1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thông tin về vấn đề lạm dụng chức vụ, quyền hạn trên báo chí

198 45 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 198
Dung lượng 3,14 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CẢM ƠN Trong quá trình thực hiện đề tài “Thông tin về vấn đề lạm dụng chức vụ, quyền hạn CVQH trên báo chí”, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của các thầy cô, gia đình, bạn bè..

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

PHẠM THU HƯỜNG

THÔNG TIN VỀ VẤN ĐỀ LẠM DỤNG CHỨC VỤ,

QUYỀN HẠN TRÊN BÁO CHÍ

LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ

Hà Nội – 2020

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

PHẠM THU HƯỜNG

THÔNG TIN VỀ VẤN ĐỀ LẠM DỤNG CHỨC VỤ,

QUYỀN HẠN TRÊN BÁO CHÍ

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Báo chí học

Mã số: 60.32.01.01

Người hướng dẫn khoa học Chủ tịch hội đồng

Hà Nội – 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi dưới sự hướng dẫn và giúp đỡ của PGS TS Dương Xuân Sơn

Nội dung và kết quả nghiên cứu trong đề tài này là trung thực Những số liệu trong luận văn có cơ sở rõ ràng được chính tác giả thu thập, phân tích và tổng hợp Phần tài liệu tham khảo được dẫn nguồn đầy đủ và chính xác Các kết luận của luận văn chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nghiên cứu nào trước đây

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về những nội dung, kết quả trong quá trình thực hiện nghiên cứu luận văn này

Hà Nội, ngày 11 tháng 06 năm 2020

Tác giả luận văn

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện đề tài “Thông tin về vấn đề lạm dụng chức vụ, quyền hạn (CVQH) trên báo chí”, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của các thầy

cô, gia đình, bạn bè Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quý báu đó

Trước hết, tôi xin được bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Dương Xuân Sơn, người đã trực tiếp hướng dẫn tận tình cũng như định hướng về phương pháp làm việc, phương pháp nghiên cứu và tạo mọi điều kiện để tôi hoàn thành luận văn này

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô giáo trong chuyên ngành Báo chí học, các thầy cô trong Khoa Báo chí và Truyền thông, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội đã tạo điều kiện cho tôi trong suốt những năm học vừa qua

Cảm ơn bạn bè, và gia đình đã động viên, khích lệ, tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn này

Tác giả

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 5

1 Tính cấp thiết của đề tài 5

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 8

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 8

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 11

5 Phương pháp nghiên cứu 11

6 Ý nghĩa luận văn 13

7 Kết cấu của luân văn 14

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ LẠM DỤNG CVQH TRÊN BÁO ĐIỆN TỬ 15

1.1 Các khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài 15

1.2 Quan điểm của Đảng, Nhà nước về vấn đề lạm dụng CVQH 27

1.3 Tình hình thông tin chung về vấn đề lạm dụng CVQH 30

1.3.1 Thông tin về vấn đề lạm dụng CVQH trên thế giới 30

1.3.2 Thông tin về vấn đề lạm dụng CVQH ở Việt Nam 31

1.4 Vai trò của báo chí trong việc thông tin về vấn đề lạm dụng CVQH 38

1.4.1 Báo chí góp phần nâng cao niềm tin của nhân dân vào hệ thống chính trị 38

1.4.2 Góp phần nâng cao trách nhiệm CBCC trong thực thi công vụ 39

Tiểu kết chương 1 42

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ LẠM DỤNG CVQH TRÊN BÁO ĐIỆN TỬ HIỆN NAY 43

2.1 Vài nét về 3 tờ báo được khảo sát 43

2.1.1 Dantri.com 43

2.1.2 Vnexpress.net 44

2.1.3 Tuoitre.vn 45

2.2 Thực trạng thông tin về vấn đề lạm dụng CVQH trên báo điện tử 46

2.2.1 Nội dung thông tin 46

2.2.2 Hình thức thông tin 71

Trang 6

2.2.2.1 Khảo sát tần suất, khối lượng, mức độ thông tin 71

2.2.2.2 Cách thức chuyển tải thông tin 76

Tiểu kết chương 2 104

CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP THÔNG TIN VỀ VẤN ĐỀ LẠM DỤNG CVQH TRÊN BÁO ĐIỆN TỬ 106

3.1 Đánh giá chung 106

3.1.1 Thành công của ba tờ báo trong việc thông tin về vấn đề lạm dụng CVQH 106

3.1.2 Hạn chế của ba tờ báo trong việc thông tin về vấn đề lạm dụng CVQH 109

3.2 Nguyên nhân của thành công và hạn chế 114

3.2.1 Nguyên nhân của thành công 114

3.3 Giải pháp thông tin về vấn đề lạm dụng CVQH trên báo điện tử 117

3.3.1 Giải pháp vĩ mô 117

3.3.2 Giải pháp đối với nội dung và hình thức thông tin 119

3.3.3 Nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ nhà báo, phóng viên 123

Tiểu kết chương 3 126

KẾT LUẬN 127

TÀI LIỆU THAM KHẢO 129

Trang 7

Dân trí: Báo Dantri.vn

TTO: Báo Tuoitre.vn

VNE: Báo VnExpress.net

HĐND: Hội đồng nhân dân

Trang 8

DANH MỤC BẢNG, BIỂU

Biểu đồ 2.1: Khảo sát tuần suất đưa tin về vấn đề lạm dụng CVQH trên 3 tờ báo: VnE, Dân trí, Tuổi trẻ ĐVT: Bài viết 72 Biểu đồ 2.2: So sánh lượng nội dung thông tin theo lĩnh vực giữa ba báo VnE, Dân trí, tuổi trẻ trong thời gian từ 2016 -2019 ĐVT: Bài viết 73 Biểu đồ 2.3: Số lượng bài viết về vấn đề lạm dụng CVQH theo lĩnh vực và theo năm 74 Biểu đồ 2.4: Số bài đưa tin về vấn đề lạm dụng CVQH theo cấp đơn vị hành chính (2016-2019) 76 Bảng 2.5: Số lượng thể loại được sử dụng để thông tin về vấn đề lạm dụng CVQH 80 Biểu đồ 2.6: Tỷ lệ phản hồi của độc giả về vấn đề lạm dụng CVQH trên ba báo 103

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Nhà triết học khai sáng Montesquieue đã từng khuyến cáo: “Bất kỳ ai có

quyền lực đều có xu hướng lạm dụng quyền lực” Trên thực tế, tình trạng lạm dụng

quyền lực vẫn luôn tiềm ẩn và thường xuyên xảy ra ở bất kỳ quốc gia nào cho dù thể chế chính trị có khác nhau Dù không giống nhau về mức độ, nhưng không có quốc gia nào không có những vụ án hay đại án mà người có CVQH tự “nới lỏng” thêm cho mình những quyền lực vượt ngoài phạm vi cho phép để đạt được mục đích cá nhân Chính vì vậy, kiểm soát quyền lực, phòng ngừa, ngăn chặn những hành vi, xa rời chuẩn mực của cán bộ, công chức là vấn đề được nhiều quốc gia quan tâm và có thiết chế quy định

Trong công trình nghiên cứu và cuốn sách “Quyền lực chính trị và kiểm soát dân chủ ở Anh”, nhà nghiên cứu - học giả Stuart Weir và David Beetham rút ra kết

luận: “Trong hệ thống chính trị ở Vương quốc Anh, kiểm soát quyền lực, phòng,

chống lạm quyền là phương thức tốt để đảm bảo chuẩn mực của nền dân chủ xã hội” [35] Mới đây, ngày 16/7/2019, Hàn Quốc đã thi hành Luật cấm lạm dụng

CVQH nơi công sở Cụ thể, đạo luật này cấm những người có CVQH lạm dụng quyền lực của mình gây tổn hại đến tâm thần, sức khỏe hoặc bầu không khí làm việc Thậm chí trên trang web của Bộ lao động Hàn Quốc còn dành riêng một chuyên mục để người dân có thể bằng nhiều cách gọi điện, gửi email hoặc viết ý kiến trực tiếp tố cáo những cá nhân có hành vi lạm dụng CVQH Có thể nói, lực lượng lãnh đạo và chính quyền các nước đều xác định cuộc chiến chống lại tình trạng lạm quyền là cuộc đấu tranh lâu dài, có ý nghĩa chiến lược và cần phải thắng lợi từng bước

Ở Việt Nam, từ năm 1947, chỉ hai năm sau khi nước ta giành được chính quyền, với tư duy khoa học và tầm nhìn chiến lược cùng với sự nhạy bén về chính trị, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiên lượng, cảnh báo nguy cơ dễ mắc phải “căn bệnh” lạm quyền của những người cán bộ chủ trì nhất là trong điều kiện Đảng cầm quyền

Người viết trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”: “Khi có quyền lực trong tay thì

Trang 10

chuyện lạm dụng quyền lực rất dễ xảy ra dù trước đó anh ta có là người có nhiều thành tích, năng lực” [31] Nhận thức sâu sắc về tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí

Minh, Nghị quyết số 04-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản

Việt Nam khoá XII đã chỉ rõ: “Lạm dụng CVQH là một trong những biểu hiện suy

thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống rất nghiêm trọng của một bộ phận cán

bộ, đảng viên có chức, có quyền trong hệ thống chính trị Chính vì vậy, đấu tranh loại bỏ nó là vấn đề có ý nghĩa rất quan trọng trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng nói chung và làm trong sạch đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay.” [33] Từ đó có thể

thấy, Đảng và Nhà nước ta đã rất quan tâm và chú trọng đến việc kiểm soát quyền lực bao gồm từ việc trao quyền, thực thi quyền lực và kiểm soát mà trước hết tập trung xây dựng, hoàn thiện và thực hiện nghiêm cơ chế kiểm soát việc trao thực thi quyền lực và phòng, chống có hiệu quả việc tha hóa quyền lực Công tác phòng, chống tham nhũng (PCTN) nói chung và công tác đấu tranh chống tình trạng lạm dụng CVQH nói riêng đã có những chuyển biến tích cực cả về nhận thức, hành động, đạt được những kết quả nhất định Tuy vậy, trên thực tế tình trạng lạm dụng quyền lực vẫn chưa được khắc phục và đẩy lùi một cách hiệu quả Đầu năm 2018, ông Phan Văn Vĩnh – nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục Cảnh sát, Bộ Công an bị khởi tố, nguyên nhân là do người đứng đầu một cơ quan phòng chống tội phạm này

đã “lạm dụng quyền lực”, “bảo kê”, tiếp tay cho tội phạm lộng hành trong chính lĩnh vực mình quản lý Hay như trong vụ bà nữ trưởng phòng Quản trị - Văn phòng Tỉnh Ủy Đắk Lắk mà dư luận vô cùng bất bình gần đây, bà này đã dùng bằng tốt nghiệp cấp 3 của chị gái ruột để leo lên vị trí rất cao trong hệ thống chính trị địa phương Rõ ràng đã có dấu hiệu lạm dụng quyền lực trong công tác tuyển dụng, bổ nhiệm cán bộ Và đáng buồn là tình trạng này dường như không phải là đơn lẻ mà

đã trở thành vấn nạn Ở rất nhiều địa phương, công tác cán bộ được thực hiện không đúng quy định, không công khai, minh bạch, công tâm, khách quan; một số nơi, một số trường hợp thi, tuyển dụng công chức, viên chức chỉ mang tính hình thức Tình trạng “tiền tệ”, “hậu duệ”, “quan hệ”, “môn đệ” trở thành thông lệ phổ biến và mặc nhiên tồn tại gây bức xúc dư luận

