1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bài tập nhóm học phần luật hình sự việt nam 3

10 42 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 159 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều luật quy định một tội phạm mới, một hình phạt nặng hơn, một tình tiết tăng nặng mới hoặc hạn chế phạm vi áp dụng án treo, miễn trách nhiệm hình sự, loại trừ trách nhiệm hình sự, miễ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

KHOA LUẬT

BÀI TẬP NHÓM HỌC PHẦN: LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1

THÀNH VIÊN NHÓM:

NGUYỄN THÁI BÌNH AN LỚP: LKTK24B2

NGUYỄN THỊ THU HUYỀN LỚP: LKTK24B1

NĂM 2020

Trang 2

Câu 1:

a) Hiệu lực của BLHS Việt Nam theo thời gian:

Hiệu lực theo thời gian là phạm vi áp dụng BLHS 2015 đối với hành vi phạm tội trong khoảng thời gian nhất định Hiệu lực theo thời gian được quy định cụ thể tại Điều 7 BLHS 2015:

Điều 7 Hiệu lực của Bộ luật hình sự về thời gian

“1 Điều luật được áp dụng đối với một hành vi phạm tội là điều luật đang có hiệu lực thi hành tại thời điểm mà hành vi phạm tội được thực hiện

2 Điều luật quy định một tội phạm mới, một hình phạt nặng hơn, một tình tiết tăng nặng mới hoặc hạn chế phạm vi áp dụng án treo, miễn trách nhiệm hình sự, loại trừ trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, giảm hình phạt, xóa án tích và quy định khác không có lợi cho người phạm tội, thì không được áp dụng đối với hành vi phạm tội đã thực hiện trước khi điều luật đó có hiệu lực thi hành

3 Điều luật xóa bỏ một tội phạm, một hình phạt, một tình tiết tăng nặng, quy định một hình phạt nhẹ hơn, một tình tiết giảm nhẹ mới hoặc mở rộng phạm vi áp dụng án treo, miễn trách nhiệm hình sự, loại trừ trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, giảm hình phạt, tha tù trước thời hạn có điều kiện, xóa án tích và quy định khác có lợi cho người phạm tội, thì được áp dụng đối với hành vi phạm tội đã thực hiện trước khi điều luật đó có hiệu lực thi hành

Như vậy, chúng ta xác định thời điểm thực hiện tội phạm qua 02 trường hợp:

+ Đối với tội phạm được thực hiện trong một khoảng thời gian thì tất cả quá

trình thực hiện tội phạm là thời điểm thực hiện tội phạm

+ Điều luật được áp dụng là điều luật đang có hiệu lực thi hành vào thời điểm cuối cùng của việc thực hiện tội phạm”

Lưu ý: Hiệu lực hồi tố

BLHS 2015 chính thức có hiệu lực (được áp dụng để khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử

và thi hành án) đối với người thực hiện hành vi phạm tội từ 0 giờ 00 phút ngày 01 tháng

01 năm 2018

Tuy nhiên, trong một số trường hợp đặc biệt, BLHS 2015 vẫn có hiệu lực vào trước thời điểm trên, đây được gọi là “hiệu lực hồi tố” và được ghi nhận cụ thể tại điểm b khoản

1 Điều 2 Nghị quyết 41/2017/QH14 như sau:

“Các điều khoản của BLHS 2015 xóa bỏ một tội phạm, một hình phạt, một tình tiết tăng nặng; quy định hình phạt nhẹ hơn, tình tiết giảm nhẹ mới; miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, giảm hình phạt, xóa án tích và các quy định khác có lợi cho người phạm tội thì được áp dụng đối với cả những hành vi phạm tội xảy ra trước 0 giờ 00 phút ngày 01 tháng 01 năm 2018 mà sau thời điểm đó mới bị phát hiện, đang bị điều tra, truy tố, xét xử hoặc đối với người đang được xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt, xóa án tích”

Trang 3

Thời điểm xảy ra vụ án là ngày 7/11/2016 việc áp dụng BLHS năm 1999 và năm

2015 trong cùng 1 vụ án khi quyết định hình phạt của Tòa án cấp sơ thẩm là không phù hợp

