1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Đề cương bài giảng TT HCM

92 31 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 670,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

I. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH. 1. Khái niệm tư tưởng và tư tưởng Hồ Chí Minh. Khái niệm tư tưởng được hiểu là toàn bộ những quan điểm, quan niệm đã phát triển thành hệ thống, được xây dựng trên một nền tảng triết học nhất định, nhằm lý giải các vấn đề tự nhiên, xã hội và con người. Các khái niệm “chủ nghĩa”, “tư tưởng”, “học thuyết” tuy nội hàm có những điểm khác nhau, nhưng có ý nghĩa gần tương đồng nhau, nên trong những trường hợp cụ thể, chúng có thể được dùng để thay thế cho nhau. Khái niệm nhà tư tưởng (quan niệm của chủ nghĩa Mác – Lênin): Một người sẽ trở thành nhà tư tưởng khi người đó đi trước phong trào tự phát của quần chúng, chỉ đường cho quần chúng, vạch ra đường lối chiến lược, sách lược của cách mạng và xây dựng cho quần chúng một tổ chức cách mạng (Lênin). Như vậy: Hồ Chí Minh là một nhà tư tưởng điển hình theo truyền thống lý luận phương Đông và theo quan điểm của Lênin + Vấn đề Tư tưởng Hồ Chí Minh chính thức được nêu ra tại đại hội VII Đảng Cộng Sản Việt Nam, năm 1991 với nghị quyết: Đảng lấy hủ nghĩa Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng và kim chỉ nam hành động… + Sau đại hội VII của Đảng, việc nghiên cứu Tư tưởng Hồ Chí Minh đã được triển khai sâu rộng ở trong và ngoài nước Cho đến nay, đã có nhiều định nghĩa khác nhau về tư tưởng Hồ Chí Minh được công bố, ta có thể khái quát thành 3 loại ý kiến sau: + Tư tưởng Hồ Chí Minh là kết quả của sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác Lênin vào điều kiện nước ta. Loại ý kiến này nhấn mạnh vai trò của chủ nghĩa Mác Lênin, song như giáo sư Trần Văn Giàu đánh giá: Nếu chỉ có chủ nghĩa Mác Lênin, chúng ta khó, thậm chí không thể làm cách mạng thành công. + Tư tưởng Hồ Chí Minh, trước hết là sức mạnh nội lực Việt Nam đã dung hóa, Việt hóa tư tưởng văn hóa của nhân loại để thăng hoa lên thành những sáng tạo mới mẻ. (loại ý kiến này nhấn mạnh yếu tố bản địa). + Tư tưởng Hồ Chí Minh là sự kết hợp nhuần nhuyễn truyền thống dân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại, mà nội dung cốt lõi là chủ nghĩa Mác Lênin. Đại hội lần thứ IX Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu săc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đến cách mạng xã hội chủ nghĩa; là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác Lênin vào điều kiện cụ thể nước ta, đồng thời là sự kết tinh tinh hoa dân tộc và trí tuệ thời đại nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người. Từ những cách định nghĩa trên, ta có thể khái quát: Tư tưởng Hồ Chí Minh là hệ thống các luận điểm về cách mạng Việt Nam, từ cách mạng dân tộc dân chủ tiến lên CNXH nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình thống nhất độc lập, dân chủ, giàu mạnh góp phần vào sự nghiệp cách mạng thế giới.

Trang 1

Chương mở đầu

ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

VÀ Ý NGHĨA HỌC TẬP MÔN TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

Mục đích yêu cầu.

- Sinh viên nhận thức được một số vấn đề cơ bản về đối tượng, phương phápnghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh

- Nắm được ý nghĩa của môn học, trên cơ sở đó có khả năng vận dụng một số vấn

đề có tính phương pháp luận của môn học vào việc học tập, nghiên cứu bộ môn và rènluyện trong thực tiễn

Tài liệu tham khảo.

1 Trần Văn Giàu: Sự hình thành về cơ bản tư tuởng Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị Quốc

gia, Hà Nội, 1991

2 Đặng Xuân Kỳ: Tư tưởng Hồ Chí Minh, Cộng sản, 3/1992.

3 Song Thành: Tư tưởng Hồ Chí Minh, khái niệm và hệ thống, Cộng sản, 1/1993

4 Hoàng Chí Bảo: Phương pháp tiếp cận và quan niệm về tư tưởng Hồ Chí Minh, Sinh

hoạt lý luận, 4/1998

4 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc Đảng Cộng sản Việt

Nam lần thứ VII, IX, X, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1991, 2011, 2016

NỘI DUNG

I ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH.

1 Khái niệm tư tưởng và tư tưởng Hồ Chí Minh

- Khái niệm tư tưởng được hiểu là toàn bộ những quan điểm, quan niệm đã phát

triển thành hệ thống, được xây dựng trên một nền tảng triết học nhất định, nhằm lý giảicác vấn đề tự nhiên, xã hội và con người

Các khái niệm “chủ nghĩa”, “tư tưởng”, “học thuyết” tuy nội hàm có những điểmkhác nhau, nhưng có ý nghĩa gần tương đồng nhau, nên trong những trường hợp cụ thể,chúng có thể được dùng để thay thế cho nhau

- Khái niệm nhà tư tưởng (quan niệm của chủ nghĩa Mác – Lênin): Một người sẽtrở thành nhà tư tưởng khi người đó đi trước phong trào tự phát của quần chúng, chỉđường cho quần chúng, vạch ra đường lối chiến lược, sách lược của cách mạng và xâydựng cho quần chúng một tổ chức cách mạng (Lênin)

- Như vậy: Hồ Chí Minh là một nhà tư tưởng điển hình theo truyền thống lý luậnphương Đông và theo quan điểm của Lênin

+ Vấn đề Tư tưởng Hồ Chí Minh chính thức được nêu ra tại đại hội VII ĐảngCộng Sản Việt Nam, năm 1991 với nghị quyết: Đảng lấy hủ nghĩa Mác - Lênin và tưtưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng và kim chỉ nam hành động…

+ Sau đại hội VII của Đảng, việc nghiên cứu Tư tưởng Hồ Chí Minh đã đượctriển khai sâu rộng ở trong và ngoài nước

Trang 2

- Cho đến nay, đã có nhiều định nghĩa khác nhau về tư tưởng Hồ Chí Minh đượccông bố, ta có thể khái quát thành 3 loại ý kiến sau:

+ Tư tưởng Hồ Chí Minh là kết quả của sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác Lênin vào điều kiện nước ta

-Loại ý kiến này nhấn mạnh vai trò của chủ nghĩa Mác - Lênin, song như giáo sưTrần Văn Giàu đánh giá: Nếu chỉ có chủ nghĩa Mác - Lênin, chúng ta khó, thậm chíkhông thể làm cách mạng thành công

+ Tư tưởng Hồ Chí Minh, trước hết là sức mạnh nội lực Việt Nam đã dung hóa,Việt hóa tư tưởng văn hóa của nhân loại để thăng hoa lên thành những sáng tạo mới mẻ.(loại ý kiến này nhấn mạnh yếu tố bản địa)

+ Tư tưởng Hồ Chí Minh là sự kết hợp nhuần nhuyễn truyền thống dân tộc, tinhhoa văn hóa nhân loại, mà nội dung cốt lõi là chủ nghĩa Mác - Lênin

Đại hội lần thứ IX Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định:

“Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu săc về nhữngvấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đến cáchmạng xã hội chủ nghĩa; là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác -Lênin vào điều kiện cụ thể nước ta, đồng thời là sự kết tinh tinh hoa dân tộc và trí tuệ thờiđại nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người."

Từ những cách định nghĩa trên, ta có thể khái quát:

Tư tưởng Hồ Chí Minh là hệ thống các luận điểm về cách mạng Việt Nam, từ cách mạng dân tộc dân chủ tiến lên CNXH nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình thống nhất độc lập, dân chủ, giàu mạnh góp phần vào sự nghiệp cách mạng thế giới.

Cốt lõi của tư tưởng Hồ Chí Minh là độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, là không

có gì quý hơn độc lập tự do

Định nghĩa đã làm rõ các nội dung:

- Bản chất cách mạng, khoa học của tư tưởng Hồ Chí Minh: đó là hệ thống cácluận điểm phản ánh những vấn đề mang tính quy luật của cách mạng Việt Nam

- Nguồn gốc tư tưởng – lý luận của tư tưởng Hồ Chí Minh: chủ nghĩa Mác - Lênin,giá trị văn hoá dân tộc và tinh hoa văn hoá nhân loại

- Nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh: Bao gồm những vấn đề liên quantrực tiếp của cách mạng Việt Nam

- Giá trị, ý nghĩa, sức hấp dẫn, sức sống lâu bền của tư tưởng Hồ Chí Minh: soiđường thắng lợi cho cách mạng Việt Nam; là tài sản tinh thần to lớn của Đảng và dân tộc

ta

Nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh gồm:

- Tư tưởng giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản

- Tư tưởng về xây dựng một chế độ mới theo con đường XHCN

- Tư tưởng kết hợp chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế vô sản, sức mạnhcủa dân tộc với sức mạnh thời đại để giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóngcon người

- …

2 Đối tượng và nhiệm vụ của môn học tư tưởng Hồ Chí Minh

Trang 3

a Đối tượng nghiên cứu

Là hệ thống các quan điểm lý luận được thể hiện trong các di sản của Hồ Chí Minh và quá trình vận động hiện thực hoá các quan điểm lý luận đó trong thực tiễn cách mạng Việt Nam

- Để nắm vững các vấn đề cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng ta cần tìmhiểu thông qua:

+ Các “công trình” (tác phẩm, bài nói, bài viết) do Hồ Chí Minh để lại đã đượctập hợp trong bộ sách: Hồ Chí Minh, Toàn tập, 12 tập

+ Tìm hiểu thông qua đường lối chính sách của Đảng ta được thể hiện trong cácvăn kiện Đảng

+ Tìm hiểu thông qua việc làm và cách làm của Hồ Chí Minh

+ Tìm hiểu thông qua lời kể, những kỷ vật của những người đã từng sống, làmviệc, sinh hoạt gần gũi với Hồ Chí Minh

+ Tư tưởng Hồ Chí Minh là kết quả của một quá trình tìm tòi, kế thừa có chọn lọctinh hoa văn hóa của dân tộc và nhân loại Vì vậy, phải nắm vững truyền thống dân tộc,tinh hoa văn hóa nhân loại, phải tự nâng trình độ của mình lên thì mới có thể nhận thứcđúng và đầy đủ về tư tưởng của người

- Cần lưu ý tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống “mở’’, nó đòi hỏi chúng ta

phải thường xuyên nghiên cứu, bổ sung và phát triển tư tưởng của người, làm cho tưtưởng của Người đã và mãi mãi tỏa sáng

b Nhiệm vụ nghiên cứu

- Làm rõ cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh

- Các giai đoạn hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh

- Nội dung, bản chất cách mạng, khoa học, đặc điểm của các quan điểm trongtoàn bộ hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh

- Vai trò nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của tư tưởng Hồ ChíMinh đối với cách mạng Việt Nam

- Quá trình quán triệt và vận dụng, phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh qua các giaiđoạn cách mạng của Đảng và Nhà nước ta

- Các giá trị tư tưởng lý luận của Hồ Chí Minh đối với kho tàng tư tưởng, lý luận cách mạng thế giới

3 Vị trí môn học (Sinh viên tự nghiên cứu)

Trang 4

Với đối tượng và nhiệm vụ đã xác định ở trên, bộ môn tư tưởng Hồ Chí Minh cóquan hệ chặt chẽ với Hồ Chí Minh học, các khoa học xã hội và nhân văn, và đặcbiệt là với các môn học lý luận chính trị.

- Tư tưởng Hồ Chí Minh thuộc hệ tư tưởng Mác – Lênin, là sự vận dụng sáng tạo

chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện thực tiễn Việt Nam Vì vậy, môn tư tưởng Hồ ChíMinh và môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin có mối quan hệ chặtchẽ, thống nhất, Muốn nghiên cứu, học tập tốt môn này cần nắm vững môn Nhữngnguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin

- Hồ Chí Minh là người sáng lập, rèn luyện, lãnh đạo Đảng ta Tư tưởng Hồ Chí

Minh là một bộ phận tư tưởng nền tảng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng ta.Nghiên cứu, học tập tư tưởng Hồ Chí Minh trang bị cơ sở thế giới quan, phươngpháp luận khoa học để nắm vững kiến thức về đường lối cách mạng của ĐảngCộng sản Việt Nam

II PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH.

1 Cơ sở phương pháp luận

Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh chúng ta cần quán triệt các nguyên tắc có tínhphương pháp luận sau:

- Cơ sở phương pháp luận chung nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh là thế giớiquan và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin mà chủ yếu thế giới quan vàphương pháp luậnduy vật biện chứng và duy vật lịch sử, voeis các quan điểm:

+ Bảo đảm sự thống nhất tính Đảng và tính khoa học

+ Quan điểm thực tiễn và nguyên tắc Lý luận phải gắn với thực tiễn

+ Quan điểm lịch sử cụ thể

+ Quan điểm toàn diện và hệ thống

+ Quan điểm kế thừa và phát triển

- Kết hợp nghiên cứu các tác phẩm kinh điển với thực tiễn chỉ đạo cách mạng của

Hồ Chí Minh

2 Các phương pháp cụ thể.

- Phương pháp là cách thức đề cập đến hiện thực, cách thức nghiên cứu các hiệntượng của tự nhiên và xã hội Có thể khái quát: phương pháp là hệ thống các nguyên tắcđiều chỉnh nhận thức và hoạt động cải tạo thực tiễn xuất phát từ các quy luật vận độngcủa khách thể được nhận thức

- Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh, ngoài các vấn đề có tính phương pháp luậnchung cần chú ý một số phương pháp cụ thể:

+ Phương pháp xuyên suốt trong nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh là kết hợpphương pháp lịch sử với phương pháp lôgíc Phương pháp lịch sử giúp chúng ta nhậnthức về mặt lịch sử quá trình tư duy Hồ Chí Minh, ngược lại nếu thiếu phương pháplôgíc, chúng ta không thể tìm ra cái cốt lõi trong tư duy Hồ Chí Minh và hướng pháttriển mà tư duy Hồ Chí Minh đã đạt tới

- Ngoài ra việc vận dụng các phương pháp liên ngành: thống kê, phân tích, tổnghợp, điều tra xã hội học, tiếp xúc nhân chứng lịch sử cũng là những phương pháp cần

thiết trong việc nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh

Trang 5

III Ý NGHĨA CỦA VIỆC HỌC TẬP MÔN HỌC ĐỐI VỚI SINH VIÊN

Việc học tư tưởng Hồ Chí Minh có ý nghĩa:

- Là cơ sở để nhận thức sâu sắc hơn chủ nghĩa Mác- lênin và đường lối, chủtrương, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam

- Nâng cao năng lực tư duy lý luận và phương pháp công tác

- Bồi dưỡng phẩm chất đạo đức cách mạng và rèn luyện bản lĩnh chính trị

Trang 6

- Nắm được ý nghĩa của môn học, trên cơ sở đó có khả năng vận dụng một số vấn

đề có tính phương pháp luận của môn học vào việc học tập, nghiên cứu bộ môn và rènluyện trong thực tiễn

Tài liệu tham khảo.

1 Trần Văn Giàu: Sự hình thành về cơ bản tư tuởng Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị Quốc

gia, Hà Nội, 1991

2 Đặng Xuân Kỳ: Tư tưởng Hồ Chí Minh, Cộng sản, 3/1992.

