1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Những vấn đề pháp lý về giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm trong lĩnh vực đất đai

17 34 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 122 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vụ việc trên là một tranh chấp đất đai vì nó liên quan trực tiếp đến quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong quan hệ sử dụng đất, cần xác định hợp đồng nào được pháp luật công nhận, quyề

Trang 1

VẤN ĐỀ 8 NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP, KHIẾU NẠI, TỐ CÁO VÀ XỬ LÝ VI PHẠM TRONG LĨNH VỰC ĐẤT ĐAI

1 Những vấn đề pháp lý về giải quyết tranh chấp đất đai

1.1 Những vấn đề chung

Từ lâu đời, ông cha ta đã có câu “Hôn nhân điền thổ, vạn cố chi thù”, ý muốn nói trong xã hội có hai chuyện thường xảy ra khúc mắc, dễ kết thù oán và thù oán lâu nhất là hôn nhân và ruộng đất Điều này cho thấy tính phổ biến và phức tạp của các tranh chấp đất đai đã tồn tại từ lâu và có thể xảy ra ở bất cứ đâu Tính phức tạp, gay gắt của nó không chỉ dừng lại ở khía cạnh tranh chấp dân sự mà còn có thể dẫn đến các vụ án hình sự, thậm chí có thể mang tính chính trị, gây ảnh hưởng đến trật tự xã hội Vì vậy, giải quyết tranh chấp đất đai

là một nội dung rất quan trọng và không thể thiếu của pháp luật đất đai

*Khái niệm: Tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của

người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai

VD: Tháng 8/2003, ông A ký hợp đồng chuyển nhượng 60 m² đất cho bà

B với giá 4 tỷ đồng nhưng chưa làm thủ tục đăng ký Bà B định đập nhà ông A

đã xây trên đất đó để xây biệt thự mới cho gia đình nhưng chưa thực hiện thì tháng 3/2004, cháu ruột ông A là anh X từ nước ngoài về, đi qua thấy ngôi nhà

bỏ không, ông A không ở nữa nên bày tỏ ý định muốn mua lại với giá 7 tỷ đồng Thấy lời lãi, lại cũng là chỗ thân tình, ông A đã ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà cho anh X, đồng thời đi đăng

ký ngay Tháng 6/2004, khi thuê thợ đến phá dỡ nhà, bà B mới biết chuyện Giữa các bên phát sinh tranh chấp

Vụ việc trên là một tranh chấp đất đai vì nó liên quan trực tiếp đến quyền

và nghĩa vụ của các chủ thể trong quan hệ sử dụng đất, cần xác định hợp đồng nào được pháp luật công nhận, quyền sử dụng trên sẽ thuộc về ai, và khi một trong hai hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu thì các hậu quả pháp lý sẽ được giải quyết như thế nào

* Đặc điểm

(1) Không tranh chấp về quyền sở hữu, thể hiện ở 2 nội dung:

+ Đối tượng của tranh chấp không là quyền sở hữu đất

+ Các chủ thể tham gia tranh chấp không phải là các chủ thể có quyền sở hữu đối với đất

Trang 2

(2) Các tranh chấp đất đai ngày càng gay gắt, phức tạp trong bối cảnh kinh tế thị trường Khác với thời kỳ bao cấp trước đây, đất không có giá, thậm chí người thân, anh em, bạn bè có thể thoải mái cho nhau đất không cần tính toán, thì nay, trong nền kinh tế thị trường, khi đất đai đã được xác định giá, người dân ý thức được giá trị của đất, lại là giá trị rất lớn thì mỗi diện tích đất, thậm chí rất nhỏ cũng có thể làm phát sinh tranh chấp lớn

(3) Tranh chấp đất đai có khả năng lôi kéo nhiều người, gây bất ổn chính trị, mất ổn định xã hội Đặc biệt là tranh chấp đất đai giữa các dòng họ, tài sản chung khác thuộc quyền sử dụng của nhiều chủ thể khiến cho việc giải quyết tranh chấp rất khó khăn, dẫn đến việc các bên dễ đi đến việc “tự giải quyết” bằng những con đường không chính thức, “xã hội đen”

