1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nâng cao năng lực lãnh đạo nhiệm vụ huấn luyện chiến đấu của các đảng ủy lữ đoàn tàu hải quân giai đoạn hiện nay

204 91 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 204
Dung lượng 2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình đã công bố có liên quan đến đề tài và những vấn đề luận án cần tập trung giải quyết 26 NÂNG CAO NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO NHIỆM VỤ HUẤN LUYỆN CHIẾ

Trang 1

cứu độc lập Dữ liệu sử dụng trong luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, kết quả nêu trong luận

án không trùng lặp với các công trình khoa học đã được công bố.

TÁC GIẢ LUẬN ÁN

Phan Thành Chung

Trang 3

Chương 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ

1.1. Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài có liên quan đến đề tài luận án 10 1.2. Các công trình nghiên cứu ở trong nước có liên quan đến đề tài luận án 16 1.3 Khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình đã công bố có liên

quan đến đề tài và những vấn đề luận án cần tập trung giải quyết 26

NÂNG CAO NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO NHIỆM VỤ HUẤN LUYỆN CHIẾN ĐẤU CỦA CÁC ĐẢNG ỦY LỮ ĐOÀN TÀU HẢI QUÂN 30 2.1 Lữ đoàn tàu hải quân và những vấn đề cơ bản về năng lực lãnh đạo

nhiệm vụ huấn luyện chiến đấu của các đảng ủy lữ đoàn tàu hải quân 30 2.2 Quan niệm, những vấn đề có tính nguyên tắc và tiêu chí đánh

giá nâng cao năng lực lãnh đạo nhiệm vụ huấn luyện chiến đấu

NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO NHIỆM VỤ HUẤN LUYỆN CHIẾN ĐẤU CỦA CÁC ĐẢNG ỦY LỮ ĐOÀN TÀU HẢI QUÂN 76 3.1 Thực trạng nâng cao năng lực lãnh đạo nhiệm vụ huấn luyện

chiến đấu của các đảng ủy lữ đoàn tàu hải quân 76 3.2 Nguyên nhân và một số kinh nghiệm nâng cao năng lực lãnh đạo

nhiệm vụ huấn luyện chiến đấu của các đảng ủy lữ đoàn tàu hải quân 98

Chương 4 YÊU CẦU VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC

LÃNH ĐẠO NHIỆM VỤ HUẤN LUYỆN CHIẾN ĐẤU CỦA CÁC ĐẢNG ỦY LỮ ĐOÀN TÀU HẢI QUÂN GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 110 4.1 Những yếu tố tác động và yêu cầu nâng cao năng lực lãnh đạo

nhiệm vụ huấn luyện chiến đấu của các đảng ủy lữ đoàn tàu hải

4.2 Những giải pháp nâng cao năng lực lãnh đạo nhiệm vụ huấn luyện

chiến đấu của các đảng ủy lữ đoàn tàu hải quân giai đoạn hiện nay 119

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ CÓ

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Lý do lựa chọn đề tài luận án

Lữ đoàn tàu hải quân là binh đoàn chiến thuật, đơn vị cơ sở trực tiếptriển khai thực hiện các nhiệm vụ; các LĐT hải quân là lực lượng thường trực

cơ động chủ yếu của Quân chủng Hải quân; lực lượng nòng cốt trong bảo vệchủ quyền biển, đảo, thềm lục địa Tổ quốc HLCĐ của các LĐT hải quân lànhiệm vụ được tiến hành hằng năm theo Chỉ lệnh HLCĐ của chỉ huy cấp trên,trực tiếp là Bộ Tư lệnh các vùng Hải quân HLCĐ là nhiệm vụ chính trị trungtâm, thường xuyên và lâu dài có ý nghĩa quyết định đến nâng cao chất lượngtổng hợp, trình độ, khả năng sẵn sàng chiến đấu, sức mạnh chiến đấu và làcông tác tích trữ lực lượng, chuẩn bị chiến đấu một cách tích cực, chủ động và

có hiệu quả nhất của các LĐT hải quân Đúng như lời Chủ tịch Hồ Chí Minhdạy: “Bộ đội cũng ví như con dao, cái súng, không lau chùi luôn sẽ hỏng,chăm luyện tập sẽ tiến bộ”

Lãnh đạo nhiệm vụ HLCĐ là vấn đề nguyên tắc, thuộc chức năng cơ bản,nhiệm vụ thường xuyên, là nội dung lãnh đạo chủ yếu, rất quan trọng của cácđảng ủy LĐT hải quân Sự lãnh đạo của đảng ủy là yếu tố cơ bản quyết định chấtlượng, hiệu quả HLCĐ của LĐT hải quân Vì vậy, để nâng cao chất lượngHLCĐ và xây dựng các LĐT vững mạnh toàn diện, hoàn thành thắng lợi mọinhiệm vụ được giao, tất yếu phải nâng cao NLLĐ của đảng ủy LĐT hải quân

Thấy rõ điều đó, thời gian qua QUTW, Bộ Quốc phòng; Đảng ủy, Bộ

Tư lệnh Quân chủng; các đảng ủy, bộ tư lệnh vùng Hải quân đã thường xuyênquan tâm lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng các đảng ủy LĐT trong sạch vữngmạnh, nâng cao NLLĐ, sức chiến đấu, nhất là NLLĐ nhiệm vụ HLCĐ, sẵnsàng chiến đấu Mặt khá, chính các đảng ủy LĐT cũng thường xuyên tích cực,chủ động, sáng tạo trong nâng cao NLLĐ toàn diện đối với đơn vị, đặc biệt lànhiệm vụ HLCĐ Do vậy, NLLĐ nhiệm vụ HLCĐ và chất lượng, hiệu quả thựchiện nhiệm vụ HLCĐ của các LĐT từng bước được nâng cao Tuyệt đại đa số

Trang 5

cán bộ, chiến sĩ của các LĐT nhận thức tốt nhiệm vụ, có bản lĩnh chính trị kiênđịnh vững vàng, có ý thức tổ chức kỷ luận tốt; trình độ kỹ thuật, chiến thuật,phẩm chất chiến đấu cần thiết theo cương vị, chức trách không ngừng được nângcao; các LĐT hoàn thành tốt nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu và các nhiệm vụ khácđược giao Tuy nhiên, so với yêu cầu xây dựng Quân chủng và các LĐT hảiquân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; thực hiện thắng lợi nhiệm vụsẵn sàng chiến đấu và chiến đấu bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo trongmọi tình huống thì NLLĐ nhiệm vụ HLCĐ của các LĐT còn bộc lộ những hạnchế, bất cập cần nhận thức rõ và có giải pháp thiết thực để khắc phục.

