Mục đích của việc nghiên cứu này là kiểm nghiệm lại những kiến thức đã học về chất độn sử dụng trong ngành giấy, đặc biệt là chất độn CaCO3, thông qua những ảnh hưởng của nó đến các đặc tính của giấy. Ở đây áp dụng cho giấy in, một trong những loại giấy phổ biến sử dụng chất độn. Vì vậy những thí nghiệm sẽ được tiến hành với mức sử dụng chất độn CaCO3 dựa trên mức dùng tại công ty giấy Tân Mai nhưng sẽ được thí nghiệm với nhiều mức dùng khác nhau, để từ đó ta sẽ rút ra được những kết luận về cách sử dụng chất độn CaCO3 như thế nào cho hợp lý, loại giấy nào nên sử dụng nó và mức dùng là bao nhiêu để mang lại hiệu quả tốt nhất. Đồng thời qua đó đánh giá được chất độn tác động như thế nào đến các đặc tính của giấy in.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ẢNH HƯỞNG CỦA CHẤT ĐỘN CaCO3 ĐẾN CÁC ĐẶC TÍNH
CỦA GIẤY IN TẠI CÔNG TY GIẤY TÂN MAI
Họ và tên sinh viên: TRẦN ĐÔNG ÂU Nghành: CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT GIẤY – BỘT GIẤY Niên khóa: 2004 - 2009
Tháng 02/2009
Trang 2ẢNH HƯỞNG CỦA CHẤT ĐỘN CaCO 3 ĐẾN CÁC ĐẶC TÍNH CỦA
GIẤY IN TẠI CÔNG TY GIẤY TÂN MAI
Tác giả
TRẦN ĐÔNG ÂU
Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu cấp bằng kỹ sư
Ngành Công Nghệ Sản Xuất Giấy & Bột Giấy
Giáo viên hướng dẫn:
Th.S VÕ QUỐC LẬP
Tháng 02/2009
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn:
- Toàn thể quý thầy cô trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh đã
tận tình giảng dạy và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập tại nhà trường
- Thầy Võ Quốc Lập người đã tận tình hướng dẫn giúp đỡ tôi hoàn thành luận
văn tốt nghiệp
- Ban giám đốc và toàn thể anh chị cán bộ công nhân viên của Công ty cổ phần
Giấy Tân Mai đã tận tình giúp đỡ tôi trong suốt khoảng thời gian thực tập tại công ty
- Và sau hết, xin dành lời cảm ơn chân thành đến người thân, gia đình là động
lực thúc đẩy cho tôi, để tôi luôn cố gắng và phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ học tập của
Trang 4TÓM TẮT
tính của giấy in tại công ty giấy Tân Mai”
Mục đích của việc nghiên cứu này là kiểm nghiệm lại những kiến thức đã học về
hưởng của nó đến các đặc tính của giấy Ở đây áp dụng cho giấy in, một trong những
loại giấy phổ biến sử dụng chất độn Vì vậy những thí nghiệm sẽ được tiến hành với
được thí nghiệm với nhiều mức dùng khác nhau, để từ đó ta sẽ rút ra được những kết
dụng nó và mức dùng là bao nhiêu để mang lại hiệu quả tốt nhất Đồng thời qua đó
đánh giá được chất độn tác động như thế nào đến các đặc tính của giấy in
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Trang tựa i
LỜI CẢM ƠN ii
TÓM TẮT iii
MỤC LỤC iv
KÝ HIỆU VÀ CÁC CHỮ VIẾT TẮT vii
DANH SÁCH CÁC BẢNG viii
DANH SÁCH CÁC HÌNH iix
CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu của đề tài 2
1.3 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 2
1.4 Giới hạn của đề tài 2
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN 3
2.1 Lịch sử của việc sử dụng chất độn trong nghành giấy 3
2.2 Vài nét tổng quan về chất độn 3
2.2.1 Các loại chất độn thường dùng trong nghành giấy 4
2.2.1.1 Hệ thống hóa các loại chất độn 4
2.2.1.2 Cao lanh (đất sét, cao lanh) 5
2.2.1.3 TiO2 6
2.2.1.4 Talcum 6
2.2.1.5 Chất độn, bột màu tổng hợp và hữu cơ 6
2.2.1.6 CaCO3 (GCC, PCC) .7
2.2.2 Ưu nhược điểm của chất độn 9
2.2.2.1.Ưu điểm 9
2.2.2.2 Nhược điểm 9
2.2.3 Những đặc tính hữu dụng của chất độn trong nghành giấy 10
2.2.3.1 Ảnh hưởng của chất độn đến giấy 10
2.2.3.2 Lý do của việc sử dụng chất độn trong giấy 11
Trang 62.2.3.3 Những loại giấy sử dụng chất độn 11
2.2.3.4 Phương pháp cho chất độn vào giấy 12
2.2.3.5 Liều lượng chất độn cho vào giấy 13
2.2.4 Những yêu cầu về những tính năng đối với chất độn 14
2.2.4.1 Độ trắng cao 14
2.2.4.2 Hệ số khúc xạ ánh sáng cao 15
2.2.4.3 Kích cỡ hạt tối ưu 16
2.2.4.4 Độ rắn thấp và không có tạp chất bẩn 18
2.2.4.5 Không hòa tan trong nước và chậm phản ứng với hóa chất 18
2.2.4.6 Khả năng bảo lưu cực tốt trên băng giấy 19
2.2.4.7 Khối lượng riêng thấp 19
2.2.4.8 Thấm hút mực in tốt 19
2.2.4.9 Tạo ra tờ giấy có bề mặt tốt 19
2.3 Cấu trúc của giấy và sự cần thiết của chất độn 20
2.3.1 Cấu trúc của giấy 20
2.3.1.1 Giới thiệu về cấu trúc của giấy 20
2.3.1.2 Sự tạo thành cấu trúc của tấm giấy 21
2.3.2 Chất độn và khả năng bù trừ khiếm khuyết trong sự bao phủ bề mặt 22
2.3.3 Giới thiệu tổng quan về giấy in 23
CHƯƠNG 3: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGUYÊN CỨU 26
3.1 Nội dung nghiên cứu 26
3.2 Phương pháp nguyên cứu 26
3.2.1 Kiểm tra chất lượng của chất độn CaCO3 26
3.2.2 Xác định độ khô tuyệt đối các loại bột 28
3.2.3 Phối trộn bột 29
3.2.4 Mức dùng các chất phụ gia cho vào trong mẫu 29
3.3.5 Xeo tờ handsheet để kiểm tra các đặc tính của giấy 30
3.3.6 Xác định độ bảo lưu của chất độn CaCO3 trên tờ mẫu handsheet 33
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ - THẢO LUẬN 37
4.1 Ảnh hưởng của chất độn đến tính cơ lý của giấy 37
Trang 74.1.1 Độ bền kéo 38
4.1.2 Độ bền xé 40
4.2 Ảnh hưởng của chất độn đến tính thể tích và bề mặt của giấy 41
4.2.1 Độ xốp của giấy 41
4.2.2 Độ thấm mực của giấy 43
4.3 Ảnh hưởng của chất độn đến tính chất quang học của giấy 44
4.3.1 Độ đục của giấy 45
4.3.2 Độ trắng của giấy 46
4.4 Một số kết luận 47
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 50
5.1 Kết luận 50
5.2 Kiến nghị 51
TÀI LIỆU THAM KHẢO 52
