo ra từ hoạt động của doanh nghiệp và sự hình thànhnhư vậy có phù hợp với đặc điểm kinh doanh của doanh nghiệp hay không? Khi phântích có thể sử dụng phương pháp so sánh đối chiếu So sánh theo chiều ngang để thấy sựbiến động của các chỉ tiêu doanh thu, chi phí, lợi nhuận So sánh theo chiều dọc để thấyđược những hoạt động nào đem lại doanh thu, lợi nhuận chủ yếu của doanh nghiệp
Ngoài ra, để đánh giá khái quát tình hình tài chính của doanh nghiệp người ta có thể
sử dụng các chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời của tài sản, khả năng sinh lời của vốn chủ
sở hữu
- Tỷ suất sinh lời của tài sản (ROA)
Tỷ suất sinh lời của tài sản = Lợi nhuận sau thuếTổng tài sản bình quân
Trang 24Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời của một đồng tài sản bình quân sử dụngtrong kỳ Chỉ tiêu này càng cao phản ánh hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp càngcao và ngược lại.
- Khả năng sinh lời của vốn chủ sở hữu (ROE)
Tỷ suất sinh lời của vốn chủ sở hữu =Lợi nhuận sau thuếVốn chủ sở hữu bình quân
Chỉ tiêu này được các nhà chủ sở hữu doanh nghiệp, các nhà đầu tư đặc biệt quantâm bởi vì nó phản ánh khả năng sinh lời của đồng vốn chủ sở hữu Chỉ tiêu này càng caothì trình độ sử dụng nguồn vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp càng cao và ngược lại
1.4.2 Phân tích cơ cấu tài sản và nguồn vốn
Để nắm được một cách đầy đủ thực trạng tài chính cũng như tình hình sử dụng tàisản của doanh nghiệp, cần thiết phải xem xét các mối quan hệ và tình hình biến động cáckhoản mục trong bảng cân đối kế toán
1.4.2.1 Phân tích cơ cấu tài sản
Khi phân tích cơ cấu tài sản:
- So sánh tổng số tài sản, từng loại tài sản cuối kỳ so với đầu năm để thấy được sựbiến động về quy mô của từng loại tài sản cũng như tổng tài sản của doanh nghiệp Trên
cơ sở đó đánh giá tính hợp lý của sự biến động từng loại tài sản
- Xem xét tỷ trọng từng loại tài sản chiếm trong tổng số và xu hướng biến động củachúng để thấy được mức độ hợp lý của việc phân bố Việc đánh giá phải dựa trên tínhchất kinh doanh và tình hình biến động của từng bộ phận
Khi phân tích cơ cấu tài sản cần tính chỉ tiêu:
- Tỷ suất đầu tư vào tài sản dài hạn:
Tỷ suất đầu tư vào TSDH = Tài sản dài hạnTổng tài sản
- Tỷ suất đầu tư vào tài sản ngắn hạn
Tỷ suất đầu tư vào TSNH = Tài sản ng ắ n h ạ nTổng tài sản
Ngoài ra, khi phân tích cơ cấu tài sản có thể tính chỉ tiêu phản ánh mối quan hệgiữa tài sản dài hạn và tài sản ngắn hạn Thông thường các doanh nghiệp mong muốn có
Trang 25một cơ cấu tài sản tối ưu, phản ánh cứ dành một đồng đầu tư vào tài sản dài hạn thì dành
ra bao nhiêu để đầu tư vào tài sản ngắn hạn Công thức xác định như sau:
Tỷ lệ giữa TSDH với TSNH = Tài sản dài hạnTài sản ngắn hạn
1.4.2.2 Phân tích biến động và cơ cấu nguồn vốn
Khi phân tích nguồn hình thành tài sản cần phải:
Xem xét biến động của từng nguồn hình thành tài sản
Xem xét tỷ trọng của từng loại chiếm trong tổng số cũng như xu hướng biến độngcủa chúng:
- Nếu nguồn vốn chủ sở hữu chiếm tỷ trọng cao trong tổng số nguồn vốn thì doanhnghiệp có khả năng tự đảm vào về mặt tài chính và mức độ độc lập của doanh nghiệp đốivới chủ nợ (ngân hàng, nhà cung cấp…) là cao Doanh nghiệp có thể chủ động về nguồnvốn trong hoạt động kinh doanh của mình