* Giải quyết tranh chấp đất đai

Tranh chấp không những ảnh hưởng đến lợi ích của các bên liên quan mà còn ảnh hưởng cả đến lợi ích của Nhà nước, bởi lẽ nó gây nên sự mất ổn định trong xã hội, làm cho chính sách của Nhà nước không thực hiện được Chính vì vậy, pháp luật đất đai cần phải có những quy định về giải quyết tranh chấp

Luật đất đai quy định thế nào là “tranh chấp” chứ không quy định thế nào là “giải quyết tranh chấp” Tuy nhiên, dựa trên định nghĩa về tranh chấp nêu trên, có thể đưa ra một định nghĩa riêng về giải quyết tranh chấp như sau:

Giải quyết tranh chấp đất đai là hoạt động của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nhằm giải quyết các bất đồng, mâu thuẫn giữa các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân để tìm ra giải pháp đúng đắn trên cơ sở pháp luật nhằm xác định rõ quyền

và nghĩa vụ của các chủ thể trong quan hệ đất đai

Từ định nghĩa trên có thể rút ra các đặc điểm của giải quyết tranh chấp đất đai như sau:

(1) Giải quyết tranh chấp đất đai là hoạt động của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền Để giải quyết tranh chấp một tranh chấp, các chủ thể có thể sử dụng nhiều biện pháp như tự thương lượng, thỏa thuận với nhau Pháp luật đất đai không quan tâm cách thức họ thỏa thuận thế nào, thương lượng ra sao mà chỉ đưa ra các quy định điều chỉnh hoạt động giải quyết tranh chấp khi có sự tham gia của cơ quan Nhà nước vào việc giải quyết đó mà thôi Điều này nhằm thể hiện sự tôn trọng của Nhà nước với tự do ý chí, tự do định đoạt của các chủ thể, và Nhà nước sẽ cung cấp một công cụ giải quyết tranh chấp cho họ nếu như

họ không có được sự thống nhất Một khi đã có sự tham gia của cơ quan nhà nước thì các quy phạm pháp luật về giải quyết tranh chấp là cần thiết, bởi lẽ có những quy phạm pháp luật này thì người dân cũng như chính cơ quan nhà nước

Trang 3

mới biết chủ thể nào có thẩm quyền giải quyết tranh chấp và giải quyết theo trình tự, thủ tục gì

(2) Đối tượng của hoạt động giải quyết tranh chấp là tranh chấp đất đai, trong đó các đương sự yêu cầu cơ quan Nhà nước xác định rõ những quyền và nghĩa vụ của các bên đối với khu đất đang bị tranh chấp

(3) Hệ quả pháp lý của việc giải quyết tranh chấp là quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong quan hệ đất đai sẽ được làm rõ bằng bản án hoặc quyết định có hiệu lực pháp luật

(4) Đề cao hòa giải, huy động đoàn thể địa phương tham gia

(5) Liên quan đến nhiều lĩnh vực khác, như: nhà, xây dựng

(6) Cần phải hiểu phong tục, tập quán địa phương để có cách giải quyết thỏa đáng

VD: ở một số dân tộc, khi con gái đã đi lấy chồng thì không được hưởng thừa kế đất đai của bố mẹ

* Mục đích của giải quyết tranh chấp đất đai

(1) Giải quyết bất đồng, bảo vệ quyền cho các chủ thể có quyền sử dụng đất hợp pháp Mục đích của hoạt động giải quyết tranh chấp là nhằm tìm ra giải pháp đúng đắn, tích cực nhằm giải quyết mâu thuẫn đang tồn tại giữa các bên Từ đó, phục hồi quyền lợi hợp pháp cho bên bị xâm hại và buộc bên vi phạm gánh chịu hậu quả pháp lý do hành vi của họ gây ra