Trang 8KÝ HIỆU VÀ CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Mesh Lổ lưới Nordic Bắc Âu CND Canada Southern Phương nam
Trang 9DANH SÁCH CÁC BẢNG
Trang
Bảng 1.1: Giá bột giấy giao dịch tại các khu vực trên thế giới tháng 05/2008 .2
Bảng 2.1: Liệt kê một vài loại chất độn đang được sử dụng phổ biến hiện nay .5
Bảng 2.2: Thể hiện hệ số tán xạ ánh sáng s và hệ số hấp thụ k của một vài loại bột
và chất độn 11
Bảng 2.3: Thể hiện một vài chỉ số về mức chất độn cho vào những loại giấy
khác nhau 12
Bảng 2.4: Mô tả hệ số phản xạ toàn phần về những chỉ số của những vật liệu
thích hợp 155
Bảng 2.5: Thang đo của Moh về độ cứng tương đối của các khoáng chất 188
Bảng 3.1: Tiêu chuẩn chất lượng CaCO3 288
Bảng 3.2: Mức dùng các chất phụ gia cho vào trong giấy in tại công ty
Giấy Tân Mai 299
Bảng 4.1: Những giá trị tương ứng về định lượng, chiều dài đứt và độ bền kéo
của tờ mẫu handsheet 388
Bảng 4.2: Những giá trị tương ứng về định lượng và độ bền xé của tờ
mẫu handsheet 400
Bảng 4.3: Các giá trị về định lượng, độ dày, độ chặt và độ xốp của các tờ mẫu handsheet 422
Bảng 4.4: Các giá trị về định lượng và độ thấm dầu của các tờ mẫu handsheet 433
Bảng 4.5: Giá trị của các loại bột tương ứng với 6g bột KTĐ và độn sau khi được tính 455
Bảng 4.6: Những giá trị tương ứng về độ đục của các tờ mẫu handsheet 455
Bảng 4.7: Những giá trị tương ứng về độ trắng đo được của các tờ mẫu handsheet 466 Bảng 4.8: Các giá trị về khối lượng mẫu trước khi nung, khối lượng độn, khối lượng bột, khối lượng mẫu sau khi nung và khối lượng tro của các tờ mẫu handsheet .477
Bảng 4.9: Các giá trị về độ bảo lưu của chất độn CaCO3 trên tờ mẫu handsheet 477
Trang 10DANH SÁCH CÁC HÌNH
Trang
Hình 2.1 Chất độn Cao lanh 5
Hình 2.2 Chất độn TiO2 6
Hình 2.3 Chất độn CaCO3 7
Hình 2.4 Hình phóng đại của PCC và GCC 8
Hình 2.5 Các hình dạng phóng đại của chất độn CaCO3 9
Hình 2.6 Hình phóng đại của xơ sợi 20
Hinh 2.7 Hình phóng đại của bề mặt tờ giấy 20
Hình 3.1 Bình hút ẩm 35
Hình 3.2 Cân điện tử 35
Hình 3.3 Rây 300mesh 35
Hình 3.4 Chất độn CaCO3 35
Hình 3.5 Tủ sấy mẫu 35
Hình 3.6 Máy nghiền Hà Lan 35
Hình 3.7 Mấy quậy bột tiêu chuẩn 36
Hình 3.8 Máy đo độ SR 36
Hình 3.9 Máy quậy bột thô 36
Hình 3.10 Máy sấy nhanh 36
Hình 3.11 Các bình đựng mẫu 36
Hình 3.12 Máy ép tờ handsheet 36
Hình 3.13 Máy xeo tờ handsheet 37
Hình 3.14 Ống đong 1 lít 37
Hình 3.15 Các xô đựng mẫu bột 37
Hình 3.16 Mẫu bột CTMP 37
Hình 3.17 Mẫu bột hóa thớ dài 37
Hình 3.18 Mẫu bột hóa thớ ngắn 37
Hình 4.1 Máy đo độ bền kéo điện tử 38
Hình 4.2 Ảnh hưởng của chất độn CaCO3 đến CĐĐ của các tờ mẫu handsheet 39
Trang 11Hình 4.3 Ảnh hưởng của chất độn CaCO3 đến độ bền kéo của các
tờ mẫu handsheet 39
Hình 4.4 Máy đo độ bền xé điện tử 40
Hình 4.5 Ảnh hưởng của chất độn CaCO3 đến độ bền xé của các tờ mẫu handsheet 41
Hình 4.6 Máy đo độ dày điện tử 41
Hình 4.7 Ảnh hưởng của chất độn đến độ chặt và độ xốp của các tờ mẫu handsheet 42
Hình 4.8 Máy đo độ thấm dầu 43
Hình 4.9 Ảnh hưởng của chất độn CaCO3 đến độ thấm dầu của các tờ mẫu handsheet 44
Hình 4.10 Phễu lọc chân không 44
Hình 4.11 Giấy lọc 44
Hình 4.12 Ảnh hưởng của chất độn CaCO3 đến độ đục của các tờ mẫu handsheet 45
Hình 4.13 Ảnh hưởng của chất độn CaCO3 đến độ trắng của các tờ mẫu handsheet 46
Hình 4.14 Tủ sấy cốc 47
Hình 4.15 Cốc và bình hút ẩm 47
Hình 4.16 Khả năng bảo lưu của chất độn CaCO3 trên các tờ mẫu handsheet 48
Trang 12Chương 1
MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề
Sau khi gia nhập tổ chức thương mại (WTO), nền kinh tế nước ta đang đứng
trước những thách thức và cơ hội vô cùng to lớn, chúng ta phải chấp nhận sự cạnh
tranh mạnh mẽ đến từ các quốc gia trên thế giới nhưng đồng thời đó cũng là động lực
thúc đẩy nền kinh tế nước ta đi lên Với một nền công nghiệp vốn lạc hậu của đất nước
ta sẽ gặp vô vàng khó khăn và nghành công nghiệp giấy là một ví dụ điển hình, vì thế
để có thể đứng vững trước những áp lực cao đó, nền công nghiệp nước ta cần phải
từng bước thích nghi và đổi mới Trong đó việc đổi mới công nghệ là một trong những
yếu tố quan trọng nhất, đối với nghành giấy cũng vậy điều mà rất cần thiết và bức xúc
với tình hình hiện nay đó là nghành giấy của chúng ta gần như đóng băng, vì giấy của
chúng ta có giá thành cao hơn mà chất lượng lại còn thấp so với các nước trên thế giới
nên rất nhiều nhà máy đang lâm vào cảnh trì trệ Để khắc phục được điều đó nghành
giấy cần phải cải tiến từng bước nhiều yếu tố công nghệ, một trong những yếu tố công
nghệ được nói đến không thể thiếu ở đây là những chất phụ gia cho vào giấy Và chất
phụ gia được nhắc đến là những loại chất độn, với mục đích khi gia vào trong giấy để
giảm giá thành (vì giá bột giấy thì cao hơn so với giá của chất độn), bên cạnh đó nó
còn giúp cải tiến những đặc tính của giấy như độ trắng, độ đục, độ chặt, khả năng thấm
mực in…
Ngày nay chất độn đã được sử dụng rộng rãi trong ngành giấy vì những đặc tính
ưu việt và lợi ích kinh tế cao của nó mang lại Một điều rất quan trọng là không phải
loại giấy nào cũng cần bổ sung chất độn và đừng vì lợi ích kinh tế cao của nó mà dùng
quá nhiều, nó phải được sử dụng trong một mức giới hạn nào đó, vì khi sử dụng chất
độn không hợp lý và không đúng loại giấy thì gây ra những mặt tiêu cực như làm giảm
đi các đặc tính quan trọng cần có của một loại giấy mà nó còn gây ra sự lãng phí
Chẳng hạn như giấy carton không cần độ trắng mà chỉ cần các độ bền cơ lý cao thì