Bởi vì theo Khoản 1, Điều 7 BLHS thì điều luật được áp dụng đối với một hành vi phạm tội là điều luật đang có hiệu lực thi hành tại thời điểm mà hành vi phạm tội được thực hiện, nhưng từ ngày 1/7/2016 Quốc Hội quyết định ngừng hiệu lực thi hành của BLHS 2015 để sửa đổi, bổ sung mà vụ án xảy ra là 7/11/2016 nên BLHS có hiệu lực tại thời điểm này là BLHS 1999 Nên BLHS có thời điểm tại thời điểm này mà tòa án phải áp dụng là BLHS 1999

Câu 2

a)

- Căn cứ vào Điều 8 BLHS 2015 có quy định về khái niệm của tội phạm

Thứ nhất nó phải là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong

BLHS Thứ hai nó phải được thực hiện bởi chủ thể có năng lực hành vi dân sự (Người từ đủ 16 tuổi trở lên chịu trách nhiệm hình sự về mọi loại tội phạm)

Có trường hợp ngoài lệ như: Người từ 14 tuổi đếm đủ 16 tuổi phạm tội rất

nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng cũng phải chịu trách nhiệm hình sự được quy định trong BLDS

Cuối cùng là được thực hiện một cố ý hoặc vô ý xâm phạm đến các quan hệ được luật Hình sự bảo vệ ( xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, xâm phạm nền kinh tế, an ninhm sực khỏe, danh dự, nhân phẩm )

- Các yếu tố của tội phạm

Mặt khách quan của tội phạm là những biểu hiện cảu tội phạm diễn ra hoặc tồn tại bên ngoài thế giới khách quan

Những dấu hiệu thuộc về khách quan cảu tội phạm bao gồm:

 Hành vi gây nguy hiểm cho xã hội

 Hậu quả gây nguy hiểm cho xã hội

 Tính trái pháp luật của hành vi

 Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả của tội phạm

 Các dấu hiệu khác như: phương tiện, công cụ, thời gian, địa điểm Mặt chủ quan của tội phạm là những diễn biến tâm lý bên trong của tội phạm bao gồm: lỗi, động cơ, mục đích

Lỗi bao gồm:

 Lỗi cố ý: lỗi cố ý trực tiếp, lỗi cố ý gián tiếp

 Lỗi vô ý: lỗi vô ý do quá tự tin, lỗi vô ý do cẩu thả Động cơ phạm tội là cái thôi thúc tội phạm thực hiện hành vi phạm tội để đạt được mục đích của mình

Khách thể của tội phạm là những quan hệ xã hội được luật Hình sự bảo vệ (quan

hệ về độc lập, về chủ quyền, trật tự, an toàn xã hội, quyền con người )

Trang 4

Chủ thể của tội phạm là con người đã thực hiện hành vi nguy hiểm vho xã hội được luật Hình sự quy định là tội phạm, có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi theo quy định của luật hình sự

- Căn cứ vào điểu 9 BLHS 2015 quy định rõ tội phạm được phân thành 4 loại

Ít nghiêm trọng

 Mức độ nguy hiểm k quá lớn

 Mức hình phạt cao nhất: phạt tiền; phạt cải tạo không giam giữ; phạt

tù đếm 03 năm Nghiêm trọng

 Mức độ nguy hiểm lớn

 Khung hình phạt cao nhất là từ 03 năm đến 07 năm tù giam Rất nghiêm trọng

 Mức nguy hiểm rất lớn

 Khung hình phạt cao nhất là từ 07 năm đến 15 năm tù giam Đặc biệt nghiêm trọng

 Mức nguy hiểm đặc biệt lớn

 Khung hình phạt cao nhất là trên 15 năm tù giam; chung thân; tử hình

- Phân loại cấu thành tội phạm

Theo mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội

 Cấu thành tội phạm cơ bản

 Cấu thành tội phạm tăng nặng

 Cấu thành tội phạm giảm nhẹ Theo đặc điểm cấu trúc cùa cấu thành tội phạm

 Cấu thành tội phạm vật chất

 Cấu thành tội phạm hình thức Cấu thành tội phạm cắt xén

b)

- Xác định được hai tội là tội giết người và tội cố ý gây thương tích do vượt quá giới hạn của phòng vệ chính đáng

Có 4 yếu tố

 Chủ thể của tội phạm là anh Hồ Văn T

 Khách thể của tội phạm là sức khỏe của anh Trần T1

 Mặt khách quan của tội phạm là con dao hung khí, hành động xiên người

 Mặt chủ quan là mục đích đâm để phòng vệ, mong muốn đâm cảnh cáo

để Trần T1 dừng tấn công

- Tội phạm trong vụ án là lại tội phạm rất nghiêm trọng

- Cấu thành tội phạm vật chất vì hai tội này hậu quả là yếu tố bắt buộc, là điều kiện quan trọng để xác định tội phạm