Hiện nay, tình hình thế giới, khu vực tiếp tục có những diễn biến phứctạp, khó lường, những nhân tố mới xuất hiện tác động trực tiếp đến khu vựcBiển Đông, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn và tranh chấp lãnh thổ,chủ quyền biển, đảo giữa các nước trong khu vực diễn ra gay gắt, tiềm ẩnnguy cơ xung đột, mất ổn định Trong nước, bên cạnh những thuận lợi là cơbản, đất nước ta đang phải đối mặt với không ít khó khăn, thách thức, nhất là

sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch bằng âm mưu, thủ đoạn “diễnbiến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Đảng,Nhà nước, “phi chính trị hóa”, “dân sự hóa” lực lượng vũ trang Trong đó cóvấn đề đáng chú ý là các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề biển, đảo hòngchống phá Đảng, Nhà nước và chế độ Để bảo vệ vững chắc Tổ quốc, Đảng tachủ trương đẩy mạnh xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ,từng bước hiện đại; một số lực lượng, trong đó có Quân chủng Hải quân tiếnthẳng lên hiện đại Thực tế trên đã và đang đặt ra cho Quân chủng Hải quânnói chung, các LĐT hải quân nói riêng yêu cầu mới hết sức nặng nề và khẩntrương, vừa phải kiên định, kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắcchủ quyền biển, đảo, thềm lục địa của Tổ quốc, vừa phải giữ vững môi trườnghòa bình ổn định trên các vùng biển, đảo Đồng thời, vừa phải tranh thủ mọi

Trang 6

điều kiện để xây dựng nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu Dovậy, hơn lúc nào hết, đối với các LĐT hải quân hiện nay phải nâng cao chấtlượng HLCĐ, nâng cao trình độ kỹ thuật, chiến thuật hải quân, trình độ làmchủ VKTBKT tàu thuyền hiện đại; bồi dưỡng các phẩm chất chiến đấu cầnthiết cho cán bộ, chiến sĩ; xây dựng chính quy, rèn luyện kỷ luật, đổi mớiphương pháp, tác phong công tác Điều đó, khách quan đòi hỏi phải tập trungnâng cao NLLĐ nói chung, NLLĐ nhiệm vụ HLCĐ nói riêng của các đảng ủyLĐT hải quân ngang tầm nhiệm vụ thời kỳ mới

Từ những vấn đề trên, nghiên cứu sinh lựa chọn vấn đề: “Nâng cao

năng lực lãnh đạo nhiệm vụ huấn luyện chiến đấu của các đảng ủy lữ đoàn tàu hải quân giai đoạn hiện nay” làm đề tài luận án tiến sĩ, chuyên ngành Xây

dựng Đảng và chính quyền Nhà nước Đây là vấn đề cơ bản, có ý nghĩa lý

luận, thực tiễn tiễn sâu sắc và mang tính cấp thiết

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu, làm rõ những vấn đề cơ bản về lý luận, thực tiễn và đề xuấtnhững giải pháp nâng cao NLLĐ nhiệm vụ HLCĐ của các đảng ủy LĐT hảiquân giai đoạn hiện nay

Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án và xácđịnh những vấn đề luận án tiếp tục giải quyết

- Luận giải làm rõ những vấn đề cơ bản về NLLĐ và nâng cao NLLĐnhiệm vụ HLCĐ của các đảng ủy LĐT hải quân

- Đánh giá đúng thực trạng, chỉ rõ nguyên nhân và rút ra một số kinhnghiệm nâng cao NLLĐ nhiệm vụ HLCĐ của các đảng ủy LĐT hải quân

- Xác định yêu cầu và đề xuất những giải pháp nâng cao NLLĐ nhiệm

vụ HLCĐ của các đảng ủy LĐT hải quân giai đoạn hiện nay

Trang 7

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu

Nâng cao NLLĐ nhiệm vụ HLCĐ của các đảng ủy LĐT hải quân

Phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu những vấn đề lý luận, thực tiễn về NLLĐ và nâng cao NLLĐnhiệm vụ HLCĐ của các đảng ủy LĐT hải quân Các đơn vị khảo sát thực tế gồmcác LĐT mặt nước thuộc các vùng Hải quân, trong đó tập trung ở các LĐT hảiquân M70, M72, M61, M62, M71, M67, M25, M27 Các dự liệu điều tra khảosát thực tiễn phục vụ nghiên cứu được giới hạn chủ yếu từ năm 2010 đến nay

4 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận

Hệ thống quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh,đường lối, quan điểm của Đảng về quân sự, quốc phòng; về xây dựng Đảng,xây dựng Quân đội nhân dân; về Đảng lãnh đạo Quân đội và về công tác huấnluyện trong quân đội

Cơ sở thực tiễn

Thực tiễn HLCĐ, NLLĐ và nâng cao NLLĐ nhiệm vụ HLCĐ của cácđảng ủy LĐT hải quân; các báo cáo sơ kết, tổng kết của Đảng ủy, Bộ Tư lệnhQuân chủng Hải quân, các đảng ủy, Bộ Tư lệnh vùng Hải quân, các cơ quanchức năng, nghị quyết, báo cáo tổng kết của các đảng ủy LĐT về công tác xâydựng Đảng, về lãnh đạo nhiệm vụ HLCĐ; kết quả điều tra, khảo sát thực tếcủa tác giả luận án ở các LĐT hải quân

Phương pháp nghiên cứu

Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, luận án sửdụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu của khoa học chuyên ngành vàliên ngành; trong đó, chú trọng các phương pháp: Phân tích, tổng hợp, lịch sử,lôgíc, thống kê, so sánh, điều tra, khảo sát thực tế, tổng kết thực tiễn vàphương pháp chuyên gia

Trang 8

5 Những đóng góp mới của luận án

Xây dựng và làm rõ quan niệm HLCĐ của LĐT hải quân, nâng caoNLLĐ nhiệm vụ HLCĐ của các đảng ủy LĐT hải quân

Đúc kết một số kinh nghiệm nâng cao NLLĐ nhiệm vụ HLCĐ của cácđảng ủy LĐT hải quân thời gian qua

Đề xuất một số nội dung biện pháp cụ thể, thiết thực, khả thi trong cácgiải pháp nâng cao NLLĐ nhiệm vụ HLCĐ của các đảng ủy LĐT hải quângiai đoạn hiện nay

6 Ý nghĩa lý luận, thực tiễn của luận án

Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề lýluận, thực tiễn về NLLĐ và nâng cao NLLĐ nhiệm vụ HLCĐ của các đảng

ủy LĐT hải quân; cung cấp thêm cơ sở khoa học giúp cho cấp ủy, tổ chứcđảng, cán bộ chủ trì, cơ quan chính trị các cấp trong Quân chủng Hải quânnghiên cứu, vận dụng vào quá trình nâng cao NLLĐ của các đảng ủy LĐT hảiquân giai đoạn hiện nay Đồng thời, có thể dùng làm tài liệu tham khảotrong nghiên cứu, giảng dạy và học tập ở các nhà trường quân đội

7 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận án gồm: 4 chương (9 tiết), danhmục các công trình của tác giả đã công bố liên quan đến đề tài luận án,danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục

Trang 9

Chương 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU

CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1.1 Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài có liên quan đến đề tài luận án

1.1.1 Các công trình nghiên cứu về huấn luyện chiến đấu, công tác đảng, công tác chính trị trong huấn luyện chiến đấu của quân đội và hải quân

A A GRê-scô (1978), Các lực lượng vũ trang của Nhà nước Xô-Viết [86] Cuốn sách gồm 12 chương 582 trang; Ở chương IX: “Việc huấn luyện và

giáo dục quân đội”, bàn về những nguyên tắc, hình thức, phương pháp huấn

luyện và giáo dục quân đội Đồng thời, khẳng định: “Huấn luyện và giáo dục cácchiến sĩ Xô-Viết là một quá trình, mục đích là đào tạo nên những người bảo vệ Tổquốc xã hội chủ nghĩa một cách có ý thức và khéo léo; xây dựng cho họ có phẩmchất chiến đấu và ý thức tổ chức kỷ luật cao; là tổ chức cho các phân đội, bộ đội,Hạm tàu chiến đấu tốt, và cuối cùng là nâng cao sức chiến đấu và sẵn sàng chiếnđấu của các lực lượng vũ trang” [86, tr 363]

E Ph Xu-li-mốp (1980), Sự lãnh đạo khoa học trong các lực lượng

Xô-Viết [148]; Cuốn sách gồm 9 chương, 353 trang Ở chương IV: Những nguyên tắc tổ chức khoa học công tác huấn luyện quân sự cho bộ đội Nội

dung trong chương này có bàn về: Huấn luyện toàn diện đội ngũ sĩ quan;rèn luyện bản lĩnh chiến đấu trên biển và trên không; duy trì sẵn sàng chiếnđấu thường xuyên; quản lý việc huấn luyện quân sự và giáo dục chính trị.Chỉ rõ các hình thức và phương pháp huấn luyện như lên lớp, thực hànhluyện tập trên binh khí kỹ thuật, làm bài tập thể, hội ý… Bàn về huấn luyện

sĩ quan: “Vấn đề chủ yếu trong huấn luyện sĩ quan là dạy cho họ hoàn thànhđược chức trách của mình trong hoàn cảnh chiến đấu một cách chuẩn xác, tựtin và am hiểu công việc Binh khí kỹ thuật và vũ khí hiện đại chỉ có thể được

sử dụng có kết quả trong chiến đấu dưới sự lãnh đạo của những người chỉ huyđược huấn luyện tốt” [148, tr 145]

Trang 10

P I Các-pen-cô (1981), Công tác đảng - chính trị trong các lực lượng

vũ trang Xô-Viết [14] Ở chương VII: “Một số vấn đề công tác đảng - Chính trị đối với nhiệm vụ huấn luyện chiến đấu trong các quân chủng”, có nội dung bàn

về nhiệm vụ HLCĐ của bộ đội tên lửa chiến lược và trên các Hạm đội Hải quân.Trong đó, đã chỉ ra cách thức huấn luyện và yêu cầu cao trong huấn luyện:

“Huấn luyện cho bộ đội quen thuộc với kiến thức sâu sắc, kỹ năng vững vàng,trình độ kỹ thuật cao của tên lửa Chính vì những đòi hỏi đó mà cán bộ chỉ huy,cán bộ chính trị, các tổ chức đảng và đoàn phải quan tâm đầy đủ đến đội ngũ kỹ

sư, kỹ thuật, chú ý vấn đề học tập chủ nghĩa Mác-Lênin, nâng cao kiến thức vềnghiệp vụ và phương pháp giảng dạy… ” [14, tr 249]

Chương Tư Nghị (2006), Giáo trình Công tác chính trị của quân Giải

phóng nhân dân Trung Quốc [107]; Phần VII, chương 26 bàn về “Công tác

chính trị bộ đội Hải quân”, ở bài 4: “Tăng cường công tác chính trị trong

huấn luyện ngoài khơi xa”, trong đó đã làm rõ đặc điểm huấn luyện tác chiến

cho Hải quân, đều phải tiến hành trên biển, trên đại dương bao la, sóng to, gió

lớn, say sóng nôn mửa, cuộc sống đơn điệu Ở chương 27, có ở bài 2 “Công

tác chính trị trong huấn luyện quân sự”; phần IX chương 36 bàn về các nội

dung cụ thể như: Nhiệm vụ, nội dung; phương pháp cơ bản của công tácchính trị trong huấn luyện quân sự; công tác chính trị trong huấn luyện hợpđồng chiến thuật, chiến dịch; sự tổ chức lãnh đạo của đảng ủy và cơ quanchính trị đối với công tác chính trị trong huấn luyện quân sự

V Phê-đô-rôp (2009), HLCĐ và huấn luyện chiến dịch của lực lượng

Hải quân Mỹ, do Hồ Sỹ Thanh lược dịch [110] Bài viết chỉ ra tầm quan trọng

của HLCĐ; cách thức tổ chức huấn luyện thực hành; cách thức tổ chức chỉ huylực lượng chiến đấu của lực lượng Hải quân Mỹ Đồng thời, khẳng định mụcđích HLCĐ trên biển là nâng cao khả năng sẵn sàng chiến đấu, hoàn thiện hơncác thủ đoạn chiến thuật trong phối hợp đồng tác chiến trên biển của các lựclượng Hải quân tham gia đến gìn giữ an ninh cho các nước trong khu vực

Trang 11

1.1.2 Các công trình nghiên cứu về xây dựng tổ chức đảng và sự lãnh đạo của tổ chức đảng đối với lực lượng vũ trang

Các công trình nghiên cứu về xây dựng tổ chức Đảng Cộng sản

A A Ê-pi-sép (1976), Công tác đảng - công tác chính trị trong các lực

lượng vũ trang Liên Xô 1918-1973 [83] Cuốn sách gồm 5 chương với 360

trang, tác giả khẳng định: Xây dựng các tổ chức đảng, đội ngũ cán bộ, đảngviên trong Quân đội và Hải quân Liên Xô là tất yếu, khách quan Khẳng địnhvai trò của chính ủy trong việc cũng cố các lực lượng vũ trang Xô viết: Đó làmang tinh thần của Đảng, kỷ luật của Đảng, tính kiên nghị và lòng dũng cảmcủa Đảng; khẳng định chính ủy là người mẫu mực về tính tư tưởng và tính tổchức trong Đảng: “Các chính ủy, các chính trị viên và cán bộ chính trị khácđược các chiến sĩ tin yêu và kính trọng Là người đại diện của Đảng trong quânđội và Hạm đội, họ là mẫu mực của tính tư tưởng và tính tổ chức của ngườiBôn-sê-vích, toàn tâm toàn ý với trách nhiệm phục vụ của mình” [83, tr 66]