không cần bổ sung chất độn, còn những loại giấy như cần độ trắng cao như giấy in,
Trang 13giấy viết thì rất cần Vì vậy đề tài này sẽ cho chúng ta một cách nhìn tổng quát về chất
độn, để từ đó tận dụng một cách hiệu quả những ưu điểm mà nó mang lại
1.2 Mục tiêu của đề tài
chất độn bao nhiêu là hợp lý để vừa mang lại chất lượng cao cho giấy và vừa mang lại
hiệu quả kinh tế cao
1.3 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Đối với những loại giấy có sử dụng chất độn thì việc sử dụng nó đúng phương
pháp và đúng liều lượng sẽ mang lại cho giấy những đặc tính nổi trội không những thế
nó còn đem lại hiệu quả kinh tế cao đây là điều quan trọng nhất Hiện tại nghành giấy
trong nước của chúng ta đang gặp rất nhiều khó khăn do giá giấy của chúng ta cao hơn
các nước trên thế giới Do đó để tăng sự cạnh tranh thì phải giảm giá thành, muốn thực
hiện được điều này thì cần có nhiều yếu tố đóng góp tạo nên Trong đó chất độn là một
phần không thể thiếu, vì bột giấy có giá thành cao hơn chất độn nên khi cho nó vào
giấy sẽ làm giảm lượng bột để tạo nên tờ giấy do đó sẽ làm giảm giá thành sản phẩm
Bảng 1.1: Giá bột giấy giao dịch tại các khu vực trên thế giới tháng 05/2008
Tại Châu Âu
920 890
Tại Mỹ
880 840
Tại Trung Quốc - Asia
770 780
(Phòng Thị trường tổng hợp-Nguồn Pulp Watch )
1.4 Giới hạn của đề tài
Vì đề tài được tiến hành thí nghiệm trong 2 tháng nên còn rất nhiều hạn chế
thêm vào đó điều kiện làm tại phòng thí nghiệm còn nhiều thiếu thốn nên có một số
vấn đề của đề tài chưa được thực hiện Một điều đặc biệt nữa là khả năng bảo lưu của
chất độn bảo lưu tốt trên giấy sẽ tạo nên tờ giấy có chất lượng tốt và ngược lại Nên
khi tiến hành thí nghiệm trên tờ handsheet trong phòng thí nghiệm thì khả năng bảo
lưu sẽ không đạt hiệu quả như mong muốn như trong sản xuất thực tế
Trang 14Chương 2
TỔNG QUAN
2.1 Lịch sử của việc sử dụng chất độn trong nghành giấy
Chất độn đã được sử dụng trong ngành giấy cách đây 2000 năm ở Trung Quốc
lý do chính của việc sử dụng chất độn là vì tính kinh tế của nó, chất độn từ khoáng sản
tự nhiên thì rẻ hơn xơ sợi Theo người cổ xưa ở Trung Quốc cho chất độn vào giấy
được xem là một hình thức gian lận và có thể bị truy tố
Thời gian trôi qua, có một điều đã được khám phá là một vài chất độn có thể cải
tiến một số đặc tính hữu dụng của giấy viết và giấy in, nó giúp cải tiến chất lượng
đồng thời đồng thời góp phần giảm giá thành của giấy Hơn thế nữa hiện nay chất độn
đã khẳng định được chức năng quan trọng của nó Thuật ngữ “chất độn” có thể được
gọi để phân biệt, chỉ mục tiêu của nó là lấp đầy các lỗ hỗng trong tờ giấy Như điều
vừa nêu ở trên, thì nó đã được đơn giản hóa Chất độn có thể được xem như một loại
bột màu trắng cho vào trong tờ giấy Sự khác biệt tên gọi giữa “ filler” và “pigment”
trong ngành giấy thì được gọi một cách tùy thích Chất độn là một nguồn nguyên liệu
được sử dụng rộng rãi làm chất phụ gia trong ngành giấy, được đánh giá có một giá trị
và chất lượng rất quan trọng Lượng chất độn tiêu tốn hàng năm trong ngành công
nghiệp giấy là khoảng 10 triệu tấn trên thế giới Chất độn được cho vào giấy thường sẽ
là những khoáng chất mịn, đa số nó được khai thác từ các khoáng sản tự nhiên, tuy
nhiên có vài loại đặc biệt là nhân tạo Nguyên liệu tự nhiên sau đó sẽ đuợc nghiền mịn
theo nhiều cách khác nhau Trong suốt những năm gần đây có một vài loại chất độn
hữu cơ đã được sử dụng trên thị trường, dựa vào nguồn nguyên liệu chính là polymer
Trong nhiều trường hợp thì nguyên liệu nhân tạo đắt hơn nguyên liệu tự nhiên và
thường được gọi là bột màu Không có sự khác biệt rõ ràng giữa những nguyên liệu
được gọi là chất độn và những chất phụ gia cho vào trong giấy
2.2 Vài nét tổng quan về chất độn
Trên toàn thế giới, có hơn 50 triệu tấn chất độn với tổng giá trị xấp xỉ 25 tỷ euro
đã được sử dụng hàng năm trong nhiều ứng dụng của nhiều lĩnh vực chẳng hạn như
Trang 15giấy, chất dẻo, cao su, sơn và keo dán Chất độn là những khoáng chất, vô cơ bột màu
trắng, không tan trong nước, chúng thường là những chất khoáng có sẵn trong tự nhiên
dioxit titan,…Chất độn, được sản xuất bởi hơn 700 công ty trên toàn cầu, là một loại
nguyên liệu thô rất quan trọng và có chứa trong nhiều loại thực phẩm cung cấp cho
nhu cầu hàng ngày của người tiêu dùng
Trước kia, chất độn thường được dùng cho những sản phẩm rẻ tiền Ngày nay,
nó đã được nhận ra là cũng có thể cải tiến những đặc tính kỹ thuật của sản phẩm Theo
như một kết quả, một trong những đặc tính điển hình tối ưu của chất độn là kích thước
hạt nano hoặc khả năng xử lý bề mặt cho sản phẩm đã được ứng dụng
trường đã được sử dụng chủ yếu vào nghành công nghiệp giấy và nghành công nghiệp
chất dẻo
Một xu hướng khác có thể được thấy là có sự chuyển đổi một phần thị trường
chất độn từ Bắc Mỹ và châu Âu sang châu Á, đặc biệt là Trung Quốc và Ấn Độ Có
một vài lý do về sự phát triển này, nhưng có 2 yếu tố chính có thể được nhấn mạnh ở
nhiều nên giá của chất độn thấp Thứ hai, những nghành công nghiệp sản xuất những
sản phẩm giấy, cao su và chất dẻo đã được chuyển đổi từ những nước có nghành công
nghiệp phát triển sang những quốc gia có nguồn nhân công rẻ Nhu cầu chất độn ngày
một tăng không chỉ ở các quốc gia châu Á mà còn ở các nước xuất khẩu như Châu Âu
và Bắc Mỹ Toàn bộ thị trường chất độn thì được kỳ vọng sẽ tăng trưởng với mức
trung bình khoảng 3% trên năm đạt 74 triệu tấn (khoảng 48 tỷ euro) đến năm 2016 bởi