- Nếu công nợ phải trả chiếm chủ yếu trong tổng số nguồn vốn (cả về số tuyệt đốilẫn tương đối) thì khả năng tự đảm bảo về mặt tài chính của doanh nghiệp sẽ thấp Khảnăng tự đảm bảo về mặt tài chính cũng như mức độ độc lập về mặt tài chính của doanhnghiệp thường được đánh giá thông qua các chỉ tiêu tỷ suất tài trợ và hệ số nợ
- Tỷ suất tài trợ
Tỷ suất tài trợ = Nguồn vốn chủ sở hữuTổng tài sản
Chỉ tiêu này cho biết trong tổng số vốn của doanh nghiệp, sở hữu thực chất củadoanh nghiệp là bao nhiêu
- Hệ số nợ
Hệ số nợ = Nợ phải trảTổng nguồn vốn
Hệ số nợ cho biết, trong một đồng vốn huy động thì bao nhiêu được hình thành từnguồn vốn bên ngoài Hệ số nợ càng cao mức độ độc lập về mặt tài chính của doanhnghiệp càng thấp và ngược lại
1.4.3 Phân tích tình hình đảm bảo nguồn vốn cho hoạt động kinh doanh
Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp cần phải có tài sảnbao gồm TSNH và TSDH
Trang 26Để hình thành hai loại vốn này cần phải có các nguồn vốn tài trợ tương ứng baogồm nguồn vốn ngắn hạn và nguồn vốn dài hạn.
Nguồn vốn của doanh nghiệp được hình thành trước hết từ nguồn vốn của bản thânchủ sở hữu (vốn góp ban đầu và bổ sung trong quá trình sản suất) Sau nữa là nguồn hìnhthành từ vốn vay và nợ hợp pháp (vay ngắn hạn, dài hạn, nợ người cung cấp, nợ côngnhân viên chức…) Cuối cùng, nguồn vốn được hình thành từ các nguồn bất hợp phápnhư nợ quá hạn, vay quá hạn, chiếm dụng bất hợp pháp của người mua, người bán, côngnhân, viên chức…
Có thể phân nguồn vốn thành 2 loại:
- Nguồn tài trợ thường xuyên: là nguồn vốn mà doanh nghiệp được sử dụngthường xuyên, lâu dài vào hoạt động kinh doanh, bao gồm nguồn vốn chủ sở hữu vànguồn vốn vay nợ dài hạn (trừ vay nợ quá hạn)
- Nguồn tài trợ tạm thời: Là nguồn vốn mà doanh nghiệp tạm thời sử dụngvào hoạt động kinh doanh trong một khoảng thời gian ngắn Thuộc nguồn tài trợ nàybao gồm các khoản vay ngắn hạn, nợ ngắn hạn, các khoản vay nợ quá hạn (kể cả vay nợdài hạn); các khoản chiếm dụng bất hợp pháp của người bán, người mua, của côngnhân, viên chức…
Khi phân tích tình hình đảm bảo nguồn vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh, cầntính ra và so sánh tổng nhu cầu về tài sản (tài sản dài hạn và tài sản ngắn hạn) với nguồnvốn chủ sở hữu hiện có và nguồn vốn vay – nợ dài hạn Nếu tổng nguồn vốn có đủ hoặclớn hơn tổng số nhu cầu về tài sản thì doanh nghiệp cần sử dụng số thừa này một cáchhợp lý (đầu tư vào tài sản ngắn hạn, vào hoạt động liên doanh, trả nợ vay…), tránh bịchiếm dụng vốn Ngược lại, khi nguồn vốn không đáp ứng đủ nhu cầu về tài sản thìdoanh nghiệp cần phải có biện pháp huy động và sử dụng phù hợp (huy động nguồn tàitrợ hoặc giảm quy mô đầu tư…), tránh đi chiếm dụng vốn một cách bất hợp pháp
Khi phân tích nguồn vốn đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh thường tínhcác chỉ tiêu:
1.4.3.1 Vốn lưu động thường xuyên
Chênh lệch giữa nguồn vốn dài hạn với TSDH hoặc giữa TSNH với nguồn vốnngắn hạn được gọi là vốn lưu động thường xuyên
Vốn lưu động thường xuyên = Nguồn vốn dài hạn – TSDH
Hoặc: Vốn lưu động thường xuyên = TSNH – Nguồn vốn ngắn hạn
Trang 27Vốn lưu động thường xuyên là một chỉ tiêu tổng hợp rất quan trọng để đánh giá tìnhhình tài chính của doanh nghiệp Chỉ tiêu này cho biết hai điều cốt yếu:
+ Một là: doanh nghiệp có đủ khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn không?+ Hai là: Tài sản dài hạn của doanh nghiệp có được tài trợ một cách vững chắc bằngnguồn vốn dài hạn không?