(2) Duy trì ổn định trật tự xã hội Các tranh chấp đất đai dễ diễn biến phức tạp,

là nguyên nhân trong nhiều vụ án hình sự cũng như những bất ổn chính trị Vì vậy, giải quyết triệt để các tranh chấp này cũng chính là đảm bảo trật tự xã hội được duy trì Việc giải quyết tranh chấp thông qua hoạt động của các cơ quan Nhà nước là con đường minh bạch, rõ ràng, dựa trên cơ sở pháp luật, tránh việc các bên sử dụng đến các biện pháp không đúng đắn, thậm chí vi phạm pháp luật như đe dọa, dùng vũ lực để chiếm đất trái phép

(3) Thể hiện vai trò quản lý của nhà nước Vai trò quản lý của nhà nước không chỉ nằm ở công tác xây dựng luật, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất mà còn thể hiện ở cả hoạt động giải quyết tranh chấp, bảo vệ quyền lợi cho các chủ thể

đã được nhà nước giao sử dụng đất hợp pháp hoặc xác định quyền sử dụng đất hợp pháp cho một chủ thể (khi chia thừa kế, tài sản chung) Hoạt động giải quyết tranh chấp đảm bảo cho pháp luật đất đai được thi hành đúng Thông qua

đó, các quan hệ đất đai được điều chỉnh phù hợp với lợi ích của Nhà nước, xã

Trang 4

hội và người sử dụng đất Giải quyết tranh chấp còn có thể đi kèm với giáo dục

ý thức pháp luật để ngăn ngừa vi phạm khác có thể xảy ra

1.2 Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai

a/ Hòa giải tranh chấp đất đai

Khi có tranh chấp đất đai phát sinh, trước hết các bên phải tự hoà giải Nếu tự hòa giải không thành thì sẽ phải tiến hành Hòa giải tại UBND xã, phường, thị trấn

Hòa giải là biện pháp mềm dẻo, linh hoạt, hiệu quả nhằm giúp các bên tìm ra giải pháp thống nhất tháo gỡ mâu thuẫn trên cơ sở tự nguyện, tự thỏa thuận nếu hòa giải thành thì tranh chấp sẽ sớm kết thúc, đỡ phiền hà tốn kém cho các bên và công việc cho cơ quan Nhà nước, đồng thời giữ được đoàn kết, tình làng nghĩa xóm

Luật đất đai quy định: Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai

tự hoà giải hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hoà giải ở cơ sở Nếu không hòa giải được thì gửi đơn đến UBND xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp để hòa giải tại UBND xã, phường, thị trấn Trường hợp hòa giải thành mà có thay đổi về ranh giới hoặc chủ sử dụng thì UBND gửi biên bản hòa giải đến Phòng tài nguyên môi trường (đối với tranh chấp đất đai giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau); trường hợp khác gửi đến Sở Tài nguyên – Môi trường để công nhận việc thay đổi ranh giới và cấp mới Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Mặc dù hòa giải được quy định là một biện pháp mang tính “khuyến khích”, nhưng trong quy định về “Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai” thì các chủ thể có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai chỉ giải quyết khi tranh chấp đã được hòa giải tại UBND xã, phường, thị trấn mà các đương sự không nhất trí được Điều luật này đã khiến cho “Hòa giải” trở thành một thủ tục bắt buộc (thể hiện trong chính các văn bản hướng dẫn của Tòa án sau này), không hoàn toàn phù hợp với tinh thần “khuyến khích” trên, cũng như quy định của pháp luật về quyền tự định đoạt của đương sự Sự không phù hợp này từ Luật đất đai 2003 vẫn tiếp tục tồn tại trong Luật đất đai 2013

Trong thời gian áp dụng Luật đất đai 2003, những bất cập thực tế đã phát sinh từ các tranh chấp quyền sử dụng đất vốn có nguồn gốc phát sinh từ một vụ việc có nội dung pháp lý trọng tâm khác (nghĩa là các tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất chứ không phải tranh chấp về quyền sử dụng đất) Ví dụ: trường hợp vợ chồng muốn ly hôn và chia tài sản chung là nhà đất Theo quy định của Luật hôn nhân gia đình 2004 thì Tòa án có thể thụ lý giải quyết ngay

mà không cần qua hòa giải cơ sở Tuy nhiên, với quy định này của Luật đất đai

Trang 5

thì 2 vợ chồng bắt buộc phải qua hòa giải ở UBND do có tài sản chung là nhà đất Như vậy, cùng là một vụ việc nhưng các văn bản luật khác nhau lại quy định về thủ tục hòa giải theo những hướng khác nhau, dẫn đến sự không thống nhất giữa các cơ quan Nhà nước trong quá trình giải quyết