vì tất cả những thị trường quan trọng đều có khuynh hướng tăng trưởng và tỷ lệ phần
trăm chất độn trong các sản phẩm sẽ tăng lên ngày càng lớn mạnh
2.2.1 Các loại chất độn thường dùng trong nghành giấy
2.2.1.1 Hệ thống hóa các loại chất độn
Nhiều loại nguyên liệu được nhắc đến trong nghành công nghiệp giấy như chất
độn là một điển hình Tuy nhiên chỉ có một ít là được sử dụng rộng rãi, và sẽ được
xem xét ở đây Nguyên liệu chất độn đã được hệ thống theo nhiều cách Cách phổ biến
nhất mà đơn giản là phân biệt giữa loại tự nhiên và tổng hợp, tức là dựa vào nguồn gốc
Trang 16xuất xứ của chúng Có một vài loại cũng có cả tự nhiên và tổng hợp Những chất độn
tự nhiên thì được sản xuất từ các quặng khoáng chất sau đó được nghiền, làm sạch và
cuối cùng là nghiền tinh trước khi được xuất đi Có một số loại chất độn tự nhiên hơi
bẩn và do đó độ trắng thấp hơn các chất độn nhân tạo nên chúng sẽ rẻ hơn
Bảng 2.1: Liệt kê một vài loại chất độn đang được sử dụng phổ biến hiện nay
Chất độn
Diện tích bề mặt riêng
Độ trắng, ISO
Chỉ số khúc
xạ, η
Khối lượng riêng,
Độ cứng, thang đo Moh
3.9 4.2
3 – 4 5.5 - 6
2.2.1.2 Cao lanh (đất sét, cao lanh)
Cao lanh là một loại chất độn tự nhiên,
hình thành do sự phong hóa của mỏ đá spat
Mỏ đá spat thông thường tồn tại có sự kết hợp
phần này làm bẩn hợp chất Cao lanh
Một vài thuận lợi tương quan có được
từ Cao lanh
- Giá cả hợp lý
Trang 17- Bền trong môi trường hóa học
anatas, rutil và brookit, nó có một đặc tính
đặc biệt vừa là chất độn và vừa là bột
màu, có hệ số khúc xạ cao Nguyên liệu
này chỉ có thể tổng hợp và công đoạn sản
xuất rât phức tạp do đó nó rất đắt Tuy
nhiên lượng tiêu thụ của nó mở rộng rất
nhanh Từ bảng 2.1 có một điều chú ý là
ra những bất lợi rất đáng quan tâm
2.2.1.4 Talcum
Talcum là một loại chất độn đã được sử dụng rộng rãi, đặc biệt trong giấy tạp
chí Nguyên liệu này có mối tương quan rất gần với Cao lanh, có cấu trúc phân tử
đồng dạng Tuy nhiên có một vài điểm khác nhau: Talc thì xốp hơn, không thấm nước
và ưa dầu Những thuận lợi của nguyên liệu này là bảo lưu ban đầu cao, giảm khoảng
trống, và hao mòn thấp Lượng talc chứa trong giấy có khả năng thấm hút mực rất tốt
tuy nhiên đây cũng có thể là vấn gây ra hiện tượng bong tróc đồng thời độ trắng của
talc thì hơi thấp
2.2.1.5 Chất độn, bột màu tổng hợp và hữu cơ
Trong những năm gần đây, lượng chất độn nhân tạo dựa trên việc tổng hợp đã
được phát triển và tiếp thị Chúng có ưu điểm là được điều chỉnh sao cho phù hợp với
mục đích sử dụng cuối cùng hoặc tùy theo yêu cầu Tuy nhiên nó cũng có những đặc
tính không tốt và không kinh tế so với các nguyên liệu độn vô cơ điều mà làm giảm
động lực để thúc đẩy phát triển loại nguyên liệu này Tuy nhiên những nguyên liệu
Hình 2.2: Chất độn TiO2
Trang 18độn vô cơ thường có hình dạng không đồng nhất, và kích thước các hạt phân bố lớn
Còn chất độn hữu cơ dễ điều chỉnh được hình dạng nên có kích thước hạt rất đồng đều
Trọng lượng riêng thấp là yếu tố chính làm cho nguyên liệu này đặc biệt phù hợp cho
giấy điều mà rất cần cho giấy có định lượng thấp kết hợp với độ đục cao và đồng đều
2.2.1.6 CaCO 3 , gồm có bột đá vôi nghiền GCC (bột đá vôi, bột đá phấn, bột
đá hoa cương) và bột đá vôi kết tủa PCC
chúng không bền trong môi trường pH (pH
= 4.5 – 5) khi trong quá trình sản xuất giấy
chất bảo lưu, giống như gia keo nhựa
với cao lanh như giá thành thấp hơn, độ
trắng cao hơn và độ bền giảm thấp hơn
trong tờ giấy trên một đơn vị khối lượng
hòa các chất acid trong giấy, vì chính
những chất acid này sẽ tiếp tục phát triển
khi tờ giấy đã thành phẩm dẫn đến làm
giảm chất lượng của tờ giấy
nguồn chất độn trong giấy Lý do chính rất rõ ràng là lượng dùng chất độn có thể được
từ việc chuyển đổi nguyên liệu này
chuyển đổi môi trường gia keo acid (phèn nhôm, nhựa thông) thành gia keo trung tính
Công đoạn gia keo trung tính đã được phát triển vào khoảng những năm 1960 nhưng
công đoạn này thì phức tạp và khó khăn hơn gia keo bằng nhựa thông, vì thế khi sử
những hiệu quả tích cực cho ngành công nghiệp giấy Trên thế giới việc sản xuất
Hình 2.3: Chất độn CaCO3
Trang 19những sản phẩm giấy cao cấp được phát triển một cách nhanh chóng là nhờ vào sự
độn trong nhiều loại giấy Không giống như Cao lanh, có rất nhiều khoáng sản có chứa
tinh khuyết và độ trắng rất cao Nó thì hơi cứng hơn Cao lanh Đá vôi nghiền thì có
giống nhau, giống như đá sau khi nghiền Kích cỡ của các hạt chất độn có ý nghĩa thật
sự, nó ảnh hưởng đến các tính chất của giấy
Phân biệt giữa GCC và PCC
Về thành phần hóa học, thì chúng giống nhau PCC thì tinh khuyết hơn đá vôi
và thấp hơn thạch anh Hình dạng của PCC và kích thước thì khác với GCC Dưới sự
phóng đại, GCC có hình dạng là những khối hình thôi không đồng nhất Hình dạng của
tinh thể PCC thì phụ thuộc vào sản phẩm, và các hạt thì đồng đều và đồng nhất hơn
Sự phân bố kích thước của các hạt GCC thì rộng hơn nhiều so với các hạt PCC cùng
kích thước vì nó có nhiều hạt lớn hơn và hạt nhỏ hơn hơn PCC, và nó cũng có nhiều
hạt rất lớn so với PCC Đây là những hình ảnh có thể phân biệt dễ dàng giữa PCC và
GCC với cùng một kích thước hạt trung bình là 0,7 mµ
Hình 2.4: Hình ảnh phóng đại của PCC và GCC
Trang 20Cấu trúc phổ biến của cả PCC và GCC là hình lục giác được biết như CaCO3,
khối tam giác
2.2.2 Ưu nhược điểm của chất độn
2.2.2.1.Ưu điểm
- Lấp đầy những khoảng trống giữa các xơ sợi bột, làm tăng độ trắng, độ đục và