Khi phân tích tình hình đảm bảo nguồn vốn cho hoạt động kinh doanh, ta cần tínhtoán và so sánh giữa nguồn vốn với hình thành tài sản Có thể xảy ra các trường hợp sau:
Trường hợp 1:
Nếu: Nguồn vốn dài hạn < TSDH
Hoặc: TSNH < Nguồn vốn ngắn hạn.
Tức là Vốn lưu động thường xuyên < 0
Nguồn vốn dài hạn không đủ đầu tư cho tài sản dài hạn Doanh nghiệp phải đầu tưvào tài sản dài hạn một phần nguồn vốn ngắn hạn, tài sản ngắn hạn không đáp ứng đủnhu cầu thanh toán nợ ngắn hạn, cán cân thanh toán của doanh nghiệp mất thăng bằng,doanh nghiệp phải dùng một phần tài sản dài hạn để thanh toán nợ đến hạn trả Tình hìnhtài chính không bình thường
Trường hợp 2:
Nếu: Nguồn vốn dài hạn > TSDH.
Hoặc: TSNH > Nguồn vốn ngắn hạn.
Tức là, Vốn lưu động thường xuyên > 0.
Nguồn vốn dài hạn dư thừa sau khi đầu tư vào tài sản dài hạn, phần dư thừa đó đầu
tư vào tài sản ngắn hạn Đồng thời tài sản ngắn hạn lớn hơn nguồn vốn ngắn hạn do vậykhả năng thanh toán ngắn hạn của doanh nghiệp tốt
Trường hợp 3:
Nếu: Nguồn vốn dài hạn = TSDH
Hoặc: TSNH = Nguồn vốn dài hạn
Tức là vốn lưu động thường xuyên = 0
Nguồn vốn dài hạn tài trợ đủ cho tài sản dài hạn và tài sản ngắn hạn đủ để doanhnghiệp trả các khoản nợ ngắn hạn, tình hình tài chính như vậy là bình thường
Trang 281.4.3.2 Nhu cầu vốn lưu động thường xuyên
Nhu cầu vốn lưu động thường xuyên là lượng vốn ngắn hạn doanh nghiệp cần để tàitrợ cho một phần tài sản lưu động Đó là hàng tồn kho và các khoản phải thu (Tài sản lưuđộng không phải tiền)
Nhu cầu vốn
lưu động TX =
Tồn kho và các khoản phải thu -
Nợ ngắn hạn
Trên thực tế có thể xảy ra các trường hợp sau:
* Trường hợp 1: Nhu cầu vốn lưu động thường xuyên > 0.