Vì vướng mắc trên trong quá trình giải quyết án dân sự nên năm 2013, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã ra Nghị quyết 05/2012/NQ-HĐTP (có hiệu lực thi hành từ 01/7/2013) hướng dẫn việc vẫn thụ lý tranh chấp đất đai trong một số trường hợp chưa tiến hành hòa giải tại cơ sở , theo đó :

- Đối với tranh chấp ai có quyền sử dụng đất thì phải tiến hành hòa giải tại UBND xã, phường, thị trấn nơi có tranh chấp

- Đối với tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất như: tranh chấp về giao dịch liên quan đến quyền sử dụng đất, tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất, chia tài sản chung của vợ chồng là quyền sử dụng đất thì không phải tiến hành hòa giải tại UBND xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp

Các yêu cầu về thủ tục hòa giải

- Trong 45 ngày từ ngày nhận đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai, UBND xã phải lập Hội đồng hòa giải (gồm: đại diện UBND, Mặt trận Tổ quốc

và các thành viên khác của mặt trận) để tổ chức thực hiện hòa giải

- Kết quả hòa giải phải được thể hiện bằng biên bản có chữ kí xác nhận của Hội đồng hòa giải và các bên đương sự

- Hệ thống TAND và UBND từ cấp huyện trở lên không có quyền thụ lý, nhận đơn để giải quyết tranh chấp nếu tranh chấp đó chưa được tổ chức hòa giải

ở UBND cấp xã

b/ Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai

Nếu việc hòa giải tại UBND cấp xã không thành thì các chủ thể sẽ đi đến quy định giải quyết tiếp theo quy định tại Điều 203 Luật đất đai 2013

Các chủ thể có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai bao gồm: TAND, Chủ tịch UBND, Bộ trưởng Bộ TNMT Trong trường hợp giải quyết tranh chấp đất đai liên quan đến địa giới hành chính, Quốc hội và Chính phủ cũng là các chủ thể có quyền quyết định

* Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai cụ thể như sau:

Giải quyết theo trình tự tố tụng (dân sự)

Tòa án nhân dân có thẩm quyền giải quyết những tranh chấp đất đai trong các trường hợp:

Trang 6

- Tranh chấp về quyền sử dụng đất mà đương sự có GCNQSDĐ hoặc có một trong các loại giấy tờ hợp lệ quy định tại khoản 1, 2 và 3 Điều 100 Luật đất đai 2013

- Các đương sự không có các loại giấy tờ trên nhưng lựa chọn khởi kiện tại Tòa án mà không giải quyết tại UBND cấp có thẩm quyền (Đây là điểm mới của Luật đất đai 2013 so với Luật đất đai 2003 – điểm b Khoản 2 Điều 2003 quy định nếu các đương sự không có giấy tờ thì chỉ được giải quyết tại UBND, không được khởi kiện tại Tòa án)

- Tranh chấp về tài sản gắn liền với đất

Điều kiện khởi kiện vụ án tranh chấp đất đai:

Để khởi kiện vụ án tranh chấp đất đai tại Tòa án và được Tòa án thụ lý giải quyết thì các đương sự phải thỏa mãn 2 điều kiện

+ Thứ nhất: đương sự phải thuộc trường hợp mà Tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai (đã nghiên cứu tại mục 5 trên)

+ Thứ hai: vụ việc đã qua hòa giải tại UBND xã, phường, thị trấn trong những trường hợp pháp luật quy định

Trình tự, thủ tục giải quyết:

Việc giải quyết tranh chấp đất đai tại Toà án được thực hiện theo quy định chung của Bộ Luật Tố tụng dân sự

- Cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp để khởi kiện vụ án tại Toà án có thẩm quyền

- Đất đai là một loại bất động sản nên Toà án có thẩm quyền giải quyết là Toà án nơi có bất động sản