độ nhẵn cho tờ giấy, giảm sự biến dạng của tờ giấy nếu gặp nước, những tính chất này
là quan trọng đối với giấy viết, giấy in
- Làm giảm giá thành của tờ giấy vì hầu hết các chất độn (trừ titan dioxit) đều
rẻ hơn bột giấy
2.2.2.2 Nhược điểm
- Làm giảm sự liên kết giữa các xơ sợi dẫn đến giảm độ bền cơ lý, giảm độ
cứng của tờ giấy, làm giấy dễ bị bong sơ trong quá trình in hay photo
Hình 2.5: Các hình dạng phóng đại của chất độn CaCO3
Trang 21- Làm tăng tính hai mặt của tờ giấy
- Làm tiêu tốn thêm các chất phụ gia (keo chống thấm, chất bảo lưu…)
- Gây ra sự mài mòn, nhất là trên lưới xeo
2.2.3 Những đặc tính hữu dụng của chất độn trong nghành giấy
2.2.3.1 Ảnh hưởng của chất độn đến giấy
Chất độn được xem là một thành phần không thể thiếu làm nên tờ giấy như xơ
sợi, những hạt chất độn thì rất nhỏ, không có khả năng kết dính như xơ sợi hoặc các
liên kết nào khác giữa chúng Diện tích bề mặt riêng ( bề mặt diện tích trên một đơn vị
khối lượng ) của chúng thì lớn hơn của xơ sợi Trong suốt quá trình định hình tờ giấy,
những hạt chất độn thì được bố trí giữa những xơ sợi, đó là quá trình phân chia của
chúng Chúng cũng chèn vào các mao dẫn giữa những xơ sợi Diện tích bề mặt tiếp
xúc của xơ sợi so với không khí, chất độn so với không khí và xơ sợi so với chất độn
sẽ tăng lên trong tờ giấy Những mặt tiếp xúc này sẽ góp phần tác động đến tính khúc
xạ và phản xạ ánh sáng của giấy Kết quả là hệ số tán xạ ánh sáng của tờ giấy sẽ gia
tăng, đồng thời độ trắng và độ đục của tờ giấy cũng sẽ được nâng cao
Nói một cách khác, cũng chính sự phân bố của các hạt chất độn sẽ làm giảm sự
liên kết giữa những xơ sợi với nhau, đó là nguyên nhân làm cho độ bền của tờ giấy
giảm xuống Sự thiết lập các kết dính với nhau là một khả năng tự nhiên của xơ sợi và
nó sẽ cố định các hạt chất độn trong cấu trúc của tờ giấy Vì vậy các phân tử chất độn
nhỏ hơn nhiều so với xơ sợi, chúng sẽ có ít khuynh hướng tạo thành những cục hoặc
tảng Theo đó chúng sẽ làm cho tờ giấy trở nên đồng đều hơn; cải tiến được sự tạo
quả này được nâng cao nhờ vào những đặc tính ưu việt của một số chất độn như (Cao
lanh, talc) Trong thực tế cũng có những loại chất độn có độ trắng cao mà rẻ và do đó
khi cho vào tở giấy sẽ làm cho độ trắng tăng lên mặc dù giấy đó được sản xuất từ bột
có độ trắng trung bình (bột cơ) Giấy tạp chí là một ví dụ
Rút ra từ cơ chế vận hành, một điều được ghi nhận là khi độ nghiền của thành
phần xơ sợi trong tờ giấy được tăng lên thì có thể thu được những thuận lợi, như bột
sau khi nghiền sẽ tránh được chiều dài ít bị cắt ngắn và đảm bảo được độ bền Tuy
nhiên phương pháp này cũng sử dụng một cách có giới hạn, vì khi nồng độ nghiền cao
thì gây ra những nguyên nhân về vấn đề thoát nước và một số vấn đề về chất lượng
Trang 222.2.3.2 Lý do của việc sử dụng chất độn trong giấy
Lý do sử dụng chất độn trong giấy là vì tính kinh tế và chức năng của nó Nhiều
chất độn đã được ứng dụng là vì nó rẻ hơn nhiều so với xơ sợi Theo đó khi sử dụng
chất độn sẽ làm cho sản phẩm có giá thành thấp hơn Những đặc tính quan trọng của tờ
giấy sẽ được cải tiến, như độ trắng và độ đục, hình dạng, độ nhẵn bề mặt, độ bóng và
khả năng thấm mực in…Yêu cầu làm tăng các đặc tính chất lượng của tờ giấy đã ngày
một gia tăng Những hiệu quả hữu dụng của chất độn đối với những tính năng của tờ
giấy trở nên ngày càng quan trọng hơn
Bảng 2.2: Thể hiện hệ số tán xạ ánh sáng s và hệ số hấp thụ k của một vài loại bột
loại bột và chất độn Khi cho chất độn vào giấy, hệ số tán xạ thực sẽ bị ảnh hưởng
mạnh mẽ bởi các liên kết trong tờ giấy bị thay đổi
2.2.3.3 Những loại giấy sử dụng chất độn
Đầu tiên, những lợi ích kinh tế của chất độn đã gây nên một tranh luận về việc
có nên hay không nên cho chất độn vào tất cả các loại giấy Hiệu quả của chất độn lên
tờ giấy là rất đáng ghi nhận tuy nhiên nó cũng gây ra nhiều tổn hại đến các đặc tính
thiết yếu của nhiều loại giấy Trường hợp đặc biệt có một số loại giấy chỉ xem độ bền
là thiết yếu còn độ đục và độ trắng thì có ít tính năng quan trọng Trong thực tế, công
dụng chính của chất độn được sử dụng cho các loại giấy cần độ trắng, độ đục và độ
đồng đều và tất nhiên là không tránh khỏi việc độ bền của tờ giấy bị giảm Tuy nhiên,
ở đây cũng có ngoại lệ với việc cho chất độn vào giấy in báo, nó là trường không được
phổ biến vì với giấy in báo thì không cần độ trắng cao nên chỉ cần sản xuất với độ
trắng của bột cơ là đủ Lý do chính cho vấn đề này là chất độn sẽ bù vào việc làm giảm
Trang 23chi phí của các thành phần bổ trợ vào bột cơ để tăng độ trắng như: hoá chất tẩy trắng,
bột hóa xơ sợi dài mà đây là những nguyên liệu có giá thành cao hơn chất độn, mặc dù
khi cho chất độn vào nó sẽ làm giảm độ bền của giấy Do đó khi cho chất độn vào sẽ
tiết kiệm chi phí Đối với giấy bao bì, độ bền giảm thông thường sẽ không chấp nhận
được Độ đục và độ trắng thì không quan trọng với những loại giấy này, nghĩa là chất
độn hiếm được sử dụng ở đây Giống như các loại giấy thấm hút, các đặc tính chất
lượng chính là cấu trúc mở, kết hợp với độ bền chắc chắn
Từ những điều đã biết, có một điều hiển nhiên là giấy được sản xuất từ bột gỗ
cứng sẽ ít sử dụng chất độn hơn các loại giấy được sản xuất bột từ gỗ mềm Hay nói
cách khác, giấy được sản xuất từ bột gỗ cứng sẽ có các đặc tính độ đục, định hình và
độ nhẵn tốt hơn các loại giấy được sản xuất từ gỗ mềm