Trang 11

Đứng trước tình hình đó, ngày 23-9-2019, thay mặt Bộ Chính trị, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng ký ban hành Quy định 205-QĐ/TW về việc kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền Quy định này là phương thức, giải pháp để kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền, là bước cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội XII của Đảng

và các nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị về xây dựng Đảng Ngay lập tức thu hút được sự quan tâm, đồng tình ủng hộ của đông đảo cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân Điều này khẳng định Quy định được ban hành là rất cần thiết và kịp thời trong bối cảnh hiện nay

Đặc biệt, trước thềm Đại hội XIII, Đảng và Nhà nước đều nêu cao tinh thần trách nhiệm, thái độ nghiêm túc và quyết liệt trong chống lộng quyền, lạm quyền, thao túng công tác cán bộ Theo đó, trong cuộc họp tiểu ban Nhân sự đại hội XIII của Đảng diễn ra vào ngày 19/03/2020 vừa qua, Tổng bí thư, Chủ tịch nước

Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh: “Việc khắc phục những hạn chế, yếu kém của

công tác cán bộ là việc làm cấp thiết; công tác chuẩn bị nhân sự Đại hội XIII không chỉ là nhiệm vụ của Tiểu ban Nhân sự, của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, của Ban Chấp hành Trung ương mà là nhiệm vụ quan trọng của cả hệ thống chính trị…”[40] Có

thể nói vấn đề đấu tranh phòng chống lạm quyền đã và đang là mục tiêu chung của

cả hệ thống chính trị, là vấn đề bức thiết được đặt ra trong tình hình hiện nay Với

tư cách là phương thức kiểm soát quyền lực nhà nước (QLNN) từ bên ngoài, báo chí có vai trò rất quan trọng Báo chí nói chung và báo điện tử nói riêng đã tận dụng rất tốt thế mạnh phản ánh thông tin “đúng, trúng, nhanh” đến đông đảo độc giả Báo chí thông tin đến người dân quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng và pháp luật của Nhà nước, phát hiện, đấu tranh với những hành vi lạm dụng chức quyền Trên báo chí, chúng ta đã được thấy những biểu hiện lạm dụng CVQH trong thi hành công vụ diễn ra trên nhiều lĩnh vực, với những thủ đoạn rất tinh vi Tuy nhiên, trên thực tế việc đưa thông tin về vấn đề lạm dụng chức quyền vẫn còn tồn tại những bất cập, chưa tương xứng, bên “nặng” bên “nhẹ” Tại lễ trao giải Báo chí với công tác đấu tranh phòng chống tham nhũng diễn ra ngày 16/08/2019, thủ tướng

Nguyễn Xuân Phúc đã phát biểu: “Báo chí rất cần chú trọng thêm đến việc phát

Trang 12

hiện những sơ hở về thể chế pháp luật, cơ chế chính sách có thể tạo môi trường cho tiêu cực, lạm dụng chức quyền Bên cạnh việc thông tin về các vụ án, vụ việc lớn, phức tạp, được dư luận xã hội quan tâm, báo chí cũng cần tích cực phản ánh về những biểu hiện nhũng nhiễu, tiêu cực, cửa quyền, “tham nhũng vặt” xảy ra, gây không ít phiền hà, bức xúc đối với đời sống của nhân dân và hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.”

Xuất phát từ mong muốn làm rõ những thông tin liên quan đến vấn đề lạm dụng CVQH qua phương tiện truyền thông đại chúng là báo chí, mà cụ thể là báo điện tử Từ đó, đề ra một số giải pháp giúp tăng cường chất lượng thông tin về vấn

đề lạm dụng CVQH cho báo điện tử, tác giả luận văn xin lựa chọn đề tài “Thông tin

về vấn đề lạm dụng CVQH trên báo chí”

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Ở phạm vi rộng, vấn đề lạm dụng CVQH luôn được gắn với quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước, gắn với đời sống chính trị - xã hội nói chung Còn ở phạm

vi hẹp hơn, theo tổ chức Minh bạch Quốc Tế “lạm dụng CVQH” chính là 1 trong 7 dạng thức của tham nhũng (ngoài ra còn có: Hối lộ, Gian lận và dối trá, Chiếm đoạt, Tham nhũng có hệ thống, Tham nhũng có móc ngoặc, Tống tiền) Theo Luật phòng chống tham nhũng Việt Nam có hiệu lực năm 2018, hành vi “lạm dụng CVQH” nằm trong 12 hành vi tham nhũng trong khu vực nhà nước do người có CVQH trong cơ quan, tổ chức, đơn vị khu vực nhà nước thực hiện Rõ ràng, “lạm dụng CVQH” là một vấn đề lớn, được thông tin rộng khắp trên báo chí Đặc biệt báo điện

tử với ưu thế vượt trội của mình đã mang đến cơ hội tiếp cận thông tin về vấn đề lạm dụng CVQH một cách nhanh chóng, sinh động, thu hút được quan tâm của đông đảo người dân và thường tạo ra được những diễn đàn tranh luận sôi nổi, là cầu nối giúp nhân dân được thể hiện tiếng nói của mình trước các cơ quan công quyền

Trong quá trình nghiên cứu đề cạnh tới các khía cạnh khác nhau của đề tài

đã có một số nghiên cứu khoa học như sau Luận văn thạc sĩ “Nâng cao chất lượng

thông tin trên báo điện tử” tác giả Phạm Thị Hằng đã làm sáng tỏ những vấn đề về

thực trạng thông tin trên báo điện tử hiện nay, qua đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng thông tin trên báo điện tử nói chung trong xu

Trang 13

thế hội nhập Luận văn thạc sĩ: “Báo chí với vấn đề kiểm soát quyền lực và phản

biện xã hội” tác giả Mai Thị Thúy Hường đã khảo sát thực tiễn vai trò của báo chí

trong đời sống chính trị, xã hội đồng thời nhấn mạnh vai trò, chức năng giám sát

quyền lực và phản biện xã hội của báo chí Luận án tiến sĩ “Phản biện xã hội trên

báo điện tử” tác giả Trần Xuân Thân đã hệ thống những lý luận vào thực tiễn phản

biện xã hội trên báo điện tử ở Việt Nam để đánh giá thực trạng chất lượng phản biện; chỉ ra thế mạnh, hạn chế phản biện xã hội trên báo điện tử; qua đó góp phần hình thành cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc đề ra các giải pháp nâng cao chất lượng phản biện xã hội trên báo điện tử ở Việt Nam

Một số công trình nghiên cứu trong lĩnh vực chính trị học cũng đề cập đến

vấn đề kiểm soát quyền lực như: “Giám sát quyền lực Nhà nước: Một số vấn đề về

lý luận và thực tiễn ở nước ta hiện nay” (tác giả TS Trịnh Thị Xuyến, NXB Chính

trị Quốc gia, Hà Nội, 2008), “Quyền lực nhà nước và quyền công dân” (tác giả Đinh Văn Mậu, NXB Tư pháp, Hà Nội, 2003); “Giám sát và cơ chế giám sát việc

thực hiện quyền lực nhà nước ở Việt Nam hiện nay”, NXB Công an nhân dân, Hà

Nội, 2003) Tuy nhiên, các công trình này chỉ để cập đến vai trò của các phương tiện thông tin đại chúng như một trong những thiết chế, một mắt xích của quá trình giám sát quyền lực và phản biện xã hội Do đó, sự phân tích, các nhận định, đánh giá về vai trò, tác động của báo chí còn sơ sài, chưa toàn diện

Ngoài ra còn có một ông trình nghiên cứu trong lĩnh vực Luật học có đề cập

đến vấn đề tham nhũng nói chung Luận án tiến sĩ:“Các tội phạm về tham nhũng

theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng” tác giả Hồ Sỹ

Sơn đã làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về các tội phạm về tham nhũng; thực trạng quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về các tội phạm về tham nhũng Cuốn

sách “Corruption and misuse of public office” (Tham nhũng và vi phạm của cơ

quan công quyền) của các tác giả Colin Nicholls QC, Timothy Daniel, Alan Bacarese, and John Hatchard do Nhà xuất bản Oxford University Press xuất bản năm 2011 Trong cuốn sách này, các tác giả đã nghiên cứu về thực tiễn tham nhũng

và các quy định pháp luật liên quan đến tham nhũng cũng như các hành vi lạm quyền của cơ quan công quyền vốn đang ngày càng gia tăng về tính phức tạp của hành vi lạm dụng quyền lực công trong thi hành công vụ như đưa và nhận hối lộ, xung đột lợi ích, lạm quyền, lợi dụng chức vụ quyền hạn… Bên cạnh việc phân tích

Trang 14

một cách chi tiết và cụ thể khía cạnh pháp lý của tham nhũng, các tác giả của cuốn sách cũng đi sâu phân tích những bước tiến vượt bậc trong khoa học pháp lý liên quan đến quy định về hành vi tham nhũng, hình phạt được quy định trong pháp luật của nhiều nước, chẳng hạn như trong Luật Tham nhũng năm 2010 của Vương quốc Anh; Luật về hành vi tham nhũng ở nước ngoài của Mỹ; Công ước Liên Hiệp Quốc

về chống tham nhũng

Tuy nhiên, những đề tài trên là những đề tài mặc dù có chung hướng đi nhưng lại hoàn toàn khác biệt về đối tượng nghiên cứu, cách thức xử lý trong quá trình nghiên cứu luận văn thông tin về vấn đề lạm dụng CVQH Những nghiên cứu chỉ đề cập đến vai trò, chức năng của báo chí đối với đời sống chính trị - xã hội nói chung Hoặc đề cập đến vai trò của báo chí, thực trạng đưa tin của báo chí trong công tác phòng, chống tham nhũng trên bình diện bao quát rộng Do đó, tác giả đã tiến hành đi sâu tìm hiểu, phân tích và làm rõ thực trạng đưa tin về vấn đề lạm dụng CVQH của báo điện tử tính từ năm 2016 (năm ban hành Nghị quyết Trung ương 4 - Khóa XII hay còn gọi là Nghị quyết số 04-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khoá XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện

"tự diễn biến" và "tự chuyển hóa" trong nội bộ) đến nay để có góc nhìn toàn diện và sát thực hơn Qua đó đánh giá thực trạng hình thức cũng như nội dung truyền tải về vấn đề lạm dụng CVQH trên báo điện tử đã đạt được những thành công nào và mặt hạn chế là gì? Trên cơ sở này, tác giả luận văn sẽ chỉ ra những nguyên nhân, bài học để qua đó đề ra những giải pháp giúp nâng cao chất lượng thông tin về vấn đề lạm dụng CVQH trên báo điện tử

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích của đề tài là khảo sát, phân tích, nghiên cứu, đánh giá thực trạng thông tin trên báo điện tử Việt Nam về vấn đề lạm dụng CVQH, từ đó đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tin báo chí về vấn đề này

Để đạt được những mục đích trên, luận văn tiến hành thực hiện các nhiệm vụ chính sau đây:

Thứ nhất, khái quát hệ thống những vấn đề lý luận cơ bản về báo điện tử,

chức năng thông tin trên báo điện tử; làm rõ những khái niệm, quan điểm, lý thuyết

Trang 15

về người có CVQH và hành vi lạm dụng CVQH; nêu những thông tin cơ bản về 3

tờ báo mạng được khảo sát:

Thứ hai, đánh giá chất lượng nội dung, hình thức bài viết về vấn đề lạm dụng

CVQH trên báo điện từ năm 2016 đến hết tháng 11 năm 2019 dựa trên 3 tờ báo điện tử khảo sát Từ đó tiến hành phân tích những thành công, hạn chế của việc thông tin về vấn đề lạm dụng CVQH trên báo điện tử ở Việt Nam