3 Song Thành: Tư tưởng Hồ Chí Minh, cơ sở khoa học và thực tiễn, Cộng sản, 3/1992

4 Song Thành: Tư tưởng Hồ Chí Minh, khái niệm và hệ thống, Cộng sản, 1/1993

5 Hoàng Chí Bảo: Phương pháp tiếp cận và quan niệm về tư tưởng Hồ Chí Minh, Sinh

hoạt lý luận, 4/1998

I CƠ SỞ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

Các yếu tố con người, dân tộc, thời đại và sự nghiệp gắn bó chặt chẽ với nhau Conngười, dân tộc, thời đại chi phối sự nghiệp của cá nhân Sự nghiệp cá nhân vừa là kết quảhoạt động của cá nhân, đồng thời là kết quả hoạt động của cả dân tộc, của thời đại Tưtưởng Hồ Chí Minh xuất hiện trong các điều kiện sau:

1 Cơ sở khách quan

a Bối cảnh lịch sử ra đời tư tưởng Hồ Chí Minh

- Xã hội Việt Nam thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX

Nghiên cứu lịch sử xã hội Việt Nam trong thời gian hơn một thế kỷ có rất nhiềuvấn đề cần được xem xét kỹ Trong giới hạn của phần này, chúng ta cần nắm vững haikết luận cơ bản sau:

Thứ nhất, cuối thế kỷ XIX, Việt nam bị thực dân Pháp xâm lược (1858 -1884),Việt Nam trở thành xứ thuộc địa nửa phong kiến với sự biến đổi căn bản về giai cấp vàtầng lớp xã hội

Thứ hai, do sự bóc lột nặng nề của cả đế quốc và phong kiến, các phong tràokháng chiến chống Pháp nổ ra ở khắp nơi, song do không nhận thức đúng bản chất của

kẻ thù, do bế tắc về đường lối nên tất cả các phong trào đấu tranh của nhân dân ta đềuthất bại

Các phong trào đấu tranh dưới sự lãnh đạo của tư tưởng phong kiến (Phong tràoCần Vương, khởi nghĩa Yên Thế…) lần lượt thất bại chứng tỏ sự bất lực của hệ tư tưởngphong kiến trước yêu cầu của thời đại mới

Các phong trào đấu tranh dưới ảnh hưởng của hệ tư tưởng tư sản và tiểu tư sản(Phong trào của cụ Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Nguyễn Thái Học…) cũng lần lượt

bị thất bại chứng tỏ cha ông ta vẫn chưa nhận thức đúng bản chất của kẻ thù nên chưathể xác định đúng con đường đi cho dân tộc

Trang 7

Phong trào giải phóng dân tộc Việt Nam lâm vào cuộc khủng hoảng đường lốicứu nước Thực tiễn đặt ra vấn đề muốn cứu nước và giải phóng dân tộc, cách mạngViệt Nam phải tìm ra một con đường mới

- Quê hương và gia đình Hồ Chí Minh

+ Quê hương (nghĩa hẹp), vùng Nghệ Tĩnh là vùng rất giàu truyền thống yêu nước,cách mạng, truyền thống hiếu học Điều này đã sớm hình thành tình yêu quê hương đấtnước, tinh thần ham hiểu biết, ý chí phấn đấu vươn lên ở Hồ Chí Minh

Hương ước của xã Kim liên quy định hai nhóm người được kính trọng nhất làngười cao tuổi và người có học Trong 56 kỳ thi Hương, xã có 82 vị khoa bảng, trong đólàng Kim Liên có 53, làng Hoàng Trù có 29 (tính từ 1635-1890)

+ Gia đình Hồ Chí Minh có đặc điểm đáng chú ý:

Gia đình Hồ Chí Minh là một gia đình nhà nho yêu nước gần gũi với nhân dânsống có trước có sau, có tình có nghĩa Ý chí kiên cường, tư tưởng thương dân, chủtrương lấy dân làm hậu thuẫn cho mọi cải cách chính trị xã hội của cụ Bảng Sắc đã có ảnhhưởng sâu sắc đến sự hình thành nhân cách của Nguyễn Tất Thành

Tuổi thơ của Bác có may mắn được đi khắp các vùng trong nước (5 tuổi theo chavào Huế, 15 tuổi đến Thái Bình, từ 1909-1911 đi tiếp vào phía Nam) Người đã có dịpchứng kiến nhiều cảnh đau lòng, thấu hiểu nỗi thống khổ của đồng bào mình Trong đó,thời kỳ sống ở Huế (1895-1901;1906-1909) là thời kỳ có ý nghĩa đặc biệt nhất, giúp HồChí Minh hình thành cơ bản nhân cách của mình

+ Hồ Chí Minh có may mắn được học với những người thày giáo yêu nước thươngdân, có trình độ uyên bác (Bác học chữ Nho với các cụ Vương Thúc Quý, Vương ThúcOánh; học tiếng Pháp với ông Phạm Ngọc Thọ) Chính từ những người thầy này mà trình

độ hiểu biết, lòng yêu nước của Hồ Chí Minh được nhân lên Có thể khẳng định trước khisang Pháp, trình độ học vấn, hiểu biết xã hội của Hồ Chí Minh đã thuộc loại hiếm của xãhội lúc bấy giờ

Những nhân tố trên đã tác động mạnh đến Hồ Chí Minh, để khi xuống tàu sangPháp là khác với cha, ông ta (dựa vào các tầng lớp trên của xã hội) Hồ Chí Minh đã bắtđầu sự nghiệp của mình từ một người thợ (mặc dù Người xuất thân trong một gia đìnhPhó bảng, bản thân là thầy giáo), điều này chứng tỏ ngay từ đầu, con đường, phươngpháp ra đi tìm đường cứu nước của Hồ Chí Minh đã rất khác so với những gì mà ôngcha ta đã làm trước đó

- Thời đại

Nguyễn Ái Quốc bước lên vũ đài chính trị trong bối cảnh thế giới:

+ Chủ nghĩa Mác - Lênin đã thâm nhập sâu rộng vào phong trào công nhân vàbước đầu có xu hướng thâm nhập vào các nước thuộc địa

+ CNTB tự do cạnh tranh chuyển sang giai đoạn ĐQCN Chính sách xâm chiếmthuộc địa của các nước đế quốc đã khiến cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc khôngcòn là hành động riêng rẽ của nước này chống lại sư xâm lược của nước khác, mà đã trởthành cuộc đấu tranh chung của các dân tộc thuộc địa chống chủ nghĩa đế quốc

Khi còn ở trong nước, Nguyễn Tất Thành dù chưa nhận thức được đặc điểm củathời đại, song Anh đã thấy rõ được con đường cứu nước của các bậc tiền bối là khôngphù hợp Nguyễn Tất Thành đã vượt 3 đại dương, 4 châu lục, đến khoảng gần 30 nước,làm nhiều nghề, trở thành đảng viên Đảng Xã hội Pháp, Người cùng những người Việt

Trang 8

Nam yêu nước ở Pháp gửi Bản Yêu sách đến Hội nghị hòa bình tại Vécxây , để rồi rút

ra kết luận: Muốn được giải phóng, các dân tộc chỉ có thể trông cậy vào bản thân mình

và chủ nghĩa tư bản, đế quốc ở đâu cũng cũng tàn bạo, độc ác, bất công; người lao động

ở đâu cũng bị áp bức, bóc lột, đầy đọa, Người khẳng định: “Dù màu da có khác nhau,trên đời này chỉ có hai giống người: giống người bóc lột và giống người bị bóc lột Màcũng chỉ có một mối tình hữu ái là thật mà thôi: tình hữu ái vô sản” (T1, 266)

+ Cách mạng Tháng Mười Nga (1917) thành công mở đầu thời đại mới, thời đạiquá độ từ CNTB lên CNXH

+ Quốc tế III được thành lập (3/1919) Đặc biệt, đến 7/1920, khi Báo L` humanitê

đăng Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về các vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa

của Lênin đã giúp Hồ Chí Minh tìm ra con đường cứu nước cho dân tộc Việt Nam

Đêm kết thúc Đại hội Tua (30/12/1920) đánh dấu bước ngoặt trong cuộc đời hoạtđộng cách mạng của Nguyễn Ái Quốc: từ chủ nghĩa yêu nước đến với chủ nghĩa Mác -Lênin, đồng thời cũng mở ra bước chuyển biến cho bao thế hệ người Việt Nam: từngười yêu nước trở thành người cộng sản

b Những tiền đề tư tưởng lý luận

- Tư tưởng và văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam

Lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước đã tạo lập cho dân tộc ta một nềnvăn hóa riêng, phong phú và bền vững Cụ thể:

+ Truyền thống yêu nước, ý chí bất khuất đấu tranh để dựng nước và giữ nước.Chủ nghĩa yêu nước đã trở thành hạt nhân của truyền thống dân tộc và là giá trị cao nhấtchi phối mọi giá trị khác của dân tộc Việt Nam

Đánh giá rất cao tinh thần yêu nước của người Việt Nam, Hồ Chí Minh viết:

“Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước Đó là một truyền thống quý báu của ta Từ xưađến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một lànsóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìmtất cả lũ bán nước và lũ cướp nước” (T6, 171)

Giải thích về lý do Hồ Chí Minh tin và đi theo Quốc tế III, Người viết: “Lúc đầu,chính là chủ nghĩa yêu nước, chứ chưa phải CNCS đã đưa tôi tin theo Lênin, tin theoQuốc tế thứ III”(T10, 128)

+ Tinh thần nhân nghĩa, truyền thống đoàn kết, tương thân, tương ái trong hoạnnạn, khó khăn

+ Truyền thống lạc quan, yêu đời

+ Truyền thống cần cù, dũng cảm, thông minh sáng tạo, ham học hỏi, luôn mởrộng cửa đón nhận tinh hoa văn hóa nhân loại

Tinh hoa văn hóa dân tộc là cội nguồn của tư tưởng Hồ Chí Minh bởi vì chính xuấtphát từ truyền thống văn hóa của dân tộc, đặc biệt là khát vọng cứu nước, giải phóng dântộc, Hồ Chí Minh đã đi ra nước ngoài tìm đường cứu nước; cũng trên cơ sở văn hóatruyền thống mà Hồ Chí Minh đã bắt gặp và tiếp nhận chủ nghĩa Mác - Lênin và khi vậndụng chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam, Người luôn xuất phát từ điều kiện thực tiễn,

từ văn hóa Việt Nam để kế thừa và sáng tạo chủ nghĩa Mác Lênin

- Tinh hoa văn hóa phương Đông và phương Tây

+ Tư tưởng văn hóa phương Đông

Trang 9

Người quan niệm học Nho không phải để ra làm quan, mà Nho giáo là một kinh

nghiệm về đạo đức và cách ứng xử Người sử dụng hầu như tất cả các khái niệm, phạm

trù đạo đức của Nho giáo

Nho giáo có những mặt tích cực: Triết lý hành động, tư tưởng nhập thế, hành đạo,giúp đời, mong muốn một xã hội bình trị (một xã hội không sợ thiếu chỉ sợ không công

bằng), tư tưởng trọng dân “dân vi quý xã tắc thứ chi quân vi khinh” đề cao văn hóa, lễ

giáo, đã tạo nêna truyền thống hiếu học, tu thân dưỡng tính Nho giáo từng giữ vai trò

là đường lối trị nước độc tôn trong các triều đại phong kiến Việt Nam

Nho giáo có hạn chế: phân chia xã hội thành đẳng cấp, yêu cầu sự phục tùngtuyệt đối của kẻ dưới đối với người trên (tam cương), trọng nam khinh nữ, coi khinh laođộng chân tay

thiện – ác; chân, thiện, mỹ và nhận rõ Phật giáo vào Việt Nam rất sớm, đồng hành với

lịch sử dân tộc, đã có thời kỳ trở thành quốc giáo

* Lão giáo:

Lão giáo cũng có ít nhiều ảnh hưởng đến tư tưởng, nhân cách Hồ Chí Minh.Những mặt tích cực của Lão giáo như con người cần phải biết sống hòa hợp với tựnhiên, không tham lam vượt quá khả năng của mình được Hồ Chí Minh rất coi trọng.Tuy nhiên, Hồ Chí Minh cũng phê phán quan điểm không cần biết, không quan tâm,không dạy cho dân biết nhiều của Lão giáo

Nếu tư tưởng Nho giáo và Phật giáo có ảnh hưởng khá lớn đế sự hình thành tưtưởng Hồ Chí Minh, thì tư tưởng Lão giáo lại có ảnh hưởng nhất định đến sự hình thànhlối sống của Người

Với tư tưởng phương Đông cận đại, Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm nghiên cứuchủ nghĩa Tam dân và các chính sách của Tôn Trung Sơn Hồ Chí Minh đánh giá: chủnghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn đã tiếp cận đến con đường cách mạng vô sản, tánthành mục tiêu của chủ nghĩa tam dân: dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnhphúc, nhưng chủ trương phải gắn chúng với cách mạng vô sản và chủ nghĩa xã hội dựatrên hệ tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin

+ Về văn hóa phương Tây:

Trước khi đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh quan tâm nhiều đến tưtưởng “tự do bình đẳng bác ái”, trong cách mạng tư sản Pháp và tư tưởng tư sản nóichung Người nói: khi tôi 13 tuổi, tôi đã nghe thấy các từ tự do, bình đẳng, bác ái Từ khinghe, tôi luôn nghĩ và tìm cách ra đi xem ở nước ngoài, người ta làm như thế nào Tưtưởng tự do bình đẳng bác ái có sức hấp dẫn rất lớn đối với Hồ Chí Minh Chính tư tưởngvăn hóa tiến bộ của phương Tây đã chi phối sự lựa chọn chí hướng cứu nước của Hồ ChíMinh (tìm đường cứu nước phải đi phương Tây, không đi các nước phương Đông)

Trang 10

Tuy nhiên khi sang Pháp, Hồ Chí Minh phát hiện những từ ngữ mỹ miều đó

cũng chỉ là những khẩu hiệu không hơn không kém

Sau nhiều năm tìm đường cứu nước, Người cũng đã hấp thu được những tư tưởngdân chủ và hình thành được phong cách dân chủ, cách làm việc dân chủ trong cuộc sốngthực tiễn

Có thể khẳng định rằng tinh hoa văn hóa nhân loại có ảnh hưởng rất lớn đề sự hìnhthành tư tưởng Hồ Chí Minh Đặc điểm ở Hồ Chí Minh là khi tiếp thu văn hóa nhân loại,Người luôn nhận thúc được cả hai mặt ưu và nhược điểm, luôn nâng niu, quý trọng và kếthừa ưu điểm trong các học thuyết của nhân loại

- Chủ nghĩa Mác - Lênin - Cơ sở thế giới quan và phương pháp luận của tư tưởng

Hồ Chí Minh

+ Từ chủ nghĩa yêu nước, Hồ Chí Minh tiếp thu văn hóa nhân loại, song tư tưởng

Hồ Chí Minh chỉ có được sự chuyển biến về chất, khi Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩaMác - Lênin Chủ nghĩa Mác - Lênin giữ vai trò quyết định sự hình thành tư tưởng HồChí Minh bởi vì:

Nhờ có thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, Nguyễn

Ái Quốc đã hấp thụ và chuyển hóa được những nhân tố tích cực và tiến bộ của truyềnthống dân tộc, tư tưởng và văn hóa nhân loại để tạo nên hệ thống tư tưởng của mình

Chủ nghĩa Mác - Lênin giúp Hồ Chí Minh nhận diện chính xác bản chất của kẻthù từ đó giúp Người vạch ra được đường lối cứu nước đúng đắn

Chủ nghĩa Mác - Lênin giúp Hồ Chí Minh nhận thức được quy luật vận động củalịch sử và hàng loạt các vấn đề về phương pháp cách mạng

+ Con đường Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Mác - Lênin có đặc điểm:

Khi ra đi tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh đã có một vốn học vấn chắc chắn,một năng lực trí tuệ sắc sảo Trong mười năm đầu bôn ba tìm đường cứu nước, Người đãhoàn thiện cho mình một vốn văn hóa, vốn chính trị và vốn thực tiễn phong phú màkhông một nhà cách mạng trẻ tuổi nào có thể so sánh được

Cái bản lĩnh đó đã giúp Hồ Chí Minh nâng cao khả năng độc lập, tự chủ, sáng tạokhi tiếp thu, vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin để không rơi vào sao chép, giáo điều, màbiết tiếp thu, vận dụng có chọn lọc những nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin vàođiều kiện cụ thể của Việt Nam

Nguyễn Ái Quốc đến với chủ nghĩa Mác - Lênin là để tìm kim chỉ nam cho sựnghiệp cứu nước, giải phóng dân tộc, từ nhu cầu thực tiễn của cách mạng Việt Nam

Phương pháp tiếp nhận chủ nghĩa Mác - Lênin của Hồ Chí Minh là nắm cái tinhthần, cái bản chất của chủ nghĩa Mác - Lênin, sử dụng lập trường, quan điểm, phươngpháp của chủ nghĩa Mác - Lênin để tự tìm ra những chủ trương, giải pháp, đối sách phùhợp với từng điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của cách mạng Việt Nam

Đối với Hồ Chí Minh, chủ nghĩa Mác - Lênin là cơ sở chủ yếu nhất, chủ nghĩa

yêu nước là cội nguồn sâu xa Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ nghĩa Mác - Lênin và

chủ nghĩa yêu nước có quan hệ mật thiết với nhau Yêu nước chân chính như Hồ ChíMinh, chắc chắn sẽ đưa Người đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, và khi Hồ Chí Minh đếnvới chủ nghĩa Mác - Lênin, thì Người là người yêu nước chân chính nhất và chủ nghĩayêu nước đã được nâng tầm về chất Vì vậy, ai phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, cũng làphủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh từ gốc

Trang 11

Mặc dù Hồ Chí Minh không nói cụ thể về nguồn gốc hình thành tư tưởng củamình, song ta có thể tham khảo một số nhận xét của chính Người, cũng như của nhữngngười đã từng sống và làm việc với Hồ Chí Minh:

Học thuyết Khổng Tử có ưu điểm là tu dưỡng đạo đức cá nhân, Cơ đốc giáo có ưuđiểm là lòng nhân ái, chủ nghĩa Mác - Lênin có ưu điểm là phép biện chứng trong côngviệc, chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm là chính sách của nó phù hợp với Việt Nam.Khổng Tử, Jesuis, Mác, Tôn Dật Tiên có ưu điểm chung là nghĩ về nhân loại, mưu cầuhạnh phúc cho mọi người Nếu như hôm nay còn sống trên đời này, họ sẽ họp lại vớinhau Tôi, Hồ Chí Minh nguyện làm học trò nhỏ của họ

Một học giả Pháp, chuyên gia nghiên cứu Hồ Chí Minh đã viết: Ở Hồ Chí Minh, mỗingười đều tìm thấy ở Người biểu hiện của một nhân vật cao quý nhất, bình dị nhất vàđược kính yêu nhất Hình ảnh của Hồ Chí Minh đã hoàn chỉnh, với sự kết hợp đức khônngoan của Phật, lòng bác ái của Chúa, triết học của Mác và nhiệt tình cách mạng củaLênin

2 Các nhân tố chủ quan (tài năng, nghị lực của Hồ Chí Minh)

- Các nhân tố khách quan tác động đến mọi người sống trong cùng một thời đại,nhưng mỗi người có thái độ, cách lý giải, biểu hiện khác nhau Điều này phụ thuộc haiyếu tố :

+ Sự hiểu biết, tầm văn hóa và trình độ nhận thức của mỗi người

+ Cái tâm của người đó với dân với nước

- Các nhân tố chủ quan của Hồ Chí Minh được thể hiện:

+ Tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo khả năng phê phán tinh tường sáng suốt không

để bị đánh lừa bởi cái vỏ hào nhoáng bên ngoài của chủ nghĩa tư bản

+ Khả năng hấp thụ, xử lý, chuyển hóa tri thức của nhân loại thành bản lĩnh vànăng lưc trí tuệ cá nhân và kinh nghiệm đấu tranh của bản thân phù hợp với cốt cáchngười Á Đông, người Việt Nam, không thỏa hiệp vô nguyên tắc, không làm biến chất tưtưởng gốc

+ Sự khổ công học tập và khả năng đưa những tri thức thu nhận được vào trong

quần chúng nhân dân, trước hết là vào những lớp người tiên tiến nhất trong dân tộc, thựchiện bước chuyển từ người đi tìm đường cứu nước trở thành người dẫn đường Ở ViệtNam có nhiều người đi tìm đường cứu nước, song chỉ có Hồ Chí Minh sớm tìm ra conđường cứu nước đúng đắn nhất và trở thành người dẫn đường cho dân tộc ta

+ Vốn sống và năng lực hoạt động thực tiễn vô cùng phong phú

+ Tâm hồn của một nhà yêu nước chân chính, một chiến sỹ cộng sản nhiệt tìnhcách mạng, thương dân, tin tưởng vào nhân dân, sẵn sàng chịu đựng những hi sinh caonhất vì độc lập của Tổ quốc, hạnh phúc của nhân dân

Tóm lại, tư tưởng Hồ Chí Minh là sự “vượt gộp” tư tưởng văn hóa cổ kim đông tây Trước hết, Hồ Chí Minh phải “gộp”, tức là tiếp thu lý luận của C.Mác, Ph.Ăngghen

và V.I Lênin, tinh hoa văn hóa Đông - Tây, nhưng nếu chỉ “gộp” thôi thì chưa đủ, chưa

có gì là của mình cả Vấn đề là sau gộp, phải vượt lên, nghĩa là phải vận dụng sáng tạo,

bổ sung, phát triển lên

II QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH.