Bảng 2.3: Thể hiện một vài chỉ số về mức chất độn cho vào những loại giấy khác
nhau
Mức chất độn cho vào các loại giấy
Đối với mỗi loại giấy thì tỷ lệ chất độn cho vào sẽ khác nhau Những chất độn
điển hình cho vào các loại giấy khác nhau ở các mức khác nhau Một điều chú ý là có
sự biến động lớn bên trong mỗi loại giấy Những yêu cầu về độ bền bề mặt, độ cứng,
độ nhẵn…có ý nghĩa khác biệt về các nguyên tắc in khác nhau của tờ giấy
2.2.3.4 Phương pháp cho chất độn vào giấy
Chất độn có thể được hòa trộn vào bên trong bột trước khi băng giấy được định
hình Một phương pháp khác, chất độn có thể cho lên trên bề mặt tờ giấy sau khi tờ
giấy đã được xử lý (phủ một lớp bột màu) Công đoạn xử lý sau cùng này sẽ tạo ra sản
phẩm tốt hơn, vì trong trường hợp này bột màu được cho vào trong bột trước để bổ
sung tính kết dính trong tờ giấy, tuy nó hơi phức tạp và tốn kém Sau đó chất độn được
Trang 24hòa với nước rồi cho vào bột, nó sẽ phân tán trong bột và không tạo nên bất kỳ sự kết
dính đặc biệt nào trong tờ giấy Việc tráng phủ một lớp bột màu được xem là phương
pháp truyền thống trong một công đoạn để nâng cao chất lượng tờ giấy và do đó hiện
nay nó vẫn được ứng dụng
2.2.3.5 Liều lượng chất độn cho vào giấy
Ít tốn kém (tiết kiệm chi phí) là một ưu đãi mà chất độn mang lại khi lượng cho
vào lớn Trong thực tế, chất phụ gia sẽ bị giới hạn đến một mức nào đó bởi một vài
đặc tính cơ học (độ bền) bị giảm mà không có cách nào tránh được, ở đây có thể là độ
cứng, độ bền kéo và những đặc tính khác Đối với giấy in, giấy viết, nó sẽ ảnh hưởng
đến độ bền bề mặt…gây tổn hại đến độ chịu bong và độ chịu kéo của tờ giấy khi in
hoặc viết lên nó Khả năng bám chắc của mực in giảm, ít bắt mực lên bề mặt tờ giấy
trong suốt quá trình in, và độ bền bề mặt giảm do sử dụng lượng chất độn quá cao
Trong in offset, mực in có khả năng bám chắc rất cao đã được sử dụng để khắc phục
nhược điểm bám chắc thấp của mực in trong khi in chìm
Ngay cả lượng chất độn được chấp nhận để đưa vào sản xuất cũng sẽ bị ảnh
hưởng bởi sự thiết kế của các loại máy xeo và qui trình công nghệ Đối với những máy
xeo dài khi sản xuất ra tờ giấy thì sự phân bố của chất độn không được đồng đều (mặt
trên của tờ giấy có lượng chất độn cao hơn mặt dưới) Do đó tờ giấy khi được sản xuất
từ máy xeo lưới đôi sẽ có lượng chất độn được bố trí ít đồng đều hơn máy xeo dài Có
những loại máy xeo được trang bị để gia keo bề mặt, độ bền bề mặt sẽ được tăng lên
bằng cách xử lý này, cho phép sản xuất giấy đế với hàm lượng chất độn cao hơn Ngày
nay với công nghệ tiên tiến, với hiệu quả của chất trợ bảo lưu sẽ tạo ra tờ giấy có chất
lượng cao hơn vì sự phân bố đồng đều của chất độn trong suốt quá trình hình thành
băng giấy, cho phép mức dùng trung bình của chất độn trong tờ giấy cao hơn so với
phương pháp truyền thống Hệ thống bảo lưu hai thành phần hiện đại, sử dụng tinh bột
cation, càng làm tăng tính hiệu quả của chất độn đối với nhiều loại giấy
Hàm lượng chất độn cho vào trong tờ giấy được xác định bằng cách đốt cháy tờ
giấy đã xác định khối lượng sau đó đem cân lượng tro Phương pháp đốt cháy phải
được tiến hành trong điều kiện tiêu chuẩn Chất độn có thể hơi bị thay đổi trong suốt
quá trình đốt, nguyên nhân là do tổng lượng tro nhỏ hơn tổng lượng chất độn được cho
vào tờ giấy Đối với đất sét của Anh, nó được sử dụng rộng rãi trên thế giới, kết quả là
Trang 25vì nó thu được khoảng 87% lượng tro khi đốt trong điều kiện tiêu chuẩn, thậm chí
canxi cacbonat còn cao hơn Khi đánh giá giá trị của chất độn đã được liệt kê, một điều
nên chú ý vào là loại chất độn hiện tại đang sử dụng hoặc lượng tro đã được liệt kê
2.2.4 Những yêu cầu về những tính năng đối với chất độn
Bên cạnh tính kinh tế là vì giá thành chất độn có thể thấp nhất đưa ra các ảnh
hưởng tích cực nhất đến các đặc tính của tờ giấy, một điều nữa là các tính năng của
chất độn đã được liệt kê thành một nhóm (theo sau các liệt kê cơ bản theo một trình tự,
5 Không hòa tan trong nước và chậm phản ứng với hóa chất
6 Khả năng bảo lưu cực tốt trên băng giấy
7 Khối lượng riêng thấp
8 Thấp hút mực in tốt
9 Tạo ra tờ giấy có bề mặt tốt
Sau đây sẽ trình bày các yêu cầu về tính năng của chất độn một cách chi tiết hơn
2.2.4.1 Độ trắng cao
Giấy in và giấy viết phải sáng, không có màu nào nổi trội hơn, để đem lại sự
tương phản hiệu quả khi in và khi viết Điều này đòi hỏi chất độn phải không có màu,
để không gây ra sự hiện tượng nhiễu màu khi thực hiện in ấn trên giấy
Độ trắng thực tế của giấy phụ thuộc vào mục đích sử dụng cuối cùng Với giấy
in báo và giấy tạp chí độ trắng có thể đạt tới thì bị giới hạn bởi chúng được sản xuất từ
bột cơ nên có độ trắng thấp (khoảng 60 ISO), vì thế chất độn thật sự có ý nghĩa khi sử
dụng cho giấy có độ trắng thấp hơn là khi sử dụng cho giấy cao cấp được sản xuất từ
bột hóa đã tẩy trắng (có độ trắng 88 – 90 ISO) Tuy nhiên để thực hiện ước muốn là
làm tăng độ trắng của giấy có chứa bột cơ thì chất độn sử dụng phải có độ trắng cao
hơn bột cơ Từ đó độ trắng của chất độn sẽ tác động một cách có hiệu quả bởi sự tinh
khuyết của nó, và kết quả là có sự tương quan rõ ràng giữa độ trắng của chất độn và
Trang 26giá cả Độ trắng của chất độn trên thị trường thấp hơn 80 ISO thì hiếm khi được sử
dụng cho sản xuất giấy
2.2.4.2 Hệ số khúc xạ ánh sáng cao
Đây có thể là chức năng quan trọng cơ bản nhất về lý do tại sao mà ứng dụng