Tức là tồn kho và các khoán phải thu lớn hơn nợ ngắn hạn Tại đây các sử dụngngắn hạn của doanh nghiệp lớn hơn các nguồn vốn ngắn hạn mà doanh nghiệp có được từbên ngoài, doanh nghiệp phải dùng nguồn vốn dài hạn để tài trợ vào phần chênh lệch.Giải pháp trong trường hợp này là nhanh chóng giải phóng hàng tồn kho và giảm cáckhoản phải thu cho khách hàng
* Trường hợp 2: Nhu cầu vốn lưu động thường xuyên < 0.
Tức là các nguồn vốn ngắn hạn từ bên ngoài đã dư thừa để tài trợ các sử dụng ngắnhạn của doanh nghiệp Khi đó doanh nghiệp không cần nhận vốn ngắn hạn để tài trợ chochu kỳ kinh doanh
1.4.3.3 Mối quan hệ giữa vốn lưu động thường xuyên và nhu cầu vốn lưu động thường xuyên
Nhu cầu vốn lưu động thường xuyên có mối liên hệ với vốn lưu động thườngxuyên:
Vốn bằng tiền = Vốn lưu động thường xuyên – Nhu cầu vốn lưu động thường xuyên
Có thể xảy ra 3 trường hợp:
- Khi vốn lưu động thường xuyên lớn hơn không và lớn hơn nhu cầu vốn lưu động
thiết yếu, thì đây là một dấu hiệu tài chính lành mạnh và đảm bảo cân đối giữa tài sảnvới nguồn vốn trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, vì thế doanhnghiệp không phải vay để bù đắp, sự thiếu hụt về nhu cầu VLĐ, doanh nghiệp khônggặp khó khăn về thanh toán trong ngắn hạn
Trang 29- Khi vốn lưu động thường xuyên nhỏ hơn nhu cầu VLĐ hay VLĐTX nhỏ hơn tài
sản ngắn hạn thiết yếu hoặc âm thì đây là dấu hiệu tài chính bất bình thường và mất cânđối giữa tài sản với nguồn vốn, nếu tình trạng này kéo dài thì có thể dẫn đến tình trạngtài chính của doanh nghiệp rối loạn nghiêm trọng hơn, doanh nghiệp mất dần đến toàn
bộ vốn sở hữu và đến bờ vực phá sản
- Khi VLĐ bằng nhu cầu VLĐ, hay vốn bằng tiền của doanh nghiệp 0, tức là toàn
bộ các khoản vốn bằng tiền là đầu tư ngắn hạn được hình thành từ các khoản vay ngắnhạn Đây là dấu hiệu về tình trạng mất cân bằng tài chính
1.4.4 Phân tích tình hình và khả năng thanh toán
1.4.4.1 Phân tích tình hình thanh toán
Trong quá trình kinh doanh của doanh nghiệp luôn tồn tại những khoản nợ phải thu
và phải trả nên sẽ sảy ra nợ nần lẫn nhau Tuy nhiên, nếu để tình trạng nợ nần dây dưa,chiếm dụng vốn lẫn nhau sẽ dẫn đến hậu quả một số doanh nghiệp không có khả năngthanh toán, dẫn đến phá sản Đây là hiện tượng không tốt, vừa vi phạm các nguyên tắcquản lý tài chính vừa vi phạm pháp luật của Nhà nước Để không bị rơi vào tình trạngtrên, gây ảnh hưởng không tốt đến hoạt động kinh doanh, cần phải thường xuyên phântích tình hình tài chính doanh nghiệp
Phân tích tình hình thanh toán là đánh giá tính hợp ý về sự biến động của các khoảnphải thu, các khoản phải trả, tìm ra nguyên nhân dẫn đến sự đình trệ trong thanh toánnhằm giúp doanh nghiệp làm chủ tình hình tài chính, đảm bảo sự phát triển bền vững củadoanh nghiệp
Nội dung và trình tự được phân tích như sau:
1 Phân tích các khoản phải thu:
Các khoản phải thu của doanh nghiệp bao gồm: nợ phải thu, tạm ứng, các khoản ký quỹ,
ký cược dài hạn, ngắn hạn Khi phân tích các khoản phải thu thì cần phải:
So sánh tổng giá trị các khoản phải thu và giá trị từng khoản phải thu giữacuối kỳ so với đầu năm để thấy được sự tiến bộ trong việc thu hồi công nợ
Tính chỉ tiêu thể hiện tỷ lệ giữa tổng giá trị các khoản phải thu và tổngnguồn vốn Chỉ tiêu này phản ánh trong tổng nguồn vốn huy động được thì có bao nhiêuphần trăm (%) vốn thực chất không tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh, phản ánhmức độ vốn bị chiếm dụng của doanh nghiệp Nếu tỷ lệ này tăng lên đó là biểu hiệnkhông tốt đối với tình hình thanh toán của doanh nghiệp
Trang 30Tỷ lệ giữa tổng giá
trị các khoản phải
thu và tổng nguồn
vốn
= Tổng giá trị các khoản phải thuTổng nguồn vốn ×100%
2 Phân tích các khoản nợ phải trả
Để phân tích các khoản nợ phải trả trước hết:
So sánh tổng số nợ phải trả, từng các khoản nợ phải trả đầu năm và cuốinăm để thấy khái quát tình hình chi trả công nợ
Tính ra chỉ tiêu hệ số nợ, chỉ tiêu này phản ánh mức độ nợ trong tổng tàisản của doanh nghiệp Nếu hệ số nợ tăng lên, mức độ cần thanh toán tăng điều này ảnhhưởng đến khả năng thanh toán của doanh nghiệp
= Tổng giá trị các khoản phải thuTổng số nợ phải trả x100%
1.4.4.2 Phân tích khả năng thanh toán
Tình hình tài chính của doanh nghiệp chịu ảnh hưởng và tác động trực tiếp của khảnăng thanh toán Phân tích khả năng thanh toán là xem xét tài sản của doanh nghiệp có đủtrang trải cho các khoản nợ hay không Nếu doanh nghiệp có đủ khả năng thanh toán thìtình hình tài chính là khả quan và ngược lại khả năng thanh toán thấp thể hiện tình hìnhtài chính của doanh nghiệp đang gặp khó khăn Khi phân tích khả năng thanh toán cầnphải tiến hành phân tích nhu cầu thanh toán, sau đó tiến hành phân tích khả năng thanh
Trang 31Khi phân tích cần dựa vào các tài liệu hạch toán liên quan, tiến hành sắp xếp các chỉtiêu phân tích theo một trình tự nhất định Với nhu cầu thanh toán các chỉ tiêu được sắpxếp theo mức độ khẩn trương (thanh toán ngay, chưa cần thanh toán ngay) Còn đối vớikhả năng thanh toán thì các chỉ tiêu lại được sắp xếp theo khả năng huy động (huy độngngay, huy động trong thời gian tới).
Hệ số khả năng thanh toán
Hk = Khả năng thanh toánNhu cầu thanh toán
- Nếu : Hk >= 1 chứng tỏ doanh nghiệp có khả năng thanh toán và tình hình tàichính là bình thường và khả quan
- Nếu : Hk < 1: Khả năng thanh toán của doanh nghiệp là thấp và tình hình tài chính
có thể gặp khó khăn Hệ số khả năng thanh toán càng nhỏ bao nhiêu t hì doanh nghiệpcàng mất dần khả năng thanh toán bấy nhiêu
- Nếu Hk ≈ 0 thì doanh nghiệp bị phá sản, không đủ khả năng thanh toán
Khả năng thanh toán ngắn hạn
Hệ số thanh toán ngắn hạn = Tài sản ngắn hạnTổng nợ ngắn hạn
Hệ số thanh toán ngắn hạn phản ánh mức độ trang trải của tài sản ngắn hạn đối với
nợ ngắn hạn mà không cần tới một khoản vay nợ thêm Nếu hệ số này lớn hơn bằng 1 thìdoanh nghiệp có đủ khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn và tình hình tài chính làbình thường Nếu hệ số này nhỏ hơn 1 thì doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn trong thanhtoán, bởi lẽ trong trường hợp này tài sản ngắn hạn không đủ để thanh toán cho các khoản