Nhiệm Khắc Lễ (1995), Công tác xây dựng Đảng trong giai đoạn

hiện nay [90] Trong cuốn sách tác giả trình bày khá chi tiết về công tác xây

dựng đảng trong tình hình mới, nhất là xây dựng tổ chức đảng và khẳng định,xây dựng tổ chức cơ sở là then chốt của công tác xây dựng đảng Tổ chức cơ

sở của đảng là nền tảng của toàn bộ công tác và sức chiến đấu của đảng.Trong tình hình mới, nhiệm vụ chủ yếu xây dựng tổ chức cơ sở của đảng làtiến hành công tác nắm cơ sở, xây dựng cơ sở, chỉnh đốn và nâng cao sứcchiến đấu của tổ chức đảng cơ sở Trong tình hình mới, nhiệm vụ chủ yếu xâydựng tổ chức cơ sở của đảng là tiến hành công tác “Nắm cơ sở, xây dựng cơ

sở, chỉnh đốn và nâng cao sức chiến đấu của tổ chức đảng cơ sở” [90, tr 191]

Ngô Tu Nghệ, Lý Luyện Trung (1999), Kiên trì và hoàn thiện sự lãnh

đạo của Đảng [106] Trong công trình, các tác giả đã hệ thống hóa công tác

xây dựng Đảng: Vị trí, vai trò xây dựng tổ chức cơ sở đảng là một mặt quantrọng trong toàn bộ công tác xây dựng Đảng, là chỗ dựa cho xây dựng tư

Trang 12

tưởng, tổ chức, tác phong của Đảng Tổ chức cơ đảng có trách nhiệm quản lý,giáo dục và đôn đốc, giám sát đảng viên Khẳng định tổ chức cơ sở đảng càngđược kiện toàn, thì phát huy tác dụng càng tốt, sức chiến đấu càng mạnh, uytín trong Đảng càng cao Đồng thời, các tác giả đề cập về phương châm chỉđạo xây dựng tổ chức cơ sở đảng.

Chương Tư Nghị (2006), Giáo trình công tác đảng công tác chính trị

của Quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc [107] Ở phần III của cuốn sách:

“ Xây dựng đảng bộ (đảng ủy), xây dựng cơ quan chính trị”, đã luận giải làm rõ

toàn diện việc chấp hành chính xác cơ chế tập thể lãnh đạo, thủ trưởng phân côngphụ trách; tăng cường xây dựng đảng bộ theo 3 yêu cầu cơ bản; quá trình xâydựng và phát triển chế độ chính ủy; nhiệm vụ cơ bản và công tác chủ yếu củachính ủy; làm thế nào để chính ủy hoàn thành tốt công tác Đồng thời, ở chương

II, tác giả chỉ ra nguyên tắc cơ bản xây dựng quân đội: Kiên trì sự lãnh đạo củaĐảng đối với quân đội Cụ thể, về nguyên tắc sự lãnh đạo của Đảng đối với tổchức cơ sở đảng trong quân đội: “Đảng chỉ huy súng, chứ quyết không bao giờ đểcho súng chỉ huy Đảng Chỉ cần chúng ta luôn luôn tuân thủ theo chỉ thị của Đảngthì chúng ta nhất định thắng lợi” [107, tr 56] Chỉ rõ sự lãnh đạo của Đảng chủyếu là sự lãnh đạo về chính trị, tư tưởng và tổ chức

Bun Phêng Sỉ Pa Sợt (2010), Chất lượng tổ chức cơ sở đảng ở các sư

đoàn bộ binh Lào trong thời kỳ mới [125] Luận án đã tập trung trình bày có hệ

thống những vấn đề cơ bản về chất lượng tổ chức cơ sở đảng ở các sư đoàn bộbinh Lào trong thời kỳ mới như: Quan niệm, mục đích, vị trí vai trò, đặc điểm,chủ thể, đối tượng, lực lượng tham gia, nội dung biện pháp tiến hành của tổchức cơ sở đảng ở các sư đoàn bộ binh Lào và những vấn đề có tính nguyêntắc Đưa ra tiêu chí đánh giá của tổ chức cơ sở đảng ở các sư đoàn bộ binh Lào.Tác giả cũng chỉ ra hạn chế, nguyên nhân hạn chế của tổ chức cơ sở đảng ở các

sư đoàn bộ binh là do chất lượng lãnh đạo, sức chiến đấu còn hạn chế

Trang 13

Phôn Thong Phăn Cha Lơn Phôn (2011), Tăng cường sự lãnh đạo của

cấp ủy đảng, điều hành của chính quyền các cấp trong xây dựng bộ đội địa phương vững mạnh về chính trị ở các tỉnh Bắc Lào [15] Bài viết làm rõ vị

trí vai trò của cấp ủy đảng, thực trạng điều hành của chính quyền các cấptrong xây dựng bộ đội địa phương, từ đó đưa ra một số giải pháp về tăng

cường sự lãnh đạo của cấp ủy đảng, điều hành của chính quyền các cấp

trong xây dựng bộ đội địa phương như: Các cấp ủy đảng phải có nghị quyếtlãnh đạo, ủy ban nhân dân, cơ quan quân sự địa phương có kế hoạch xâydựng lực lượng; nâng cao vai trò trách nhiệm của các cấp, các ngành; nắm

và thực hiện tốt các nguyên tắc tổ chức lãnh đạo của Đảng, nguyên tắc xâydựng bộ đội địa phương vững mạnh về chính trị

Hủm Phăn Phỉu Khem Phon (2016), Chất lượng tổ chức cơ sở đảng

thuộc đảng bộ an ninh cộng hòa dân chủ nhân dân Lào giai đoạn hiện nay

[89] Luận án trình bày có hệ thống những vấn đề cơ bản về chất lượng tổchức cơ sở đảng thuộc đảng bộ an ninh cộng hòa dân chủ nhân dân Lào như

vị trí, vai trò tầm quan trọng của tổ chức cơ sở đảng Chỉ ra: Nguyên nhân,khuyết điểm của tổ chức cơ sở đảng là do năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu cònhạn chế Đồng thời, khẳng định muốn xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong sạchvững mạnh, phải nâng cao chất lượng lãnh đạo, sức chiến đấu; không ngừngcủng cố, kiện toàn, bồi dưỡng đội ngũ bí thư, cấp ủy và đổi mới, cải tiến, nângcao chất lượng sinh hoạt của tổ chức cơ sở đảng

Các công trình nghiên cứu về lãnh đạo và năng lực lãnh đạo của tổ chức đảng đối với lực lượng vũ trang

A A GRê-scô (1978), Các lực lượng vũ trang của Nhà nước Xô-Viết

[86] Ở chương VIII: Sự lãnh đạo các lực lượng vũ trang và việc chỉ huy quânđội Tác giả khẳng định: “Đảng Cộng sản coi việc nâng cao trình độ lãnh đạo tất

cả các khâu của bộ máy Nhà nước Xô-Viết là tầm quan trọng bậc nhất, Đảng đòihỏi cán bộ chúng ta phải nghiên cứu sâu sắc khoa học quản lý” [86, tr 327]