Trang 12

Quá trình hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh được chia làm 5 giai đoạn:

1 Thời kỳ hình thành tư tưởng yêu nước và chí hướng cứu nước (trước 5/6/1911)

Đây là thời kỳ đặc biệt quan trọng, có ảnh hưởng mang tính quyết định đối với việchình thành tư tưởng yêu nước, chí hướng cách mạng của Hồ Chí Minh Trong thời kỳ này,

Hồ Chí Minh có điều kiện tiếp thu và hình thành cho mình một vốn văn hóa Quốc học,Hán học và bước đầu tiếp xúc với văn hóa phương Tây, đồng thời chứng kiến nỗi thốngkhổ, tinh thần đấu tranh bất khuất của đồng bào mình, nhờ đó Nguyễn Ái Quốc đã tìm ra

cho mình một hướng đi, cách đi đúng, vì vậy đã sớm thành công.

2 Thời kỳ xác định con đường cứu nước, giải phóng dân tộc (1911 - 30/12/1920)

- Tháng 7 năm 1911, Hồ Chí Minh đến Pháp Người có điều kiện đi nhiều nước

làm nhiều nghề khác nhau , những điều đó đã giúp Người nhận thức được rằng, cáckhẩu hiệu tự do dân chủ do CNĐQ nêu ra chỉ là những khẩu hiệu giả tạo, đồng thời

khẳng định ở đâu cũng có hai hạng người, và nguồn gốc của mọi khổ đau của nhân loại

là ở các nước chính quốc Các dân tộc muốn được giải phóng, chỉ có thể dựa vào chính sức lực của mình.

Cuối năm 1917, từ nước Anh, Hồ Chí Minh trở lại Pháp Người ủng hộ nhiệt tìnhcách mạng Tháng Mười Năm 1919, cùng một số người thuộc các dân tộc thuộc địa, Hồ

Chí Minh cùng một số người Việt Nam yêu nước ở Pháp soạn thảo và gửi Bản Yêu sách

đòi tự do dân chủ tới Hội nghị Vécxây, song các nước thắng trận thế chiến thứ nhất đãhoàn toàn phớt lờ các đề nghị chính đáng của Nguyễn Ái Quốc 1

Đầu năm 1919, Hồ Chí Minh gia nhập Đảng Xã hội Pháp với lý do là đảng duynhất lúc đó ủng hộ thuộc địa

- Hồ Chí Minh tiếp nhận Luận cương của Lênin (đăng trên báo “Nhân đạo” số racác ngày 16, 17/71920) và kể từ đây, con đường cứu nước của Hồ Chí Minh đã đượcxác định: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác conđường cách mạng vô sản”

3 Thời kỳ hình thành cơ bản tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng Việt Nam.(1921 - 1930)

Một người sẽ trở thành nhà tư tưởng khi người đó đi trước phong trào tự phát

của quần chúng, chỉ đường cho quần chúng, vạch ra đường lối chiến lược, sách lược củacách mạng và xây dựng cho quần chúng một tổ chức cách mạng (Lênin)

1 “Bản yêu sách của nhân dân An Nam”: Trong khi chờ đợi nguyên tắc dân tộc sẽ từ lĩnh vực lý tưởng chuyển thành hiện thực do chỗ quyền tự quyết thiêng lêng của các dân tộc được thừa nhận thực sự, nhân dân nước An Nam trước kia, nay là xứ Đông – Pháp xin trình bày với quý chính phủ đồng minh nói chung và với Chính phủ Pháp đang kính nói riêng những yêu sách nhỏ sau đây:

1 Ân xá tất cả chính trị phạm người bản xứ 2 Cải cách nền công lý Đông Dương bằng cách ban cho người bản xứ cũng được hưởng những đảm bảo về mặt pháp luật như người Âu châu, bãi bỏ hoàn toàn và triệt để các tòa án đặc biệt dùng làm công cụ để khủng bố và áp bức bộ phận trung thực nhất trong nhân dân An Nam 3 Quyền tự do báo chí và tự do ngôn luận 4 Quyền tự do lập hội và hội họp 5 Quyền tự do xuất ngoại và đi du lịch nước ngoài 6 Quyền tự do giáo dục thành lập các trường kỹ thuật và chuyên nghiệp ở tất cả các tỉnh cho người bản xứ 7 Thay chế độ ra sắc lệnh bằng chế độ ra các đạo luật 8 Đoàn đại biểu thường trực của người bản xứ bầu ra tại nghị viện Pháp để

Trang 13

Thông qua một loạt các cuộc tiếp xúc, các hoạt động xã hội phong phú các cuộchội thảo nghiên cứu sâu về chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh đã tích lũy cho mìnhmột số vốn tri thức cách mạng hết sức phong phú Từng bước hình thành ở Người tư

tưởng đúng đắn: giải phóng dân tộc gắn liền với giải phóng giai cấp vô sản và các dân tộc thuộc địa, giải phóng nhân loại Cũng từ đó, lý luận chiến lược, sách lược của cách

mạng vô sản ở một nước thuộc địa, nửa phong kiến đã từng bước được hình thành

Tư tưởng Hồ Chí Minh về con đường cách mạng Việt Nam được thể hiện thông

qua hàng loạt các bài viết, các tác phẩm và đặc biệt là thông qua các văn kiện Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt do Hồ Chí Minh soạn thảo và được Hội nghị hợp

nhất 3 tổ chức Cộng sản ở Việt Nam thông qua ngày 3 tháng 2 năm 1930

Từ khi trở thành đảng viên cộng sản, Người đã tích cực truyền bá chủ nghĩa Mác

- Lênin về nước, chuẩn bị tích cực cho việc thành lập chính đảng vô sản ở Việt Nam như

cho xuất bản Báo “Người cùng khổ” (1921), “Bản án chế độ thực dân Pháp” (1925),

“Tạp chí Thanh niên”(1925-1927), “Đường Kách mệnh” (1927) Từ ngày 3-7/2/1930,

Hồ Chí Minh trực tiếp chủ trì Hội nghị Thành lập Đảng, thống nhất các tổ chức cộngsản ở Việt Nam

4 Thời kỳ Hồ Chí Minh vượt qua thử thách, kiên định con đường đã xác định, tiến tới giành thắng lợi đầu tiên cho cách mạng Việt Nam (1930-1945).

- Những khó khăn thử thách đối với Hồ Chí Minh trong thời kỳ này:

+ Ngày 6/6/1931, Hồ Chí Minh bị bắt ở Hương Cảng (số 186 phố Tam Lung),thực dân Pháp rất mừng vì trước đó chúng đã kết án tử hình vắng mặt Hồ Chí Minh.Đượ sự giúp đỡ của Quốc tế Cộng sản và các cá nhân yêu chuộng hoà bình, công lý, HồChí Minh đã được tuyên bố vô tôi và Người đã đến Mátxcơva an toàn

+ Do bất đồng về quan điểm với khuynh hướng “tả” khuynh của Quốc tế Cộngsản về đường lối cách mạng Việt Nam và cách mạng ở các nước thuộc địa nói chung,sau khi đến Liên xô, Hồ Chí Minh được Quốc tế Cộng sản cử đi học tại trường Quốc tếLênin Tốt nghiệp, Người được cử đi học tiếp lớp nghiên cứu sinh về khoa học kinh tế

và lịch sử

Ngày 6/6/1938, Hồ Chí Minh viết thư gửi Quốc tế Cộng sản xin về nước.29/9/1938, Quốc tế Cộng sản quyết định Hồ Chí Minh thôi làm nghiên cứu sinh vàchuẩn bị cho Người về nước

Vì sao có sự thay đổi này? vì hai nguyên nhân: qua thực tế ở Việt Nam (Xô viếtNghệ Tĩnh) và phong trào quần chúng trên thế giới, chứng tỏ quan điểm của Hồ Chí Minh

là đúng Hơn nữa, lúc này, phong trào cộng sản quốc tế phải lựa chọn không phải là giữadân chủ vô sản hay dân chủ tư sản mà là giữa chiến tranh và hòa bình Đường lối củaQuốc tế Cộng sản thời kỳ này là đoàn kết tất cả các lực lượng yêu chuộng hoà bình,chống chủ nghĩa phát xít

- Trong thời kỳ này, đáng chú ý nhất đối với hoạt động của Hồ Chí Minh chính làviệc Người đã chủ trì Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản ở Việt Nam, thông quaChính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Điều lệ tóm tắt, Chương trình vắn tắt và Lời kêugọi và trong thời gian ở Liên xô, Người đã giữ vững được các nguyên tắc của mình,song cũng hết sức mềm dẻo, linh hoạt trong xử trí các quan hệ quốc tế: đề xuất đúngmức, biết phục tùng, biết chờ đợi

Trang 14

5 Thời kỳ tiếp tục bổ sung, phát triển, hoàn thiện tư tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa

- Xây dựng đường lối kháng chiến kiến quốc (1945-1954) Hàng loạt những tưtưởng về xây dựng Nhà nước của dân, do dân và vì dân, tư tưởng quân sự, tư tưởng vềĐảng cầm quyền đã hình thành và phát triển

- Lãnh đạo nhân dân ta thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây CNXH ở miền Bắc

và đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước

- Ngày 2/9/1969, Hồ Chí Minh từ trần và để lại cho dân tộc ta bản Di Chúc lịch

sử cùng toàn bộ hệ thống tư tưởng của Người

*CÁC MỐC LỊCH SỬ LỚN LIÊN QUAN TRỰC TIẾP ĐẾN Hồ Chí Minh

- 1909: Tham gia biểu tình với đồng bào Huế; rời Trường Quốc học Huế đi vềphương Nam

- 1910: Giáo viên dạy tại trường Dục Thanh (Phan Thiết)

- 1911: Rời VN ra nước ngoài (5/6)

- 1912: Đến nước Mỹ (đầu 12/1912 – cuối năm 2013)

- 1921: Sáng lập Báo Người cùng khổ (le Paria); Thành Lập Hội Liên hiệp thuộc địa

- 1923 (t.6): đến Nga, học Trường Phương đông- QTCS

- 1924: tham dự Đại hội V QTCS; Đại hội quốc tế Nông dân; Quốc tế Công hội Đỏ;đến Quảng Châu TQ (11/11)

- 1925: thành lập “Cộng sản đoàn”; Việt Nam thanh niên CM đ/c hội”; Viết tác phẩmĐường kach mệnh”; tham gia thành lập Hội “Liên hiệp các dân tộc bị áp bức ở Á Đông”(Liêu Trọng Khải (TQ):Hội trưởng, Hồ Chí Minh: bí thư

- 1928: đến Thái Lan;

- 1929 (cuối năm): quay lại TQ; tháng 10 bị thực dân pháp kết án tử hình vắng mặt

- 1930 (3/2 tức 6/1): tại Cửu Long, Hương Cảng TQ: Sáng lập ĐảNG CộNG SảNViệt Nam

- 1931: Bị bắt tại Hương cảng

- 1932 (28/12): được trả tự do

Trang 15

- 1933: Đến LX

- 1934: Học tại Trường Quốc tế Lênin

- 1935: dự Đại hội VII QTCS

- 1938 (cuối năm): rời Liên xô về TQ

- 1941: (8/2) Về Việt Nam; Chủ trì Hội nghị BCHTW 8; thành lập Mặt trận ViệtMinh

- 1945: Lãnh đạo cm/8 thành công; đọc Bản Tuyên ngôn Độc lập (2/9) thành lậpnước VNDCCH và trở thành Chủ tịch nước

- 1946 (19/12) ra lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến

- 1950: trực tiếp chỉ huy Chiến dịch Biên giới

- Hồ Chí Minh có rất nhiều tên gọi: 178 (đã thống kê cho đến nay) Tên gọi phổ biếnnhất là NguyễnÁi Quốc, Hồ Chí Minh

III GIÁ TRỊ TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH.

1 Tư tưởng Hồ Chí Minh soi sáng con đường giải phóng và phát triển dân tộc.

a Tư tưởng Hồ Chí Minh là tài sản tinh thần vô giá của dân tộc Việt Nam.

- Tư tưởng của Người không chỉ tiếp thu những giá trị văn hoá vĩnh cửu của nhânloại, đề xuất những vấn đề mới do thực tiễn đặt ra và giải quyết một cách linh hoạt, khoahọc hiệu quả, mà còn đáp ứng nhiều vấn đề của thời đại, của cách mạng Việt Nam và củathế giới hiện nay

- Tư tưởng của Người đã được thực tiễn kiểm nghiệm trong quá khứ và hiện nay

nó đã trở thành hệ thống những quan điểm lý luận, tư tưởng về chiến lược và sách lượccủa cách mạng Việt Nam

b Tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của cách mạng Việt Nam.

Một cuộc cách mạng chỉ có thể thành công triệt để khi nó có một hệ thống lý luậnđúng đắn soi đường Từ năm 1930, tư tưởng Hồ Chí Minh chính là hệ thống lý luận soiđường cho cách mạng Việt Nam

Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin vào điềukiện cụ thể nước ta, phù hợp với lịch sử và văn hóa, đất nước và con người Việt Nam, giảiđáp những yêu cầu lý luận và thực tiễn Việt Nam Do đó, tư tưởng của Người đã thấm sâuvào quần chúng nhân dân, chỉ đạo có hiệu quả đối với việc thực hiện những nhiệm vụ củathời đại

Trang 16

Tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng vững chắc để Đảng ta vạch ra đường lối cáchmạng đúng đắn dẫn đường cho cách mạng Việt Nam đi tới thắng lợi Chính vì vậy, cónắm được tư tưởng Hồ Chí Minh mới hiểu được đường lối cách mạng Việt Nam Thắnglợi của cách mạng Việt Nam trước hết nhờ có chủ nghĩa Mác - Lênin, đồng thời cũng lànhờ có tư tưởng Hồ Chí Minh

Việc học tập, nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh giúp chúng ta kiên định mục tiêuđộc lập dân tộc gắn liền với CNXH, nâng cao nhận thức- tư tưởng, cải tiến phương pháp

và phong cách công tác góp phần đưa công cuộc đổi mới đi tới thắng lợi ngày càng tolớn hơn

2 Tư tưởng Hồ Chí Minh đối với sự phát triển thế giới.

- Tư tưởng Hồ Chí Minh phản ánh khát vọng của thời đại là hoà bình, độc lập dântộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hôi

Người đã có những cống hiến xuất sắc trên hàng loạt các vấn đề lý luận cách mạng

giải phóng dân tộc, vấn đề quan hệ dân tộc và giai cấp trong cách mạng giải phóng dân

tộc, về tính tự thân vận động của công cuộc đấu tranh giải phóng…góp phần làm phongphú thêm lý luận của chủ nghĩa M-Lênin

- Tìm ra các giải pháp đấu tranh giải phóng loài người

Cống hiến lớn nhất của Hồ Chí Minh đối với thời đại là từ xác định con đường cứunước đúng đắn cho dân tộc đến việc xác định con đường cách mạng, một hướng đi, mộtphương pháp thức tỉnh người dân các nước thuộc địa

Giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh đối với thế giới còn ở chỗ từ rất sớm, Người đãnhận thức đúng sự biến chuyển của thời đại, trên cơ sở đó, Người đã hoạt động khôngmệt mỏi nhằm gắn cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới, đặt cách mạng giảiphóng dân tộc vào phạm trù cách mạng vô sản Rồi chính từ kinh nghiệm của cách mạngViệt Nam, Người khẳng định: “…trong thời đại ĐQCN, ở một nước thuộc địa nhỏ, với sựlãnh đạo của giai cấp vô sản và đảng của nó, dựa vào quần chúng nhân dân rộng rãi trướchết là nông dân và đoàn kết được mọi tầng lớp nhân dân yêu nước trong một mặt trận dântộc thống nhất, với sự đồng tình ủng hộ của phong trào cách mạng thế giới, trước hết làcủa phe xã hội chủ nghĩa hùng mạnh, nhân dân đó nhất định thắng lợi” (T9 – 315, 316)

- Cổ vũ các dân tộc đấu tranh vì những mục tiêu cao cả

Trong lòng nhân dân thế giới, Hồ Chủ tịch là “lãnh tụ của thế giới thứ ba”; “cuộcchiến đấu của Người là kim chỉ nam cho tất cả các cuộc đấu tranh”, (Bumêđiên - Thủtướng Angiêri), “Cuộc đời Chủ tịch Hồ Chí Minh là nguồn cổ vũ đối với tất cả các chiến

sĩ đấu tranh cho tự do” (Chủ tịch Ăng-go-la) Tuy Người đã mất, nhưng “Tư tưởng chỉđạo của Người vẫn mãi mãi soi sáng cuộc đấu tranh cho tới khi tất cả bọn xâm lược vàbọn áp bức bị đánh bại hoàn toàn” (Tổng thống Tan-da-ni-a)…

CÂU HỎI ÔN TẬP VÀ THẢO LUẬN

1 Phân tích các nhân tố góp phần hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh Nhân tố nào

là quan trọng nhất, quyết định bản chất tư tưởng của Người? tại sao?