Người khởi kiện vụ án gửi đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo đến Toà án có thẩm quyền, thực hiện việc tạm ứng án phí và hoàn chỉnh hồ sơ, đơn khởi kiện theo yêu cầu của Tòa án Sau đó Tòa án sẽ thụ lý giải quyết Toà

án nhân dân tiến hành hoà giải để các đương sự tiến hành thoả thuận với nhau

về việc giải quyết vụ án Đây là giai đoạn bắt buộc trong quá trình giải quyết vụ

án dân sự và việc hoà giải này cũng khác với việc hoà giải trước khi khởi kiện Hoà giải trong giai đoạn này do Toà án nhân dân chủ trì và tiến hành Nếu hòa giải thành thì Tòa án lập biên bản hòa giải thành, hết thời hạn 7 ngày mà các đương sự không thay đổi ý kiến thì tranh chấp chính thức kết thúc

Nếu hoà giải không thành thì Toà án quyết định đưa vụ án ra xét xử Ngay trong quá trình xét xử, các đương sự vẫn có thể thoả thuận với nhau về

Trang 7

việc giải quyết vụ án Nếu không đồng ý với bản án, các bên đương sự có thể kháng cáo theo trình tự phúc thẩm Việc giám đốc thẩm, tái thẩm đối với các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án về tranh chấp đất đai cũng được thực hiện theo quy định của pháp luật về Tố tụng dân sự

*) Giải quyết theo trình tự hành chính

- Áp dụng đối với các tranh chấp đất đai mà đương sự không có 1 trong các loại giấy tờ nêu trên để chứng minh quyền của mình đối với đất

- Thẩm quyền:

+ Nếu đương sự là: Hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau thì chủ tịch UBND cấp huyện Giải quyết lần 1 Nếu đương sự không đồng ý với kết quả giải quyết lần 1 thì có quyền khiếu nại giải quyết lần 2 Khiếu nại giải quyết lần 2 do chủ tịch UBND cấp tỉnh giải quyết hoặc đương sự có quyền khởi kiện

vụ ra Tòa hành chính giải quyết theo thủ tục tố tụng hành chính

+ Nếu đương sự là: Một bên là tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì thẩm quyền giải quyết lần 1 là Chủ tịch UBND cấp tỉnh Nếu đương sự không đồng ý với kết quả giải quyết lần 1 thì có quyền khiếu nại giải quyết lần 2 Khiếu nại giải quyết lần 2 do Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường giải quyết hoặc đương

sự có quyền khởi kiện vụ ra Tòa hành chính giải quyết theo thủ tục tố tụng hành chinh

Nếu các đương sự không đồng ý với kết quả giải quyết lần 1 thì có thể khiếu nại để giải quyết lần 2 (Kết quả giải quyết lần 2 là quyết định cuối cùng, bắt buộc thi hành, nếu không sẽ bị cưỡng chế thi hành); hoặc khởi kiện tại Tòa

án theo trình tự tố tụng hành chính (Đây là điểm mới của Luật đất đai 2013)

Trong trường hợp đặc biệt, khi kết quả giải quyết tranh chấp liên quan đến địa giới của đơn vị hành chính thì Quốc hội hoặc Chính phủ sẽ quyết định :

- Quốc hội: quyết định trong trường hợp tranh chấp liên quan đến địa giới của đơn vị hành chính tỉnh, thành phố trực thuộc TW mà UBND của các đơn vị

đó không đạt được sự nhất trí hoặc việc giải quyết làm thay đổi địa giới hành chính

- Chính phủ: quyết định trong trường hợp tranh chấp liên quan đến địa giới của đơn vị hành chính huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, xã, phường, thị trấn mà UBND của các đơn vị đó không đạt được sự nhất trí hoặc việc giải quyết làm thay đổi địa giới hành chính

* Điều kiện yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai tại UBND:

Trang 8

+ Thứ nhất: các đương sự không có giấy tờ chứng minh quyền sử dụng đất theo quy định và lựa chọn giải quyết tranh chấp tại UBND