nợ ngắn hạn và doanh nghiệp hoặc là phải đi vay nợ thêm, hoặc là phải bán bớt tài sản dàihạn của mình
Khả năng thanh toán tức thời
Hệ số thanh toán tức thời = Tiền và các chứng khoán ngắn hạnTổng nợ ngắn hạn
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng đáp ứng ngay của TSNH trước các khoản nợ ngắnhạn Thực tế cho thấy nếu chỉ tiêu này tính ra mà lớn hơn 0.5 hoặc nhỏ hơn 0.1 đềukhông tốt vì sẽ gây ứ đọng vốn hoặc thiếu tiền để thanh toán
Khả năng thanh toán nhanh
Trang 32Hệ số thanh toán nhanh = TSNH-Hàng tồn khoTổng nợ ngắn hạn
Hệ số thanh toán nhanh đo lường mức độ đáp ứng nhanh của TSNH trước cáckhoản nợ ngắn hạn Thực tế cho thấy, hệ số này nếu lướn hơn 0.5 thì tình hình thanh toántương đối khả quan, nếu nhỏ hơn 0.5 thì đơn vị có thể gặp khó khăn trong việc thanh toáncông nợ
Khả năng thanh toán tổng quát
Hệ số khả năng thanh toán tổng quát là mối quan hệ giữa tổng tài sản mà doanhnghiệp đang quản lý và sử dụng với tổng số nợ phải trả:
Hệ số thanh toán tổng quát = Nợ phải trảTổng tài sản
Chỉ tiêu này phản ánh mức độ đảm bảo các khoản nợ phải trả bằng tài sản củadoanh nghiệp Nếu hệ số này dần tới 1 là báo hiệu sự phá sản của doanh nghiệp, nguồnvốn chủ sở hữu mất hầu như toàn bộ, tổng số tài sản hiện có (TSNH, TSDH) không đủ trả
nợ mà doanh nghiệp phải thanh toán
Khi phân tích khả năng thanh toán cần lưu ý rằng, để đánh giá khả năng thanh toáncủa doanh nghiệp có khả quan hay không cần thiết phải so sánh các hệ số thanh toán củadoanh nghiệp với mức độ trung bình trong nghành cũng như các chỉ tiêu phản ánh khảnăng thanh toán của các doanh nghiệp khác trong nghành
1.4.5 Phân tích hiệu quả sử dụng vốn và tài sản
Phân tích hiệu quả sử dụng vốn và tài sản là một nội dung cơ bản của phân tích tìnhhình tài chính của doanh nghiệp Bởi lẽ, việc sử dụng vốn như thế nào là một trong nhữngvấnđề cốt lõi của quản trị doanh nghiệp, đánh giá trình độ tổ chức và quản lý hoạt độngkinh doanh của doanh nghiệp
Hiệu quả sử dụng vốn phản ánh khả năng tạo ra kết quả hoạt động kinh doanh(doanh thu, lợi nhuận) từ việc sử dụng các loại vốn của doanh nghiệp
Phân tích hiệu quả sử dụng vốn nhằm mục đích đánh giá tình hình sử dụng vốn củadoanh nghiệp trong kỳ, đồng thời chỉ ra những nguyên nhân ảnh hưởng tới hiệu quả sửdụng vốn của doanh nghiệp, trên cơ sở phân tích đề xuất những biện pháp nhằm nâng caohiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp
Khi phân tích hiệu quả sử dụng vốn người ta phân tích dưới hai góc độ: phân tích
Trang 331.4.5.1 Phân tích hiệu suất sử dụng vốn và tài sản
Hiệu suất sử dụng vốn bao gồm các chỉ tiêu dung để đo lường hiệu quả sử dụngvốn, tài sản của doanh nghiệp bằng cách so sánh doanh thu đạt được với việc bỏ vốn vàokinh doanh dưới các tài sản khác nhau
1 Hiệu suất sử dụng tổng tài sản