chất độn trong giấy, là để làm tăng độ đục Điều cơ bản về độ đục của một vật không
màu là khả năng tán xạ ánh sáng (đối chiếu với phương trình tính toán và lý thuyết của
Kubelka – Munk) Trước khi được biết đến bởi sự hiệu quả của hệ số khúc xạ, thì các
hạt chất độn hay được nhắc đến bởi vai trò chính là làm tăng độ đục, khuynh hướng
của chúng là phân nhỏ ra và chèn vào trong các khoảng trống của xơ sợi, kết quả là
làm tăng diện tích tiếp xúc của không khí đối với xơ sợi, chính điều đó làm tăng độ
đục
Từ tính chất vật lý của sóng ánh sáng, chúng ta biết rằng khi ánh sáng truyền
vào giữa một bề mặt phân chia của một vật có bề mặt không hấp thụ ánh sáng này đến
một bề mặt của một vật kia, một phần ánh sáng sẽ thay đổi hướng Tỷ lệ giữa hướng
của ánh sáng tới và chùm ánh sáng bị khúc xạ được gọi là hệ số khúc xạ Lý do về hiện
tượng ánh sáng khúc xạ là vì tốc độ của ánh sáng đối với 2 vật không giống nhau Hệ
số khúc xạ ánh sáng thì được tính bằng tỷ lệ tốc độ ánh sáng giữa 2 vật Hệ số khúc xạ
không giống với chiều dài sóng của ánh sáng Tỷ lệ η giữa tốc độ ánh áng trong chân
Khi ánh sáng truyền từ vật thể này đến vật kia, thì tỷ đối của hệ số khúc xạ (đã được
thí nghiệm) được tính như tỷ lệ giữa hệ số khúc xạ toàn phần của 2 vật
Bảng 2.4: Mô tả hệ số phản xạ toàn phần về những chỉ số của những vật liệu thích hợp
Hệ số khúc xạ, η, và chỉ số của những vật liệu ảnh hưởng đến đặc tính chắn sáng của
Trang 27Hệ số khúc xạ của một vài vật liệu liên quan đến độ chắn sáng và độ trắng của
giấy Theo đó một yêu cầu chung về khúc xạ ánh sáng, khi ánh sáng truyền từ một vật
thể này đến một vật thể khác phải có sự khác nhau về hệ số khúc xạ ánh sáng đặc
trưng của 2 vật thể Sự khác biệt lớn giữa hệ số khúc xạ ánh sáng đặc trưng là cường
độ tán xạ ánh sáng lớn của vật thể Từ bảng 2.4 ta quan sát thấy hệ số khúc xạ của
không khí là 1.0, còn cellulose là 1.53 Độ rỗng ở giữa và bên trong của xơ sợi thì
được chèn đầy bởi không khí Sự khác nhau cơ bản về hệ số khúc xạ ánh sáng giữa
không khí và cellulose chính là sự tồn tại khả năng thấu quang của vật thể trong tờ
giấy Bằng việc gia tăng mật độ liên kết của xơ sợi (độ bền của tờ giấy), diện tích tiếp
xúc của không khí so với xơ sợi sẽ bị giảm, và kết quả là độ thấu quang của tờ giấy
trở nên đồng đều
Nếu chất độn làm tăng diện tích bề mặt không khí so với chất rắn trong tờ giấy,
độ thấu quang tăng, tuy nhiên độ bền giảm Một điều có thể đạt được là tạo ra ảnh
hưởng của khúc xạ ánh sáng trong bề mặt tiếp xúc của xơ sợi so với chất độn mà vẫn
giữ được liên kết của xơ sợi Nếu vậy thì xơ sợi và chất độn phải có hệ số khúc xạ ánh
sáng khác nhau
Một số liệu đáng ngạc nhiên về những vật thể chất lỏng và chất rắn có hệ số
khúc xạ nằm trong khoảng 1.50 – 1.60 (tra bảng 2.4), điều đó có nghĩa là cellulose
không có trong khoảng đó Do đó những vật thể này sẽ làm tăng độ thấu quang rất ít
khi được hòa trộn với cellulose, trừ khi chúng làm tăng diện tích tiếp xúc để tăng diện
1.56) có chỉ số rất gần với cellulose (1.53) và kết quả là khó thấy được sự tương tác rõ
mạnh, cả khi tiếp xúc với không khí và xơ sợi
2.2.4.3 Kích cỡ hạt tối ưu
Ảnh hưởng của chất độn lên độ thấu quang và độ trắng của giấy nguyên nhân là
do khúc xạ và phản xạ ánh sáng Như vậy hiện tượng này chỉ xuất hiện trên những bề
mặt Từ điều này nói lên tầm quan trọng về khả năng cản quang của vật thể có diện
tích bề mặt riêng lớn, có nghĩa là, chất độn nên phân tán tốt Hay nói cách khác, với
các tính chất của sóng cơ, nếu tính không đồng nhất (ở đây là chất độn) dưới một kích
thước cố định tồn tại trong môi trường nơi mà có sóng đang lan truyền, được so sánh
Trang 28như bước sóng, mặt truyền sóng sẽ truyền nhưng không gây ra sư hư hại nào Như vậy
những hạt rất nhỏ cũng xuất hiện sóng lan truyền nhưng mà không nhìn thấy được
Hơi đơn giản hóa, từ quan điểm tán xạ ánh sáng, giả sử phân tử có kích thước
tối ưu với đường kính phân tử bằng một nữa bước sóng ánh sáng Ánh sáng nhìn thấy
nằm trong khoảng 400 – 700 nm (0.4 – 0.7 µm) Đường kính hạt tối ưu nên nằm trong
khoảng 200 – 400 nm
Theo khái niệm đường kính phân tử giả sử hạt có dạng hình cầu, một hình dạng
rất không phổ biến trong chất độn Hạt cao lanh có hình dạng đặc trưng là tấm mỏng
hình lục giác Một phương pháp để tính đường kính của phân tử có hình dạng khác
biệt là hình cầu, thì được dựa vào thể tích và diện tích bề mặt riêng Như vậy phương
pháp này thì đang được ứng dụng hiện nay
Chất độn được tạo ra từ những mảng lớn sau đó với kết quả của quá trình
nghiền thì kích thước hạt giảm đến một kích thước tối ưu Tuy nhiên không phải hạt
nào cũng có kích thước bằng nhau Một vài hạt sẽ trở nên quá nhỏ, và bị mất đi tính
thấu quang Để giảm sự mất mát, nó phải được chọn ra với các hạt có kích thước phân
tử trung bình hơi cao hơn kích thước tối ưu theo lý thuyết Bên cạnh đó, quá trình
nghiền thì phải thưc hiện một cách kỹ lưỡng
Những nhà cung cấp chất độn sẽ cung cấp những thông tin về kích thước hạt
chất độn Đó là một điều nên biết về các đặc tính khi đánh giá chất độn Để tận dụng
những hạt chất độn đã được liệt kê thì nên chắc chắn rằng khả năng phân tán của nó
luôn luôn tốt Sẽ thật tốn kém khi mua chất độn tốt và mắt tiển nhưng sau đó thì khả
năng không tốt như phân tán trong bột tạo thành những cục nhỏ và không phân tán
thành những hạt nhỏ Để chắc chắn hiệu quả của quá trính phân tán, chất độn trước khi