2 Tại sao nói tư tưởng văn hóa truyền thống Việt Nam là cội nguồn của tư tưởng

Hồ Chí Minh?

Trang 17

3 Tại sao nói ảnh hưởng của văn hóa tiến bộ phương Tây có ảnh hưởng chi phốiđến việc lựa chọn con đường cứu nước của Hồ Chí Minh?

4 Trình bày các giai đoạn hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh Trongnhững giai đoạn đó, giai đoạn nào tư tưởng Hồ Chí Minh có ý nghĩa vạch đường đi chocách mạng Việt Nam? Hãy chứng minh

Tài liệu tham khảo.

1 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000

2 V.I Lênin: Toàn tập, tập 41, Nhà xuất bản Tiến bộ, Matxcơva, 1977 (Các bài:

Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa, Điều kiện kết nạp vào Quốc tế Cộng sản, Báo cáo của tiểu ban về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa.

3 Võ Nguyên Giáp: Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam,

Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1997

Nội dung

I CƠ SỞ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG Hồ Chí Minh VỀ VẤN ĐỀ DÂN TỘC VÀ CÁCH MẠNG GIẢI PHÓNG DÂN TỘC

Trang 18

Vấn đề dân tộc nói chung đã được chủ nghĩa Mác - Lênin đề cập đến một cáchtương đối toàn diện Chúng ta đã được nghiên cứu vấn đề này trong chương trình mônNhững nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, vấn đề dân tộc được nói tới trongbài này, chủ yếu là vấn đề dân tộc thuộc địa, vấn đề giải phóng các dân tộc thuộc địa.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc và cách mạng giải phóng dân tộc đượchình thành trên cơ sở:

- Tư tưởng và văn hoá truyền thống của dân tộc (Xem chương 1)

- Lý luận của chủ nghĩa Mác –Lênin về vấn đề dân tộc nói chung, cuộc Cáchmạng tháng Mười Nga và Luận cương của Lênin về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộcđịanói riêng

Nội dung của Luận cương có thể tóm tắt ở một số điểm chính sau:

Thứ 1, con đường cách mạng vô sản là con đường duy nhất giải phóng các dântộc thuộc địa

Thứ 2, chủ trương giải phóng toàn thể các dân tộc thuộc địa thoát khỏi ách áp bứccủa CNĐQ và địa chủ phong kiến thực hiện quyền bình đẳng thực sự giũa các dân tộc

Thứ 3, trách nhiệm của các đảng cộng sản ở các nước chính quốc là phải giúp đỡphong trào giải phóng dân tộc và làm cho các phong trào này phát triển theo con đườngcách mạng vô sản

Thứ 4, trong Luận cương, Lênin cũng chỉ ra bộ mặt giả dối của chế độ dân chủ tưsản về quyền bình đẳng nói chung, trong đó có quyền bình đẳng giữa các dân tộc, đồngthời Người cũng khẳng định để đảm bảo thắng lợi cho cuộc đấu tranh của các nướcthuộc địa, các phong trào vô sản nói chung, cần có sự thống nhất, sự liên minh của giaicấp vô sản tất cả các nước và các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới Khẩu hiệu “vô sản

và các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới liên hợp lại” đã được Lênin chuẩn y

+ Những luận điểm trong Luận cương của Lênin đã giúp Hồ Chí Minh tìm rađược lời giải đáp cho cho các vấn đề của cách mạng Việt Nam Cụ thể:

Thứ nhất, Hồ Chí Minh đã nhận ra sự gắn bó giữa dân tộc Việt Nam và các dântộc bị mất nước khác, đồng thời cũng giúp Người nhận thức mối quan hệ giữa cáchmạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam và cách mạng vô sản ở Pháp, cách mạng thuộc địavới cách mạng chính quốc

Thứ hai, con đường cứu nước duy nhất của dân tộc Việt Nam là cứu nước theocon đường cách mạng vô sản; đồng minh của cách mạng Việt Nam là giai cấp vô sảntoàn thế giới

Thực tế mối quan hệ bình đẳng giữa các dân tộc ở nước Nga và chủ trương củaLênin hủy bỏ mọi độc quyền của nước Nga đối với Trung Quốc, Triều Tiên, Mông Cổ sau năm 1917, đã chứng minh sự lựa chọn của Hồ Chí Minh là đúng đắn

- Các cuộc cách mạng và các phong trào giải phóng dân tộc và con đường cứunước của dân tộc ta và của một số nhân vật nổi tiếng ở châu Á

+ Thời gian ở trong nước, Người đã tìm hiểu kỹ về các phong trào đấu tranh cứunước giải phóng dân tộc, đặc biệt là các phong trào do Phan Chu Trinh, Phan Bội Châu,Hoàng Hoa Thám lãnh đạo

Hồ Chí Minh rất khâm phục tinh thần yêu nước, ý chí đấu tranh đòi độc lập củacác cụ Song, theo Hồ Chí Minh, bằng những con đường đó, không thể đi đến thànhcông được Hồ Chí Minh nhận xét: Phan Bội Châu hy vọng vào sự giúp đỡ của đế quốcNhật để đánh Pháp là “đuổi hổ cửa trước rước beo cửa sau”; Phan Chu Trinh “xin xỏ

Trang 19

thực dân Pháp rủ lòng thương” cũng không đòi được độc lập dân tộc; cụ Hoàng HoaThám, thực tế hơn hai cụ Phan, song cụ còn “nặng cốt cách phong kiến” vì vậy cũngkhông đòi độc lập được

+ Trong thời gian tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh đã nghiên cứu khá kỹ cáccuộc cách mạng Mỹ, Pháp, Nga

Về cách mạng giải phóng dân tộc của nhân dân Bắc Mỹ, Hồ Chí Minh nhận xét:người An Nam cần phải học tập nhân dân Bắc Mỹ đứng lên giành độc lập Song, Hồ ChíMinh cũng chỉ ra rằng, cách mạng Bắc Mỹ thành công đã hơn 150 năm, mà đời sốngnhân dân lao động vẫn cực khổ, vẫn phải lo làm cách mạng lần thứ hai Bởi vì, theo HồChí Minh, cách mạng Mỹ là cách mạng tư sản, mà đã là cách mạng tư sản thì đó là cáchmạng không triệt để, cách mạng không đến nơi

Về cách mạng tư sản Pháp 1789, giống như cách mạng Mỹ, là cuộc cách mạngkhông đến nơi, mang danh là cộng hòa, dân chủ kỳ thực thì trong là bóc lột công nông,

ngoài thì áp bức thuộc địa cách mạng Việt Nam nên nhớ lấy điều ấy.

Về cách mạng Tháng Mười Nga, Người viết: Trong thế giới bây giờ chỉ cáchmạng Nga là thành công và thành công đến nơi, nghĩa là người dân được hưởng tự do,hạnh phúc, bình đẳng thực sự

+ Sau khi tìm được con đường cứu nước, Hồ Chí Minh quyết định trở về phươngĐông và Việt Nam Người đã tiếp tục quan tâm nghiên cứu các phong trào đấu tranhcứu nước của các dân tộc phương Đông, đặc biệt là các phong trào đấu tranh của nhândân Thổ Nhĩ Kỳ, Ấn Độ và Trung Quốc

Về cách mạng dân tộc dân chủ ở Thổ Nhĩ Kỳ (1920 - 1923) Người nhân xét:cũng giống như tất cả các cuộc cách mạng tư sản, cuộc cách mạng Thổ Nhĩ Kỳ chỉ cólợi riêng cho một giai cấp, giai cấp tư sản

Về cách mạng giải phóng dân tộc ở Ấn Độ chống thực dân Anh (phát triển mạnh

từ 1919 - 1922) do Đảng Quốc Đại của Ganđi lãnh đạo, Hồ Chí Minh nhận thấy đườnglối này không thể thực hiện độc lập hoàn toàn cho Ấn Độ Vì theo lập trường của giaicấp tư sản, không coi bạo lực là phương thức đấu tranh giành chính quyền, lại mangnặng màu sắc tôn giáo Người nhận xét: Ganđi không phải là một nhà cách mạng, Ganđichỉ là một nhà cải cách

Hồ Chí Minh tập trung nghiên cứu cách mạng dân tộc dân chủ ở Trung Quốc, doQuốc dân đảng của Tôn Dật Tiên lãnh đạo Người đặc biệt quan tâm nghiên cứu chủnghĩa Tam dân và các chính sách của Tôn Trung Sơn Người đánh giá: chủ nghĩa Tamdân và các chính sách của Tôn Trung Sơn là “Gần gũi” với Việt Nam

Trang 20

II Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc

1 Vấn đề dân tộc thuộc địa

- Thực chất của vấn đề dân tộc thuộc địa:

+ Đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân, giải phóng dân tộc, thành lập quốc gia dântộc độc lập

+ Lựa chọn con đường phát triển của dân tộc mình

- Chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định khi CNTB chuyển sang giai đoạn ĐQCN, đãlàm xuất hiện vấn đề dân tộc thuộc địa Khi bàn về vấn đề dân tộc trong CNTB, Lênin đãnêu lên hai xu hướng phát triển của vấn đề dân tộc:

+ Sự thức tỉnh của ý thức dân tộc, của phong trào đấu tranh chống áp bức dân tộc

sẽ dẫn tới việc thành lập các quốc gia dân tộc độc lập

+ Sự phá hủy hàng rào ngăn cách dân tộc, thiết lập sự thống nhất quốc tế củaCNTB

Cả hai xu hướng đều phát triển trong điều kiện đối kháng giai cấp gay gắt CNTB

và chủ nghĩa dân tộc tư sản không những không giải quyết được vấn đề dân tộc mà chỉlàm cho xung đột dân tộc ngày càng tăng lên Chỉ có CMVS và CNXH mới giải quyếtđược mâu thuẫn giữa hai xu hướng nêu trên

Lênin yêu cầu các đảng cộng sản phải kiên quyết đấu tranh với mọi biểu hiện củachủ nghĩa dân tộc tư sản và chủ nghĩa xô vanh

2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc thuộc địa.

a Độc lập tự do là nội dung cốt lõi của vấn đề dân tộc thuộc địa.

- Tất cả các dân tộc trên thế giới đều bình đẳng

Từ cách tiếp cận về quyền của con người trong Tuyên ngôn Độc lập 1776 của Mỹ:

“Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng Tạo hóa cho họ những quyền không ai

có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyềnmưu cầu hạnh phúc” Tuyên ngôn Nhân quyền và dân quyền của cách mạng Pháp, 1791:

“Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn luôn được tự do bìnhđẳng về quyền lợi” Trong chiến tranh thế giới I, Tổng thống Mỹ Uynxơn đưa ra chươngtrình 14 điểm, điểm thứ 5 khẳng định quyền tự do của các dân tộc bị áp bức , Hồ ChíMinh khẳng định quyền tự do, bình đẳng của tất cả các dân tộc trên thế giới

Tư tưởng các dân tộc trên thế giới đều bình đẳng ở Hồ Chí Minh được thể hiện

trong nhiều bài nói, bài viết của Người và được thể hiện rõ nhất trong Tuyên ngôn độc lập của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa “Tất cả các dân tộc trên thế giới đều bình

đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do” (T.4, tr.41).Như vậy, theo Hồ Chí Minh, quyền dân tộc và quyền con người phải thống nhất vớinhau Không chấp nhận quyền con người đi ngược lại quyền dân tộc

Các dân tộc muốn được tự do, bình đẳng thì không còn con đường nào khác làphải tự đứng lên giành lấy độc lập tự do Có thể khẳng định luận điểm về quyền tự do,bình đẳng của các dân tộc trên thế giới không chỉ có ý nghĩa với cách mạng Việt Nam,

mà còn có ý nghĩa quốc tế; không chỉ mang tính thời đại rộng lớn, mà còn mang tínhnhân văn sâu sắc

- Nội dung của độc lập dân tộc :

Trang 21

+ Quyền độc lập tự do là quyền thiêng liêng bất khả xâm phạm của tất cả các dântộc, song nền độc lập phải là độc lập hoàn toàn, độc lập thực sự Hồ Chí Minh nêu lên 2tiêu chí của độc lập thật sự:

Thứ nhất, dân tộc đó phải có quyền quyết định trên tất cả các mặt kinh tế, chínhtrị, quân sự, ngoại giao, toàn vẹn lãnh thổ Trong đó, trước hết và quan trọng nhất là độclập về chính trị Năm 1948, Pháp lập chính phủ bù nhìn; năm 1949, Pháp đưa Bảo Đại

về làm Quốc trưởng và tuyên bố Việt Nam đã có độc lập, Hồ Chí Minh đã kịch liệt phảnđối thứ độc lập giả hiệu đó

Thứ hai, dân tộc đó phải được bình đẳng với các dân tộc khác Quốc tế không thểcan thiệp vào công việc nội bộ của một nước nếu không có đại diện chân chính củanước đó tham gia Người khẳng định nhân dân Việt Nam hoan nghênh mọi sự giúp đỡcủa các nước khác, đồng thời phản đối mọi sự can thiệp thô bạo vào công việc nội bộcủa Việt Nam

+ Độc lập dân tộc phải gắn liền với tự do hạnh phúc của nhân dân

Độc lập thực sự phải là nền độc lập mà mọi phần tử quốc dân đều được hưởngthành quả của nó Trong thư gửi ủy ban hành chính các cấp, Hồ Chí Minh viết: “Nếunước được độc lập mà dân không được hưởng hạnh phúc thì độc lập cũng không cónghĩa lý gì”

Độc lập dân tộc thực sự, hoàn toàn là khát vọng cháy bỏng của Hồ Chí Minh.Với tinh thần ấy, trong những năm kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, Hồ Chí Minhkêu gọi: “Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịulàm nô lệ.”, “không có gì quý hơn độc lập tự do”

+ Độc lập dân tộc trong hòa bình chân chính.

Hồ Chí Minh luôn giương cao ngọn cờ đấu tranh giành và bảo vệ nền độc lập,

chủ quyền quốc gia; đồng thời Người cũng là hiện thân của khát vọng hòa bình trong

độc lập tự do Trên cơ sở kiên quyết giữ vững độc lập dân tộc, Hồ Chí Minh luôn là

người đi đầu, chủ động tích cực bày tỏ ước vọng về những giải pháp hòa bình tránh

xung đột, tránh chiến tranh.

Với mong muốn giải quyết cuộc tranh chấp Việt - Pháp bằng con đường hòa bình,

Hồ Chí Minh cùng Đảng ta chủ động ký Hiệp định sơ bộ 6-3, rồi Người trực tiếp kýTạm ước 14- 9 với Chính phủ Pháp

Trong thư gửi Chính phủ, Quốc hội, nhân dân Pháp ngày 7-1-1947, Hồ Chí Minhkhẳng định nguyện vọng thiết tha của nhân dân Việt Nam là muốn có hòa bình để kiếnthiết quốc gia với sự cộng tác của những người Pháp chân chính Người nói, chính phủ

và nhân dân Pháp chỉ cần có một cử chỉ công nhận độc lập và thống nhất của Việt Namthì ngay lập tức chiến tranh sẽ chấm dứt, hòa bình sẽ trở lại

Cũng với tinh thần như vậy, trong thư trả lời Tổng thống Mỹ Giônxơn ngày

15-2-1967, Hồ Chí Minh viết: “Nhân dân Việt Nam chúng tôi rất thiết tha với độc lập, tự do

và hòa bình Chính phủ Mỹ đã gây ra chiến tranh xâm lược Việt Nam thì con đườngđưa đến hòa bình ở Việt Nam là Mỹ phải chấm dứt xâm lược Phải rút hết quân Mỹ vàquân chư hầu ra khỏi miền Nam Việt Nam phải để nhân dân Việt Nam tự giải quyếtcông việc nội bộ của mình”

b Tư tưởng Hồ Chí Minh về quan hệ giữa dân tộc và giai cấp

- Quan điểm của các nhà kinh điển Mác - Lênin và Quốc tế Cộng sản:

Trang 22

Học thuyết Mác là học thuyết về đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản trên phạm

vi toàn thế giới Theo Mác, muốn lật đổ CNTB khi nó đã trở thành một lực lương quốc

tế thì phải làm cách mạng thế giới Vì vậy, trong quan hệ dân tộc và giai cấp, cả Mác vàĂngghen đều nhấn mạnh tới vấn đề giai cấp, quan tâm nhiều hơn tới lợi ích của giai cấp

vô sản Tuy nhiên, học thuyết Mác không hề coi nhẹ vấn đề dân tộc, mà chỉ phê phántinh thần dân tộc ích kỷ của chủ nghĩa quốc gia hẹp hòi mà đại biểu là các lãnh tụ củaQuốc tế II

V.I Lênin, cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX vẫn ưu tiên cho vấn đề giai cấp Ông

cho rằng chủ nghĩa quốc tế vô sản đòi hỏi cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản trong một nước phải phục tùng lợi ích của cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản trên toàn thế giới.