Chỉ tiêu này phản ánh một đồng tài sản bình quân sử dụng trong kỳ mang lại baonhiêu đồng doanh thu Công thức xác định như sau:
Hiệu suất sử dụng tài sản =Doanh thu thuầnTổng tài sản bình quân
2 Hiệu suất sử dụng tài sản dài hạn
Chỉ tiêu này phản ánh một đồng tài sản dài hạn bình quân sử dụng trong kỳ manglại bao nhiêu đồng doanh thu Công thức xác định như sau:
Hiệu suất sử dụng tài sản dài hạn =Doanh thu thuầnTài sản d à i hạ n bình quân
3 Sức sản xuất vốn cố định
Chỉ tiêu này phản ánh trong kỳ doanh nghiệp sử dụng một đồng vốn cố định bình quân
sẽ mang lại bao nhiêu đồng doanh thu thuần
Sức sản xuất vốn cố định = Doanh thu thuầnVốn cố định bình quân
Ngoài ra để đánh giá hiệu suất sử dụng tài sản cố định người ta còn có thể tính toán chỉtiêu sức sản xuất của tài sản cố định
Sức sản xuất của tài sản cố định = Doanh thu thuầnNguyên giá TSCĐ bình quân
4 Tốc độ luân chuyển vốn lưu động
Tốc độ luân chuyển vốn lưu động là vòng quay của vốn lưu động trong kỳ hoạt độngsản xuất kinh doanh hoặc thời gian của một vòng quay vốn lưu động Để đánh giá tốc độluân chuyển vốn lưu động thường dùng hai chỉ tiêu sau:
4.1 Số vòng quay của vốn lưu động trong kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh:
Số vòng quay của VLĐ trong = Doanh thu thuần
Vốn lưu động bình quân
Trang 34kỳ sản xuất kinh doanh
Chỉ tiêu này phản ánh tốc độ luân chuyển của vốn lưu động, nghĩa là trong mộtchu kỳ kinh doanh một đồng vốn lưu động bình quân quay được bao nhiêu vòng, hay làmột đồng vốn lưu động bình quân sử dụng trong kỳ mang lại bao nhiêu đồng doanh thu
4.2 Số ngày của một vòng quay vốn lưu động
Số ngày của một vòng quay vốn lưu động = 360Số vòng quay VLĐ
Chỉ tiêu này phản ánh số ngày cần thiết để hoàn thành một vòng luân chuyển củavốn lưu động Chỉ tiêu này càng nhỏ thì hiệu quả sử dụng vốn lưu động càng cao vàngược lại
5 Tốc độ luân chuyển các khoản phải thu
5.1 Vòng quay các khoản phải thu
Vòng quay các khoản phải thu phản ánh tốc độ chuyển đổi các khoản phải thuthành tiền mặt của doanh nghiệp
Số vòng quay các khoản
Doanh thu bán chịu
Số dư bình quân các khoản phải thu
Số vòng quay các khoản phải thu càng lớn, chứng tỏ tốc độ thu hồi các khoản thucàng nhanh càng tốt, vì doanh nghiệp không phải đầu tư nhiều vào các khoản phải thu
5.2 Kỳ thu tiền trung bình
Kỳ thu tiền trung bình phản ánh số ngày cần thiết để chuyển đổi các khoản phảithu thành tiền mặt
Kỳ thu tiền trung
360Vòng quay các khoản phải thu
Tuy nhiên kỳ thu tiền trung bình cao hay thấp trong nhiều trường hợp chưa có kếtluận chắc chắc mà còn phải xem xét lại các mục tiêu và chính sách của doanh nghiệp
6 Tốc độ luân chuyển hàng tồn kho
6.1 Số vòng quay hàng tồn kho
Trang 35Số vòng quay hàng tồn kho = Giá vốn hàng bánSố dư bình quân hàng tồn kho
6.2 Số ngày của một vòng quay hàng tồn kho
Là số ngày trung bình của một vòng quay hàng tồn kho
Số ngày của một
vòng quay hàng
tồn kho
= Số ngày của một vòng quay hàng tồn kho360
