tắc: Luật hình sự chỉ có hiệu lực để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi được thực hiện sau khi luật được ban hành và có hiệu lực thi hành - Nguyên tắc chung được hiểu với hai n
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
KHOA LUẬT
BÀI TẬP NHÓM HỌC PHẦN : LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1
THÀNH VIÊN NHÓM:
1 VŨ LÊ NGỌC DIỆP – LKTK24A1- MSV: 19A51010032
2 NGUYỄN VŨ ĐỨC DUY – LKTK24A1- MSV: 19A51010135
3 NGUYỄN KHÁNH ĐẠT – LKTK24A1- MSV: 19A51010176
4 ĐOÀN THANH HÀ- LKTK24A1- MSV: 19A51010094
5 ĐỖ TRUNG ĐỨC – LKTK24A1- MSV: 19A51010010
6 ĐẶNG HUYỀN TRANG – LKTK24A1- MSV: 19A51010240
7 NGUYỄN ĐĂNG DŨNG- LKTK24B1- MSV: 19A51010068
8 NGUYỄN THANH HÀ – LKTK24A2- MSV: 19A51010212
9 HOÀNG NGỌC HẠT – LKTK24A2- MSV: 19A51010024
BÀI LÀM
Câu 1:
a, Trình bày hiệu lực của BLHS Việt Nam theo thời gian
b, Thời điểm xảy ra vụ án là ngày 7/11/2016, theo anh/chị việc áp dụng BLHS năm 1999
và năm 2015 trong cùng 1 vụ án khi quyết định hình phạt của Tòa án cấp sơ thẩm có phù hợp không? vì sao?
TRẢ LỜI
Ý 1
- Nguyên tắc pháp chế được chấp nhận đó chính là nguyen tắc “Không có tội khi không
có luật” vậy nên hiệu lực về thời gian của của luạt hình sự được xác định theo nguyên
Trang 2tắc: Luật hình sự chỉ có hiệu lực để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi được thực hiện sau khi luật được ban hành và có hiệu lực thi hành
- Nguyên tắc chung được hiểu với hai nội dung như sau:
1, Nếu việc áp dụng luật mà không có lợi cho chủ thể bị áp dụng thì luật hình sự không
có hiệu lực trở về trước.Được quy định rõ hơn trong các trường hợp sau:
+ Xác định có tội hoặc xác định tội nặng hơn
+ Xác định trách nhiệm hình sự nặng hơn
+ Quy định nội dung khác không có lợi cho chủ thể bị áp dụng luật
2, Nếu việc áp dụng luật mà có lợi cho chủ thể bị áp dụng thì luật hình sự có hiệu lực trở
về trước có 2 điều cần chú ý:
- a, Quy định trách nhiệm pháp lí mới đối với hành vi mà vào thời điểm thực hiện hành vi
đó pháp luật không quy định trách nhiệm pháp lí
b, Quy định trách nhiệm pháp lí nặng hơn”
- Khi nói không có hay có hiệu lực trở về trước thì có thể là đối với toàn bộ các quy định hoặc chỉ đối với một hoặc một số quy định của luật hình sự.Điều này phụ thuộc vào nội dung của quy định cũng như vào thời điểm có hiệu lực thi hành của quy định trong trường hợp được bổ sung,sửa đổi
+ Trong trường hợp giữa thời điểm bắt đầu thực hiện tội phạm với thời điểm tội phạm kết thúc là khoảng thời gian dài và luật hình sự có hiệu lực thi hành trong khoảng thời gian
đó thì vấn đề hiệu lực theo thời gian được giải quyết như sau: Thời điểm thực hiện tội phạm được tính là thời điểm bắt đầu thực hiện tội phạm vì như vậy mới đảm bảo được nguyen tắc “có lợi cho người phạm tội”
- Và được áp dụng trong những trường hợp sau:
+ Điều luật xóa bỏ một tội phạm, một hình phạt, một tình tiết tăng nặng
+ Quy định một hình phạt nhẹ hơn, một tình tiết giảm nhẹ mới
+ Mở rộng phạm vi áp dụng án treo, miễn trách nhiệm hình sự, loại trừ trách nhiệm Câu 2:
a Trình bày các vấn đề khái niệm tội phạm, các yếu tố của tội phạm, phân loại tội phạm và cấu thành tội phạm
b Chỉ rõ tội phạm, các yếu tố của tội phạm trong vụ án trên Tội phạm trong vụ án trên là tội phạm gì, có cấu thành tội phạm loại gì, vì sao?