Thứ ba, phân tích nguyên nhân và đưa ra một số giải pháp, kiến nghị để nâng

cao chất lượng, hiệu quả thông tin trên báo điện tử khi thông tin về vấn đề lạm dụng CVQH nhằm đáp ứng một cách tốt nhất nhu cầu tiếp nhận thông tin cũng như tâm

lý tiếp nhận thông tin của công chúng báo điện tử Qua đó, góp phần tích cực vào nhiệm vụ thông tin tuyên truyền về quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước trong cuộc đấu tranh chống tham nhũng nói chung và cuộc đấu tranh chống căn bệnh lạm dụng quyền lực nói riêng

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Thông tin về vấn đề lạm dụng CVQH trên báo điện tử ở Việt Nam

Phạm vi nghiên cứu của đề tài bao gồm:

Phạm vi tiếp cận: Nghiên cứu được tiếp cận dưới góc độ báo chí, cụ thể là

báo điện tử với những hiệu quả truyền thông về vấn đề lạm dụng CVQH, những hạn chế và đề xuất giải pháp

Phạm vi nghiên cứu về thời gian: Từ tháng 1 năm 2016 đến hết tháng 11

năm 2019

Phạm vi không gian: Vấn đề lạm dụng CVQH rõ ràng là một đề tài rất quan

trọng, nóng hổi được phản ánh rộng khắp trên báo chí hiện nay Cả báo in, báo phát thanh, truyền hình và báo điện tử đều đã tích cực phản ánh vấn nạn này đồng thời phần nào tạo dựng được những chuyển biến trong nhận thức và hành động nhằm đấu tranh phòng chống lạm dụng chức vụ, quyền hạn của một bộ phận không nhỏ

cán bộ, Đảng viên Đối với báo in, dù có lợi thế về độ tin cậy và chiều sâu của thông tin để giúp công chúng chủ động đọc, nghiền ngẫm, và có thể dùng thông tin

trên báo như một cơ sở để phản biện những vấn đề liên quan đến chính sách đã

Trang 16

được công bố nhưng hạn chế của báo in là phát hành thường chậm, phạm vi hẹp hơn phát thanh, truyền hình Đồng thời, giới hạn về diện tích, tính định kỳ nên báo

in khó truyền tải nhanh mà đầy đủ, đa dạng nội dung thông tin thời sự và tiếp nhận công bố phản hồi cũng đa dạng của độc giả Tính minh hoạ bằng hình ảnh động, âm thanh không tồn tại trên báo in nên tính khô cứng, sự “nhiều chữ” trong tác phẩm

phản biện trên báo in không dễ kích thích độc giả chú ý Đối với phát thanh thì thông tin nhanh, nhiều người dễ dàng nghe thấy Song, do đặc trưng “thông tin

tuyến tính”, chỉ cần một thời điểm không tập trung chú ý đã không thể hiểu đúng hoặc hiểu không đầy đủ về nội dung thông điệp nên khả năng kêu gọi sự tham gia

phản hồi, đóng góp ý kiến của độc giả không cao Còn đối với truyền hình, nhờ

truyền tải thông tin bằng cả hình ảnh và âm thanh nên dễ thuyết phục, tăng khả năng tiếp cận thông tin, dễ lôi kéo công chúng chú ý theo dõi Tuy nhiên, truyền hình cũng bị hạn chế bởi cơ cấu chương trình, thời điểm phát sóng… nên có thể công chúng vẫn bị rơi rụng cơ hội tiếp cận thông tin Đặc biệt, việc tham gia vào quá trình làm báo truyền hình của công chúng bị hạn chế do tính phức tạp của sản xuất tác phẩm truyền hình

Báo điện tử với thế mạnh thông tin nhanh, mật độ thông tin dày dặn, tính liên kết thông tin cao, báo điện tử đã tỏ rõ ưu thế của mình trong cuộc đua thông tin

về vấn đề lạm dụng chức vụ, quyền hạn Trên thực tế, trong nhiều trường hợp, ngay sau khi có những phát hiện trên mạng xã hội, báo điện tử đã ngay lập tức vào cuộc, bám lấy những mảng đề tài quan trọng, nóng hổi, đưa tin rộng khắp tới người đọc Trong khi đó, do phải trải qua nhiều công đoạn xuất bản hơn, báo in thường thông tin tới bạn đoc chậm hơn, và cũng do hạn chế về mặt dung lượng các trang mà các bài báo về vấn đề lạm dụng chức vụ quyền hạn trên báo in không đa dạng, khối lượng mỏng hơn so với báo điện tử Chính vì những lý do trên, tác giả luận văn xin được chọn phạm vi nghiên cứu của đề tài này là báo điện tử Cụ thể, tác giả sẽ tiến hành bao quát qua ba tờ báo điện tử: VnExpress.net, Dantri.com, và Tuoitre.vn Đây là ba tờ báo uy tín, đã khẳng định được vị trí của mình trong làng báo điện tử Việt Nam với thế mạnh cập nhật thông tin nhanh nhạy, phong phú, đa dạng Hơn nữa đây cũng là những tờ báo có sức chiến đấu, có đối tượng độc giả trung thành,

đa dạng về lứa tuổi

Trang 17

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình triển khai luận văn, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

* Phương pháp luận:

Luận văn dựa vào quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về công tác phòng chống tham nhũng, tiêu cựu nói chung và lạm dụng CVQH nói riêng Đồng thời, dựa trên hệ thống cơ sở lý luận về chức năng, nhiệm

vụ của báo chí nói chung và báo điện tử nói riêng

* Phương pháp cụ thể:

Để đạt được mục đích nghiên cứu, luận văn còn sử dụng trong một tổng thể các phương pháp nghiên cứu cụ thể như phương pháp lịch sử, phương pháp phân tích, tổng hợp, quy nạp, so sánh, thống kê , trong đó:

Các phương pháp lịch sử cụ thể: Tác giả sử dụng các thao tác phân tích, quy

nạp, hệ thống hóa, so sánh được là chủ yếu để nghiên cứu các vấn đề tại Chương 1

nhằm hệ thống và làm rõ những vấn đề lý luận như khái niệm và các dấu hiệu pháp

lý của các tội phạm về lạm dụng CVQH, phân biệt các tội phạm về lạm dụng CVQH với một số tội phạm khác, khái quát hóa quan điểm của Đảng, Nhà nước về vấn đề lạm dụng CVQH theo tiến trình thời gian

Phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp: Được sử dụng để làm rõ

nội hàm các khái niệm và các vấn đề liên quan về lạm dụng CVQH, làm rõ các nội dung, phương thức cũng như thực trạng báo chí tham gia thông tin về vấn đề lạm dụng CVQH

Phương pháp mô hình hóa: Tác giả tiến hành xây dựng, tái hiện lại hệ thống

thông tin về vấn đề lạm dụng CVQH theo hình thức khái quát hóa nhất tuy nhiên vẫn thể hiện được đầy đủ bản chất, đặc điểm nổi bật nhất của đối tượng nghiên cứu

là thông tin về vấn đề lạm dụng CVQH

Phương pháp phân tích, hệ thống: Được sử dụng để nghiên cứu các vấn đề

tại chương 2 nhằm đánh giá thực trạng thông tin vấn đề lạm dụng CVQH trên báo điện tử, qua đó rút ra những ưu điểm, những hạn chế và nguyên nhân của hạn chế

để làm tiền đề cho việc đề xuất các giải pháp ở chương 3 của luận văn

Phương pháp Logic: sử dụng chủ yếu tại chương 3 để làm rõ những quan

điểm, giải pháp nhằm bảo đảm tiêu chí nâng cao chất lượng thông tin báo chí về vấn đề lạm dụng CVQH

Trang 18

6 Ý nghĩa luận văn

Ý nghĩa lý luận:

Đây là một trong những đề tài nghiên cứu mới ở cấp độ luận văn thạc sỹ thông tin về vấn đề lạm dụng CVQH trên báo điện tử Việt Nam Luận văn có những nghiên cứu tổng thể về hoạt động thông tin của báo điện tử về thực trạng lạm dụng CVQH, về thông tin tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng trong công tác đấu tranh ngăn ngừa các biểu hiện lạm dụng CVQH từ năm 2016 đến nay, từ đó rút

ra một số vấn đề lý luận cơ bản trong hoạt động thông tin về vấn đề này Ví dụ: Lý luận về kiểm soát, giám sát quyền lực, lý thuyết thông tin, chuẩn hóa các khái niệm…

Ý nghĩa thực tiễn:

Luận văn là sự tổng kết, nghiên cứu bước đầu về việc truyền tải thông tin của báo điện tử về vấn đề lạm dụng CVQH ở Việt Nam, mức độ quan tâm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân về vấn đề này Qua đó đề ra một số giải pháp cơ bản giúp tăng cường chất lượng thông tin về vấn đề lạm dụng CVQH cho báo điện tử

Vấn đề nghiên cứu này nếu được giải quyết cũng sẽ có ý nghĩa quan trọng đối với các nhà báo cũng như cơ quan quản lý của báo điện tử có cái nhìn đúng đắn và toàn diện hơn trong việc thông tin về vấn đề lạm dụng CVQH ở Việt Nam

Luận văn là tài liệu tham khảo tốt cho các cơ sở đào tạo, nghiên cứu và những

ai quan tâm về vấn đề này

7 Kết cấu của luân văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn được kết cấu gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề lạm dụng CVQH trên báo

điện tử

Chương 2: Thực trạng thông tin về vấn đề lạm dụng CVQH trên ba tờ báo

điện tử được khảo sát

Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng thông tin về vấn đề lạm dụng

CVQH trên báo điện tử ở Việt Nam

Trang 19

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ LẠM DỤNG CVQH

TRÊN BÁO ĐIỆN TỬ

1.1 Các khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài

Lạm dụng

Lạm dụng là một từ Việt gốc Hán Trong đó, chữ lạm thuộc bộ thủy (liên quan tới nước), nghĩa gốc là “nước tràn ngập”, sau phái sinh nghĩa “quá mức” (như trong lạm thu, lạm quyền, lạm phát); chữ dụng có nghĩa là “dùng” Do đó lạm dụng có thể hiểu là “dùng quá mức”

Từ điển tiếng Việt định nghĩa lạm dụng là “dùng, sử dụng quá mức hoặc quá

giới hạn” [23, tr.538] Ví dụ: “Lạm phát ngân sách” tức là sự phát hành hoặc chi

tiêu tiền bạc cho việc đầu tư công vượt quá mức quy định, hay vượt quá mức QH đã cho phép, gây ra nợ công và làm đồng tiền mất giá, “Lạm thu”: thu thuế quá mức quy định để lấy làm của riêng…

Tóm lại, lạm dụng có thể được giải thích là dùng, sử dụng vượt quá mức, quá giới hạn quy định hoặc cho phép

Lạm quyền

Theo Từ điển tiếng Việt (do Viện Ngôn ngữ biên soạn, Nxb Đà Nẵng, 2006),

lạm quyền là “làm những việc vượt quá quyền hạn của mình”

Dưới góc độ quyền lực chính trị, lạm quyền là hành vi của cán bộ công chức (CBCC) trong thực hiện quyền lực chính trị theo những cách sai trái nhằm phục vụ lợi ích cho cá nhân họ hoặc nhóm lợi ích không đúng với các quy định trong hệ thống pháp luật của quốc gia, có thể gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước, của xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân; nếu không gây thiệt hại về mặt vật chất thì cũng đem lại tác động xấu về mặt đạo đức, tinh thần cho xã hội