đưa vào sản xuất phải được kiểm nghiệm thật kỹ Khi chất độn được nghiền kỹ giá của
nó sẽ tăng, đối với mỗi loại giấy sẽ có một loại chất độn tương thích, tức là với cùng
một loại giấy mà yêu cầu có độ trắng khác nhau thì tương ứng với chất độn sử dụng
cũng cùng một loại nhưng mà độ nghiền sẽ khác nhau Chất độn được bán trên thị
trường chưa bao giờ có kích thước hạt nhỏ hơn kích thước có thể sử dụng được
SiO2 <= 0.1%, Fe2O3 <= 0.1%, Al2O3 <= 0.04%
Cỡ hạt < 200, 110μm, 80, 45, 25, Độ trắng >= 85%
Trang 29Một điều nan giải là làm sao vừa đảm bảo được phân tán tốt và bảo lưu cũng
tốt Những phân tử nhỏ khả năng bảo lưu cơ học kém hơn những hạt có kích thước lớn
hơn Tuy nhiên khả năng bảo lưu của chất độn cũng bị ảnh của các chất trợ bảo lưu
cho vào Và chất trợ bảo lưu cho vào phải không kết tụ các hạt chất độn nhưng phải
kết gắn kết các phân tử riêng biệt với các xơ sợi bề mặt lại với nhau
2.2.4.4 Độ rắn thấp và không có tạp chất bẩn
Chất độn độ có độ cứng thấp là điều mong muốn nhưng ngược lại chất độn
cũng sẽ gây ra sự mài mòn ảnh hưởng đến quá trình vận hành máy móc (nghiền, bơm,
lưới xeo…) và những biến đổi của máy móc (tấm bảng định hình tờ giấy, quá trình in
ấn…) sẽ tăng khi chất độn có độ cứng tăng
Chất độn luôn mang theo các tạp chất Nhiều chất độn có nguồn gốc từ các
nó được rửa thật kỹ, một vài tạp chật vẫn bám lại Những hạt cứng và nhọn có khuynh
hướng gắn chặt vào các vật thể mềm, giống như lá chất dẻo trong bảng định hình, nơi
mà chúng sẽ bám vào rồi bám vào các lưới xeo Ngay cả những tạp chất có kích thước
hạt nhỏ nhưng lâu sẽ tích tụ lại và là nguyên nhân của hư hại
Để đánh giá độ cứng của các khoáng chất, người ta sử dụng thang đo Moh, để
độ cứng tương đối, có biên độ từ 1 -10
Bảng 2.5: Thang đo của Moh về độ cứng tương đối của các khoáng chất
Thang đo của Moh về độ cứng của các khoáng chất Những liệt kê tương đối về độ cứng các khoáng sản, theo trình tự độ cứng tăng dần
2.2.4.5 Không hòa tan trong nước và chậm phản ứng với hóa chất
Các chất độn đã được thí nghiệm trong môi trường hóa cơ và chúng đã cho thấy
rằng trong suốt quá trình sản xuất; qua những công đoạn biến đổi khác nhau và cho
đến công đoạn cuối thì nó không gây ra phản ứng nào Luận đề cổ điển đáng trân trọng
Trang 30dụng như chất độn, nhưng không thích hợp với môi trường axit có trong bột do có sử
năm gần đây đã được thí nghiệm có chuyển đồi ấn tượng về tính kỵ nước cho giấy cao
cấp, và nó đã được sử dụng làm chất độn cho giấy
2.2.4.6 Khả năng bảo lưu cực tột trên băng giấy
Bảo lưu chất độn trong suốt quá trình lọc cơ học hiện tượng mà xuất hiện trong
suốt quá trình định hình tờ giấy, sẽ tăng với kích thước hạt
Ngày nay, chất độn càng hiệu quả khi có chất trợ bảo lưu chất độn và quá trình
bảo lưu sẽ trở nên tối ưu hơn
Chất độn mang điện tích dương sẽ tạo ra quá trình bảo lưu nhanh, mà không có
chất trợ bảo lưu Tuy nhiên, chỉ rất có rất ít chất độn mang điện tích dương Trong
trên thị trường
2.2.4.7 Khối lượng riêng thấp
Chất độn có khối lượng riêng thấp thì rất hữu dụng, vì một vài lý do:
- Tờ giấy sẽ bị thay đổi khi trọng lượng thay đổi, kết quả là khả năng tán xạ ánh
sáng trên một đơn vị diện tích sẽ thay đổi theo Tại bề mặt tiếp xúc giữa xơ sợi và chất
độn, những yếu tố khác không đổi, tồn tại ánh sáng khúc xạ tỷ lệ với thể tích và tỷ lệ
nghịch với khối lượng riêng
- Những hạt chất độn có trọng lượng riêng lớn sẽ khó giữ lại trong băng giấy
trên lưới một khi khối lượng riêng của hạt chất độn tăng lên
2.2.4.8 Thấm hút mực in tốt
Đối với những loại chất độn sử dụng trong giấy in, những ái lực của chúng với
mực in sẽ rất quan trọng Nguyên liệu chất độn nên thấm ướt mực in một cách dễ
dàng, giúp cho việc mực in được đồng đều và dễ dàng di chuyển hơn Chất độn cũng
nên giữ mực tốt (bền màu mực), với ước muốn giữ mực in trên bề mặt của tờ giấy
2.2.4.9 Tạo ra tờ giấy có bề mặt tốt
Giấy in và giấy viết sẽ được hỗ trợ các tính năng như bề mặt mềm mại, có biên
độ từ mờ tới bóng Chất độn nên đóng góp cho giấy với mong muốn làm cho bề mặt
tốt
Trang 31Hình 2.6: Hình phóng đại của xơ sợi Hình 2.7: Hình phóng đại của bề mặt tờ giấy
2.3 Cấu trúc của giấy và sự cần thiết của chất độn
2.3.1 Cấu trúc của giấy
2.3.1.1 Giới thiệu về cấu trúc của giấy
Những đặc điểm chính về cấu trúc của giấy là:
- Thành phần của giấy là hệ không đồng nhất – hệ dị thể, phức tạp, nó là sự kết
hợp các sợi dài, các sợi ngắn và những hạt chất độn, chất keo, hạt chất màu có kích
thước khác nhau trong đó thành phần chính là các sơ sợi
- Sự phân bố các thành phần trên không theo một thứ tự nhất định nào cả - phân
bố dị hướng Sự phân bố dị hướng này chịu ảnh hưởng bởi phương pháp xeo (sử dụng
máy xeo dài hay máy xeo tròn hay máy xeo lưới đôi) và bởi mức độ kết bong của xơ
sợi trong huyền phù bột trước khi xeo
- Cấu trúc giấy là cấu trúc mao dẫn vì trong cấu trúc giấy có rất nhiều lỗ hổng
kích thước nhỏ Chính cấu trúc này làm cho giấy có khả năng thấu khí, hút nước, hút
ẩm và làm cho độ ẩm của giấy thay đổi tùy theo độ ẩm của môi trường
- Giữa các xơ sợi bột giấy và các thành phần khác trong giấy có hình thành liên
kết với nhau, chính sự liên kết này tạo nên độ bền của tấm giấy
- Cấu trúc của hai bề măt tấm giấy có sự khác nhau Thường thì mặt giấy tiếp
xúc với lước xeo thì thô nhám hơn mặt kia của tấm giấy
Chính cấu trúc dị thể của giấy dẫn đến hệ quả là: cùng một định lượng giấy
giãn – 20%, độ chịu bục – 20%