Trang 14

Khẳng định nét đặc trưng sự lãnh đạo các lực lượng vũ trang Xô-Viết là phải:

“Tính chất có mục đích rõ ràng, tính chất linh hoạt và hiện thực của việc đặt kếhoạch chiến lược, chiến dịch và chiến thuật” [86, tr 332] Hay nói cách khác đó

là, thể hiện về tính khoa học và tính khách quan trong việc lãnh đạo các lựclượng vũ trang Xô-Viết của Đảng Cộng sản

E Ph Xu-li-mốp (1980), Sự lãnh đạo khoa học trong các lực lượng

Xô-Viết [148] Nội dung cuốn sách chủ yếu đề cập đến mặt phương pháp luận của

vấn đề lãnh đạo, quản lý bộ đội trong thời bình và chuẩn bị lực lượng cho chiếntranh hiện đại; tính quy luật và nguyên tắc của công tác đảng, công tác chính trị

Ở chương VI, VIII: Bàn về vấn đề lãnh đạo khoa học công tác tư tưởng trongQuân đội và Hải quân Chương V: Về quan điểm khoa học trong công tác đảng -công tác chính trị; cụ thể, về vai trò tầm quan trọng, tính quy luật, nguyên tắc vàvấn đề tổ chức khoa học của công tác đảng - công tác chính trị

A A Ê-pi-sép (1983), Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Liên Xô là

nguồn gốc quyết định sức mạnh của Quân đội và Hải quân Liên Xô [84] Công

trình của tác giả luận giải làm rõ: Đảng - Người tổ chức và lãnh đạo chiến đấucủa Hồng quân; sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản là quy luật khách quan, lànguồn gốc quyết định sự trưởng thành và sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũtrang Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản trong các lực lượng vũ trang mà đạidiện là Ban Chấp hành Trung ương

A.I Xê-rê-kin (1983), Sự phát triển ngày càng lớn, vai trò lãnh đạo của

Đảng Cộng sản Liên Xô trong củng cố lực lượng vũ trang và một số vấn đề xây dựng Đảng trong Quân đội và Hải quân [147] Tác giả khẳng định sự lãnh đạo

của Đảng đối với lực lượng vũ trang là nguyên tắc trong xây dựng quân độicách mạng; đối tượng quan tâm đặc biệt của tổ chức đảng trong tổ chức thựchiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng là lãnh đạo, xây dựng đơn vị,xây dựng tổ chức chỉ huy, xây dựng đời sống mọi mặt đơn vị và duy trì sẵnsàng chiến đấu, nâng cao chất lượng huấn luyện bộ đội

Trang 15

V M Sa-va-nốp (1985), Sự quan tâm của Đảng Cộng sản Liên Xô đối

với việc trang bị kỹ thuật cho lực lượng vũ trang Xô viết [123] Tác giả luận

giải làm rõ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Liên Xô đối với Quân đội và Hảiquân là tất yếu khách quan, lãnh đạo của Đảng Cộng sản Liên Xô trên tất cảcác mặt hoạt động như lãnh đạo công tác bảo đảm vũ khí, trang bị kỹ thuật đểquân đội đủ sức đánh thắng mọi kẻ thù, bảo vệ Tổ quốc Lãnh đạo công táchuấn luyện sử dụng VKTBKT cho lực lượng vũ trang Xô-Viết

Vương Lạc Phu (2000), Khoa học lãnh đạo hiện đại [111] Cuốn sách

luận giải làm rõ kinh nghiệm của Trung Quốc về bản chất lãnh đạo, thể chếlãnh đạo, quyết sách trong lãnh đạo; nghệ thuật phương pháp lãnh đạo là mốiquan hệ chặt chẽ biện chứng giữa nghệ thuật và phương pháp trong lãnh đạo

là khách quan Các tác giả đề cập đến tu dưỡng phẩm chất người lãnh đạo, chỉ

rõ nội dung, đặc điểm và tác dụng của tu dưỡng phẩm chất người lãnh đạo,đồng thời, khẳng định tu dưỡng phẩm chất là yêu cầu khách quan, là cơ sởnâng cao trình độ, nghệ thuật lãnh đạo

1.2 Các công trình nghiên cứu ở trong nước có liên quan đến đề

tài luận án

1.2.1 Các công trình nghiên cứu về huấn luyện chiến đấu của quân đội, Quân chủng Hải quân

Bùi Duy Châu (2010), Tổ chức và phương pháp huấn luyện chiến

thuật - chiến dịch Hải quân [16] Cuốn sách gồm 5 phần, 14 chương Ở phần

1: Những vấn đề cơ bản của HLCĐ - Chiến dịch Hải quân Cụ thể, ở chương

1 và chương 3, tác giả đã khái quát có hệ thống những vấn đề cơ bản củaHLCĐ Hải quân như: Đối tượng, mục đích, nội dung của HLCĐ; các quanđiểm, nguyên tắc, yêu cầu trong huấn luyện; bản chất, nội dung chỉ đạoHLCĐ, đồng thời đưa ra khái niệm, tổ chức cơ quan huấn luyện, các thànhphần của HLCĐ Hải quân

Trang 16

Phạm Ngọc Minh (2011), Quân chủng Hải quân tích cực đổi mới, nâng

cao chất lượng huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu [105] Bài viết của tác giả chỉ

rõ: Để hoàn thành nhiệm vụ và nâng cao chất lượng huấn luyện, sẵn sàng chiếnđấu, năng lực tổ chức, điều hành huấn luyện của các cấp Trước hết, công tácgiáo dục, huấn luyện được triển khai đồng bộ từ khâu lập kế hoạch, phê duyệt,

tổ chức thực hiện đến kiểm tra và thống kê kết quả

Phạm Văn Điển (2011), Một số giải pháp nâng cao chất lượng huấn

luyện, sẵn sàng chiến đấu của Vùng A Hải quân [78] Bài viết đã làm rõ thực

trạng, yêu cầu nhiệm vụ HLCĐ và đề xuất một số giải pháp cơ bản nâng caochất lượng HLCĐ, sẵn sàng chiến đấu như: Thường xuyên quán triệt, nâng caonhận thức cho bộ đội về nhiệm vụ huấn luyện; tập trung nâng cao trình độ củađội ngũ cán bộ, làm cơ sở nâng cao chất lượng huấn luyện của đơn vị; thườngxuyên duy trì phong trào thi đua Quyết thắng, tăng cường công tác kiểm tra, hộithao, hội thi trong huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu

Nguyễn Duy Định (2013), Kinh nghiệm nâng cao chất lượng huấn luyện,

sẵn sàng chiến đấu ở Lữ đoàn Hải quân 147 [81] Tác giả chỉ rõ những kinh

nghiệm trong thực hiện nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu ở Lữ đoàn như:Thường xuyên đẩy mạnh công tác, giáo dục chính trị - tư tưởng nâng cao nhậnthức, trách nhiệm cho bộ đội đối với nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu;

thực hiện tốt công tác đảm bảo huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu

Nguyễn Duy Tỷ (2016), Giải pháp nâng cao chất lượng huấn luyện,

sẵn sàng chiến đấu ở Vùng 5 Hải quân [143] Từ thực tiễn chỉ đạo và tổ chức

huấn luyện, tác giả rút chỉ ra một số kinh nghiệm như: Phát huy vai trò củacấp ủy, chỉ huy các cấp trong lãnh đạo, chỉ đạo công tác huấn luyện; gắn xâydựng cấp ủy với kiện toàn đội ngũ cán bộ các cấp; tích cực đổi mới huấnluyện một cách toàn diện, chú trọng cả huấn luyện quân sự; Coi trọng côngtác kiểm tra, tổng kết, rút kinh nghiệm sau mỗi đợt huấn luyện, diễn tập,nhằm không ngừng nâng cao chất lượng huấn luyện

Trang 17

Trương Quang Lệnh (2016), Giải pháp nâng cao chất lượng huấn luyện,

sẵn sàng chiến đấu ở Lữ đoàn Pháo binh 572 [91] Bài viết đưa ra một số nội

dung giải pháp nâng cao chất lượng huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu; tập trunglàm rõ nội dung các giải pháp như: Lãnh đạo, chỉ đạo nâng cao nhận thức, tráchnhiệm về nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu; cơ quan và chỉ huy đơn vịtích cực bám sát mọi hoạt động của bộ đội, kịp thời phát hiện, giải quyết tốt cácvướng mắc; thực hiện tốt công tác tập huấn, bồi dưỡng cán bộ

Phan Văn Giang (2017), Toàn quân tập trung thực hiện tốt nhiệm vụ

huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu [85] Tác giả đã đánh giá khái quát thực trạng

công tác huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu; tác động của tình hình thế giới, khu vực

và trong nước Dự báo, định hướng tập trung thực hiện tốt nhiệm vụ huấn luyện,sẵn sàng chiến đấu nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của quânđội, đảm bảo cho quân đội tiếp tục phát huy tốt vai trò nòng cốt trong bảo vệvững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc

Lê Xuân Thủy (2018), Nâng cao chất lượng huấn luyện, đáp ứng yêu

cầu nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo Tổ quốc [132] Bài viết luận giải làm

rõ vị trí, vai trò nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo Tổ quốc Yêu cầu xâydựng Quân chủng Hải quân “Cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại”.Khẳng định vị trí, vai trò công tác huấn luyện; thực trạng công tác huấn luyện

và huấn luyện trong điều kiện chiến tranh sử dụng vũ khí công nghệ cao

Trần Mạnh Chiến (2018), Đột phá nâng cao chất lượng huấn luyện ở Lữ

đoàn 162 [18] Tác giả khái quát, đánh giá kết quả đạt được trong huấn luyện

trên các mặt công tác, lĩnh vực hoạt động và đưa ra một số giải pháp mang tínhđột phá: Thường xuyên quán triệt, giáo dục, nâng cao nhận thức cho bộ đội vềnhiệm vụ huấn luyện; tích cức nghiên cứu đổi mới nội dung, hình thức tổ chức

và phương pháp huấn luyện theo phương châm “Cơ bản, thiết thực, vững chắc”;Đột phá trong nâng cao chất lượng huấn luyện sĩ quan; sàng lọc, phân chia đốitượng huấn luyện đáp ứng lộ trình làm chủ VKTBKT hiện đại

Trang 18

Phạm Khắc Lượng (2018), Vùng 2 Hải quân tập trung đổi mới công tác

huấn luyện, nâng cao sức mạnh chiến đấu [101] Tác giả đưa giải pháp đổi mới,

nâng cao chất lượng huấn luyện, sức mạnh chiến đấu Trong đó đi sâu phân tích,

làm rõ giải pháp: Tăng cường giáo dục chính trị, tư tưởng, xây dựng ý chí quyết

tâm cao cho cán bộ, chiến sĩ trong thực hiện nhiệm vụ huấn luyện; tiếp tục đổimới toàn diện công tác huấn luyện, tạo chuyển biến mạnh mẽ, vững chắc về trình

độ, khả năng sẵn sàng chiến đấu; đổi mới công tác huấn luyện kỹ thuật, hậucần

Trần Tiến Dũng (2018), Trung đoàn Ra đa 294 nâng cao chất lượng

HLCĐ [23] Tác giả khẳng định, để nâng cao chất lượng HLCĐ trước hết, Trung

đoàn chú trọng nâng cao NLLĐ, chỉ đạo của cấp ủy, chỉ huy các cấp đối vớicông tác huấn luyện Cấp ủy có nghị quyết lãnh đạo chuyên đề về công tác huấnluyện, sẵn sàng chiến đấu Chú trọng đổi mới tư duy và phương pháp tổ chứchuấn luyện cho đội ngũ cán bộ, vận dụng tốt các quan điểm, nguyên tắc, mối kếthợp trong huấn luyện Nâng cao NLLĐ, sức chiến đấu của các tổ chức đảng theoNghị quyết Trung ương 4 (khóa XII), về xây dựng, chỉnh đốn Đảng

Các công trình khoa học của những tác giả kể trên đã đề cập một cách

có hệ thống về huấn luyện và việc nâng cao chất lượng HLCĐ; về tăng cường

sự lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của cấp ủy, chỉ huy các cấp đối với công tácHLCĐ; một số công trình đánh giá thực trạng, rút ra bài học kinh nghiệm.Nhiều công trình dự báo những yếu tố tác động đến HLCĐ; Đề xuất hệ thốnggiải pháp đồng bộ nâng cao chất lượng HLCĐ Đây là những công trìnhnghiên cứu có giá trị lý luận và thực tiễn rất lớn giúp cho nghiên cứu sinhtham khảo, học tập, kế thừa, vận dụng để xây dựng luận án

1.2.2 Các công trình nghiên cứu về công tác đảng, công tác chính trị trong huấn luyện chiến đấu của Quân đội, Quân chủng Hải quân

Ngô Văn Quỳnh (2000), Nâng cao chất lượng công tác đảng, công tác

chính trị trong nhiệm vụ HLCĐ ở đơn vị cơ sở thuộc các Binh đoàn chủ lực

Trang 19

hiện nay [121] Luận án nghiên cứu một cách hệ thống, đầy đủ, toàn diện, sâu

sắc về CTĐ, CTCT trong nhiệm vụ HLCĐ ở đơn vị cơ sở; Làm rõ cơ sở lýluận và thực tiễn nâng cao chất lượng CTĐ, CTCT trong nhiệm vụ HLCĐ;luận giải làm rõ khái niệm CTĐ, CTCT trong nhiệm vụ HLCĐ; đưa ra tiêu chí

cơ bản đánh giá, những yếu tố tác động đến chất lượng CTĐ, CTCT trongnhiệm vụ HLCĐ ở đơn vị cơ sở các Binh đoàn chủ lực