CBCC chỉ có thể lạm quyền khi được giao cho một quyền hạn nhất định tùy thuộc vào chức vụ và vị trí làm việc Không chỉ CBCC có chức vụ mới có thể lạm quyền, bất cứ CBCC nào thực thi công vụ có liên quan đến phục vụ công dân đều

có thể lạm quyền, khi lái nghĩa vụ thực hiện thành quyền ban phát để vụ lợi Lợi ở

Trang 20

đây không chỉ là tiền, mà còn là quyền sai khiến người khác không phù hợp với quy định của pháp luật cũng như danh tiếng trong xã hội

Chức vụ

Thuật ngữ chức vụ được sử dụng phổ biến trong đời sống thường nhật, trong khoa học pháp lý, khoa học hành chính và cả trong một số văn bản pháp luật, nhưng tới nay cũng chưa có khái niệm nào rõ ràng mà chỉ được sử dụng một cách ước lệ

Theo Đại từ điển tiếng Việt (NXB Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 1998), chức

vụ nhà nước được hiểu là “đơn vị mang tính tổ chức - cơ cấu của cơ quan Nhà nước

(CQNN) được thiết lập trên cơ sở văn bản pháp luật của CQNN có thẩm quyền, xác định vị trí phục vụ và vai trò lao động xã hội của người lao động, quyền và nghĩa vụ cũng như yêu cầu đối với chuyên môn của họ Các chức vụ gắn với nhau bởi quan

hệ phân công lao động hợp thành các bộ phận cơ cấu còn tổng thể của chúng hợp thành CQNN” Có thể thấy, với cách định nghĩa này thì mọi cán bộ, công chức làm

việc trong CQNN đều giữ một chức vụ nhất định Chức vụ nhà nước là đơn vị nhỏ nhất cấu thành CQNN, hoặc bộ phận cấu thành cơ quan hành chính nhà nước, tùy thuộc vào tính chất, địa vị pháp lý của CQNN Tuy nhiên, trên thực tế, các cơ quan,

tổ chức Nhà nước rất đa dạng về loại hình, chức năng nên chức vụ nhà nước cũng rất đa dạng: Chức vụ trong cơ quan quyền lực nhà nước, cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan tư pháp và trong các đơn vị sự nghiệp nhà nước

Cơ quan quyền lực nhà nước là cơ quan do nhân dân trực tiếp bầu ra để thay mặt nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước Cơ quan quyền lực nhà nước có quyền ban hành các văn bản quy phạm pháp luật; quyết định những vấn đề quan trọng để thi hành án trên cả nước hoặc trong địa phương, giám sát hoạt động các CQNN Ở Việt Nam, Quốc hội (QH) và Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp được gọi là cơ

quan quyền lực nhà nước Điều 69 Hiến pháp năm 2013 quy định: “QH là cơ quan

đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam QH thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước” Thông qua lá phiếu tín nhiệm, nhân dân ủy thác quyền

lực của mình cho QH Thay mặt nhân dân QH quy định, thực hiện và bảo đảm thực

Trang 21

hiện quyền lực thống nhất trong cả nước Đây là cơ quan cao nhất của Nhà nước, thực hiện quyền lực nhân dân Thông qua hoạt động của mình, QH thực hiện quyền lực của nhân dân thành ý chí của nhà nước, thể hiện trong Hiến pháp, luật, các nghị quyết, mang tính chất bắt buộc thực hiện chung đối với mọi thành viên trong xã hội

Cơ cấu tổ chức của QH gồm: Ủy ban thường vụ QH, Hội đồng dân tộc, các Ủy ban

QH Các chức vụ trong cơ quan, tổ chức của QH có thể kể đến: Chủ tịch QH, Phó Chủ tịch QH và các ủy viên, Chủ tịch Hội đồng dân tộc, Phó Chủ tịch và các Ủy viên Hội đồng dân tộc, Chủ nhiệm Ủy ban của QH, Phó Chủ nhiệm Ủy ban của QH

và các ủy viên Theo Khoản 1, 2 điều 113 Hiến pháp 2013: “HĐND là cơ quan

quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và CQNN cấp trên; đồng thời quyết định các vấn đề của địa phương do luật định” Về cơ cấu tổ chức HĐND các cấp đều có Thường trực

HĐND và các Ban của HĐND Thường trực HĐND là cơ quan thường trực của HĐND, thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật; chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước HĐND Các ban của HĐND là cơ quan của HĐND, có nhiệm vụ thẩm tra dự thảo nghị quyết, báo cáo, đề án trước khi trình HĐND, giám sát, kiến nghị về những vấn đề thuộc lĩnh vực Ban phụ trách; chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước HĐND Theo đó, các chức vụ trong HĐND các cấp bao gồm: Chủ tịch HĐND, Phó Chủ tịch HĐND, Ủy viên Thường trực HĐND

Cơ quan hành chính nhà nước là cơ quan quản lý chung hay từng lĩnh vực công tác, có nhiệm vụ thực thi pháp luật và chỉ đạo việc thực hiện các chính sách,

kế hoạch của nhà nước Ở Việt Nam, QH và HĐND các cấp đóng vai trò quyết định trong việc thành lập các cơ quan hành chính nhà nước Chính phủ và Ủy ban nhân dân (UBND) các cấp hợp thành hệ thống cơ quan hành chính nhà nước Theo

quy định tại điều 94, Hiến pháp năm 2013: “Chính phủ là cơ quan hành chính nhà

nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền hành pháp, là cơ quan chấp hành của QH Chính phủ chịu trách nhiệm trước QH

và báo cáo công tác trước QH, Ủy ban thường vụ QH, Chủ tịch nước” Có thể kể

Trang 22

đến các chức vụ chính trong Chính phủ: Thủ tướng Chính phủ, các Phó Thủ tướng Chính phủ, các Bộ trưởng và Thủ trưởng cơ quan ngang bộ UBND ở cấp chính quyền địa phương do HĐND cùng cấp bầu là cơ quan chấp hành của HĐND, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước HĐND và cơ quan hành chính nhà nước cấp trên UBND tổ chức việc thi hành Hiến pháp và pháp luật

ở địa phương; tổ chức thực hiện nghị quyết của UBND và thực hiện các nhiệm vụ

do CQNN cấp trên giao” Trên thực thế, UBND - Cơ quan hành chính nhà nước ở

địa phương có hai tư cách: Một là, cơ quan chấp hành của HĐND; chịu trách nhiệm

thi hành các nghị quyết của HĐND và báo cáo công việc trước HĐND cùng cấp và UBND cấp trên HĐND có quyền bãi miễn các thành viên của UBND, giám sát các hoạt động và bãi bỏ những quyết định không thích UBND chịu sự giám sát của

HĐND và đôn đốc của Thường trực HĐND Hai là, cơ quan hành chính nhà nước

ở địa phương (UBND) chịu trách nhiệm không chỉ chấp hành những nghị quyết của HĐND cùng cấp mà các quyết định của các cơ quan chính quyền cấp trên, thi hành luật thống nhất trên cả nước UBND các cấp chịu sự lãnh đạo thống nhất của Chính phủ là cơ quan hành chính cao nhất Các chức vụ trong UBND các cấp: Chủ tịch UBND, Phó chủ tịch UBND, Trưởng phòng Nội vụ, Trưởng phòng Tài chính – kế hoạch,

Cơ quan tư pháp là CQNN thực hiện quyền tư pháp, một trong ba quyền của quyền lực nhà nước thống nhất Khoản 2, Điều 102 Hiến pháp năm 2013 quy định:

“Tòa án là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp” Ở nước ta, quyền tư pháp cùng với quyền lập pháp và quyền hành pháp tạo thành quyền lực thống nhất của Nhà nước, mục đích thực hiện quyền tư pháp là xử lý mọi hành vi vi phạm pháp luật, giải quyết các tranh chấp về quyền và nghĩa vụ phát sinh, bổ sung, thay đổi hoặc chấm dứt từ các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ do Tòa án thực hiện bằng thủ tục tố tụng chặt chẽ, dân chủ, công khai và công bằng, nhằm khôi phục, duy trì trật tự pháp luật, khôi phục quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân bị xâm phạm, góp phần bảo đảm pháp luật được tôn trọng và chấp hành nghiêm minh Một số chức vụ trong cơ quan tư pháp: Chánh

án tòa án nhân dân tối cao (TANDTC), Phó Chánh TANDTC, Thẩm phán TANDTC, Trưởng ban thanh tra TANDTC, Phó trưởng ban thanh tra TANDTC,

Trang 23

“Từ góc nhìn hệ thống, bộ máy hành chính nhà nước là hệ thống các cơ quan

hành chính nhà nước (Chính phủ, bộ, cơ quan ngang bộ, UBND các cấp, cơ quan chuyên môn thuộc UBND, mỗi cơ quan lại là một hệ thống được tạo bởi các bộ phận cấu thành, hay bởi các chức vụ nhà nước” [20, tr67-79] Trên thực tế, tùy

thuộc vào tính chất, vị trí, tính phức tạp của cơ quan hành chính nhà nước Có những cơ quan thì đơn vị tổ chức - cơ cấu của nó đơn giản được bắt đầu từ những chức vụ Ví dụ, trong cơ cấu của Chính phủ có các chức vụ Thủ tướng, Phó thủ tướng, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ Nhưng cũng có cơ quan thì chức

vụ lại là bộ phận, đơn vị nhỏ nhất tạo nên các đơn vị cơ cấu của những cơ quan này (bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan chuyên môn thuộc UBND)

Chức vụ nhà nước là đơn vị nhỏ nhất cấu thành CQNN, hoặc bộ phận cấu thành cơ quan hành chính nhà nước, tùy thuộc vào tính chất, địa vị pháp lý của CQNN Các chức vụ nhà nước, tùy theo tính chất, vị trí pháp lý của cơ quan hành chính nhà nước có thể được chia thành nhiều loại khác nhau: Chức vụ chính trị,

chức vụ quyền lực hành chính, chức vụ chuyên môn “Các chức vụ chính trị trong

bộ máy hành chính nhà nước trong điều kiện dân chủ và pháp quyền thường được thiết lập bằng con đường bầu cử, chẳng hạn như: Thủ tướng, Phó Thủ tướng, Chủ tịch, Phó Chủ tịch HĐND, Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND các cấp, hoặc đề cử, phê duyệt (Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ) Hoạt động của những người giữ những chức vụ chính trị là hoạt động chính trị, họ luôn theo đuổi những mục tiêu chính trị nhất định Chính trị ở đây được hiểu theo nghĩa rộng của từ, chính trị là tất cả những gì mà việc giải quyết nó luôn gắn với quyền, lợi ích của công dân, cơ quan, tổ chức, cộng đồng lãnh thổ, quốc gia, dân tộc, giai cấp, tầng lớp, thậm chí là

cả những vấn đề liên quan tới lợi ích của cả các dân tộc khác Hoạt động của các chức vụ chính trị thể hiện qua những chính sách, các văn bản quy phạm pháp luật

do họ ban hành và việc điều hành vĩ mô của họ đối với toàn bộ mọi mặt đời sống xã hội trên phạm vi lãnh thổ nhất định” [20]

Các chức vụ quyền lực hành chính như: Thứ trưởng, Tổng cục trưởng, Cục trưởng, Vụ trưởng, Phó vụ trưởng, Giám đốc sở, Phó Giám đốc sở, Trưởng phòng, Phó trưởng phòng và tương đương được thiết lập bằng quyết định hành chính theo