+ Thứ hai, tranh chấp đã qua hòa giải cơ sở tại UBND cấp xã

* Trình tự, thủ tục giải quyết

(1) Chủ tịch UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh giải quyết đối với tranh chấp đất đai giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau Nếu một bên hoặc các bên đương sự không đồng ý với quyết định giải quyết thì

có quyền gửi đơn xin giải quyết tranh chấp đất đai đến Chủ tịch UBND cấp tỉnh

(2) Chủ tịch UBND cấp tỉnh giải quyết đối với tranh chấp giữa tổ chức,

cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức nước ngoài, cá nhân nước ngoài với nhau hoặc giữa các đối tượng đó với hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư Trường hợp Chủ tịch UBND cấp tỉnh giải quyết lần đầu mà một trong các bên đương sự không đồng ý thì có quyền đến Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường yêu cầu giải quyết

Nếu đương sự không đồng ý với quyết định giải quyết tranh chấp lần đầu thì có thể khiếu nại đến Chủ tịch UBND cấp trên trực tiếp hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật tố tụng hành chính Như vậy, nếu đương sự lựa chọn chuyển sang “con đường” Tòa án thì việc giải quyết sẽ tuân theo quy trình tố tụng, từ sơ thẩm, có thể đến phúc thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm Quy định này là sự đảm bảo tốt cho quyền lợi của đương sự vì nó tránh được tình trạng cấp trên “bao che” cho cấp dưới nếu việc giải quyết chỉ thực hiện được 2 lần qua 2 cấp hành chính như Luật đất đai 2003

2 Những vấn đề pháp lý về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực đất đai

2.1 Giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực đất

đai * Khái niệm

Khiếu nại là việc công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức theo thủ tục pháp luật quy định, đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình (Khoản 1 Điều 2 Luật khiếu nại 2011)

* Thực trạng khiếu nại về đất đai ở nước ta hiện nay thường xoay quanh các nội dung:

Trang 9

Thứ nhất là Khiếu nại về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư: do người dân

không đồng ý với mức bồi thường hoặc điều kiện ở nơi tái định cư

Thứ hai là Khiếu nại về việc cấp, thu hồi GCNQSDĐ Rất phổ biến hiện

nay, phát sinh một phần từ sai sót của cơ quan có thẩm quyền, như: Cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sai sót về tên chủ sử dụng, sơ đồ thửa đất, diện tích… Có những trường hợp, không cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà không có lý do chính đáng hoặc lý do không rõ ràng Các cơ quan có thẩm quyền trong quá trình giải quyết lại không giải thích rõ cho dân hiểu lý do tại sao không cấp giấy Quá trình giải quyết hồ sơ diễn ra chậm, gây phiền hà, sách nhiễu… gây khó khăn cho người sử dụng đất Một nguyên nhân khác là do quy hoạch treo hoặc do người dân không chấp nhận dù lý do không cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là chính đáng…

Thứ ba là Khiếu nại quyết định xử phạt vi phạm hành chính về vi phạm

chế độ quản lý, sử dụng đất đai Do một bộ phận người dân không nắm rõ về Luật nên phát sinh tình trạng vi phạm pháp luật hoặc các trường hợp lấn chiếm,

vi phạm quy tắc xây dựng Một số người mặc dù khá am hiểu pháp luật nhưng vẫn cố tình vi phạm, khi bị phát hiện và xử phạt thì ngoan cố khiếu nại Bên cạnh đó cũng có phần trách nhiệm của các cơ quan có thẩm quyền trong quá trình giải quyết, như: ra quyết định xử phạt sai đối tượng, bị nhầm lẫn, sai tên chủ sử dụng; việc thi hành quyết định xử phạt có sai sót hoặc sai pháp luật; việc

ra quyết định không đúng căn cứ pháp luật; việc ra quyết định quá nhẹ hoặc quá nặng (về mức phạt hoặc hình thức phạt) hoặc thiếu trách nhiệm, thiếu khách quan

Thứ tư, là Khiếu nại (KN) việc giải quyết các tranh chấp về đất đai của

các cơ quan nhà nước Khiếu nại trong lĩnh vực này cũng rất phức tạp và đa dạng, như :