Trang 3TRẢ LỜI a.*Khái niệm tội phạm: Được quy định tại Điều 8 của Bộ luật Hình sự
Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hoá, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa
Những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể thì không phải là tội phạm và được xử lý bằng các biện pháp khác
*Cấu thành của tội phạm:
Cấu thành tội phạm cơ bản bao gồm 04 yếu tố sau: mặt khách quan, mặt chủ quan, chủ thể, khách thể
1 Mặt khách quan của tội phạm:
Mặt khách quan của tội phạm là những biểu hiện của tội phạm diễn ra hoặc tồn tại bên ngoài thế giới khách quan Những dấu hiệu thuộc về khách quan của tội phạm gồm những hành vi nguy hiểm cho xã hội: tính trái pháp luật của hành vi; hậu quả nguy hiểm cho xã hội; mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả của tội phạm; ngoài
ra còn có các dâu hiệu khác nhau như: phương tiện, công cụ, phương pháp thủ đoạn, thời gian, địa điểm, thực hiện tội phạm
2 Mặt chủ quan của tội phạm:
Mặt chủ quan của tội phạm là những diễn biến tâm lý bên trong của tội phạm bao gồm: lỗi, mục đích, và động cơ phạm tội Bất cứ tội phạm cụ thể nào cũng đều phải được thực hiện bởi hành vi có lỗi Theo quy định của pháp luật, có hai loại lỗi: lỗi cố
ý và lỗi vô ý phạm tội
Cố ý phạm tội là tội phạm được thực hiện một trong các trường hợp sau: (1) Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra (lỗi cố ý trực tiếp); (2) Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành
Trang 4vi đó có thể xảy ra, tuy không mong muốn nhưng vẫn có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra (lỗi có ý gián tiếp)
Vô ý phạm tội là phạm tội một trong các trường hợp sau: (1) Người phạm tội tuy thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được (vô ý do quá tự tin); (2) Người phạm tội không thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội, mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả đó (vô ý do cẩu thả)
Động cơ phạm tội là cái thôi thúc tội phạm thực hiện hành vi phạm tội để đạt được mục đích của mình
3 Khách thể của tội phạm:
Khách thể của tội phạm là quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ và bị tội phạm xâm hại Theo hệ thống pháp luật hình sự Việt Nam những quan hệ đó là: quan hệ về độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, chế độ chính trị, nền văn hoá, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, quyền con người các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa
4 Chủ thể của tội phạm:
Chủ thể của tội phạm là con người cụ thể đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được luật hình sự quy định là tội phạm, có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi theo quy định của luật hình sự
Trong đó, năng lực trách nhiệm hình sự là khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của người phạm tội Tuổi chịu trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 12 Bội luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 Theo đó, người từ đủ 16 tuổi trở lên chịu trách nhiệm hình sự với mọi loại tội phạm trừ những tội phạm Bộ luật Hình sự có quy định khác; người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều 123, 134, 141, 142, 143, 144, 150, 151, 168, 169, 170, 171, 173, 178, 248, 249,
250, 251, 252, 265, 266, 286, 287, 289, 290, 299, 303 và 304 của Bộ luật Hình sự Như vậy, một hành vi được coi là tội phạm phải thỏa mãn đầy đủ 4 yếu tố trên Khi đã được coi là tội phạm thì phải chịu trách nhiệm hình sự cho hành vi của mình theo quy định của pháp luật
Trang 5*Phân loại tội phạm:
Bộ luật Hình sự căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà phân tội phạm thành 04 loại sau: tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng
1 Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội không lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội
ấy là phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến 03 năm
2 Tội phạm nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 03 năm tù đến 07 năm tù
3 Tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội rất lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội
ấy là từ trên 07 năm tù đến 15 năm tù