Sau khi Lênin qua đời, Ban Lãnh đạo Quốc tế Cộng sản có xu hướng tuyệt đốihóa vấn đề giai cấp, coi nhẹ vấn đề dân tộc Vì vậy mà không quan tâm thích đáng đếnchủ nghĩa yêu nước, tới tinh thần dân tộc chân chính của nhân dân các nước thuộc địa,thậm chí còn coi đó là biểu hiện của chủ nghĩa quốc gia dân tộc hẹp hòi, trái với chủnghĩa quốc tế vô sản

- Quan điểm của Hồ Chí Minh về quan hệ dân tộc và giai cấp

+ Hồ Chí Minh đánh giá rất cao vai trò của chủ nghĩa dân tộc với tư cách là chủnghĩa yêu nước chân chính Theo Người, những người cộng sản cần phải nắm lấy ngọn

cờ dân tộc trong cuộc đấu tranh chống áp bức bóc lột thực hiện CNCS

Năm 1924, trong Báo cáo về An Nam gửi Quốc tế Cộng sản, Hồ Chí Minh chỉ rõ:

“chủ nghĩa dân tộc là một động lực lớn, một động lực vĩ đại, duy nhất của người ViệtNam, nước Việt Nam” Người yêu cầu Quốc tế Cộng sản ra khẩu hiệu để thúc đẩy sựphát triển của “chủ nghĩa dân tộc bản xứ”, Người còn cho rằng Quốc tế Cộng sản sẽkhông giúp gì được người An Nam “nếu không dựa vào chủ nghĩa dân tộc”; nếu dựavào đó, nhất định cách mạng Việt Nam sẽ thắng và “chủ nghĩa dân tộc sẽ biến thành chủnghĩa quốc tế vô sản” Cũng trong báo cáo đó, Hồ Chí Minh khẳng định CNCS đúng cả

ở phương Đông lẫn phương Tây, song Mác xây dựng triết lý của mình dựa trên lịch sửchâu Âu, mà châu Âu thì chưa phải là toàn thể nhân loại - đưa ra quan điểm trên vàonăm 1924, chứng tỏ Hồ Chí Minh am hiểu rất sâu sắc về thuộc địa và trong bối cảnhquốc tế lúc đó, Người cũng thể hiện một bản lĩnh chính trị rất vững vàng

Chủ nghĩa dân tộc, theo quan điểm của Hồ Chí Minh, khác với chủ nghĩa dân tộc

tư sản, đồng thời cũng trái ngược với chủ nghĩa dân tộc nước lớn hay tư tưởng tự ti dân

tộc Với Người độc lập cho dân tộc mình đồng thời độc lập cho tất cả các dân tộc

+ Trong xử lý mối quan hệ dân tộc và giai cấp, Hồ Chí Minh yêu cầu phải ưu tiên

cho vấn đề dân tộc, đặt lợi ích dân tộc lên trên hết, trước hết Đây là một trong nhữngcống hiến về lý luận của Hồ Chí Minh đối với phong trào cách mạng thế giới

Người chỉ rõ:

Một là, cần phải kết hợp hài hòa hai vấn đề này với nhau trên cả bình diện quốc

tế cũng như từng quốc gia, song phải đặt lợi ích dân tộc lên trên hết, trước hết Cơ sở

của vấn đề này, theo Hồ Chí Minh:

Thứ nhất, trước những kẻ áp bức, quyền lợi của những người lao động là thốngnhất, gắn bó với nhau, đó là tự do bình đẳng, hòa bình ấm no hạnh phúc

Thứ hai, đặt vấn đề dân tộc hay lợi ích dân tộc lên trên hết, theo Hồ Chí Minh làkhông mâu thuẫn với việc kết hợp hài hòa giữa hai lợi ích này và cũng hoàn toàn đúngtinh thần các quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen

Trang 23

Thứ ba, ở Việt Nam, mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với CNĐQ và tay sai, nổitrội hơn cả, do đó không thể giải quyết vấn đề giai cấp trước rồi mới giải quyết vấn đềdân tộc như ở các nước phương Tây

Hai là, độc lập dân tộc phải gắn liền với CNXH Đây là mục tiêu chiến lược

của cách mạng Việt Nam được Hồ Chí Minh xác định từ những năm 30, phản ánh rõnhất, tập trung nhất sự kết hợp lợi ích dân tộc với lợi ích giai cấp trong cách mạng ViệtNam nói chung, trong tư tưởng Hồ Chí Minh nói riêng

Có thể khẳng định độc lập dân tộc gắn liền với CNXH là luận điểm trung tâm,xuyên suốt toàn bộ hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh Để đưa dân tộc Việt Nam đi tới độclập tự do và CNXH, trong thực tiễn lãnh đạo cách mạng Việt Nam, ở mọi thời kỳ, HồChí Minh luôn gắn mục tiêu độc lập dân tộc với CNXH, gắn đấu tranh giải phóng dântộc với xây dựng và bảo vệ XHCN Đai hội lần thứ X Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tụckhẳng định con đường đi cho cách mạng Việt Nam đã được Hồ Chí Minh vạch ra từnhững năm 30, tiến tới thực hiện mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam dân giàu nướcmạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh

Ba là, chỉ có giải phóng dân tộc, mới giải phóng được giai cấp, giải phóng dân tộc đã bao hàm một phần của việc giải phóng giai cấp, và là tiền đề của giải phóng giai cấp.

Với Hồ Chí Minh, quyền lợi dân tộc với quyền lợi giai cấp là thống nhất, quyền lợidân tộc không còn, thì quyền lợi mỗi giai cấp, mỗi bộ phận trong dân tộc cũng khôngthực hiện được Vì vậy, đoàn kết dân tộc trên cơ sở liên minh công nhân, nông dân, tríthức là một chiến lược của cách mạng Việt Nam Chủ nghĩa dân tộc chính là một bộphận của chủ nghĩa quốc tế vô sản

c Tư tưởng Hồ Chí Minh về quan hệ giữa Việt Nam và các quốc gia dân tộc trên thế giới

Hồ Chí Minh là người yêu nước hết mực, đồng thời là người quốc tế chân chính.Suốt cả cuộc đời, Người đấu tranh đòi độc lập dân tộc, hòa bình cho Việt Nam và chocác dân tộc khác trên thế giới

Trong những năm 20, đảng cộng sản ở nhiều nước chính quốc còn thờ ơ trongviệc thực hiện di huấn của Lênin về vấn đề dân tộc, thuộc địa, Hồ Chí Minh đã cố gắngkhắc phục tình trạng này Từ 1921 - 1923, Hồ Chí Minh đóng vai trò chủ chốt trong việcthành lập Hội Liên hiệp các dân tộc thuộc địa; đồng thời cũng giữ vai trò chủ chốt trongviệc thành lập Ban Nghiên cứu thuộc địa của Đảng Cộng sản Pháp; tuyên truyền giúpcác dân tộc thuộc địa nhận thức sứ mệnh tự giải phóng, đồng thời thức tỉnh giai cấp vôsản chính quốc về tình hình thuộc địa, về quan hệ gắn bó giữa cách mạng ở thuộc địavới cách mạng ở chính quốc

Người chủ trương, dân tộc Việt Nam mong muốn quan hệ hữu nghị, bình đẳng,hợp tác cùng chung sống hòa bình với tất cả các dân tộc trên thế giới có chế độ xã hộikhác nhau, trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ củamỗi dân tộc, các bên cùng có lợi

Sau ngày nước Việt Nam độc lập ra đời, tháng 9 năm 1947, trả lời nhà báo Mỹ

S.Êli Mâys, Hồ Chí Minh tuyên bố: Chính sách đối ngoại của nước Việt Nam là “làm bạn với tất cả mọi nước dân chủ và không gây thù oán với một ai” Tháng 1-1950,

Người lại khẳng định: “Căn cứ trên quyền lợi chung, Chính phủ Việt Nam dân chủ cônghòa sẵn sàng đặt quan hệ ngoại giao với chính phủ nước nào trọng quyền bình đẳng, chủ

Trang 24

quyền lãnh thổ và chủ quyền quốc gia của nước Việt Nam, để cùng nhau bảo vệ hòabình và xây đắp dân chủ thế giới” (T.6, tr.8)

Hồ Chí Minh luôn nhất quán quan điểm mọi tranh chấp giữa các dân tộc, cũngnhư mọi vấn đề quốc tế phải được giải quyết bằng thương lượng hòa bình; quốc tếkhông thể bàn đến công việc của một nước mà không có đại diện chân chính của nước

đó và đại diện của các nước có liên quan

Trong quan hệ với các nước trên thế giới, Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm tớiquan hệ với các dân tộc theo CNXH (Người coi đây là quan hệ anh em); Người cũng rấtchú trọng tới quan hệ với các nước láng giềng châu Á, Người cho rằng số phận các dântộc châu Á buộc chặt với nhau Vì vậy “Việt Nam và các nước châu Á phải cùng nhauquan tâm tới việc giữ gìn hòa bình, ổn định, cùng có lợi Nếu không có hòa bình, ổnđịnh, không có nước nào ở châu Á có thể phát triển được”

III Tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc.

1 Mục tiêu của cách mạng giải phóng dân tộc.

a Tính chất và nhiệm vụ của cách mạng ở thuộc địa.

- Hồ Chí Minh khẳng định sự phân hoá giai cấp ở các nước thuộc địa phươngĐông không giống như ở các nước phương Tây và nếu như ở phương Tây, mâu thuẫnchủ yếu là mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản, thì ở phương Đông là mâuthuẫn giữa dân tộc bị áp bức và chủ nghĩa thực dân Do đó, “Cuộc đấu tranh giai cấpkhông diễn ra giống như ở phương Tây” và nếu như ở các nước TBCN phải tiến hànhcuộc đấu tranh giai cấp, thì ở các nước thuộc địa trước hết phải tiến hành cuộc đấu tranhgiải phóng dân tộc

- Đối tượng của cách mạng thuộc địa là chống chủ nghĩa thực dân và tay sai phản động, giành độc lập dân tộc.

- Mâu thuẫn chủ yếu ở thuộc địa (mâu thuẫn dân tộc thuộc địa với các nước đếquốc xâm lược) quy định tính chất và nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng thuộc địa làgiải phóng dân tộc (Điều này được thể hiện rõ trong Chính cương và Sách lược tóm tắt,trong Văn kiện Hội nghị TW 8)

b Mục tiêu của cách mạng giải phóng dân tộc

Cách mạng giải phóng dân tộc nhằm đánh đổ ách thống trị thực dân, giành độclập dân tộc và thiết lập chính quyền của nhân dân

Hồ Chí Minh khẳng định mục tiêu cấp thiết của cách mạng thuộc địa chưa phảigiành quyền lợi riêng biệt của mỗi giai cấp mà là quyền lợi chung của toàn dân tộc, đápứng nguyện vọng độc lập tự do của quần chúng nhân dân

Kiên trì mục tiêu này, Hồ Chí Minh đã cố gắng khắc phục những ảnh hưởng củachủ nghĩa giáo điều, “tả” khuynh trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế nhữngnăm 20 và đầu những năm 30 Tại Hội nghị TW 8, quan điểm của Hồ Chí Minh về cáchmạng Việt Nam đã hoàn toàn được khẳng định: “Cuộc cách mạng Đông Dương hiện tạikhông phải là một cuộc cách mạng tư sản dân quyền, cuộc cách mạng phải giải quyếthai vấn đề: phản đế và điền địa nữa, mà là một cuộc cách mạng chỉ giải quyết một vấn

đề cần kíp “dân tộc giải phóng”, vậy thì cuộc cách mạng Đông Dương trong giai đoạnhiện tại là một cuộc cách mạng dân tộc giải phóng” (Văn kiện Đảng, T7, 2000, tr.118)

2 Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc

Trang 25

- Cách mạng giải phóng dân tộc muốn thắng lợi triệt để phải đi theo con đường cách mạng vô sản

+ Nhận xét của Hồ Chí Minh về tình hình thế giới và Việt Nam cuối thế XIXđầu thế kỷ XX:

Thứ nhất, tình hình thế giới: hầu hết các nước trên các lục địa Á, Phi, Mỹ la tinhđều trở thành thuộc địa, hoặc phụ thuộc vào CNĐQ Chính sách xâm chiếm thuộc địacủa CNĐQ đã gây ra những hậu quả:

Tạo ra sự đối lập, bất bình đẳng lớn nhất trong lịch sử nhân loại, sự đối lập giữacác dân tộc bị áp bức, bóc lột với các dân tộc đi áp bức bóc lột, đồng thời còn tạo ramâu thuẫn giữa các dân tộc thuộc địa, thông qua chính sách chia rẽ, dùng người ở thuộcđịa này đánh người ở thuộc địa kia

Kìm hãm sự phát triển của các dân tộc thuộc địa, thậm chí làm cho nhiều dân tộc

bị diệt vong

Thứ hai, ở Việt Nam, đến năm 1884, về cơ bản, Việt Nam hoàn toàn bị Phápchiếm đóng Chính sách cai trị tàn bạo của thực dân Pháp cùng bọn địa chủ phong kiếntay sai đã là nguyên nhân làm bùng nổ hàng loạt các phong trào đấu tranh của nhân dân

ta Song, do thiếu một đường lối lãnh đạo đúng đắn, tất cả đều thất bại

+ Hồ Chí Minh khảo sát rất kỹ các cuộc cách mạng và kinh nghiệm của các

phong trào đấu tranh cứu nước, giải phóng dân tộc trên thế giới (xem phần đầu) vàkhẳng định con đường đi của cách mạng Việt Nam: “chỉ có giải phóng giai cấp vô sảnthì mới giải phóng được dân tộc, cả hai cuộc giải phóng này chỉ có thể là sự nghiệp củaCNCS và cách mạng thế giới”

Chính cương vắn tắt của Đảng Cộng sản Việt Nam do Hồ Chí Minh soạn thảo

khẳng định: “Chủ trương làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đitới xã hội cộng sản” (T.3, tr.1)

Khi tổng kết chặng đường 20 năm cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh tiếp tụcchỉ rõ: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đườngcách mạng vô sản“(T.9, tr.419)

- Cách mạng giải phóng dân tộc trong thời đại mới phải do Đảng Cộng sản lãnh đạo.

+ Cách mạng giải phóng dân tộc muốn thắng lợi phải do Đảng của giai cấp côngnhân lãnh đạo

Với Hồ Chí Minh, muốn giải phóng dân tộc trước hết cần phải có Đảng cáchmạng Đảng có vững, cách mạng mới thành công cũng như người cầm lái có vữngthuyền mới chạy

Để huy động sức mạnh của toàn dân, Hồ Chí Minh sắp xếp lực lượng của toàndân trên lập trường của giai cấp công nhân (Cách sắp xếp lực lượng cách mạng của HồChí Minh khác hẳn cách sắp xếp lực lượng cách mạng của Phan Bội Châu, Phan ChuTrinh và các bậc tiền bối khác, đồng thời cũng khác với cách sắp xếp lực lượng cáchmạng của Quốc tế Cộng sản ở những năm 20 - 30) Người khẳng định:

+ Trong thời đại mới, giai cấp công nhân Việt Nam là giai cấp duy nhất lãnh đạo

cách mạng Việt Nam - Chỉ có Đảng của GIAI CấPCN mới có đủ điều kiện lãnh đạocách mạng đi đến thành công: GIAI CấPCN là giai cấp tiên tiến nhất, triệt để cách mạngnhất, họ đại biểu cho phương thức sản xuất tiến bộ, sớm giác ngộ chủ nghĩa Mác -

Trang 26

Lênin, có Đảng cộng sản vững mạnh, có những đặc điểm riêng thuận lợi cho quá trìnhlãnh đạo cách mạng…

Trước các ý kiến cho rằng giai cấp công nhân Việt Nam số lượng còn nhỏ bé,trình độ còn thấp kém, không thể lãnh đạo được, Hồ Chí Minh khẳng định: “Lãnh đạođược cách mạng hay không là do đặc tính cách mạng, chứ không phải do số lượng nhiềuhay ít”, “Đặc tính của giai cấp công nhân là kiên quyết, triệt để, tập thể và có tính kỷluật” và Người kết luận: về mọi mặt chính trị, tư tưởng, tổ chức, hành động giai cấpcông nhân đều giữ vai trò lãnh đạo

Để giai cấp công nhân đảm đương được sứ mệnh của mình, Hồ Chí Minh yêucầu cần không ngừng giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin và tinh thần yêu nước cho họ

+ Giai cấp công nhân và giai cấp nông dân là “gốc”, là ”chủ” của cách mạng, là

“quân chủ lực của cách mạng” và sự liên minh của 2 giai cấp này là “nền”, là “gốc”, là

“cơ sở” chủ yếu của Mặt trận dân tộc thống nhất

Hồ Chí Minh đánh giá rất cao vai trò của giai cấp nông dân trong cách mạng ViệtNam Vì vậy, “giải phóng dân tộc thực chất là giải phóng giai cấp nông dân” Nếu giaicấp công nhân không “thu phục” được giai cấp nông dân thì không thể nắm quyền lãnhđạo cách mạng và không thể đưa sự nghiệp cách mạng đến thắng lợi được

Hồ Chí Minh xếp công nhân, nông dân, tiểu tư sản và cả tư sản dân tộc là độnglực của cách mạng Theo Người, tính chất cách mạng nước ta là cách mạng dân chủ tưsản kiểu mới Giai cấp tư sản dân tộc cũng bị đế quốc, phong kiến áp bức, bị ngăn trởphát triển; họ có tinh thân yêu nước, tinh thần dân chủ và có thể đứng về phía cáchmạng

Hồ Chí Minh chỉ rõ: Cách mạng tức là các giai cấp tiến bộ đánh đổ giai cấp phảntiến bộ, những giai cấp ủng hộ và tham gia cách mạng tức là động lực cách mạng

- Lực lượng của cách mạng giải phóng dân tộc là toàn dân tộc

+ Cách mạng giải phóng dân tộc là sự nghiệp của bản thân DÂN TộC bị áp bức

Cơ sở lý luận của vấn đề này chính là lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về vaitrò của quần chúng nhân dân đối với sự phát triển lịch sử, về sự tự thân phát triển, cáchmạng mỗi nước phải do chính nhân dân nước đó tiến hành

Hồ Chí Minh: cách mạng là sự nghiệp của quần cúng nhân dân, không có gì lớnmạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân, có dân là có tất cả

Năm 1921, trong Tuyên ngôn của Hội Liên hiệp thuộc địa, Người viết: “Vận

dụng câu nói của Mác, chúng tôi xin nói với anh em rằng, công cuộc giải phóng anh emchỉ có thể thực hiện được bằng nỗ lực của bản thân anh em” (T.2 tr.127-128)

Ngay từ những năm 20, Hồ Chí Minh đã nhận thấy mâu thuẫn chủ yếu cần giảiquyết trong xã hội Việt Nam là mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với thực dân

Pháp xâm lược và phong kiến tay sai, cùng các thế lực phản động khác Vì vậy, cách mạng giải phóng dân tộc là của toàn dân, “nghĩa là sỹ, nông, công, thương đều chống

lại cường quyền”, giải phóng dân tộc là công việc chung của dân chúng, của cả đồngbào ta

Luận điểm trên được Hồ Chí Minh quán triệt trong suốt quá trình lãnh đạo cách

mạng Việt Nam Người đòi hỏi phải “đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”; trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ xâm lược, Người yêu cầu phải “tự lực cánh sinh”, “dựa

Trang 27

vào sức mình là chính” Việc vận động nhân dân, xây dựng lực lượng trong nước là yếu

tố quyết định thắng lợi của cách mạng

+ Cách mạng giải phóng dân tộc là sự nghiệp đoàn kết của toàn dân, trên cơ sởliên minh công nông

Khái nịêm “đồng bào”, “toàn dân” được Hồ Chí Minh sử dụng rất nhiều Toàn dân,theo Hồ Chí Minh nghĩa là toàn thể “con Lạc cháu Hồng”, không phân biệt địa vị, đảngphái, giàu, nghèo

Với Hồ Chí Minh, cách mạng là "Việc chung của cả dân chúng chứ không phảiviệc riêng của một hai người" vì vậy phải đoàn kết toàn dân: "sĩ, nông, công, thươngđều nhất trí chống lại cường quyền" Trong đó công nông là gốc, là chủ của cáchmạng

Hồ Chí Minh chủ trương cần vận động, tập hợp rộng rãi các tầng lớp nhân dânViệt Nam trong một mặt trận dân tộc thống nhất nhằm huy động sức mạnh của toàn dântộc đấu tranh giành độc lập tự do

+ Hồ Chí Minh cũng thường xuyên nhắc nhở phải quán triệt quan điểm giai cấp:công nông là gốc, là chủ của cách mạng Và không khi nào được nhượng dù một chútlợi ích của công nông để đi vào con đường thỏa hiệp

Người viết: "Công nông là gốc cách mệnh; còn học trò, nhà buôn nhỏ, điền chủcũng bị tư sản áp bức, song không cực khổ bằng công nông; ba hạng người ấy chỉ là bầubạn cách mệnh của công nông thôi" (T.2, tr.266) và "trong khi liên lạc với các giai cấp,phải rất cẩn thận, không khi nào nhượng một chút lợi ích gì của công nông mà đi vàođường thỏa hiệp'' (T.3, tr.3)

- Cách mạng giải phóng dân tộc cần được tiến hành chủ động, sáng tạo và có khả năng giành thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc và thúc đẩy sự phát triển của cách mạng chính quốc.