Trang 24

chế độ bổ nhiệm Những chức vụ này được thiết lập để thực hiện các hoạt động công vụ (theo nghĩa hành chính) để phục vụ cho việc thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn, thẩm quyền của CQNN mà pháp luật đã quy định, thực chất là thực hiện những chính sách, pháp luật mà các chức vụ chính trị đã ban hành Hoạt động của những chức vụ quyền lực hành chính dựa trên cơ sở pháp luật và để thực hiện pháp luật bằng các hoạt động tổ chức, điều hành và giải quyết các vấn đề hành chính hoặc các vấn đề chuyên môn phát sinh hàng ngày trong đời sống nhà nước, xã hội bằng việc ban hành các quyết định hành chính, thực hiện các hành vi hành chính

Bên cạnh các chức vụ chính trị, chức vụ quyền lực hành chính, trong bất kỳ chế độ nhà nước nào đều tồn tại các chức vụ chuyên môn Các chức vụ chuyên môn rất đa dạng, mỗi quốc gia, vào mỗi thời kỳ lịch sử của nó đều có các loại chức vụ chuyên môn khác nhau như: nhân viên, cán sự, chuyên viên, chuyên viên chính, chuyên viên cao cấp và các chức vụ tương đương khác Chức vụ chuyên môn tồn tại

ở các CQNN (hay bộ máy giúp việc của CQNN), những người giữ các chức vụ này trong khoa học hành chính thường được gọi là công chức hành chính Đây là những chức vụ được xác lập để thực hiện công vụ, nhiệm vụ thường xuyên trong các CQNN, họ phục vụ nhà nước bằng những chuyên môn nghiệp vụ nhất định và để phục vụ cho các chức vụ quyền lực hành chính nhà nước, quyền lực chính trị

“Quyền hạn là quyền chính thức được trao cho mỗi vị trí trong tổ chức (chứ không

phải trao quyền cho người) để hoàn thành trách nhiệm được giao ở vị trí đó”

Như vậy có thể hiểu quyền hạn là quyền của một cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân được xác định theo phạm vi nội dung, lĩnh vực hoạt động, cấp và chức vụ, vị trí công tác và trong phạm vi không gian, thời gian nhất định theo quy định của pháp luật quyền hạn luôn gắn liền với một vị trí hay chức vụ nhất định trong một cơ quan, tổ chức, bao gồm quyền tự chủ trong quá trình quyết định và đòi hỏi sự tuân

Trang 25

thủ quyết định đó Ví dụ: Quyền hạn của kiểm sát viên là quyền cho phép kiểm sát viên được thực hiện công việc trong giới hạn chuyên môn, chức vụ, vị trí công tác theo quy định của pháp luật Cụ thể, trong giải quyết vụ án hành chính là quyền giải quyết những công việc cụ thể của kiểm sát viên trong các giai đoạn khác nhau của quá trình giải quyết vụ án hành chính (từ khi thụ lý đến khi kết thúc việc giải quyết

vụ án) nhằm bảo đảm cho việc giải quyết vụ án hành chính kịp thời, đúng pháp luật

Trên thực tế, pháp luật luôn quy định nhiệm vụ đi đôi với quyền hạn, tạo thành mối liên kết vững chắc làm căn cứ để tổ chức, cá nhân thực hiện chức năng, công việc Nếu quyền hạn nhỏ hơn trách nhiệm thì công việc rất khó hoàn thành, nhưng nếu quyền hạn lớn hơn trách nhiệm thì rất dễ dẫn đếm lạm quyền, lộng quyền Quyền hạn không phải là thứ tự nhiên có mà nó sinh ra từ nhu cầu và sự phân công của tổ chức, phục vụ tổ chức và tuân thủ pháp luật Về nguồn gốc của quyền hạn, có nhiều ý kiến khác nhau Có ý kiến cho rằng quyền hạn xuất phát từ chức vụ Ví dụ giám đốc một xí nghiệp có quyền hạn vì người đó giữ chức giám đốc Lý thuyết này đúng nhưng chưa đủ, vì không giải thích được hiện tượng có giám đốc ra lệnh mà nhân viên không thi hành, tức là nhân viên không thừa nhận quyền hành của giám đốc Vì vậy, có tác giả cho rằng quyền của giám đốc xuất phát

từ sự chấp nhận của cấp dưới Chừng nào cấp dưới chấp nhận sự chỉ đạo của giám đốc và làm theo chỉ đạo đó, thì giám đốc còn có quyền Trái lại, nếu cấp dưới từ chối không chấp nhận chỉ đạo của giám đốc, không làm theo chỉ đạo của giám đốc, thì giám đốc không có quyền Cách lý giải này thể hiện được tính chất song phương

và quan hệ con người trong việc sử dụng quyền hạn, nhưng không giải thích được trọn vẹn nguồn gốc của quyền hạn Trên thực tế, vẫn có những trường hợp, cấp dưới phủ định quyền hạn của cấp trên, tức là không chấp nhận, nhưng vẫn phải làm theo chỉ đạo của cấp trên do sự cưỡng bức, ép buộc Cho đến nay, lý thuyết về nguồn gốc của quyền hạn do nhà xã hội học người Đức, Max Weber được công bố rộng rãi và

được nhiều học giả chấp nhận Max Weber cho rằng: “Quyền hạn chỉ đầy đủ nếu có

đủ 3 yếu tố: sự hợp pháp khi đảm nhận chức vụ, cấp dưới thừa nhận quyền hạn đó

là chính đáng và bản thân nhà quản lý có khả năng và các đức tính khiến cấp dưới tin tưởng Nếu không có đủ 3 yếu tố trên, quyền hạn vững mạnh, rất khó để thực thi quyền” [16, tr217]

Trang 26

Theo khoa học quản lý, quyền hạn có 3 loại: “Quyền hạn trực tiếp là quyền

hạn cho phép người quản trị ra quyết định và giám sát trực tiếp đối với cấp dưới; Quyền hạn tham mưu là thực hiện chức năng điều tra, khảo sát, nghiên cứu, phân tích và đưa ra những ý kiến tư vấn cho những người quản trị trực tiếp Sản phẩm lao động của cán bộ hay bộ phận tham mưu là những lời khuyên chứ không phải là các quyết định cuối cùng; Quyền hạn chức năng là quyền trao cho một cá nhân ra quyết định và kiểm soát những hoạt động nhất định của các bộ phận khác”.[21, tr3]

Ví dụ: Quyền hạn của Hiệu trưởng Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội là quyền hạn trực tiếp Người này có toàn quyền quyết định đến công việc nội bộ của trường, trong khuôn khổ những quy định của pháp luật Quyền hạn của các Trưởng, phó khoa trong trường chính là quyền hạn tham mưu Những người này thực hiện chức năng điều tra, khảo sát, nghiên cứu, phân tích và đưa ra những ý kiến tư vấn về chuyên môn mà mình phụ trách cho người đứng đầu nhà trường Nhưng khi các Trưởng, phó khoa được Hiệu trưởng ủy quyền giải quyết công việc, được giải quyết và kiểm soát những hoạt động trong phạm vi chuyên môn thì quyền hạn tham mưu lại trở thành quyền hạn chức năng

Người có CVQH

Theo quy định tại Điều 352 Bộ huật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung

năm 2017, thì “Người có chức vụ là người do bổ nhiệm, do bầu cử, do hợp đồng

hoặc do một hình thức khác, có hưởng lương hoặc không hưởng lương, được giao thực hiện một nhiệm vụ nhất định và có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện công vụ, nhiệm vụ”

Theo khái niệm này, có rất nhiều căn cứ khác nhau để xác định một người có chức vụ như do được bổ nhiệm, do bầu cử, do hợp đồng hoặc do một hình thức khác… Hình thức khác ở đây có thể hiểu là bất cứ hình thức nào mà gắn những quyền năng nhất định của chủ thể với chức vụ mà họ có Như vậy, trong khái niệm này người có chức vụ có thể được hiểu một cách ngắn gọn là người được giao thực hiện công vụ (mang tính chất hợp pháp) và có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện công vụ đó Ví dụ, chiến sĩ công an đang đuổi bắt tội phạm, bác sĩ đang khám sức khỏe cho người dân… Tất cả những người này đều được coi là người có chức

Trang 27

vụ bởi vì họ được giao thực hiện công vụ vì lợi ích chung của toàn xã hội và có những quyền năng nhất định trong khi thi hành công vụ

Ngày 20/11/2018 QH nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIV, tại kỳ họp thứ 6 đã thông qua Luật Phòng, chống tham nhũng số 36/2018/QH14 (gọi tắt là Luật Phòng, chống tham nhũng 2018), trong đó quy định rõ về các trường hợp mà cá nhân được coi là người có CVQH Cụ thể, theo Khoản 2 Điều 3 Luật Phòng chống tham nhũng 2018 (có hiệu lực thi hành từ 01/7/2019): Người có CVQH là người do bổ nhiệm, do bầu cử, do tuyển dụng, do hợp đồng hoặc do một hình thức khác, có hưởng lương hoặc không hưởng lương, được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ nhất định và có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện nhiệm

3 Người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp;

4 Người giữ chức danh, chức vụ quản lý trong doanh nghiệp, tổ chức;

5 Những người khác được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ và có quyền hạn trong khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ đó

Như vậy, có thể thấy dấu hiệu có ý nghĩa quyết định để xác định một người

có CVQH là tính chất chức năng, nhiệm vụ mà người đó thực hiện và quyền hạn người đó được thực hiện theo quy định pháp luật Để xác định người có CVQH thì

có thể dựa vào chức năng, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức gồm ba nhóm cơ bản là: những người đại diện quyền lực Nhà nước (ví dụ như: Đại biểu QH; Kiểm sát viên, Thẩm phán ); những người có CVQH liên quan đến việc thực hiện chức năng tổ chức, điều hành, quản lý hành chính trong các cơ quan, tổ chức (ví dụ như: Cục trưởng, Vụ trưởng, Viện trưởng, Trưởng phòng…); những người giữ CVQH có liên quan đến việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ tổ chức sản xuất, kinh doanh trong

Trang 28

các cơ quan, tổ chức (ví dụ như: Giám đốc, Chủ tịch Hội đồng quản trị, Thủ quỹ, Thủ kho )

Báo chí

PGS.TS Dương Xuân Sơn trong cuốn “Các loại hình báo chí truyền thông”

đã đưa ra khái niệm như sau: “Báo chí là phương tiện truyền thông đại chúng

truyền tải thông tin các sự kiện, sự việc, hiện tượng đang diễn ra trong hiện thực khách quan một cách nhanh chóng, chính xác và trung thực đến đông đảo công chúng, nhằm tích cực hóa đời sống thực tiễn” [8, tr46]

Báo chí là phương tiện thông báo, thông tin thời sự - về những sự việc mới diễn ra hàng ngày cho nhiều người biết, là phương tiện giao tiếp đại chúng, là diễn đàn cung cấp, trao đổi và chia sẻ thông tin trên phạm vi rộng rãi Theo Điều 3, Luật Báo chí năm 2016: Báo chí là sản phẩm thông tin về các sự kiện, vấn đề trong đời sống xã hội thể hiện bằng chữ viết, hình ảnh, âm thanh, được sáng tạo, xuất bản định kỳ và phát hành truyền dẫn tới đông đảo công chúng thông qua các loại hình báo in, báo nói báo hình, báo điện tử

Luật Báo chí Việt Nam khẳng định: “Báo chí là cơ quan ngôn luận của

Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị xã hội, là diễn đàn của nhân dân, báo chí cung cấp những thông tin cần thiết trong đời sống xã hội đến nhân dân” Báo chí hiện

nay có 4 loại hình: báo in, báo nói (phát thanh), báo hình (truyền hình) và báo điện

tử (báo mạng)