Tốc độ luân chuyển hàng tồn kho càng cao thì hiệu suất sử dụng vốn lưu độngcàng cao và ngược lại
1.4.5.2 Phân tích khả năng sinh lời
1 Sức sinh lời của tài sản (ROA)
Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản = Lợi nhuận sau thuếTổng tài sản bình quân
Đây là một chỉ tiêu tổng hợp nhất được dùng để đánh giá khả năng sinh lời củamột đồng vốn đầu tư Tùy thuộc vào tình hình cụ thể của doanh nghiệp được phân tích vàphạm vị so sánh mà người ta lựa chọn thu nhập sau thuế hoặc thu nhập trước thế và lãivay để so sánh với tổng tài sản
2 Sức sinh lời của vốn cố định
Sức sinh lời vốn cố định phản ánh một đồng vốn cố định bình quân sử dụng trong
kỳ sẽ mang lại bao nhiêu đồng lợi nhuận
Tỷ suất lợi nhuận trên vốn cố định = Lợi nhuận sau thuếVốn cố định bình quân
3 Sức sinh lời của tài sản ngắn hạn
Sức sinh lời của tài sản ngắn hạn phản ánh một đồng tài sản ngắn hạn bình quân sửdụng trong kỳ sẽ mang lại bao nhiêu đồng lợi nhuận
Tỷ suất lợi nhuận trên tài sản ngắn hạn = Lợi nhuận sau thuếT à i s ả n ng ắ n h ạ n bình quân
4 Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu (ROS)
Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu thể hiện trong một đồng doanh thu có bao nhiêuđồng lợi nhuận
Trang 36Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu = Lợi nhuận sau thuếDoanh thu thuần
Chỉ tiêu này càng cao phản ánh khả năng tạo ra lãi ròng trên một đồng doanh thucủa doanh nghiệp càng lớn và ngược lại
5 Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE)
Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu = Lợi nhuận sau thuếVốn chủ sở hữu bình quân
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời của một đồng vốn chủ sở hữu và nó đượccác chủ sở hữu doanh nghiệp, các nhà đầu tư đặc biệt quan tâm
Trang 37CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY TNHH VẬN TẢI NAM VÂN 2.1 Giới thiệu chung về Công ty Cổ phần TNHH Vận Tải Nam Vân
2.1.1: Thông tin chung về Công ty
- Công ty TNHH Vận Tải Nam Vân
- Tên giao dịch: NAMVAN CO., LTD
- Mã số thuế: 0700750897
- Hình thức sở hữu vốn: Công ty TNHH Vận Tải Nam Vân
- Lĩnh vực kinh doanh: Vận tải, kinh doanh vật liệu xây dựng
- Ngành nghề kinh doanh: Vận tải, kinh doanh vật liệu xây dựng
- Add: Thôn Kênh, Xã Thanh Nghị, Huyện Thanh Liêm, Tỉnh Hà Nam
- Đại diện pháp luật: Nguyễn Văn Vân
- Ngày cấp giấy phép: 04/02/2015
- Ngày hoạt động: 03/02/2015
- Đăng ký lần đầu ngày 04 tháng 02 năm 2015
- Đăng ký thay đổi lần thứ 1 ngày 21 tháng 02 năm 2018 do sở kế hoạch và đầu tư
Tỉnh Hà Nam cấp
- Số điện thoại: 0978245558
- Trạng thái: Đang hoạt động
2.1.2: Quá trình hình thành và phát triển
- Năm 2015, Công ty được thành lập và đặt trụ sở tại Thôn Kênh, Xã Thanh Nghị,
Huyện Thanh Liêm, Tỉnh Hà Nam
- Năm 2016, Công ty bước vào hoạt động ổn định, bắt đầu có lợi nhuận.
- Năm 2018, Đầu tư các trang thiết bị, mở rộng quy mô hoạt động.
- Năm 2019, Công ty phát triển ổn định, đang trên đà thu hồi vốn, lợi nhuận tăng so
với năm trước