Đây là một trong những luận điểm sáng tạo của Hồ Chí Minh đối với phong tràocách mạng Việt Nam và cách mạng thế giới

+ Quan điểm của C.Mác, Ph Ăngghen, V.I Lênin và Quốc tế Cộng sản về cáchmạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa

C.Mác và Ph Ăngghen do điều kiện lịch sử chưa cho phép, nên trong thời đạicủa mình, các ông chưa đề cập đến cách mạng giải phóng dân tộc Tuy nhiên, hai ôngcũng cho rằng cách mạng giải phóng dân tộc nằm trong phạm trù của cách mạng vô sản

và về lâu dài, cách mạng giải phóng dân tộc muốn thắng lợi trọn vẹn phải theo conđường cách mạng vô sản

V.I Lênin phát triển các quan điểm của Mác trong điều kiện CNĐQ, đã nhận thức

rõ hơn về vai trò của thuộc địa đối với sự tồn tại của CNĐQ, về quan hệ giữa cách mạngthuộc địa với cách mạng chính quốc Tuy nhiên, Lênin chưa thấy được tính chủ động,sáng tạo của các dân tộc thuộc địa Người cho rằng cách mạng thuộc địa phụ thuộc hoàntoàn, trực tiếp vào cách mạng vô sản ở chính quốc, cách mạng giải phóng dân tộc chỉthắng lợi, khi cách mạng vô sản ở chính quốc thắng lợi

Thực ra, cả Mác, Ăngghen và Lênin đều không coi thường vấn đề giải phóng dântộc, song do các ông phải tập trung giải quyết các vấn đề lý luận và thực tiễn của cuộc đấutranh giai cấp ở châu Âu nên chưa có điều kiện đi sâu nghiên cứu về các phong trào dântộc thuộc địa

Trang 28

Quốc tế Cộng sản trong những năm 20 - 30, tiếp tục phát triển các quan điểm củaLênin theo khuynh hướng “tả” khuynh, đặc biệt chú trọng đến cách mạng chính quốc, đặtcách mạng giải phóng dân tộc phụ thuộc vào cách mạng chính quốc, là hậu bị quân củacách mạng chính quốc, đặt lợi ích của đấu tranh giải phóng dân tộc dưới lợi ích của cuộcđấu tranh giai cấp

Tuyên ngôn Thành lập Quốc tế Cộng sản năm 1919 viết: "Công nhân và nông dânkhông những ở An Nam, Angiêri, Bengan, mà cả Ba Tư hay Ácmênia chỉ có thể giànhđược độc lập khi mà công nhân các nước Anh và nước Pháp lật đổ được Lôiit Gioógiơ vàClêmangxô, giành chính quyền nhà nước vào tay mình" Những Luận cương về phongtrào cách mạng trong các nước thuộc địa và nửa thuộc địa được thông qua tại Đại hội VIQuốc tế Cộng sản (1/9/28) cũng khẳng định: "Chỉ có thể thực hiện hoàn toàn công cuộcgiải phóng các thuộc địa khi giai cấp vô sản giành được thắng lợi ở các nước tư bản tiêntiến"

+ Tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa,

phụ thuộc

Tại Đại hội V Quốc tế Cộng sản, Hồ Chí Minh đã phân tích, phê phán các quanđiểm “tả” khuynh của Quốc tế Cộng sản và các đảng cộng sản ở một số nước chính

quốc là không thấy được tầm quan trọng của thuộc địa đối với sự tồn tại của CNĐQ , vì

vậy cũng không thấy được vai trò to lớn của cách mạng giải phóng dân tộc đối vớiphong trào cách mạng thế giới

Nguời nhấn mạnh, trong khi thờ ơ, không hiểu thuộc địa, họ lại giáo điều chorằng ở thuộc địa, công nghiệp nhỏ bé, giai cấp công nhân chưa phát triển, trình độ lýluận thấp kém, không hiểu chủ nghĩa Mác - Lênin , nên không thể làm cách mạngthắng lợi được

Với tư cách là người hiểu sâu sắc về thuộc địa, về chủ nghĩa thực dân và về sứcmạnh to lớn của phong trào giải phóng dân tộc, Hồ Chí Minh chỉ rõ:

Thứ nhất, cách mạng thuộc địa và cách mạng chính quốc có quan hệ mật thiết vớinhau trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung là CNĐQ

Người dùng hình tượng con đỉa hai vòi, cùng hàng loạt các bằng chứng xác thựckhác để chỉ rõ hiện tượng này Theo Người, muốn giết được con đỉa đó thì phải đồng thờicắt bỏ cả hai cái vòi của nó

Thứ hai, khi được ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin soi đường, được đảngcộng sản lãnh đạo thì tính chủ động, tích cực của nhân dân các nước thuộc địa có thể

phát triển chưa từng thấy họ có thể vùng lên tự giải phóng trước khi cách mạng chính quốc nổ ra và giành thắng lợi đồng thờì thúc đẩy trở lại đối với cách mạng chính quốc.

Thứ ba, khi phân tích vai trò của thuộc địa với CNĐQ và sức mạnh to lớn củanhân dân các dân tộc thuộc địa, Hồ Chí Minh đã khẳng định “nọc độc” chủ yếu của cácnước đế quốc nằm ở thuộc địa và nhân dân các nước thuộc địa tiềm ẩn một sức mạnhhết to lớn khi được giác ngộ

Chính vì vậy, ngay từ năm 1924, Người đã khẳng định: "Cách mạng thuộc địa không những không phụ thuộc vào cách mạng vô sản ở chính quốc mà có thể giành thắng lợi trước" (T2, tr.128) và "Trong khi thủ tiêu một trong những điều kiện tồn tại

Trang 29

của CNTB là CNĐQ, họ có thể giúp đỡ những người anh em mình ở phương Tây trong nhiệm vụ giải phóng hoàn toàn" (T1, tr.36).

Hồ Chí Minh thấy được vấn đề này từ rất sớm và kiên trì luận điểm này, mặc dù,

có lúc vì nó, mà Người đã gặp không ít khó khăn Giải thích về nguồn gốc sức mạnh

của nhân dân các dân tộc thuộc địa, Hồ Chí Minh: “Người Đông Dương không được học, đúng thế, bằng sách vở và bằng diễn văn, nhưng người Đông Dương nhận sự giáo dục bằng cách khác Đau khổ, nghèo đói và sự đàn áp tàn bạo là những người thầy duy nhất của họ Đằng sau sự phục tùng tiêu cực, người Đông Dương giấu một cái gì đang sôi sục, đang gào thét và sẽ bùng nổ một cách ghê gớm, khi thời cơ đến Sự tàn bạo của chủ nghĩa tư bản đã chuẩn bị đất rồi: chủ nghĩa xã hội chỉ còn phải làm cái việc là gieo hạt giống của công cuộc giải phóng nữa thôi” (T.1, tr.28)

+ Luận điểm trên của Hồ Chí Minh là một sự sáng tạo to lớn Nó là cơ sở chomọi hoạt động sáng tạo của Đảng ta trong lãnh đạo cách mạng Việt Nam, đồng thờicũng là cơ sở lý luận thúc đẩy phong trào cách mạng giải phóng dân tộc trên thế giớiphát triển

- Cáh mạng giải phóng dân tộccần được tiến hành bằng con đường cách mạng bạo lực.

+ Hồ Chí Minh kế thừa lý luận về cách mạng vô sản của chủ nghĩa Mác - Lênintrong đó có lý luận về việc giành chính quyền bằng bạo lực cách mạng Trong tư tưởngcủa chủ nghĩa Mác - Lênin, bạo lực được coi là “bà đỡ” cho một xã hội cũ đang thainghén một xã hội mới trong lòng Tuy nhiên, chủ nghĩa Mác không phủ nhận khả nănggiành chính quyền bằng phương pháp hòa bình, song coi đó là khả năng rất hiếm và rấtquý

+ Hồ Chí Minh khẳng định cách mạng ở các nước thuộc địa không thể thànhcông triệt để nếu không sử dụng tới bạo lực Bởi vì ở đây sự tàn bạo của CNĐQ đã đạttới mức cao nhất, chúng không từ bỏ một thủ đoạn nào, kể cả việc dìm các phong tràođấu tranh tay không của nhân dân thuộc địa trong biển máu

Tư tưởng cách mạng bạo lực của Hồ Chí Minh cũng khác với tư tưởng cáchmạng bạo lực của một số nước, một số phong trào cách mạng ở trong nước như tư tưởng

“nòng súng đẻ ra chính quyền”, tư tưởng khủng bố, ám sát cá nhân, tư tưởng say mê bạolực vũ trang Hồ Chí Minh cho rằng bạo lực cách mạng ở Việt Nam là sức mạnh tổnghợp của hai yếu tố chính trị và quân sự, hai lực lượng là lực lượng chính trị của quầnchúng và lực lượng vũ trang nhân dân Cách mạng bạo lực là sử dụng sức mạnh tổnghợp để “chống lại bạo lực phản cách mạng, giành lấy chính quyền và bảo vệ chínhquyền” dưới hình thức đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang

Năm 1947, nhân kỷ niệm ngày thành lập Giải phóng quân Việt Nam, Ngườikhẳng định: “Dân tộc Việt Nam nhất định phải được giải phóng Muốn giải phóng thìphải đánh phát xít Nhật và Pháp Muốn đánh chúng thì phải có lực lượng quân sự Muốn

có lực lượng thì phải có tổ chức Muốn tổ chức thành công thì phải có kế hoạch, cóquyết tâm” (T.5, tr.329)

+ Mặc dù nhấn mạnh cách mạng bạo lực, song ở Hồ Chí Minh tư tưởng bạo lực

CM gắn bó và thống nhất với tư tưởng nhân đạo và hòa bình Cơ sở của sự thống nhấtnày là lòng yêu thương con người, coi con người là vốn quý nhất và phải ra sức bảo vệcon người

Trang 30

Vì vậy, Người luôn chủ động, tích cực đưa ra các giải pháp để tranh thủ khả nănghòa bình và phát triển của cách mạng Điều này thể hiện rất đậm nét trong các hoạt độngchỉ đạo cách mạng Việt Nam trong các giai đoạn 1945 - 1946; 1954 - 1959, song các thếlực đế quốc và bọn phản động tay sai đã khước từ mọi cử chỉ thiện chí, mọi cơ hội tránh

đổ máu cho cả hai bên

Tóm lại, tư tưởng Hồ Chí Minh về dân tộc và cách mạng giải phóng dân tộc làmột nội dung lớn, nổi bật trong hệ thống tư tưởng của Hồ Chí Minh Vận dụng tư tưởngcủa Người, cách mạng Việt Nam đã thành công, đất nước độc lập tự do, thống nhất,đồng thời góp phần to lớn vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng các dân tộc thuộc địa, phụthuộc trên thế giới

IV GIÁ TRỊ TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐỀ DÂN TỘC VÀ CÁCH MẠNG GIẢI PHÓNG DÂN TỘC

Những quan điểm của Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc và cách mạng giải phóngdân tộc có ý nghĩa to lớn cả về lý luận và thực tiễn:

- Làm phong phú học thuyết Mác - Lênin về cách mạng thuộc địa, đặc biệt làtrong việc xử lý vấn đề quan hệ dân tộc và giai cấp; trong việc nhận thức khả năngthắng lợi của cách mạng thuộc địa

- Làm chuyển hoá phong trào yêu nước, tạo điều kiện cho sự ra đời của Đảng Cộngsản Việt Nam

- Đặt cơ sở xây dựng nên đường lối cách mạng giải phóng dân tộc của Đảng

- Soi đường thắng lợi cho cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam

CÂU HỎI ÔN TẬP VÀ THẢO LUẬN

1 Phân tích những quan điểm cơ bản của Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc

2 Phân tích tính sáng tạo trong quan điểm của Hồ Chí Minh: Các dân tộc muốnđược độc lập tự do, bình đẳng thì không có con đường nào khác là phải tự minh đứnglên giành lấy độc lập, tự do

3 Tại sao trong tư tưởng Hồ Chí Minh nói riêng và trong cách mạng Việt Namnói chung độc lập dân tộc phải gắn liền với CNXH

4 Phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn của luận điểm: “Muốn cứu nước và giảiphóng dân tộc thì không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”

5 Phân tích những quan điểm cơ bản của Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng

dân tộc

6 Bằng lý luận và thực tiễn hãy chứng minh luận điểm: Cách mạng giải phóngdân tộc cần được tiến hành chủ động, sáng tạo và có khả năng giành thắng lợi trướccách mạng vô sản ở “chính quốc” là một sáng tạo lớn của Hồ Chí Minh

7 Giải thích tại sao Hồ Chí Minh khẳng định: ở các nước thuộc địa, “chủ nghĩadân tộc là một động lực lớn của đất nước”

8 Vì sao Hồ Chí Minh khẳng định: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộckhông có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”?

9 Cho biết ý nghĩa lý luận và thực tiễn luận điểm của Hồ Chí Minh: cách mạnggiải phóng dân tộc ở thuộc địa có thể giành thắng lợi trước cách mạng vs ở chính quốc?

Trang 31

10 Phân tích quan điểm của Hồ Chí Minh về sựu thống nhất biện chứng giữa tưtưởng bạo lực cách mạng với tư tưởng nhân đạo hòa bình.

Chương III

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI

VÀ CON ĐƯỜNG QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM (4)

3 Các giai đoạn, bước đi cụ thể trong quá trình xây dựng CNXH ở Việt Nam

4 Trên cơ sở đó, có nhận thức đúng và tin tưởng vào con đường đi lên của cáchmạng Việt Nam do Đảng, và nhân dân ta lựa chọn 80 năm qua

Tài liệu tham khảo.

1 Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 1 (tr 27, 28), tập 2 (tr 264-280), tập 8 (tr 226,

276, 341-342), tập 10, (tr.13-17, 133, 217, 310, 461, 556, 590), Nxb Chính trị Quốc gia,

Hà Nội, 2000

2 Võ Nguyên Giáp: Tư tưởng Hồ Chí Minh về con đường cách mạng Việt Nam,

Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1997

3 Nguyễn Duy Quý: Những vấn đề lý luận về CNXH và con đường đi lênCNXH, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1998

4 Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ X, NxbChính trị Quốc gia, Hà Nội, 2006

NỘI DUNG

I TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM.