Báo điện tử

Trên thế giới và ở Việt Nam đang tồn tại nhiều cách gọi khác nhau đối với loại hình báo chí này như: Báo điện tử (Electronic Journal), báo trực tuyến (Online Newspaper), báo mạng (Cyber Newspaper), báo chí Internet (Internet Newspaper)

và báo mạng điện tử

Báo điện tử là khái niệm thông dụng nhất ở nước ta Theo Điều 3, Luật Báo

chí năm 1989 được sửa đổi, bổ sung tại kỳ họp thứ 5 QH khóa X quy định: “Báo

điện tử là loại hình báo chí được thực hiện trên mạng thông tin máy tính” Cách

hiểu này đã dẫn đến sự xuất hiện các “báo điện tử” đối với các tờ báo in đưa thông tin lên mạng Internet như Nhân Dân, Lao Động, Tuổi Trẻ…

Trang 29

Còn theo Luật báo chí sửa đổi, bổ sung số 103/2016/QH13 được QH nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thông qua vào ngày 5/4/2016 (gọi tắt là Luật

báo chí 2016, chính thức có hiệu lực từ ngày 1/1/2017) định nghĩa: “Báo điện tử là

loại hình báo chí sử dụng chữ viết, hình ảnh, âm thanh, được truyền dẫn trên môi trường mạng, gồm báo điện tử và tạp chí điện tử” Trong đó, “Tạp chí điện tử là sản phẩm báo chí xuất bản định kỳ, đăng tin, bài có tính chất chuyên ngành, được truyền dẫn trên môi trường mạng”

Trong nền báo chí cách mạng Việt Nam, báo điện tử tuy ra đời sau những loại hình báo chí khác nhưng đã nhanh chóng phát triển cả về số lượng, chất lượng

và ngày càng khẳng định được vị trí của mình trong đời sống báo chí, đời sống xã hội của đất nước

Có thể nói rằng báo điện tử - kết quả của sự tích hợp giữa công nghệ và truyền thông, dựa trên nền của Internet và sự tích hợp ưu thế của các loại hình báo chí truyền thông, đã đem lại những giá trị rất lớn cho người dân, cho xã hội Báo điện tử đã tạo ra bước ngoặt, làm thay đổi cách truyền tin và tiếp nhận thông tin

Đặc trƣng cơ bản của báo điện tử

1) Cập nhật thông tin tức thời, thường xuyên và liên tục

Nhờ vào sự phát triển của công nghệ, máy vi tính và đặc biệt là vai trò của mạng toàn cầu Internet, các nhà báo có thể dễ dàng xâm nhập sự kiện, nhanh chóng viết bài và gửi về toà soạn thông qua hệ thống thư điện tử Không chỉ tức thời, báo mạng điện tử còn cho phép nhà báo thường xuyên update thông tin bất cứ lúc nào

mà không phải chờ đến giờ lên khuôn hay sắp xếp chương trình Chính vì thế mà người ta còn cho báo mạng điện tử một đặc trưng là tính phi định kì

Đặc điểm này giúp cho báo mạng dễ dàng vượt trội hơn so với các loại hình báo chí khác về tốc độ thông tin, lượng thông tin, đảm bảo tính thời sự và tạo ra sự thuận tiện cho độc giả

2) Tính đa phương tiện

Báo mạng điện tử là một loại hình báo chí tổng hợp, tích hợp nhiều công nghệ (multimedia) Trên một tờ báo mạng, thậm chí ngay trong một tác phẩm báo mạng có thể tích hợp gồm ít nhất từ hai trong những thành phần sau trở lên Đó là:

Trang 30

văn bản (text), hình ảnh tĩnh và đồ họa (still image & graphic), âm thanh (audio), hình ảnh động (video & animation) và gần đây nhất là các chương trình tương tác (interactive program)

Khi đọc báo mạng độc giả có thể chủ động xem những tác phẩm mình quan tâm ở bất kì trang nào giống như báo in Đồng thời cũng được trực quan những hình ảnh, video clip, lắng nghe những âm thanh mà không hề bị phụ thuộc vào các yếu tố thời gian, không gian Sự tích hợp này giúp cho báo mạng điện tử trở nên sinh động hơn, hấp dẫn hơn

3) Tính tương tác cao

Tính tương tác là một trong những đặc trưng quan trọng của báo chí Đối với báo mạng, nhờ có những đặc trưng nổi trội về công nghệ mà dường như tính tương tác có vẻ cao hơn so với các loại hình còn lại Không dừng lại ở sự tương tác giữa độc giả với toà soạn, ở báo mạng điện tử, chúng ta còn có thể thấy sự tương tác nhiều chiều giữa độc giả với nhà báo, độc giả với độc giả, hay độc giả với nhân vật trong tác phẩm báo chí

Quá trình tương tác trên báo mạng điện tử nhanh chóng và thuận tiện hơn nhiều so với các loại hình báo chí khác Ngay sau mỗi tác phẩm báo chí đăng trên trang báo mạng điện tử đều có mục phản hồi, ngoài ra còn có rất nhiều kênh tương tác khác như feedback, vote, email, forum… tiện cho độc giả dễ dàng đóng góp ý kiến của mình Điều này khó thấy trên báo hình, phát thanh hay báo giấy

4) Khả năng liên kết lớn

Báo mạng điện tử có khả năng liên kết vô cùng lớn nhờ vào các siêu liên kết (hyperlink), các từ khoá, web link, hồ sơ… Từ một bài báo, độc giả có thế dễ dàng tìm kiếm những thông tin liên quan thông qua các liên kết để tìm hiều sâu hơn về vấn đề quan tâm Hoặc từ một trang báo, có thể dễ dàng đi đến các web liên kết khác chỉ với một thao tác click chuột Khả năng liên kết của báo mạng điện tử thật

sự mở ra một kho thông tin vô hạn cho độc giả

5) Khả năng lưu trữ và tìm kiếm dễ dàng

Báo mạng điện tử cho phép lưu trữ bài viết theo hệ thống khoa học, với một lượng khổng lồ thông tin lưu trữ Đồng thời với đó là khả năng tìm kiếm dễ dàng

Trang 31

nhờ vào các mục tìm kiếm với các từ khoá được đính kèm trên mỗi trang báo mạng điện tử Có thể xem theo ngày, theo bài, hoặc chủ đề… Nếu không có điều kiện đọc ngay lúc online, độc giả báo mạng có thể lưu bài viết lại để đọc sau hoặc là độc giả cũng có thể đọc lại nhiều lần tùy thích, mà thao tác hoàn toàn đơn giản

Thông tin về vấn đề lạm dụng CVQH trên báo điện tử

Trong báo chí, thông tin là “chức năng sơ khởi của báo chí, theo nghĩa sử dụng

phương tiện kỹ thuật để phổ biến kết quả lao động sáng tạo của nhà báo” [29]

Thực hiện chức năng thông tin, báo chí cung cấp cho công chúng về tất cả các vấn đề, sự kiện của đời sống xã hội, đáp ứng nhu cầu khám phá, tìm hiểu thế giới tự nhiên và mọi mặt của xã hội Ở một thế giới hiện thực chứa đầy lượng thông tin, báo chí có cách riêng của mình để phản ánh hiện thực với mục đích tác động tới nhiều tầng lớp xã hội, những mối quan tâm, sở thích và nhu cầu khác nhau Chính điều đó đã khiến cho báo chí trở thành một hoạt động thông tin đại chúng rộng rãi

và năng động nhất mà không một hình thái ý thức xã hội nào có được Theo đó, thông tin báo chí cũng được hiểu theo hai nghĩa: Thứ nhất, đó là tri thức, tư tưởng

do nhà báo tái tạo và sáng tạo từ hiện thực cuộc sống Tất cả những vấn đề, sự kiện, hiện tượng trong tự nhiên và xã hội được báo chí phản ánh nhằm phục vụ nhu cầu tìm hiểu, khám phá của con người Thứ hai là phương tiện, công cụ chuyển tải tác phẩm báo chí tới công chúng

Trong hoạt động báo chí, thông tin là mục đích chủ yếu.Thông tin trở thành cầu nối giữa báo chí và công chúng Căn cứ việc phân loại theo phương thức thể hiện, người ta chia thông tin báo chí thành các loại hình: Thông tin bằng chủ yếu chữ viết (báo in); thông tin chủ yếu bằng tiếng nói (phát thanh); thông tin chủ yếu bằng hình ảnh (truyền hình); thông tin trên mạng Internet (đa phương tiện)

Tham chiếu theo ý nghĩa này, “thông tin về vấn đề lạm dụng CVQH trên báo điện tử” được hiểu theo cả 2 nghĩa là những nội dung bao hàm các vấn đề, sự kiện,

có liên quan đến tình trạng lạm dụng CVQH và cách thức chuyển tải các nội dung

đó của báo điện tử tới công chúng nhằm các mục đích khác nhau

1.2 Quan điểm của Đảng, Nhà nước về vấn đề lạm dụng CVQH

Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam có đặc thù riêng là đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, không có sự phân chia quyền lực Song Đảng và

Trang 32

Nhà nước ta cũng đã có nhiều giải pháp để kiểm soát quyền lực Hiến pháp năm

2013 đã khẳng định chủ thể kiểm soát quyền lực nhà nước là Nhân dân Nhân dân là người làm chủ Nhà nước Đại hội XII của Đảng đặt ra yêu cầu rất cao về kiểm soát

quyền lực: „„Hoàn thiện và thực hiện nghiêm cơ chế kiểm soát quyền lực, ngăn

ngừa sự lạm quyền, vi phạm kỷ luật, kỷ cương‟‟ [22, tr203]

Nghị quyết Trung ương 4 - Khóa XII (còn được biết với tên gọi 27 biểu hiện suy thoái) của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khoá XII do Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng ký ban hành ngày 30-10-2016 về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến" và "tự chuyển hóa" trong nội

bộ Nội dung nghị quyết nêu rõ: “Lợi dụng, lạm dụng CVQH là một trong những

biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống rất nghiêm trọng của một bộ phận cán bộ, đảng viên có chức, có quyền trong hệ thống chính trị Chính vì vậy, đấu tranh loại bỏ nó là vấn đề có ý nghĩa rất quan trọng trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng nói chung và làm trong sạch đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay”

Ngày 25/10/2018, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ban hành Quy định QĐ/TW “Về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương” Trong đó, mỗi

08-cán bộ, đảng viên nêu gương “phải nghiêm khắc với bản thân và kiên quyết chống

lạm dụng CVQH”

Bên cạnh đó, Luật phòng chống tham nhũng sửa đổi (gồm 10 chương với 96 điều được QH khoá XIV kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 20/11/2018 và có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2019) nhận diện 2 hành vi nằm trong 12 hành vi tham nhũng có

liên quan đến yếu tố lạm dụng CVQH đó là: “Lạm dụng CVQH chiếm đoạt tài sản

và Lạm quyền trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi” Trong đó, tội “Lạm

dụng CVQH chiếm đoạt tài sản”, “Lạm quyền trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ” được quy định rõ trong điều 355 và điều 357 Bộ Luật hình sự 2015 Đây là những khuôn khổ pháp lý vô cùng quan trọng thúc đẩy quyết tâm phòng, chống tham nhũng nói chung và chống lạm quyền nói riêng của cả hệ thống chính trị, của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta Trên thực tế, từ sau Đại hội XII đến nay đã có