Trang 5

Câu 3:

a) Các giai đoạn thực hiện tội phạm

*Khái niệm:

Các giai đoạn thực hiện tội phạm là các bước trong quá trình cố ý thực hiện tội phạm Được phân biệt với nhau bởi các dấu hiệu, biển hiệu nhằm đánh giá sự diễn biến mức

độ thực hiện ý định phạm tội, làm cơ sở cho việc xác định phạm vi và mức độ trách nhiệm hình sự và hình phạt

*Phân loại:

Quá trình thực hiện tội phạm (lỗi cố ý) có ba giai đoạn:

+ Giai đoạn chuẩn bị phạm tội

+ Giai đoạn phạm tội chưa đạt +Giai

đoạn tội phạm đã hoàn thành

Các giai đoạn phạm tội chỉ diễn ra trong các tội được thực hiện bằng lỗi cố ý trực tiếp Đối với tội vô ý, người phạm tội không có ý định phạm tội, không mong muốn hậu quả xảy ra cho nên tội vô ý chỉ có thể là những tội đã hoàn thành, không có giai đoạn chuẩn bị phạm tội hay phạm tội chưa đạt

Cụ thể các giai đoạn phạm tội như sau:

Nội dung Chuẩn bị phạm Phạm tội chưa Tội phạm hoàn Tự ý nửa

dứt hành vi phạm tội Khái niệm Giai đoạn người Giai đoạn mà Giai đoạn hành Tự ý nửa

phạm tội tiến người phạm tội vi phạm tội làm chừng chấm hành tìm kiếm có thực hiện thỏa mãn tất cả dứt việc phạm công cụ phạm hành vi phạm các dấu hiệu tội là tự mình tội; sửa soạn tội, nhưng được nêu trong không thực công cụ, không thực hiện cấu thành tội hiện tội phạm phương tiện được đến cùng phạm quy định đến cùng, tuy phạm tội hoặc do những cản trong luật không có gì

điều kiện thuận lợi cho tội phạm quan sát địa điểm, điều kiện liên quan xung quanh hoàn cảnh của nạn nhân

Đặc điểm Thứ nhất, CBPT -Thứ nhất, Cần phân biệt -Nửa chừng:

tồn tại dưới người phạm tội Tội phạm hoàn tức phải xảy ra dạng “hành vi” đã trực tiếp thực thành với Tội ở giai đoạn

và hành vi hiện tội phạm phạm kết thúc: chuẩn bị phạm

Trang 6

chuẩn bị liên

quan trực tiếp

đến quá trình

thực hiện tội

phạm như: tìm

kiếm công cụ,

phương tiện

phạm tội; tạo

điều kiện cần

thiết khác

(nghiên cứu,

xem xét địa

hình nơi dự định

thực hiện tội

phạm, ),

-Thứ hai, ý định

phạm tội đã

được biểu hiện

ra bên ngoài

Thời điểm

muộn nhất của

giai đoạn CBPT

là thời điểm

trước lúc người

phạm tội thực

hiện hành vi

khách quan

được quy định

trong cấu thành

tội phạm (là

những dấu hiệu

chung cho loại

tội phạm cụ thể

được quy định

trong luật) hoặc

hành vi đi liền

trước hành vi

khách quan

+Thứ ba,

nguyên nhan

qua việc:

(i)Thực hiện hành vi khách quan được mô

tả trong cấu thành tội phạm, hoặc

(ii) Thực hiện hành vi đi liền trước hành vi khách quan

-Thứ hai, người phạm tội chưa thực hiện tội phạm đến cùng (tức chưa hành

vi của họ chưa thỏa mãn hết các dấu hiệu về mặt khách quan trong cấu thành tội phạm (dấu hiệu phân biệt với tội phạm hoàn thành)

-Thứ ba, nguyên nhân không thực hiện tội phạm đến cùng

là do:

+Khách quan ngoài ý muốn hoặc

+Sai lầm của người phạm tội (về đối tượng

+ Tội phạm hoàn thành:

hành vi phạm tội thỏa mãn hết các dấu hiệu về mặt pháp lý quy định trong luật

+ Tội phạm kết thúc: hành vi phạm tội thực

sự chấm dứt trên thực tế

->Hai thời điểm trên có thể trùng nhau hoặc không trùng nhau

tội hoặc phạm tội chưa đạt -Tự ý, tức phải:

+Tự nguyện chấm dứt hành

vi phạm tội

+Chấm dứt một cách dứt khoát: triệt để, từ bỏ hẳn

ý định phạm tội.