1 Con đường hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về CNXH ở Việt Nam

a Tính tất yếu của CNXH ở Việt Nam

Hồ Chí Minh luận chứng cho sự ra đời của CNXH dựa trên các cơ sở sau:

- Sự ra đời của CNXH xuất phát từ quy luật vận động, phát triển khách quan củalịch sử xã hội loài người, từ nội dung, tính chất và xu thế vận động tất yếu của thời đại

- CNXH ra đời chính từ sự tàn bạo của CNTB

+ Chủ nghĩa Mác - Lênin khi luận chứng cho sự ra đời của CNXH xuất phát từquy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất

Khi luận chứng cho sự ra đời tất yếu của CNXH ở Việt Nam Hồ Chí Minh đã

đặc biệt chú ý đến một phương diện không kém phần quan trọng: CNXH ra đời chính từ

sự tàn bạo của CNTB Chính sự bóc lột nặng nề của chủ nghĩa thực dân đã bộc lộ những

khuyết tật phi nhân tính, không thể khắc phục được của CNTB và đó chính là cơ sở để

Trang 32

người lao động ý thức, giác ngộ sứ mệnh của mình đối với quốc gia dân tộc, chờ thời cơ

để vùng dậy, thủ tiêu xiềng xích thực dân, thực hiện giải phóng dân tộc, giải phóngchính họ thoát khỏi bất kỳ một hình thức áp bức bóc lột nào, và đây chính là điều kiệnquan trọng nhất để nhân dân thuộc địa giác ngộ về CNXH, CNCS

Trên cơ sở đó, Hồ Chí Minh đi đến khẳng định hết sức mới mẻ và táo bạo: “Chế

độ cộng sản có áp dụng được ở châu Á nói chung và ở Đông Dương nói riêng không?Đấy là vấn đề mà chúng ta đang quan tâm hiện nay Bây giờ hãy xét những lý do lịch

sử cho phép CNCS thâm nhập dễ dàng vào châu Á, dễ dàng hơn là ở châu Âu” (T1,tr.33-35) Trong bài Đông Dương đăng trong Tạp chí Cộng sản (Pháp) số 14 năm 1921,

Hồ Chí Minh: “Sự tàn bạo của CNTB đã chuẩn bị đất rồi: CNXH chỉ còn phải làm cáiviệc là gieo hạt giống của công cuộc giải phóng nữa thôi” (T1, tr.28)

- Tính tất yếu của CNXH ở Việt Nam còn được Hồ Chí Minh luận chứng trênnhiều góc độ khác:

Thứ nhất, về phương diện lý luận, Hồ Chí Minh đã kế thừa tư tưởng cách mạngkhông ngừng của chủ nghĩa Mác - Lênin để luận chứng một cách toàn diện khả năng đitới CNXH bỏ qua giai đoạn TBCN của nước ta

Thứ hai, cơ sở hàng đầu để đánh giá tính triệt để của một cuộc cách mạng khôngphải là lý tưởng, khẩu hiệu được nêu ra mà là ở quy mô giải phóng quần chúng bị ápbức Chỉ có CNXH mới làm được việc đó

Dưới góc độ giải phóng, độc lập dân tộc mới chỉ là cấp độ đầu tiên Độc lập dântộc là tiền đề để tiến lên CNXH, đi tới cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho nhân dân

Chính vì vậy, trong tư tưởng Hồ Chí Minh muốn cứu nước và giải phóng dân tộckhông còn con đường nào khác con đường cách mạng vô sản Người chủ trương “Làm

tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản” (T3, tr.1).Việc đặt cách mạng giải phóng dân tộc nằm trong phạm trù cách mạng vô sản, gắn độclập dân tộc với CNXH, đã khiến quan điểm giải phóng dân tộc của Hồ Chí Minh mangtính toàn diện và triệt để

Ngày nay, trước những diễn biến phức tạp ở trong nước và trên thế giới, Đai hộilần thứ X Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục khẳng định con đường mà Chủ tịch Hồ ChíMinh đã lựa chọn từ 80 năm trước và được khẳng định trong Cương lĩnh đầu tiên củaĐảng ta CNXH, CNCS vẫn là mục tiêu mà cách mạng Việt Nam đang hướng tới

b Cách tiếp cận của Hồ Chí Minh về CNXH.

Hồ Chí Minh tiếp cận chủ nghĩa xã hội xuất phát từ 3 phương diện sau:

- Hồ Chí Minh tiếp cận CNXH trên cơ sở học thuyết Hình thái kinh tế - xã hội và các quan điểm duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin.

Học thuyết hình thái kinh tế - xã hội của chủ nghĩa Mác - Lênin đã chỉ rõ lịch sửphát triển của xã hội loài người là một quá trình lịch sử tự nhiên của các phương thứcsản xuất nối tiếp nhau, từ cộng sản nguyên thủy đến CNCS

Trên cơ sở đó, Mác xây dựng những luận điểm cơ bản về CNXH, chỉ ra nhữngđặc trưng bản chất của nó, đặc trưng cơ bản nhất là xóa bỏ chế độ tư hữu về tư liệu sảnxuất, giải phóng con người khỏi tình trạng bị bóc lột về kinh tế, bị áp bức về chính trị, bị

nô dịch về tinh thần Có thể khái quát học thuyết hình thái kinh tế - xã hội của Mác đãcung cấp cho Hồ Chí Minh hàng loạt các vấn đề lý luận về tính tất yếu, mục tiêu bảnchất… của chủ nghĩa xã hội

Trang 33

Nhận thức của Hồ Chí Minh về CNXH được thể hiện qua hàng loạt các bài viếtcủa Người đăng trên các sách, báo trong và ngoài nước, như các bài “Thường thứcchính trị” (thực chất là viết về chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịchsử), viết năm 1950 ở Việt Bắc, “Diễn văn khai mạc lớp lý luận khóa 1”, năm 1957 ởHọc viện Nguyễn Ái Quốc

- Hồ Chí Minh cận CNXH, trên cơ sở chủ nghĩa yêu nước, từ nhu cầu thực tiễn

của Việt Nam

Xuất phát từ thực tiễn nước ta để tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh

đã chỉ ra một luận điểm rất quan trọng: Mỗi dân tộc đi lên CNXH có những nét đặc thùriêng, không thể máy móc thực hiện như nhau với các quốc gia có trình độ phát triểnkhác nhau

Khi miền Bắc bước vào thời kỳ quá độ lên CNXH, Hồ Chí Minh chỉ ra đặc điểm

“to nhất” của ta là từ một nước nông nghiệp lạc hậu, chưa qua giai đoạn phát triểnTBCN, vì vậy mà chúng ta phải đi tìm “Một mô hình khác xuất phát từ đặc điểm thựctiễn của nước ta” (Tập 8, tr.227)

Với quan điểm trên, Hồ Chí Minh đã hoàn toàn tránh được tư duy giáo điều tồntại phổ biến trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế Đồng thời làm phong phúthêm lý luận của chủ nghĩa Mác về CNXH và con đường đi lên CNXH

- Hồ Chí Minh tiếp cận CNXH từ truyền thống văn hóa phương Đông và Việt Nam.

+ Truyền thống nhân ái, yêu mến quê hương, sống với nhau có tình có nghĩa

“đọc bao nhiêu sách Mác - Lênin, mà sống với nhau không có tình thì cũng là khônghiểu chủ nghĩa Mác - Lênin” Hồ Chí Minh đã kế thừa những tư tưởng tiến bộ này vàphát triển lên Người thường xuyên căn dặn “trong bầu trời không gì cao quý bằng nhândân”, Người chủ trương xây dựng một nhà nước của dân, do dân và vì dân, trong đó cán

bộ là “đầy tớ”, là “công bộc” của dân, phải biết tự phê bình trước dân, thành công là củadân, khuyết điểm là của cán bộ Người nói tới trọng trách của Đảng đối với nhân dân,nhất là khi Đảng trở thành Đảng cầm quyền Người viết: "Chính sách của Đảng vàChính phủ là phải hết sức chăm nom đến đời sống của nhân dân Nếu dân đói, Đảng vàchính phủ có lỗi; nếu dân rét là Đảng và Chính phủ có lỗi, nếu dân ốm là Đảng và chínhphủ có lỗi" (T12, tr.572)

+ Truyền thống đề cao văn hóa, lễ nghĩa, coi trọng giáo dục đạo đức

Khổng Tử đặt giáo dục cao hơn chính trị, giáo dục tốt thì chính trị tốt; Mạnh Tử:chính trị tốt thì dân giàu, dân không giàu, chính trị không tốt Vua có nhân thì không aikhông có nhân, vua có nghĩa thì không ai không có nghĩa; Khổng Tử đề cao trí, nhân,dũng; Mạnh Tử đề cao nhân, nghĩa, lễ, trí, tín , tóm lại, các ông rất coi trọng giáo dụcđạo đức bằng phương pháp nêu gương Hồ Chí Minh cũng thường xuyên nhấn mạnhvấn đề nay Người chỉ rõ: “Một nhà nước muốn được lòng dân thì người đứng đầu phảinêu gương”

2 Quan niệm của Hồ Chí Minh về những đặc trưng của CNXH Việt Nam

- Quan điểm của các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin về đặc trưng của CNXH:

+ Xóa bỏ từng bước chế độ tư hữu TBCN, thiết lập chế độ công hữu XHCN đểgiải phóng sức sản xuất

Trang 34

+ Có một nền đại công nghiệp cơ khí, một nền khoa học công nghệ hiện đại cókhả năng cải tạo nông nghiệp Đặc trưng này đã được Lênin khái quát thành công thứcCNXH = chế độ Xôviết + Điện khí hoá toàn quốc.

+ Thực hiện sản xuất có kế hoạch và tiến tới xóa bỏ hàng hóa, tiền tệ (sau nàyđược Lênin điều chỉnh bằng chính sách kinh tế mới)

+ Phân phối theo lao động, thực hiện công bằng trong lao động và hưởng thụ.+ Khắc phục sự khác biệt về giai cấp, tiến tới xóa bỏ sự khác biệt giữa nông thônvới thành thị, lao động trí óc và lao động chân tay; xây dựng một xã hội thuần nhất vềgiai cấp

+ Giải phóng con người khỏi áp bức, bất công, nâng cao trình độ văn hóa củanhân dân, tạo điều kiện cho mọi người tận lực phát triển năng lực sẵn có

+ Sau khi thực hiện các đặc trưng bản chất trên, chức năng chính trị của nhà nước

sẽ dần bị mất đi

- Quan điểm của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

+ Hồ Chí Minh thống nhất với các nhà kinh điển về CNXH, Người trích dẫnnhiều đặc trưng bản chất ở các giai đoạn khi chúng ta chưa bước vào thời kỳ quá độ.Song đến giai đoạn từ 1954-1964, Hồ Chí Minh đã phát biểu một số vấn đề thể hiệnquan điểm mới của Người về CNXH Con đường tiến lên CNXH ở Việt Nam theo HồChí Minh là “không thể giống Liên Xô, vì Liên Xô có phong tục tập quán khác, có lịch

sử, địa lý khác” (T8, 227) Hồ Chí Minh yêu cầu không được ảo tưởng chủ quan chorằng CNXH, CNCS sẽ nhanh chóng được xây dựng ở Việt Nam

+ Sáng tạo của Hồ Chí Minh là xuất phát từ thực tiễn đất nước, Người đã đưa racác định nghĩa về CNXH một cách thiết thực, cụ thể, dễ hiểu, dễ tổ chức thực hiện, đápứng yêu cầu, nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân

Khi Miền Bắc bước vào thời kỳ xây dựng CNXH, Người nói: “CNXH trước hếtnhằm làm cho nhân dân lao động thoát nạn bần cùng, làm cho mọi người có công ănviệc làm, được ấm no và sống một đời hạnh phúc” (T10, tr.17); “CNXH là làm sao chodân giàu nước mạnh” (T8, tr.226); “CNXH là tất cả mọi người, các dân tộc ngày càng

ấm no, con cháu chúng ta ngày càng sung sướng” (T10, tr.317)

+ Có thể khái quát các đặc trưng của chủ nghĩa xã hội Việt Nam theo quan điểmcủa Hồ Chí Minh:

Thứ nhất, có chế độ chính trị do nhân dân làm chủ, mọi quyền hành và lực lượngđều ở nơi dân

Thứ hai, dân giàu nước mạnh, từng bước xóa bỏ bóc lột, bất công

Thứ ba, có nền kinh tế phát triển cao gắn liền với sự phát triển khoa học kỹ thuật.Thứ tư, xã hội phát triển ở trình độ cao về văn hóa, đạo đức

Thứ năm, CNXH là công trình tập thể của ND, do ND tự xây dựng lấy dưới sựlãnh đạo của Đảng cộng sản Đó là một CNXH của dân, do dân, vì dân, là hiện thânđỉnh cao của tiến trình tiến hóa lịch sử nhân loại

Ngoài ra khi nói về các đặc trưng của chủ nghĩa xã hội, Hồ Chí Minh còn chỉ rõchủ nghĩa xã hội là một xã hội có quan hệ hữu nghị, bình đẳng với các quốc gia dân tộctrên thế giới, trên tinh thần hữu nghị hợp tác, tôn trọng độc lập, chủ quyền và hai bêncùng có lợi; CNXH là công trình tập thể của nhân dân, do nhân dân tự xây dựng lấydưới sự lãnh đạo của Đảng…

+ Quan điểm của Hồ Chí Minh về CNXH là một quan niệm hoàn chỉnh, có hệ

Trang 35

quan tâm nhiều nhất là quyền làm chủ của nhân dân, Người yêu cầu phải nâng cao trình

độ, lòng nhân ái, tình người trong nhân dân, luôn tin vào năng lực sáng tạo vô cùng tolớn của nhân dân; sự nghiệp xây dựng CNXH là sự nghiệp của nhân dân

+ Trên cơ sở những quan điểm cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về CNXH,Cương lĩnh của Đảng (năm 1991) đã khẳng định những đặc trưng cơ bản của CNXH ởnước ta: Nhân dân lao động làm chủ; có một nền kinh tế phát triển cao dựa trên lựclượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu; có nền vănhóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người được giải phóng khỏí áp bức, bóc lột,bất công, làm theo năng lực, hưởng theo lao động, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnhphúc, có điều kiện phát triển toàn diện cá nhân; các dân tộc trong nước bình đẳng, đoànkết giúp đỡ nhau cùng tiến bộ; có quan hệ hữu nghị, hợp tác với nhân dân tất cả cácnước trên thế giới…

Tóm lại, thông qua các đặc trưng của CNXH bằng cách xác lập mục tiêu của nó,

Hồ Chí Minh khẳng định tính ưu việt hơn hẳn của CNXH so với các chế độ xã hội trước

đó, Người cũng chỉ ra chức năng xã hội của CNXH là giải con người một cách toàndiện, theo mọi cấp độ từ giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội đến giải phóng từng cánhân Mục tiêu cốt lõi của tư tưởng Hồ Chí Minh là giải phóng con người và mưu cầuhạnh phúc cho hết thảy mọi người trên trái đất

3 Tư tưởng Hồ Chí Minh về mục tiêu, động lực phát triển CNXH Việt Nam.

a Những mục tiêu cơ bản của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

- Mục tiêu chung của chủ nghĩa xã hội Việt Nam là phấn đấu vì độc lập tự do chodân tộc và hạnh phúc cho nhân dân

Người chỉ rõ: “Mục đích của chủ nghĩa xã hội là gì? Nói một cách đơn giản và dễhiểu là không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, trước hết lànhân dân lao động” (T10, tr.271)

- Mục tiêu cụ thể của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta:

+ Mục tiêu về chính trị của CNXH là xây dựng Nhà nước của dân do dân và vì

dân Người đòi hỏi phải phát huy quyền làm chủ của nhân dân, Chính phủ phải là đầy tớcủa nhân dân, nếu Chính phủ làm hại dân thì dân có quyền “đuổi” chính phủ, đồng thờiNgười cũng yêu cầu nhân dân phải nâng cao trình độ và phải dũng cảm đấu tranh chốngnhững hiện tượng vi phạm quyền làm chủ của nhân dân Bởi vì theo Hồ Chí Minh,

“quan tham là vì dân dại”

+ Mục tiêu về kinh tế, “Phải biến nước ta từ một nước nông nghiệp lạc hậu thành

nước có công nghiệp hiện đại, nông nghiệp hiện đại, khoa học tiên tiến” Điều quantrọng nhất mà Hồ Chí Minh quan tâm đến là vấn đề năng suất lao động, mà muốn nângcao năng suất lao động thì phải tiến hành công nghiệp hóa XHCN, tuy nhiên theo HồChí Minh, công nghiệp hóa có thể được tiến hành bằng nhiều con đường khác nhau, chứkhông nhất thiết là phải bắt đầu từ sự phát triển công nghiệp nặng

+ Mục tiêu về văn hóa, theo Hồ Chí Minh, CNXH phải là một xã hội cao hơn hẳn

CNTB về văn hóa và giải phóng con người, văn hóa phải “soi đường cho quốc dân đi”,phải lấy hạnh phúc của đồng bào, của dân tộc làm cơ sở Khi được hỏi bằng nhân tố nàophát triển CNXH, Hồ Chí Minh trả lời: bằng văn hóa (T10, tr.392)

+ Mục tiêu về xây dựng con người: muốn có CNXH trước hết phải có con người

XHCN Con người XHCN phải là con người có giác ngộ cách mạng, có phẩm chất đạođức trong sáng , trong các phẩm chất của con người mới, Hồ Chí Minh đặc biệt chú

Trang 36

trọng các phẩm chất về lý tưởng, đạo đức cách mạng và tinh thần làm chủ Theo Hồ ChíMinh, trong điều kiện sản xuất chưa phát triển cao, điểm hơn hẳn của CNXH so vớiCNTB chính là ở quan hệ giữa con người với con người.

Những mục tiêu trước mắt, thiết thực, cụ thể về CNXH mà Hồ Chí Minh đề ratuy có những khác nhau về chi tiết, tùy thuộc đối tượng, thời điểm Người nói hay viết,nhưng đều thể hiện tinh thần: chủ nghĩa xã hội là hiện thân đỉnh cao của tiến trình tiếnhoá lịch sử nhân loại, là hệ thống những giá trị mà khi loài người đạt tới thì cá tính conngười được phát triển đầy đủ, năng lực con người được phát huy cao nhất, giá trị conngười được thực hiện toàn diện

b Các động lực của chủ nghĩa xã hội Việt Nam.