Trang 33

hơn 1.300 cán bộ, đảng viên bị xử lý kỷ luật, trong đó có cả cán bộ cấp cao thuộc diện Trung ương quản lý liên quan đến các biểu hiện lạm dụng CVQH cố ý làm trái Điều lệ Đảng, pháp luật của Nhà nước, vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, chuyên quyền, độc đoán trong công tác cán bộ, dẫn đến gây hậu quả nghiêm trọng, gây thất thoát tiền, tài sản của nhà nước, nhân dân; làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa, gây bức xúc trong xã hội Đặc biệt, lợi dụng biểu hiện đó, các thế lực thù địch, cơ hội, phản động xuyên tạc, quy kết, thổi phồng, mục đích cuối cùng là tác động đến nguy cơ tồn vong của chế độ

Gần đây nhất, vào ngày 23/9/2019, Bộ Chính trị ban hành Quy định QĐ/TW về việc “Kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền” Có thể nói nỗ lực này của Đảng đã được dư luận cán bộ, đảng viên và nhân dân đánh giá cao vì đã trúng vào những vấn đề nhức nhối trong công tác cán

205-bộ - lĩnh vực dễ xảy ra tình trạng lạm quyền nhất suốt nhiều nhiệm kỳ qua Theo PGS.TS Lê Minh Thông, nguyên Phó chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật của QH, lần đầu tiên vấn đề kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ, chống chạy chức, chạy quyền chính thức được đề cập trong một văn bản mang tính pháp quy của Đảng do

Bộ Chính trị ban hành Đây cũng là lần đầu tiên một quy định chỉ rõ các hành vi chạy chức, chạy quyền và các hành vi bao che, tiếp tay cho chạy chức, chạy quyền Quy định về Kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ, chống chạy chức, chạy quyền bao gồm 15 điều, lần đầu tiên được quy định cụ thể, chi tiết, chặt chẽ nhằm xây dựng các căn cứ để bịt các lỗ hổng trong công tác cán bộ Một trong những điểm nhấn nổi bật của Quy định này là đề cao trách nhiệm của người đang được xem xét, thực hiện các quy trình trong công tác cán bộ cũng như đề cao trách nhiệm của những cá nhân có thẩm quyền quyết định nhân sự Đây được cho là vấn đề then chốt để kiểm soát quyền lực, chống chạy chức, chạy quyền

Như vậy, có thể thấy qua các nội dung chỉ đạo toàn diện, qua những khuôn khổ pháp lý cụ thể Đảng và Nhà nước ta luôn thể hiện quan điểm cần phải quyết tâm đấu tranh loại bỏ những biểu hiện lợi dụng, lạm dụng CVQH, nhận diện đây là một trong những vấn đề cấp bách, giải pháp rất quan trọng nhằm làm trong sạch đội

Trang 34

ngũ cán bộ, đảng viên, xây dựng hệ thống chính trị ngày càng vững mạnh, qua đó lấy lại và củng cố niềm tin và tình thương yêu, quý trọng của nhân dân

1.3 Tình hình chung về vấn đề lạm dụng CVQH

1.3.1 Thông tin về vấn đề lạm dụng CVQH trên thế giới

Theo thống kê, tại Nhật Bản, chỉ trong năm 2017, có khoảng 72.000 trường hợp nhân viên bị cấp trên lạm dụng quyền lực để ngược đãi và quấy rối nơi công sở Đây là mức kỷ lục trong vòng 6 năm trở về trước Một báo cáo của chính phủ Nhật Bản công bố đầu tháng 10 năm nay cho biết có đến 1/3 trong số khoảng 1000 phụ

nữ đang phải điều trị các vấn đề tâm lý, thậm chí tìm đến cái chết do bị cấp trên lạm quyền, gây khó dễ nơi công sở Trong bối cảnh nạn lạm quyền ở công sở đang ngày càng tăng cao, ngày 29/5 vừa qua, với đa số phiếu tán thành, QH Nhật Bản đã thông qua việc chỉnh sửa các luật liên quan đến phòng chống lạm quyền nơi công

sở, trong đó nội dung phần lớn thuộc Luật thúc đẩy thực hiện chính sách lao động tổng hợp, với quy định các doanh nghiệp phải có nghĩa vụ thực hiện các biện pháp ngăn chặn nạn lạm quyền đang có nguy cơ trở thành quốc nạn

Cụ thể, các nội dung sửa đổi lần đầu tiên đề cập cụ thể đến các trường hợp được coi là lạm quyền Theo đó, luật mới quy định các doanh nghiệp phải thiết lập

bộ phận tư vấn, tiếp nhận ý kiến của người lao động và điều tra nội bộ về các vụ việc liên quan đến nạn lạm quyền tại nơi làm việc Luật này cũng cấm doanh nghiệp ngược đãi hoặc phân biệt đối xử với người lao động đứng ra tố cáo cấp trên

có hành vi lạm dụng quyền lực Đây cũng là lần đầu tiên luật pháp Nhật Bản yêu cầu các doanh nghiệp phải tiến hành những biện pháp ngăn ngừa cấp trên lạm quyền nơi công sở, đồng thời quy định rõ những hành vi phạm luật là "những lời nói và hành vi của cấp trên vượt quá phạm vi cần thiết của công việc, gây tổn hại tới môi trường làm việc" Chính phủ Nhật Bản sẽ ban hành hướng dẫn cụ thể về những biện pháp mà doanh nghiệp có thể thực thi, cũng như đưa ra các ví dụ cụ thể của việc lạm quyền trong bối cảnh nhiều doanh nghiệp cho rằng rất khó để phân định giữa lạm quyền hay quản lý nghiêm khắc nhưng công bằng

Các doanh nghiệp lớn sẽ phải tuân thủ các luật sửa đổi từ tháng 4/2020, trong khi các doanh nghiệp vừa và nhỏ sẽ bắt đầu thực hiện từ tháng 4/2022 Những

Trang 35

doanh nghiệp vi phạm sẽ bị Bộ Lao động Nhật Bản nhắc nhở và thậm chí sẽ bị bêu tên nếu tiếp tục không cải thiện tình hình Tuy nhiên, theo bà Shino Naito, nghiên cứu viên cấp cao tại Viện nghiên cứu chính sách lao động Nhật Bản, các luật sửa đổi này vẫn còn thiếu sót vì chưa đưa ra được những chế tài xử phạt đối với người

vi phạm

Tương tự như Nhật Bản, tại Hàn Quốc, hành vi lạm dụng bởi những người

có CVQH nhiều đến mức tình trạng này có tên gọi riêng là "gabjil" Điển hình cho tình trạng "gabjil" gây sự chú ý của thế giới là vụ "hạt mắc ca nổi đóa" của hãng hàng không Korean Air năm 2014 Khi đó, Phó chủ tịch hãng hàng không Heather Cho ra lệnh cho một chuyến bay trở về cổng tại sân bay quốc tế John F Kennedy ở New York – Mỹ sau khi nổi giận với một tiếp viên hàng không vì người này phục

vụ hạt mắc ca trong túi thay vì đổ ra đĩa trong khoang hạng nhất Theo một cuộc khảo sát mới đây của Chính phủ Hàn Quốc, có tới 2/3 số công nhân, nhân viên từng

là nạn nhân của hành vi lạm quyền của cấp trên, trong khi 80% số công nhân, nhân viên tận mắt chứng kiến những hành động đó

Để ngăn chặn tình trạng “gabjil”, ngày 16/07/2019 vừa qua, Chính phủ Hàn Quốc đã ban hành một đạo Luật mới, trong đó giúp nhận diện những hành vi được cho là lạm dụng quyền lực gây tổn hại tâm thần và sức khỏe của người lao động Theo số liệu của Bộ Lao động Hàn Quốc, tính đến ngày 29/8 đã có 572 nhân viên chiếu theo luật mới đâm đơn kiện công ty của họ Kể từ khi ban hành quy định mới, khoảng 58% trong số các câu hỏi gửi tới đường dây “nóng” Gabjil 119 liên quan đến nạn lạm dụng quyền hạn nơi công sở, so với chỉ 28% trong 6 tháng trước đó

1.3.2 Thông tin về vấn đề lạm dụng CVQH ở Việt Nam

Ở Việt Nam, khi thông tin về vấn đề lạm dụng CVQH, tác giả luận văn nhận thấy vấn nạn lạm dụng quyền lực xảy ra ở rất nhiều lĩnh vực, chủ yếu như sau: Lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản; Lĩnh vực quản lý đất đai; Lĩnh vực tài chính - ngân hành và tổ chức tín dụng; Lĩnh vực tài chính sử dụng ngân sách nhà nước; Lĩnh vực thực hiện chủ trương, chính sách phát triển kinh tế- xã hội; Lĩnh vực quản lý và cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước; Lĩnh vực y tế, giáo dục- đào tạo; Lĩnh vực tư pháp và hoạt động thanh tra, kiểm tra…Đây đều là những lĩnh vực rất dễ xảy ra

Trang 36

hành vi lạm quyền và thường để lại hậu quả vô cùng nghiêm trọng, ảnh hưởng đến tất cả các khía cạnh của đời sống xã hội, làm băng hoại giá trị đạo đức, truyền thống văn hóa dân tộc, làm giảm niềm tin của nhân dân vào chế độ và các cơ quan công quyền Tuy nhiên trong quá trình khảo sát tin bài về lạm dụng CVQH, tác giả luận văn nhận thấy, với hạn chế về thời gian và năng lực nghiên cứu, việc chia nhỏ đối tượng nghiên cứu thành nhiều lĩnh vực như đề cập bên trên rất khó, thậm chí có sự trùng lặp về nội dung Ví dụ có nhiều vụ án có tính chất liên ngành, vừa liên quan đến lĩnh vực kinh tế, vừa liên quan đến lĩnh vực ngân hàng, tư pháp, thanh kiểm tra

Vì vậy, trong phạm vi hạn hẹp của luận văn, tác giả xin đề xuất việc nghiên cứu sẽ

đề cập đến 4 nội dung có tính bao quát nhất và có tần suất, mức độ thông tin dầy

nhất đó là: Chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về phòng,

chống lạm dụng CVQH; Thông tin về các vụ việc lạm dụng CVQH; Thông tin về các tấm gương phòng chống lạm dụng CVQH; Thông tin kiểm tra, xử lý lạm dụng CVQH

1 Chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước về phòng chống lạm dụng CVQH

Ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa ra đời, trên báo Cứu quốc ra ngày 12/10/1945, với bút danh Chiến Thắng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lên án tệ nạn tha hóa quyền lực, nhất là lạm

quyền, lộng quyền, lợi dụng quyền lực: “Thứ nhất, dân ghét các ông chủ tịch, các

ông ủy viên vì cái tật ngông ngênh, cậy thế, cậy quyền Những ông này không hiểu nhiệm vụ và chính sách của Việt Minh, nên khi nắm chút quyền trong tay vẫn hay lạm dụng.” (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 4,

tr 51) Nhận thức rõ từ cảnh báo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và Nhà nước luôn cho rằng vấn đề kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ phải đặt lên hàng đầu Quy định 205-QĐ/TW 2019 ký ban hành ngày 23/09/2019 về kiểm soát quyền lực, chống chạy chức, chạy quyền lần đầu tiên nêu rõ thẩm quyền của người đứng đầu chủ yếu là chỉ đạo, điều hành về thủ tục, quy trình công tác cán bộ, đảm bảo công khai, minh bạch, vận hành đúng đắn nguyên tắc tập trung, dân chủ Những

tuyến bài viết: Trung ương đề cao giải pháp kiểm soát quyền lực, chống chạy

Trang 37

chức' (VNE); 5 điểm mới trong chống chạy chức, chạy quyền (VNE); Bộ Chính trị nghiêm cấm 6 hành vi chạy chức, chạy quyền (VNE); Xây dựng dự thảo quy định của Bộ Chính trị về kiểm soát quyền lực (VNE); Tăng cường kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ (Dân trí); Ngăn chặn mối nguy hại lớn cho Đảng trước kỳ Đại hội (Dân trí); Mạnh tay với chạy chức, chạy quyền (TTO); Ngăn chạy chức, chạy quyền: Thách thức với công tác cán bộ (TTO); Cán bộ, đảng viên chạy chức, chạy quyền sẽ bị khai trừ Đảng, buộc thôi việc (TTO); Tổng bí thư: Không để những người chạy chức lọt vào cấp ủy khóa mới; 'Chặn đường' chạy chức, chạy quyền(TTO)… có nội dung xoay quanh chỉ

thị 205 đã giúp đưa thông tin về công tác phòng chống lạm dụng CVQH đến gần hơn với độc giả