Trang 7

không thực hiện tác động hay tội phạm được công cụ, đến cùng là do phương tiện,…) khách quan như: bắn nhưng ngoài ý muốn đạn không nổ, (yếu tố giúp thuốc độc không phân biệt với tự đủ liều lượng,…

ý nửa chừng chấm dứt phạm tội)

Phạm vi trách Chỉ phải chịu Người phạm tội Mọi hành vi tội

nhiệm hình sự TNHS đối với chưa đạt phải phạm hoàn Được miễn

những tội quy chịu trách thành về nguyên trách nhiệm định tại khoản 2 nhiệm hình sự tắc đều phải hình sự về tội ĐIều 14 BLHS về tội phạm chịu TNHS định phạm

15)

Lưu ý: chỉ là người phạm tội được miễn TNHS, tức vẫn

bị coi là tội phạm

Mức độ trách Hình phạt được Nếu điều luật Áp dụng theo

nhiệm hình sự quyết định trong được áp dụng có quy định tại

phạm vi khung quy định hình từng điều luật hình phạt được phạt cao nhất là của tội phạm cụ quy định trong tù chung thân thể

các điều luật cụ hoặc tử hình thì thể (Khoản 2 áp dụng hình ĐIều 57) phạt tù không

quá 20 năm; nếu

là tù có thời hạn thì mức hình phạt không quá

ba phần tư mức phạt tù mà điều luật quy định

(khoản 3 ĐIều 57)

Trang 8

b) Trong vụ án trên tội phạm thực hiện ở giai đoạn tội phạm đã hoàn thành vì:

Tội phạm hoàn thành là trường hợp hành vi tội phạm tội đã thỏa mãn tất cả dấu hiệu được mô tả trong cấu thành tội phạm thời điểm tội phạm hoàn thành không phụ thuộc vào việc người phạm tội đã đạt được mục đích của mình hay chưa Việc Hồ Văn T cầm giao đâm chết anh Nguyễn Trường Sơn đã đủ điều kiện để cấu thành tội phạm của tội giết người

a) Theo khoản 1, điều 22 BLHS 2015:

“ Phòng vệ chính đáng là hành vi của người vì bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác, mà chống trả lại một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên

Phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm.”

- Cơ sở phát sinh quyền phòng vệ: Hành vi tấn công xâm hại lợi ích hợp pháp – cơ sở làm phát sinh quyền Phòng vệ chính đáng: lợi ích hợp pháp là những quyền của Nhà nước, tổ chức và công dân được pháp luật quy định như quyền về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm…những hành vi chống trả để bảo vệ lợi ích bất hợp pháp không được coi là phòng vệ chính đáng

Hành vi tấn công phải có thật và đang diễn ra chứ không phải do suy đoán tưởng

tượng

Phòng vệ chính đáng phải gây ra thiệt hại cho chính người đang có hành vi tấn công:

vì có như vậy nguồn gốc làm phát sinh hành vi tấn công xâm phạm lợi ích hợp pháp mới

bị loại trừ tận gốc Hành vi của người phòng vệ chỉ được chống trả gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe cho người có hành vi tấn công

– Giữa hành vi phòng vệ và hành vi tấn công phải có sự tương xứng Sự tương

xứng không có nghĩa là sự ngang bằng theo nghĩa cơ học, người tấn công sử dụng

công cụ phương tiện gì thì người phòng vệ c

ũng sử dụng công cụ phương tiện đó hoặc hành vi tấn công gây thiệt hại đến mức nào thì người phòng vệ cũng được gây thiệt hại đến mức độ đó Sự tương xứng ở đây được hiểu

là sự tương xứng về tính chất và mức độ được xác định dựa vào các yếu tố chủ quan và khách quan

-Trách nhiệm hình sự khi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng:

+) Vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng là: hành vi chống trả rõ ràng quá mức cần thiết, không phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi xâm hại Người có hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng phải chịu trách nhiệm hình sự.”