Khi nói động lực của sự phát triển, Hồ Chí Minh nhắc nhở chúng ta phải chú ýđến các yếu tố thúc đẩy, đồng thời cũng phải chú ý tới các yếu tố kìm hãm sự phát triểncủa xã hội

- Để xây dựng và phát triển của CNXH, cần phải huy động được tất các các nguồn lực, trong đó nguồn lực con người giữ vai trò quan trọng nhất Bởi vì các nguồn

lực khác, xét đến cùng đều phải thông qua con người Con người trên cả hai bình diện:cộng đồng và cá nhân

“Muốn cho CNCS thực hiện được, cần phải có kỹ nghệ, nông nghiệp và tất cảmọi người đều được phát triển hết khả năng của mình” (T4, tr.272) Người nói: “CNXHchỉ có thể được xây dựng với sự giác ngộ đầy đủ và lao động sáng tạo”, và “CNXH là

do quần chúng nhân dân tự mình xây dựng nên” (T10, tr.133), “Muốn xây dựng CNXH,trước hết cần có những con người XHCN Có tư tưởng và tác phong XHCN” (T10,tr.310)

Với Hồ Chí Minh, phát huy sức mạnh đoàn kết của cả cộng đồng dân tộc là độnglực chủ yếu để phát triển đất nước

Con người trên bình diện cộng đồng bao gồm tất cả mọi tầng lớp, mọi giai cấp,dân tộc, tôn giáo Xây dựng CNXH không chỉ là sự nghiệp riêng của công nông mà làcủa toàn thể dân tộc CNXH không chỉ là vấn đề giai cấp mà còn là vấn đề dân tộc Chỉxây dựng thành công CNXH mới tăng cường được sức mạnh của dân tộc, mới giữ vữngđộc lập dân tộc

Kế thừa quan điểm này của Hồ Chí Minh, Đại hội IX Đảng ta chỉ rõ: "Động lựcchủ yếu để phát triển đất nước là đại đoàn kết toàn dân trên cơ sở liên minh giữa côngnhân với nông dân và trí thức do Đảng lãnh đạo, kết hợp hài hòa các lợi ích cá nhân, tậpthể và xã hội, phát huy mọi tiềm năng và nguồn lực của các thành phần kinh tế, của toàn

xã hội'' (Văn kiện Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ IX, Nxb Chính trị Quốc gia, HàNội, 2001, tr.86)

Hồ Chí Minh cũng yêu cầu phải phát huy sức mạnh của con người với tư cách cánhân người lao động, Người đã nêu lên một số giải pháp cụ thể:

Thứ nhất, phải chú trọng các giải pháp tác động vào nhu cầu và lợi ích, trước hết

là lợi ích vật chất thiết thân đối với người lao động

Ngay trong kháng chiến chống Pháp, Hồ Chí Minh đã rất chú ý đến vấn đề này.Người đã ban hành Chính sách giảm tô, giảm tức; bước sang thời kỳ xây dựng CNXH,

Hồ Chí Minh yêu cầu phải chú ý đến lợi ích chính đáng của người lao động thông quacác chính sách về giá cả, thuế, về khoán, thưởng, phạt, coi trọng lợi ích cá nhân, tích cựctìm tòi cơ chế biện pháp kích thích trí sáng tạo của cá nhân

Trang 37

Thứ hai, các giải pháp tác động vào các động lực chính trị, tinh thần

Hồ Chí Minh chỉ rõ: trong khi điều kiện vật chất còn nhiều khó khăn thì các biệnpháp kích thích tinh thần có tầm quan trọng hàng đầu

Người viết: “CNXH không phải là cái gì cao xa mà cụ thể là ý thức lao động tậpthể, ý thức kỷ luật, tinh thần thi đua yêu nước, tăng sản xuất cho hợp tác xã, tăng thunhập cho xã viên, tinh thần đoàn kết, tương trợ, tinh thần dám nghĩ, dám nói, dám làm,không sợ khó, ý thức cần kiệm” (T9, tr.575)

Để làm tốt công tác này, cần phát huy tinh thần và ý thức làm chủ tập thể củađông đảo quần chúng nhân dân; thực hiện công bằng xã hội; sử dụng vai trò điều chỉnhcủa các nhân tố tinh thần khác như văn hóa, đạo đức, pháp luật, phải nâng cao dân trí,coi giáo dục là quốc sách hàng đầu

- Ngoài các động lực bên trong, Hồ Chí Minh cũng yêu cầu phải kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, tăng cường đoàn kết quốc tế, gắn chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế vô sản, sử dụng tốt các thành quả khoa học kỹ thuật…để thúc đẩy sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội trên đất nước ta

Tất cả những nhân tố động lực nêu trên mới chỉ là những nguồn lực tiềm tàng của

sự phát triển Để những năng lực tiềm tàng đó trở thành sức mạnh và không ngườngphát triển, Hồ Chí Minh chỉ rõ: sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng có ý nghĩa quyết địnhđối với sự phát triển của xã hội Đây là hạt nhân trong hệ thống động lực của chủ nghĩa

xã hội

- Đi đôi với việc khai thông các động lực, Hồ Chí Minh yêu cầu phải nhận diện

và khắc phục các lực cản, và Người đã chỉ ra những căn bệnh có nguy cơ dẫn đến sự

thoái hóa biến chất của một đảng cầm quyền, tới sự tồn vong của chế độ là:

+ Chủ nghĩa cá nhân là “căn bệnh mẹ đẻ ra trăm thứ bệnh nguy hiểm”, là “kẻ thùhung ác của CNXH”, “chúng ta phải kiên quyết tiêu diệt nó” Chúng ta chú trọng đảmbảo lợi ích cá nhân, song phải kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân, chống lối sống chỉ

vì mình, quê mình mà kết thành phe cánh bất chấp lợi ích của cộng đồng, của ngườikhác

+ Tệ tham nhũng, lãng phí, quan liêu

+ Tệ chia rẽ, bè phái, mất đoàn kết làm giảm sút uy tín của Đảng, của cách mạng(xem thêm T9, tr.228)

+ Tệ chủ quan, bảo thủ lười biếng không chịu học tập cái mới

Việc phát huy động lực và khắc phục trở lực của CNXH phụ thuộc quyết địnhvào sự lãnh đạo đúng đắn của ĐảNG CộNG SảN và vai trò quản lý của nhà nước

XHCN.

II TƯ TƯỞNG Hồ Chí Minh VỀ CON ĐƯỜNG QUÁ ĐỘ ĐI LÊN CNXH Ở VN.

1 Quan niệm của Hồ Chí Minh về thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam.

a Khái quát quan điểm của chủ nghĩa M.Lênin về thời kỳ quá độ lên CNXH

- Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin đều khẳng định rằng: Giữa CNTB

và CNCS tất yếu phải có một thời kỳ quá độ nhằm chuyển biến từ xã hội nọ sang xã hộikia Bản chất của thời kỳ quá độ là thời kỳ cải biến cách mạng không ngừng trên tất cảcác lĩnh vực của đời sống xã hội nhằm chuyển dần xã hội cũ thành xã hội mới

Thời kỳ quá độ mà Mác và Ăngghen đề cập đến ở đây, chủ yếu là thời kỳ chuyểnbiến lên CNCS ở các nước tư bản phát triển và quá độ ở đây, chủ yếu là quá độ chính trị

Trang 38

Tuy nhiên, khi nghiên cứu về nước Nga, Mác đã đi đến kết luận hé mở một con đườngquá độ khác “Nước Nga có thể không cần phải trải qua những đau khổ của chế độ đó,

mà vẫn chiếm đoạt được mọi thành quả của chế độ xã hội ấy” (chế độ xã hội mà Mácnói tới ở đây là chế độ xã hội tiền TBCN)

- Sau cách mạng Tháng Mười, Lênin đã làm phong phú thêm lý luận về thời kỳquá độ:

+ Lênin nêu lên hai loại hình quá độ từ CNTB lên CNXH, đồng thời chỉ rõ, cácnước lạc hậu có thể đi lên CNXH không cần phải trải qua giai đoạn phát triển TBCN.Tuy nhiên cần phải tuân theo hai điều kiện: có sự giúp đỡ của một nước công nghiệptiên tiến đã làm cách mạng thành công và nước đó phải do đảng cộng sản lãnh đạo

+ Xác định thời kỳ quá độ lên CNXH là thời kỳ tương đối dài, cần phải thực hiệncác bước đi quá độ nhỏ, sử dụng một số hình thức trung gian, Người cũng luôn nhắcnhở những người cộng sản không được chủ quan nóng vội

b Tư tưởng Hồ Chí Minh về thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam

Hồ Chí Minh đã tiếp thu các quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin về thời

kỳ quá độ và vận dụng vào điều kiện cụ thể nước ta Người khẳng định con đường cáchmạng Việt Nam là tiến hành giải phóng dân tộc, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủnhân dân, quá độ lên CNXH, bỏ qua giai đoạn phát triển TBCN Tư tưởng Hồ Chí Minh

về thời kỳ quá độ có những nội dung chủ yếu sau:

- Đặc điểm của thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam:

+ Có sự lãnh đạo của Đảng, có khối liên minh công nông và trí thức đã đượccủng cố vững chắc, vì vậy cách mạng Việt Nam chuyển sang giai đoạn mới không bắtđầu bằng một cuộc đảo lộn chính trị

+ Đặc điểm “to nhất” của ta trong thời kỳ quá độ là từ một nước nông nghiệp lạchậu, tiến thẳng lên CNXH không phải kinh qua giai đoạn phát triển TBCN

+ Chúng ta xây dựng CNXH trong điều kiện vừa có hòa bình vừa có chiến tranh,đồng thời thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng CNXH ở miền Bắc và đấu tranhthống nhất đất nước

+ Về phương diện quốc tế, sự nghiệp xây dựng CNXH ở Việt Nam có nhữngthuận lợi cơ bản, song cũng có không ít những khó khăn, đó là sự can thiệp, phá hoạicủa kẻ thù Điều đó buộc chúng ta phải có ý thức độc lập tự chủ, tự lực tự cường đểtranh thủ thuận lợi hạn chế những khó khăn, xây dựng thành công CNXH trên đất nướcta

- Bản chất của thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam:

+ Thực chất của thời kỳ quá độ lên CNXH là quá trình cải biến nền sản xuất nhỏ,lạc hậu thành nền sản xuất lớn hiện đại Đây là một cuộc đấu tranh giai cấp gay go,phức tạp trong điều kiện mới, so sánh lực lượng trong nước và quốc tế có nhiều thayđổi, đòi hỏi chúng ta phải áp dụng toàn diện các hình thức đấu tranh cả về kinh tế, chínhtrị, văn hóa, xã hội nhằm xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội

+ Quá độ lên CNXH là một quá trình dần dần, khó khăn, phức tạp và lâu dài, giankhổ vừa phải cải tạo xã hội cũ, vừa xây dựng xã hội mới (Hồ Chí Minh đặc biệt nhấnmạnh tính chất tuần tự, lâu dài của thời kỳ này) Tính chất phức tạp và khó khăn củathời kỳ quá độ được Hồ Chí Minh lý giải trên các cơ sở sau:

Trang 39

Thứ nhất, đây là một cuộc cách mạng làm đảo lộn mọi mặt đời sống xã hội cả vềlực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất; cả cơ sở hạ tầng lẫn kiến trúc thượng tầng Nó đặt

ra và đòi hỏi phải giải quyết hàng loạt các mâu thuẫn khác nhau

Thứ hai, xây dựng CNXH là một sự nghiệp mang tính kinh tế Đây là một côngviệc hoàn toàn mới mẻ, chúng ta chưa có kinh nghiệm phải vừa làm vừa học và khôngthể tránh được thiếu sót, thậm chí thất bại tạm thời

Thứ ba, kẻ thù của CNXH luôn tìm mọi cách chống phá quá trình xây dựngCNXH

- Mâu thuẫn của TKQĐ là mâu thuẫn giữa yêu cầu phát triển cao của đất nướctheo con đường tiến bộ (CNXH) với thực trạng KT-XH thấp kém, lạc hậu của đất nướccùng với các thế lực cản trở phá hoại sự nghiệp xây dựng CNXH

+ Hồ Chí Minh luôn yêu cầu cán bộ đảng viên tránh nôn nóng, chủ quan, đốtcháy giai đoạn trong quá trình xây dựng CNXH Phải xác định đúng bước đi và hìnhthức phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, biết kết hợp các khâu trunggian, quá độ, tuần tự từng bước từ thấp lên cao “Phải kiên nhẫn bắc những nhịp cầu nhỏ

và vừa, phải chọn những giải pháp trung gian và quá độ” (T7, tr.538), “Phải trải quanhiều bước, dài, ngắn là tùy hoàn cảnh Mỗi bước, chớ ham làm mau, ham rầm rộ Làm

ít mà chắc, đi bước nào, vững bước ấy tiến tới dần dần” (T7, tr.540)

- Nhiệm vụ của thời kỳ quá độ:

Thứ nhất, xây dựng nền tảng vật chất và kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội

Thứ hai, cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới, kết hợp cải tạo với xây dựngtrong đó lấy xây dựng làm trọng tâm

- Những nhân tố đảm bảo thắng lợi cho CNXH ở Việt Nam gồm:

+ Giữ vững và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng

+ Nâng cao vai trò quản lý của Nhà nước

+ Phát huy tính tích cực chủ động của các tổ chức chính trị xã hội của quầnchúng

+ Xây dựng đội ngũ cán bộ đủ đức và tài, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp cáchmạng XHCN

2 Nội dung xây dựng CNXH trong thời kỳ quá độ lên ở Việt Nam

- Về chính trị, nội dung quan trọng nhất là phải giữ vững và phát huy vai trò lãnhđạo của Đảng Cộng sản Việt Nam Muốn vậy cần:

Thứ nhất, Đảng phải thường xuyên được chỉnh đốn, củng cố nâng cao sức chiếnđấu, có hình thức tổ chức phù hợp để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới

Thứ hai, tất cả các cơ quan nhà nước phải là các thể chế dân chủ, dựa vào dân,lắng nghe ý kiến của dân, chịu sự kiểm soát của dân; phải xây dựng bộ máy nhà nướcvững mạnh, trong sạch, thực sự là Nhà nước của dân, do dân và vì dân

Thứ ba, củng cố và mở rộng Mặt trận Dân tộc thống nhất, trên cơ sở liên minhcông nhân, nông dân và trí thức, do Đảng Cộng sản lãnh đạo

- Về kinh tế, Hồ Chí Minh đã đề cập một cách khá toàn diện:

+ Người nhấn mạnh đến việc tăng gia sản xuất gắn liền với thực hành tiết kiệm,không ngừng nâng cao năng xuất lao động trên cơ sở tiến hành công nghiệp hóa XHCN

+ Xác định cơ cấu kinh tế nông - công nghiệp, coi nông nghiệp là mặt trận hàngđầu, đồng thời coi trọng củng cố thương nghiệp làm cầu nối giữa các ngành kinh tế TạiHội nghị Bộ chính trị, tháng 10 năm 1954, Người nói: “Nếu muốn công nghiệp hóa gấp

Trang 40

thì là chủ quan, Phải tăng tiến nông nghiệp Làm trái với Liên Xô cũng là mácxít” (HồChí Minh biên niên tiểu sử, T5, tr.572).

+ Chủ trương phát triển kinh tế nhiều thành phần trong suốt thời kỳ quá độ Bốnthành phần kinh tế mà Hồ Chí Minh đề cập đến là kinh tế quốc doanh, kinh tế hợp tác

xã, kinh tế tư bản tư doanh và kinh tế riêng lẻ khác Theo Hồ Chí Minh cần ưu tiên pháttriển kinh tế quốc doanh để tạo nền tảng vật chất cho CNXH; khuyến khích và giúp đỡkinh tế hợp tác phát triển…

+ Chủ trương thực hiện nguyên tắc phân phối theo lao động: làm nhiều hưởngnhiều, làm ít hưởng ít, không làm không hưởng; đồng thời bước đầu đề cập đến vấn đềkhoán trong sản xuất “Chế độ khoán là một điều kiện của CNXH, nó khuyến khíchngười công nhân luôn luôn tiến bộ, cho nhà máy tiến bộ Làm khoán là ích chung và lạilợi riêng làm khoán tốt thích hợp và công bằng dưới chế độ ta hiện nay” (T8, tr.341)

- Về văn hóa - xã hội, Hồ Chí Minh nhấn mạnh đến việc xây dựng con ngườimới, coi con người vừa là mục đích, vừa là động lực của sự phát triển xã hội, đồng thờiNgười cũng đề cao vai trò của văn hóa, giáo dục, khoa học kỹ thuật, nâng cao dân trí,bồi dưỡng và sử dụng nhân tài trong xây dựng CNXH

3 Quan điểm của Hồ Chí Minh về bước đi và các biện pháp xây dựng CNXH trong thời kỳ quá độ.

- Hồ Chí Minh nêu lên 2 nguyên tắc có tính phương pháp luận trong việc xácđinh bước đi và cách thức tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam:

+ Xây dựng chủ nghĩa xã hội là hiện tượng phổ biến, mang tính quốc tế vì vậyphải quán triệt các nguyên lý cơ bản của chu nghĩa Mác - Lênin, học tập kinh nghiệmcủa các nước anh em nhưng không được giáo, điều máy móc

+ Xác định bước đi và các biện pháp xây dựng chủ nghĩa xã hội cần căn cứ vàođiều kiện thực tế, đặc điểm dân tộc, nhu cầu và khả năng thực tế của nhân dân

- Về bước đi của thời kỳ quá độ

Trong thời kỳ quá độ, Hồ Chí Minh chưa nói rõ các bước đi cụ thể, song tìm hiểu

kỹ tư tưởng của Người, chúng ta có thể hình dung ba bước sau:

Thứ nhất, ưu tiên phát triển nông nghiệp, coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu.Người giải thích: Chúng ta vừa ra khỏi chiến tranh, “Nếu để dân đói là chính phủ có lỗi,mọi chính sách của Đảng không thực hiện được”(T7, tr 532), “Muốn phát triển côngnghiệp, phát triển kinh tế nói chung thì phải lấy phát triển nông nghiệp làm gốc, làmchính” (T10, tr.180); “Phải ưu tiên phát triển nông nghiệp còn bởi vì chúng ta có “thiênthời” (khí hậu, đất đai), “nhân hòa” (lực lượng lao động nông nghiệp) Vì vậy, “Trongthời kỳ quá độ lên CNXH, ta phải dựa vào nông nghiệp và phát triển nông nghiệp là cực

kỳ quan trọng” (Bài phát biểu tại Hội nghị Trung ương bàn về phát triển công nghiệp.(T10, tr.34);

Thứ hai, phát triển tiểu thủ công nghiệp và công nghiệp nhẹ

Thứ ba, phát triển công nghiệp nặng

Đề phòng bệnh duy ý chí, Người viết: Mấy năm kháng chiến, ta chỉ có nông thôn,bây giời mới có thành thị nếu muốn công nghiệp hóa gấp là chủ quan Ta cho nôngnghiệp là quan trọng và ưu tiên, rồi tiểu thủ công nghiệp và công nghiệp nhẹ, sau mớiđến công nghiệp nặng, làm trái với Liên Xô cũng là mácxít

- Về các biện pháp cơ bản tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội Việt Nam:

Ngày đăng: 28/07/2020, 17:39

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w