4 Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho
xã hội đặc biệt lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 15 năm tù đến 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình
*Yếu tố cấu thành tội phạm:
Cấu thành tội phạm là tổng hợp các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của một tội phạm cụ thể Các dấu hiệu đấy phải phản ánh đúng bản chất của tội phạm cụ thể, phải có tác dụng phân biệt tội phạm này với tội phạm khác
+ Cấu thành tội phạm phải có những dấu hiệu bắt buộc Dấu hiệu bắt buộc gồm dấu hiệu bắt buộc chung của tất cả mọi cấu thành và dáu hiệu bắt buộc riêng của từng cấu thành tội phạm cụ thể Dấu hiệu bắt buộc chung gồm hành vi, lỗi , năng lực trách nhiệm hình sự, độ tuổi Dấu hiệu bắt buộc riêng bao gồm những dấu hiệu phản ánh bản chất riêng biệt của tội phạm cụ thể như lợi dụng chức vu, quyền hạn,dấu hiệu làm nghề nhất định như kinh doanh trái phép,dấu hiệu địa điểm qua biên giới
+Các dấu hiệu trong cấu tội phạm phải được Luật Hình sự quy định trong điều luật cụ thể nói lên đặc điểm riêng biệt của tôi phạm dùng để định tội cũng như để phân biệt tội phạm này với tội phạm khác
b,
- Bị cáo Hồ Văn T trong vụ án trên đã phạm hai tội danh sau:
Trang 6+ Giết người
+ Cố ý gây thương tích do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng
- Các yếu tố của tội phạm trong vụ án trên:
+ Chủ thể của tội phạm : anh Hồ Văn T
+ Khách thể của tội phạm : xâm phạm đến tính mạng , sức khỏe của người khác
+ Mặt khách quan của tội phạm : anh Hồ Văn T đâm một nhát vào lưng và một nhát vào ngực anh S
+ Mặt chủ quan của tội phạm : anh Hồ Văn T đã tự bảo vệ bản thân và đề phòng anh Nguyễn Thành T2 Đây là lỗi cố ý gián tiếp
- Tội phạm trong vụ án trên là tội phạm: Rất nghiêm trọng vì bị cáo phải chịu hình phạt theo khoản 2 điều 123 BLHS 2015 thì mức cao nhất của khung hình phạt là 15 năm
- Cấu thành tội phạm loại: cơ bản
Câu 3:
a, Trình bày các giai đoạn thực hiện tội phạm
b, Trong vụ án trên tội phạm thực hiện ở giai đoạn nào, vì sao?
TRẢ LỜI
a) Các giai đoạn thực hiện tội phạm
Các giai đoạn thực hiện tội phạm là các bước trong quá trình cố ý thực hiện tội phạm Được phân biệt với nhau bởi các dấu hiệu, biển hiệu nhằm đánh giá sự diễn biến mức độ thực hiện ý định phạm tội, làm cơ sở cho việc xác định phạm vi và mức độ trách nhiệm hình sự và hình phạt
Quá trình thực hiện tội phạm trải qua 3 giai đoạn phạm tội
Giai đoạn chuẩn bị phạm tội
Giai đoạn phạm tội chưa đạt
Giai đoạn tội phạm hoàn thành
Các giai đoạn phạm tội chỉ diễn ra trong các tội được thực hiện bằng lỗi cố ý trực tiếp Đối với tội vô ý, người phạm tội không có ý định phạm tội, không mong muốn hậu quả xảy ra cho nên tội vô ý chỉ có thể là những tội đã hoàn thành, không có giai đoạn chuẩn
bị phạm tội hay phạm tội chưa đạt
Nội Chuẩn bị phạm tội Phạm tội chưa đạt Tội phạm hoàn Tự ý nửa
Trang 7dứt việc phạm tội
tìm kiếm công cụ vi phạm tội làm dứt việc phạm phạm tội; sửa soạn Giai đoạn mà người thỏa mãn tất cả tội là tự mình công cụ, phương tiện phạm tội có thực các dấu hiệu không thực
Khái phạm tội hoặc chuẩn hiện hành vi phạm tội, được nêu hiện tội phạm
niệm bị những điều kiện nhưng không thực trong cấu đến cùng, tuy
thuận lợi cho tội hiện được đến cùng thành tội phạm không có gì phạm quan sát địa do những cản trở quy định trong ngăn cản
điểm, điều kiện liên khách quan luật
quan xung quanh
hoàn cảnh của nạn
nhân
Đặc -Thứ nhất, CBPT tồn -Thứ nhất, người Cần phân biệt -Nửa chừng:
điểm tại dưới dạng “hành phạm tội đã trực tiếp Tội phạm hoàn tức phải xảy ra
vi” và hành vi chuẩn thực hiện tội phạm thành cới Tội ở giai đoạn
bị liên quan trực tiếp qua việc: phạm kết thúc: chuẩn bị phạm đến quá trình thực (i)Thực hiện hành vi + Tội phạm tội hoặc phạm hiện tội phạm như: khách quan được mô hoàn thành: tội chưa đạt tìm kiến công cụ, tả trong cấu thành tội hành vi phạm tội -Tự ý, tức phương tiện phạm phạm, hoặc thỏa mãn hết các phải:
tội; tạo điều kiện cần (ii) Thực hiện hành vi dấu hiệu về mặt +Tự
thiết khác (nghiên đi liền trước hành vi pháp lý quy định nguyện chấm cứu, xem xét địa hình khách quan. trong luật dứt hành vi nơi dự định thực hiện -Thứ hai, người phạm + Tội phạm kết phạm tội.