+) Trách nhiệm hình sự vè vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng: được quy định tại điều 106 BLHS về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại đến sức khoẻ của người khác Quan điểm của toà án cấp sơ thẩm về xác định bị cáo phạm tội “cố ý gây thương tích do vượt quá giới hạn về phòng vệ chính đáng” là đúng vì theo khoản 1 điều 106 BLHS năm 1999: “ người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại đến sức khoẻ của người khác mà

tỉ lệ thương tật từ 31% trở lên hoặc dẫn đến chết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng, thị bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 1 năm” Mà nạn nhân được xác định thương tật 83%

Trang 9

Câu 5:

a) Các căn cứ để quyết định hình phạt :

Theo quy định tại Điều 50 BLHS, các căn cứ quyết định hình phạt bao gồm:

- Các quy định của BLHS

- Tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội

- Nhân thân người phạm tội

- Các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng TNHS

Ngoài các trường hợp quyết định hình phạt thông thường, có một số trường hợp quyết định hình phạt đặc biệt mà Hội đồng xét xử ngoài các căn cứ tại Điều 50 BLHS, còn phải dựa vào một số quy định khác

b) Phân tích căn cứ quyết định hình phạt của Tòa án cấp sơ thẩm:

Trước tiên, tòa căn cứ vào hành vi dùng dao đâm người khác của anh T đã gây

nguy hiểm cho xã hội, mà theo như miêu tả cấu thành tội phạm tại điều 51 và điều 123 LHS 2015 thì anh T đã thực hiện tội phạm

Việc anh S bị T đâm và chết cho thấy hành vi giết người của anh T đã ở giai đoạn hoàn thành =>Do đó theo điều 123 BLHS thì anh T đã phạm tội giết người

Còn về phía anh T và T1 thì anh T đã đâm anh T1 một nhát vào bụng gây thương tích thiệt hại sức khỏe lên đến 83%

Căn cứ theo điều 134 BLHS 2015 thì anh T đã phạm tội “ cố ý gây thương

tích” Tuy nhiên trước đó

Anh T1 đã có hành vi tấn công anh T trước và khi rút dao ra anh T cũng đã có lời

đe dọa "tụi bay mà đánh tau nữa tau đâm đó"

Do vậy hành động sử dụng dao lúc đó có thể được xem là phòng vệ chính đáng theo điều 22 BLHS 2015

Nhưng khi T1 xông vào định đánh thì anh T đã đâm 1 nhát vào vùng bụng

Mà theo kết quả của giám định thì vị trí của vết đâm là vị trí hiểm và tổn hại lên đến 83%

Do đó anh T đã vượt quá phòng vệ chính đáng theo điều 22 BLHS 2015

Còn hình phạt của anh T thì được Tòa áp dụng theo điều 55 LHS 2015

Về tội danh Giết người anh T phải chịu phạt 11 năm

Tội cố ý gây thương tích do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng chịu phạt 6 tháng tù

Nên tổng hình phạt anh T phải chịu là 11 năm 6 tháng

c) Không thể áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ: “Phạm tội trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng” quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 51 BLHS 2015 Bởi vì, hành

vi của bị cáo được căn cứ để làm tình tiết định tội cho tội “cố ý gây thương tích do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng” cho nên theo khoản 3 Điều 51 thì không thể áp dụng tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo được

d) Có thể sửa quyết định hình phạt của Tòa án cấp sơ thẩm đối với tội “Giết người” theo hướng tăng nặng hình phạt do có tình tiết tăng nặng “có tính chất côn đồ” được Bởi vì, nạn nhân ở đây là anh Nguyễn Trường S trước đó không hề có mâu thuẫn hay xích mích với bị cáo Hồ Văn T, khi thấy có tiếng ồn ào ở ngoài anh S đã chạy ra với mục đích là

Trang 10

muốn can ngăn nhưng đã bị bị cáo Hồ Văn T đâm một phát ngay lưng, hành vi đó cho thấy

sự hung hãn, coi thường người khác của bị cáo Hồ Văn T

Nếu áp dụng thêm tình tiết tăng nặng “có tính chất côn đồ” thì hình phạt của bị cáo Hồ Văn T sẽ được áp dụng theo khoản 1 Điều 123 BLHS, phạt tù từ 12 đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình

e) Giả sự bị cáo Hồ Văn T là người 17 tuổi, căn cứ vào quyết định hình phạt của Tòa án cấp sơ thẩm, căn cứ vào khoản 1 Điều 101 BLHS thì hình phạt dành cho bị cáo sẽ là 12 năm 1 tháng

Ngày đăng: 28/07/2020, 14:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w