+ KN việc giải quyết tranh chấp đòi lại đất cũ: Đòi lại đất, tài sản của dòng họ, của người thân trong các giai đoạn khác nhau, qua các cuộc điều chỉnh

đã giao cho người khác sử dụng; Đòi lại đất cũ do trước kia thực hiện chính sách "nhường cơm sẻ áo” của Nhà nước trong những năm 1981 – 1 986 (đã nhường đất cho người khác sử dụng nay họ đòi lại); Đòi lại đất khi thực hiện hợp tác hóa nông nghiệp, theo mô hình sản xuất tập thể quản lý tập trung

+ KN việc giải quyết tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất, thừa kế tài sản gắn liền với quyền sd đất

+ KN việc giải quyết tranh chấp ranh giới sử dụng đất

+ KN việc giải quyết tranh chấp nhà đất do đã cho mượn, cho thuê, cho ở nhờ

Trang 10

+ KN việc giải quyết tranh chấp hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất + KN việc giải quyết tranh địa giới hành chính Loại tranh chấp này thường xảy ra giữa 2 tỉnh, 2 huyện, 2 xã với nhau tập trung ở những nơi có vị trí quan trọng trong việc phát triển kinh tế, văn hoá, bên cạnh những vị trí dọc theo triền sông, những vùng có địa giới không rõ ràng, không có mốc giới nhưng là

vị trí quan trọng Các tranh chấp có thể diễn ra ở những nơi có tài nguyên thiên nhiên quý, hiếm, nơi có nguồn lâm thổ sản có giá trị lớn Khi Nhà nước tiến hành phân tách các đơn vi hành chính tỉnh, huyện, thị xã, xã mới thì tranh chấp đất đai liên quan đến địa giới hành chính diễn ra ở nhiều địa phương trên cả nước v.v…

Người sử dụng đất có quyền khiếu nại quyết định hành chính hoặc hành

vi hành chính về quản lý đất đai

* Nguyên nhân tình trạng khiếu kiện đất đai đặc biệt gia tăng những năm gần đây:

+ Một là, do quá trình đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ làm cho nhu cầu sử dụng đất tăng lên, thúc đẩy giá đất tăng cao

+ Hai là, do nhận thức của người dân về sở hữu đất đai không đồng nhất với quy định của pháp luật; vẫn còn tồn tại các phong tục, tập quán truyền thống, hương ước, luật tục với những quy định lạc hậu về sở hữu đất đai chưa được loại bỏ đã "ăn sâu, bám rễ" trong tiềm thức của một bộ phận dân chúng vốn ít có điều kiện tiếp xúc với pháp luật Trong tiềm thức của một bộ phận dân chúng (đặc biệt là những người dân sống ở khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng

xa hoặc người dân có trình độ học vấn thấp) vẫn tồn tại quan niệm đất đai là của ông cha, tổ tiên để lại Hoặc cũng có một số người dân quan niệm rằng đất đai là của Nhà nước nhưng khi Nhà nước đã giao cho sử dụng ổn định lâu dài và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì là của họ Chính vì nhận thức không đúng này nên trong điều kiện kinh tế thị trường, đất đai ngày càng trở lên có giá thì tình trạng đòi lại đất của ông cha ngày càng gia tăng

+ Ba là, do việc cho thuê, cho mượn, cầm cố đất đai trong nội bộ nhân dân, việc đưa đất đai, lao động vào các tập đoàn sản xuất, các nông, lâm trường, không có hoặc không lưu giữ được các tài liệu, sổ sách; việc trưng dụng, trưng thu, trưng mua, thu hồi đất không có quyết định, chưa bồi thường hoặc đã bồi thường nhưng không lưu giữ giấy tờ, hồ sơ nên không có cơ sở để xác định khi diễn ra tranh chấp

+ Bốn là, Luật Đất đai, Bộ Luật Tố tụng dân sự, Luật Khiếu nại tố cáo, Pháp lệnh về thủ tục giải quyết các vụ án hành chính còn chồng chéo, mâu thuẫn, không thống nhất Chính sách, pháp luật về đất đai chưa theo kịp cơ chế

Ngày đăng: 28/07/2020, 14:41

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w