Nguyễn Văn Tình (2010), Nghiên cứu nâng cao chất lượng công tác

đảng, công tác chính trị đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Quân chủng Hải quân trong tình hình mới [134] Đề tài làm rõ

quan niệm về nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Quân chủng Hảiquân; rút ra sáu bài học kinh nghiệm có giá trị lý luận, thực tiễn sâu sắc vềnhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Quân chủng trong tình hình mới

Chu Xuân Cư (2011), Công tác đảng, công tác chính trị trong huấn

luyện, sẵn sàng chiến đấu ở Đoàn Phòng không B.67 [20] Tác giả làm rõ thực

trạng nhiệm vụ, yêu cầu huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu; Đề xuất chủ trương,biện pháp nâng cao chất lượng CTĐ, CTCT trong thực hiện nhiệm vụ huấnluyện, sẵn sàng chiến đấu; gắn phong trào thi đua quyết thắng với đẩy mạnhthực hiện các cuộc vận động

Trần Đại Nghĩa (2011), Công tác đảng, công tác chính trị trong

nâng cao chất lượng huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu của bộ đội Trường Sa

[108] Tác giả luận giải làm rõ vị trí, vai trò HLCĐ của bộ đội Trường Sa;đặc điểm biển, đảo khắc nghiệt của khí hậu, thời tiết Trường Sa và sự cầnthiết phải làm tốt CTĐ, CTCT trong nâng cao chất lượng huấn luyện, sẵnsàng chiến đấu của bộ đội Trường Sa Đề xuất những chủ trương, biện pháplãnh đạo, chỉ đạo sát đúng, có trọng tâm, trọng điểm, nâng cao chất lượnghuấn luyện, trình độ sẵn sàng chiến đấu

Tổng cục Chính trị (2012), Công tác đảng, công tác chính trị trong tác

chiến bảo vệ biển, đảo của Quân chủng Hải quân thời kỳ đầu chiến tranh bảo vệ

Trang 20

Tổ quốc [136] Cuốn sách đi sâu luận giải lý luận, thực tiễn về CTĐ, CTCT trong

tác chiến bảo vệ biển, đảo của Quân chủng Hải quân; đánh giá thực trạng; đưa ramột số kinh nghiệm trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo; dự báonhững yếu tố tác động và đề xuất các giải pháp CTĐ, CTCT trong tác chiến bảo

vệ biển, đảo của Quân chủng Hải quân Có đưa ra giải pháp về kiện toàn tổ chức,giữ vững sự lãnh đạo của các tổ chức đảng; giải pháp về chấp hành kỷ luật chiếntrường và giải pháp bảo đảm hậu cần, kỹ thuật cho thực hiện nhiệm vụ

Hà Sỹ Chiến (2014), Nâng cao chất lượng công tác đảng, công tác

chính trị trong quản lý, bảo quản, sử dụng trang bị kỹ thuật ở trung, lữ đoàn thông tin Quân đội nhân dân Việt nam hiện nay [17] Luận án đã đi

sâu phân tích làm rõ những vấn đề cơ bản về nâng cao chất lượng CTĐ,CTCT trong quản lý, bảo quản, sử dụng trang bị kỹ thuật ở các trung, lữđoàn thông tin; đánh giá thực trạng, rút ra các bài học kinh nghiệm và đềxuất những giải pháp cơ bản nâng cao chất lượng CTĐ, CTCT trong quản

lý, bảo quản, sử dụng trang bị kỹ thuật ở các trung, lữ đoàn thông tin

Nguyễn Văn Thăng (2017), Công tác đảng, công tác chính trị trong

huấn luyện chiến đấu ở Bộ Tư lệnh vùng Cảnh sát biển 1 [129] Tác giả khẳng

định vai trò CTĐ, CTCT trong HLCĐ là một trong những yếu tố quan trọng,thường xuyên tác động sâu sắc đến quá trình huấn luyện cũng như chất lượng,hiệu quả công tác huấn luyện

Phạm Xuân Mát (2018), Tăng cường công tác đảng, công tác chính trị

trong Quân đội nhân dân Việt Nam đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ thời kỳ mới

[102] Công trình luận giải về tình hình mới tác động đến tăng cường CTĐ,CTCT trong Quân đội; đánh giá thực trạng, rút ra bài học kinh nghiệm vànhững vấn đề đặt ra cần tăng cường CTĐ, CTCT; đề xuất sáu giải pháp chủyếu, đặc biệt có giải pháp đổi mới công tác tổ chức, cán bộ đáp ứng yêu cầunhiệm vụ xây dựng đảng bộ Quân đội trong sạch vững mạnh; giải pháp đẩy

Trang 21

mạnh tổng kết thực tiễn và phát huy sức mạnh tổng hợp để đáp ứng yêu cầunhiệm vụ thời kỳ mới.

Tuy nhiên, những công trình khoa học trên đều nghiên cứu, luận bàn

về CTĐ, CTCT trong HLCĐ, một số công trình tập trung nghiên cứu về chấtlượng HLCĐ Các công trình nghiên cứu luận bàn vị trí vai trò, mục đích,chủ thể, lực lượng nâng cao chất lượng công tác HLCĐ đánh giá thực trạng.Đặc biệt có nhiều công trình đề xuất hệ thống giải pháp trong HLCĐ S ong,

ở những góc độ khác nhau về các mặt hoạt động CTĐ, CTCT, hay chấtlượng, hiệu quả, hiệu lực HLCĐ nói chung, chưa có công trình khoa học nàonghiên cứu toàn diện cụ thể về nâng cao NLLĐ nhiệm vụ huấn luyện củacác đảng ủy LĐT Hải quân

1.2.3 Các công trình nghiên cứu về xây dựng, nâng cao năng lực lãnh đạo của cấp ủy, tổ chức đảng

Lê Văn Dương (2000), Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của

các tổ chức đảng trong quân đội bảo đảm xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong mọi tình huống [24] Trong cuốn sách tác

giả làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn, vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Quân độitrong việc xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị; những yêu cầu mới vềNLLĐ và sức chiến đấu của các tổ chức đảng và của tổ chức đảng ở các đơn vịchiến đấu Đồng thời, đưa ra quy chế hoạt động lãnh đạo; đề xuất những giải phápchủ yếu và khái quát bốn bài học kinh nghiệm

Cao Xuân Thưởng (2001), Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của

tổ chức cơ sở đảng ở các Trung đoàn Không quân chiến đấu hiện nay [131] Luận

án nghiên cứu một cách hệ thống, đầy đủ, toàn diện, sâu sắc về nâng cao NLLĐ,

sức chiến đấu của Đảng ở các Trung đoàn Không quân chiến đấu; làm rõ cơ sở lýluận, thực tiễn và đưa ra quan niệm NLLĐ của tổ chức cơ sở đảng Trên cơ sởphân tích, đánh giá thực trạng, chỉ rõ nguyên nhân, xác định những yếu tố tác

Trang 22

động và yêu cầu nâng cao NLLĐ, sức chiến đấu, tác giả đề xuất bốn giải pháp cơbản để nâng cao NLLĐ, sức chiến đấu của Trung đoàn Không quân.