tội phạm, ),
thúc: hành vi +Chấm dứt -Thứ hai, ý định tội chưa thực hiện tội
phạm tội thực sự một cách dứt phạm tội đã được phạm đến cùng (tức
chấm dứt trên khoát: triệt để, biểu hiện ra bên chưa hành vi của họ
thực tế từ bỏ hẳn ý ngoài Thời chưa thỏa mãn hết các
định phạm tội điểm muộn nhất của dấu hiệu về mặt khách ->Hai thời điểm
giai đoạn CBPT là quan trong cấu thành trên có thể trùng
thời điểm trước lúc tội phạm (dấu hiệu nhau hoặc không
người phạm tội thực phân biệt với tội phạm trùng nhau
hiện hành vi khách hoàn thành)
quan được quy định -Thứ ba, nguyên nhân
trong cấu thành tội không thực hiện tội
phạm (là những dấu phạm đến cùng là do:
hiệu chung cho loại +Khách quan ngoài ý
tội phạm cụ thể được
Trang 8quy định trong luật) muốn hoặc
hoặc hành vi đi liền +Sai lầm của người
trước hành vi khách phạm tội (về đối
+Thứ ba, nguyên công cụ, phương
nhan không thực hiện tiện,…) như: bắn
tội phạm được đến nhưng đạn không nổ,
cùng là do khách thuốc độc không đủ
quan ngoài ý muốn liều lượng,…
(yếu tố giúp phân
biệt với tự ý nửa
chừng chấm dứt
phạm tội)
Được miễn trách nhiệm hình sự về tội
Phạm Chỉ phải chịu TNHS Người phạm tội chưa Mọi hành vi tội định phạm
đạt phải chịu trách phạm hoàn (ĐIều 16)
vi trách đối với những tội quy nhiệm hình sự về tội thành về nguyên Lưu ý: chỉ là nhiệm định tại khoản 2 ĐIều phạm chưa đạt(Điều tắc đều phải chịu người phạm
hình sự 14 BLHS 2015 15) TNHS tội được miễn
TNHS, tức vẫn
bị coi là tội phạm
Nếu điều luật được áp dụng có quy định hình phạt cao nhất là tù
Mức độ Hình phạt được quyết chung thân hoặc tử Áp dụng theo
định trong phạm vi hình thì áp dụng hình quy định tại
trách khung hình phạt phạt tù không quá 20
từng điều luật
nhiệm được quy định trong năm; nếu là tù có thời của tội phạm cụ
hình sự các điều luật cụ thể hạn thì mức hình phạt
thể (Khoản 2 ĐIều 57) không quá ba phần tư
mức phạt tù mà điều luật quy định (khoản
3 Điều 57) b) Giai đoạn tội cố ý gây thương tích : Tội phạm đã hoàn thành
Giai đoạn tội giết người: Tội phạm đã hoàn thành
Trang 9Câu 4:
a Thế nào là phòng vệ chính đáng? Trình bày cơ sở phát sinh quyền phòng vệ và trách nhiệm hình sự khi vượt quá phòng vệ chính đáng?