Phát biểu tại lễ khai mạc trước thềm đại hội Đảng XII, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng cho rằng: “Thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI về xây dựng Đảng, với quyết tâm chính trị rất cao của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, chúng

ta đã đạt được những kết quả bước đầu quan trọng, nhưng tình trạng suy thoái, "tự diễn biến," "tự chuyển hóa" vẫn chưa được ngăn chặn, đẩy lùi, có mặt còn diễn biến tinh vi, phức tạp hơn, có thể gây ra những hậu quả khôn lường” Ngày 30/10/2016, thay mặt Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XII, Tổng Bí

thư Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành Nghị quyết số 04-NQ/TW Nghị quyết chỉ

rõ 27 biểu hiện suy thoái thuộc 3 nhóm tư tưởng - chính trị, đạo đức - lối sống, và những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" trong nội bộ Trong đó lạm dụng CVQH là 1 trong 9 biểu hiện suy thoái về đạo đức lối sống Có thể nói, bên cạnh nỗ lực của các cấp ủy đảng và các cơ quan, thì “binh chủng” thông tin - truyền thông trong đó có báo điện tử đã khẳng định vai trò to lớn của mình trong việc tạo dựng được những chuyển biến thực sự trong nhận thức và hành động của toàn Đảng, toàn dân về đấu tranh phòng, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống,

“tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, chống các biểu hiện lợi dụng, lạm dụng CVQH trong Đảng và ngoài xã hội

2 Thông tin về các vụ việc lạm dụng CVQH

Ở Việt Nam, những năm trở lại đây đã có rất nhiều vụ đại án gây “rúng động pháp đình” có liên quan đến yếu tố lạm dụng CVQH Năm 2017, nhiều vụ án hình

Trang 38

sự lạm dụng CVQH chiếm đoạt tài sản xảy ra tại Liên doanh Việt - Nga Vietsovpetro (VSP); Công ty TNHH MTV Lọc hóa dầu Bình Sơn (BSR); Tổng công ty Thăm dò khai thác Dầu khí (PVEP), Tổng công ty Công nghiệp tàu thủy Việt Nam - Vinashin Hàng loạt cán bộ có năng lực, được đào tạo bài bản của những ngành, lĩnh vực được coi là “rường cột” quốc gia vướng vào vòng lao lý gây

ra những hậu quả thực sự nặng nề, đau xót Các bị cáo đều là những người có CVQH, có quá trình rèn luyện, phấn đấu, được đào tạo chuyên sâu, có nghiệp vụ chuyên môn vững vàng Đáng lẽ các bị cáo phải là những người tiên phong, đi đầu, nắm vững và tuân thủ pháp luật, góp phần thúc đẩy cho sự phát triển của ngành nói riêng và xây dựng đất nước nói chung Thế nhưng, các bị cáo đã vì mục đích tư lợi

cá nhân mà không tuân thủ các quy định của Nhà nước, không chấp hành pháp luật

để chiếm đoạt tài sản, gây thiệt hại lớn cho ngân sách quốc gia

Chỉ tính riêng Tổng công ty Công nghiệp tàu thủy Việt Nam – Vinashin, năm

2010, đơn vị này được nhận 2.200 tỷ đồng từ Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam (PVN) để tái cơ cấu và 4.190 tỷ đồng của Chính phủ cấp tạm ứng vốn phục vụ sản xuất kinh doanh Trong khi đó, để có nguồn tiền phục vụ cho hoạt động của Ngân hàng TMCP Đại Dương (Oceanbank), Hà Văn Thắm - nguyên Chủ tịch HĐQT Oceanbank và lãnh đạo ngân hàng này đã ban hành chủ trương chi tiền ngoài lãi suất tiền gửi theo hợp đồng để lãnh đạo Vinashin quyết định việc gửi tiền có kỳ hạn vào Oceanbank Dù không được Thủ tướng Chính phủ cho phép nhưng Nguyễn Ngọc Sự và đồng phạm đã lạm dụng CVQH trong việc quản lý số tiền nhận từ PVN

và tiền Chính phủ cấp, bàn bạc thống nhất chủ trương quyết định việc gửi tiền có kỳ hạn vào Oceanbank, sau đó chiếm đoạt số tiền chi ngoài lãi suất tiền gửi theo hợp đồng lên đến 105 tỷ đồng Theo báo cáo, từ năm 2010 đến tháng 6/2014, Vinashin

đã thực hiện hơn 2.300 hợp đồng giao dịch tiền gửi có kỳ hạn vào Oceanbank với số tiền gần 104.000 tỷ đồng và gần 182 triệu USD Tiền lãi theo hợp đồng là gần 1.100

tỷ đồng và gần 30.000 USD

Vụ án Phan Văn Anh Vũ (tức Vũ “nhôm”) cùng đồng phạm là minh chứng

về việc cán bộ bị thao túng khi thực thi quyền lực xảy ra tại TP Hồ Chí Minh và TP

Đà Nẵng Tình trạng lạm quyền lây lan từ công tác cán bộ, quản lý tài sản, tiền bạc,

Trang 39

đất đai, quản lý dự án, hải quan, cảnh sát giao thông, thanh tra thuế cho đến các cơ quan bảo vệ pháp luật, thanh tra, kiểm tra, điều tra Nghiêm trọng hơn, hành vi vi phạm của Vũ “nhôm” có sự tiếp tay, liên đới của nhiều người giữ trọng trách ở Bộ Công an và các sở ngành Chức vụ càng cao, quyền lực càng lớn thì hậu quả càng nặng nề Trong 4 tội danh Vũ “nhôm” bị khởi tố, tội lạm dụng CVQH chiếm đoạt tài sản có khung hình phạt cao nhất là chung thân, tội phạm còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 1 năm đến 5 năm, có thể bị phạt tiền 100 triệu đồng và tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản

Bên cạnh những đại án kinh tế lớn, còn có nhiều những vụ lạm dụng quyền lực ở phạm vi nhỏ hẹp hơn như vụ việc nổi tiếng xảy ra hồi tháng 8 năm 2016, dư rất bất bình trước thông tin ông Nguyễn Văn Tấn, chủ quán cà phê Xin Chào ở thị trấn Tân Túc, huyện Bình Chánh, TP.HCM bị truy tố oan về tội kinh doanh trái phép Với việc đặt tạm khúc container trong phần đất thuê kế bên quán để làm chỗ rửa ly, chén , ông Tấn đã bị chủ tịch UBND thị trấn ra quyết định đình chỉ thi công công trình kèm theo đề nghị cắt điện, nước và buộc tự tháo dỡ Điều đáng nói

là Quyết định đình chỉ thi công của chủ tịch UBND thị trấn lại viện dẫn nghị định của nhà nước…đã hết hiệu lực Oan trái hơn, các “quan xã” còn mượn khái niệm

“công trình xây dựng” trong quy định của Nhà nước để gắn cho “công trình container” (từ dùng trong quyết định) được đặt tạm trên đất, không được liên kết định vị với đất, không được xây dựng theo thiết kế tức không phải là công trình xây dựng theo định nghĩa của khoản 10, điều 3, Luật xây dựng 2014, mục đích để bắt lỗi ông Tấn

Tuổi trẻ trong bài báo có tiêu đề: Vụ “Xin Chào” và sự lạm quyền của quan

xã, đã đưa ra lời bình hết sức day dứt: “Những người đã bị oan khiên như ông Tấn làm sao có thể yên tâm làm ăn, sinh sống khi như thể luôn bị chính quyền “canh me” và quyết định “trị” cho bằng được thông qua việc không nắm rõ luật hiện hành

và lại còn “sáng tác” luật?” Chính hành vi không nắm được luật lại còn sáng tác luật là dấu hiệu vô cùng rõ nét cho sự lạm dụng quyền lực khiến pháp luật trong tay những người có CVQH trở lên méo mó, biến dạng, gây bất bình trong dư luận

Trang 40

3 Thông tin về các tấm gương đấu tranh phòng chống lạm dụng CVQH

Theo báo cáo của Chính phủ, chỉ tính riêng năm 2018, số lượng đơn thư tố cáo tăng 41,1% số đơn và 16,3% số vụ việc so với 2017 Nội dung chủ yếu là tố cáo cán bộ, công chức lạm dụng chức vụ, quyền hạn cố ý làm trái trong quản lý, thực thi công vụ; bao che cho cấp dưới gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức và Nhà nước

Có thể nói, báo chí nước ta luôn chú trọng tuyên truyền, giáo dục cho cán bộ, đảng viên nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò, tác dụng của việc kiểm soát và ngăn chặn lạm dụng quyền lực; ngăn ngừa các hành vi lạm quyền, lộng quyền, lợi dụng chức vụ quyền hạn để trục lợi cho cá nhân, gia đình, đẩy lùi tham nhũng, tiêu cực, suy thoái trong cán bộ, đảng viên Những bài viết trên báo chí giúp chúng ta thấy rõ được vai trò giám sát của nhân dân đối với cán bộ, đảng viên, nhất là vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể và các tổ chức chính trị - xã hội Nhân dân chính là “tai, mắt” giúp cấp ủy, chính quyền nhìn nhận đa chiều, toàn diện về những vấn đề bức xúc, nổi cộm trong dư luận xã hội; những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên trong cuộc sống hằng ngày, cũng như khi thực thi nhiệm vụ

Bên cạnh việc đưa tin về các vụ việc lạm dụng quyền lực, báo chí luôn đi đầu trong việc tuyên dương, phản ánh những tấm gương tập thể, cá nhân điển hình, tiêu biểu có tinh thần kiên quyết đấu tranh với những hành vi lạm dụng quyền lực, tham nhũng, “lợi ích nhóm” và những biểu hiện tiêu cực khác Cụ thể như tấm gương của

ba anh em nhà ông Nguyễn Kim Hợp, ở xã Phủ Phong, Hương Khê, Hà Tĩnh được báo chí đưa tin Những cựu chiến binh chân lấm tay bùn này đã bán trâu bò lấy tiền mua máy ảnh, máy ghi âm, tự mình điều tra những vụ việc cán bộ xã Hương Khê lạm dụng quyền lực cấp sổ đỏ sai cho nhiều trường hợp Bất chấp bị kẻ xấu ném đá

vỡ mái, vỡ cửa nhà, rải tờ rơi đe dọa họ vẫn âm thầm vận động bà con thu thập chứng cứ Gửi đơn phản ánh, tố giác lên huyện, lên tỉnh không đạt kết quả, bằng nhiều đường vận động, anh em ông Hợp đưa được đơn lên Văn phòng Chính phủ, gây áp lực trở lại địa phương Nhờ đó, trong 70 trường hợp nghi vấn, UBND huyện Hương Khê đã phải thừa nhận đã cấp sổ đỏ sai cho 13 người Trong đó có những

Ngày đăng: 28/07/2020, 14:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w