b Theo bản án, Tòa án cấp sơ thẩm xác định bị cáo phạm tội “cố ý gây thương tích
do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng” theo quy định tại Khoản 1 Điều 106 BLHS 1999 Anh/chị cho quan điểm về việc xác định vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng của Tòa án cấp sơ thẩm
TRẢ LỜI
a *Phòng vệ chính đáng là: Hành vi của một người vì bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình hoặc của người khác mà chống trả lại một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên Phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm (Điều 22 Bộ luật Hình sự)
* Cơ sở phát sinh quyền phòng vệ và trách nhiệm hình sự khi vượt quá phòng vệ chính đáng: Bộ luật hình sự năm 2015 quy định về phòng vệ chính đáng như sau:
Điều 22 Phòng vệ chính đáng
1 Phòng vệ chính đáng là hành vi của người vì bảo vệ quyền hoặc lợi ích chính đáng của mình, của người khác hoặc lợi ích của Nhà nước, của cơ quan, tổ chức mà chống trả lại một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên Phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm
2 Vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng là hành vi chống trả rõ ràng quá mức cần thiết, không phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi xâm hại Người có hành vi vượt quá giới phòng vệ chính đáng phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật này
Cơ sở phát sinh quyền phòng vệ chính đáng:
Phòng vệ chính đáng được hiểu là hành vi của người vì bảo vệ quyền hoặc lợi ích chính đáng của mình, của người khác hoặc lợi ích của Nhà nước, của cơ quan, tổ chức mà chống trả lại một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên Với quy định trên ta thấy, phòng vệ chính đáng được phát sinh trên cơ sở là khi có hành
vi đang xâm phạm hoặc đe dọa xâm phạm ngay tức khắc đến lợi ích chính đáng của mình, của người khác hoặc lợi ích của Nhà nước, của cơ quan, tổ chức Một lưu ý là phòng vệ chính đáng phải được thực hiện khi hành vi xâm phạm đang xảy ra hoặc đe dọa xảy ra Do đó ta cũng có thể hiểu rằng phòng vệ quá sớm hoặc phòng vệ quá muộn cũng không được xác định là phòng vệ chính đáng
Trang 10Nội dung của quyền phòng vệ chính đáng là người phòng vệ phải có hành vi tấn công tương xứng và gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe của người có hành vi xâm phạm Nếu như người phòng vệ chính đáng mà gây thiệt hại khác cho người có hành vi xâm phạm như: tài sản… thì cũng không được xác định là phòng vệ chính đáng
Để xác định đến tính tương xứng của việc phòng vệ chính đáng với hành vi tấn công, chúng ta phải căn cứ vào điều kiện, hoàn cảnh phạm tội, tính mãnh liệt của hành vi tấn công, công cụ, phương tiện phạm tội…
Trách nhiệm hình sự của người có hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng được quy định tại Điều 106 Bộ luật Hình sự về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng như sau:
1 Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% trở lên hoặc dẫn đến chết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến một năm
2 Phạm tội đối với nhiều người thì bị phạt tù từ một năm đến ba năm
Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng phải có đầy đủ bốn dấu hiệu cơ bản sau:
Thứ nhất, hành vi của nạn nhân là hành vi phạm tội hoặc là hành vi nguy hiểm cho xã hội và trực tiếp xâm hại đến lợi ích của Nhà nước, của xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân
Thứ hai, hành vi xâm hại của nạn nhân phải đang diễn ra, đã bắt đầu nhưng chưa kết thúc
Thứ ba, hậu quả xảy ra là nạn nhân bị thương tật từ 31% trở lên hoặc dẫn đến chết người
Thứ tư, hành vi phòng vệ của người phạm tội phải là quá mức, không tương xứng với hành vi xâm hại của nạn nhân Để đánh giá mức độ tương xứng của hành vi này cần dựa vào các tình tiết như tính chất quan trọng của lợi ích bị xâm phạm; tính chất, mức độ nguy hiểm và cường độ của hành vi xâm hại và hành vi chống trả; sự tương quan sức lực giữa bên xâm hại và bên chống trả Hành vi chống trả được coi là quá mức cần thiết khi so với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi xâm hại chưa cần thiết phải dùng các phương tiện và phương pháp đó để chống trả nhưng người chống trả vẫn sử dụng dẫn đến gây tổn hại sức khỏe hoặc tính mạng cho người có hành vi xâm hại