Nguyễn Minh Tuấn (2003), Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến

đấu của tổ chức cơ sở đảng trong doanh nghiệp Nhà nước ở Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa

[138] Luận án nghiên cứu một cách hệ thống, đầy đủ, toàn diện, sâu sắc

về nâng cao NLLĐ, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng trong doanh nghiệp Đồng thời, đưa ra quan niệm, tiêu chí về nâng cao NLLĐ, sức

chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng Đánh giá thực trạng về NLLĐ và sứcchiến đấu của tổ chức cơ sở đảng; đề xuất giải pháp nâng cao NLLĐ vàsức chiến đấu của tổ chức đảng ở các doanh nghiệp

Hoàng Văn Đồng (2005), Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu

của tổ chức cơ sở đảng ở đồn Biên phòng tuyến biên giới đất liền Việt Nam trong thời kỳ mới [82] Luận án tiếp cận có hệ thống, toàn diện, cụ thể và phân

tích và làm rõ vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ, đặc điểm tổ chức cơ sở đảng

ở các đồn Biên phòng Đồng thời, đưa ra quan niệm về NLLĐ và sức chiếnđấu; đề xuất tiêu chí đánh giá nâng cao NLLĐ, sức chiến đấu tổ chức cơ sởđảng các đồn Biên phòng ở Việt Nam Tác giả đánh giá thực trạng về ưu điểm,khuyết điểm, nguyên nhân NLLĐ, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng, đưa

ra một số kinh nghiệm, yêu cầu, đề xuất một số giải pháp về nâng cao NLLĐ,sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng ở các đồn Biên phòng trong thời kỳ mới

Vũ Quang Sơn (2009), Nâng cao chất lượng lãnh đạo của đảng ủy

trung đoàn bộ binh làm nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu trong Quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn hiện nay [126] Tác giả đã khái quát những

vấn đề lý luận và thực tiễn về nâng cao chất lượng lãnh đạo của đảng ủy trung

đoàn bộ binh làm nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu trong Quân độinhân dân Việt Nam, trong đó tập trung vào việc làm rõ khái niệm, nội dung,

Trang 23

vai trò, đặc điểm trung đoàn bộ binh làm nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiếnđấu và những vấn đề có tính nguyên tắc Tác giả chỉ ra sự cần thiết phải nângcao chất lượng lãnh đạo của đảng ủy trung đoàn, đặt ra các yêu cầu về chấtlượng lãnh đạo Phân tích đánh giá đúng thực trạng chất lượng lãnh đạo củađảng ủy trung đoàn làm nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu; đề xuất hệthống sáu giải pháp nâng cao chất lượng lãnh đạo.

Phương Minh Hòa (2011), Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu

của Đảng bộ Quân chủng Phòng không - Không quân hiện nay [88] Tác giả làm

rõ vị trí, vai trò tầm quan trọng của Quân chủng Phòng không - Không quân trongnhiệm vụ xây dựng và bảo vệ vững chắc vùng trời của Tổ quốc Việt Nam xã hộichủ nghĩa Yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhiệm vụ củaquân chủng có sự phát triển mới, nặng nề, đa dạng, phức tạp Để hoàn thànhnhiệm vụ tác giả cho rằng: Đảng uỷ tập trung vào xây dựng đảng bộ vững mạnh

về chính trị, tư tưởng, tổ chức, nâng cao NLLĐ và sức chiến đấu của tổ chức cơ

sở đảng, thường xuyên quan tâm xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao NLLĐ vàsức chiến đấu ngang tầm với yêu cầu nhiệm vụ

Nguyễn Trường Sơn (2013), Xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong sạch

vững mạnh ở các doanh nghiệp quân đội giai đoạn hiện nay [127] Luận án

nghiên cứu một cách hệ thống, đầy đủ, toàn diện, sâu sắc về xây dựng tổ chức cơ

sở đảng trong sạch vững mạnh ở các doanh nghiệp quân đội Công trình đã luậngiải rõ chức năng nhiệm vụ, các mối quan hệ, vai trò tổ chức cơ sở đảng ở cácdoanh nghiệp trong quân đội; những đặc điểm, tiêu chuẩn tổ chức cơ sở đảngtrong sạch vững mạnh ở các doanh nghiệp quân đội; quan niệm, tiêu chí đánh giá,những vấn đề có tính nguyên tắc Phân tích thực trạng nguyên nhân và những kinhnghiệm trong xây dựng tổ chức cơ sở đảng

Ngô Huy Tiếp (2014), Tư tưởng của V.I Lênin về xây dựng Đảng [133].

Tác giả cuốn sách làm rõ vị trí, vai trò của tổ chức cơ sở đảng: Tổ chức cơ sởđảng là hạt nhân tổ chức cơ bản của Đảng; tổ chức cơ sở đảng là nơi trực tiếp

Trang 24

giáo dục, rèn luyện, phân công công tác, quản lý và sàng lọc đảng viên; là hạtnhân lãnh đạo các tổ chức, các lĩnh vực của đời sống xã hội, là nơi kiểm nghiệmđường lối, chính sách của Đảng.

Nguyễn Bá Dương, Bùi Quang Cường (2016), Vấn đề xây dựng, chỉnh đốn

Đảng trong Văn kiện Đại hội XII [25] Các tác giả luận giải làm rõ: Nâng cao

NLLĐ và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng là vấn đề có tính quy luật, là yêucầu có tính khách quan trong xây dựng Đảng, xây dựng các tổ chức cơ sở đảngtrong sạch vững mạnh Nâng cao NLLĐ và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảngđược tiến hành trong mọi lĩnh vực hoạt động, ở tất cả các khâu, các bước, các mốiquan hệ trong quá trình xây dựng và lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng [25, tr 91]

Phạm Huy Tập (2016), Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của

các tổ chức đảng trong Bộ đội Biên phòng [128] Tác giả khẳng định: Nâng cao

NLLĐ, sức chiến đấu, xây dựng các tổ chức đảng trong Bộ đội Biên phòng trongsạch vững mạnh là khâu then chốt, nhằm xây dựng Bộ đội Biên phòng vữngmạnh toàn diện, lãnh đạo thực hiện tốt công tác Biên phòng, đáp ứng yêu cầunhiệm vụ xây dựng, quản lý, bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia

Lương Khắc Hiếu (2017), Nâng cao NLLĐ và sức chiến đấu của Đảng

trong thời kỳ mới [87] Tác giả đề cập về nội dung nâng cao NLLĐ và sức

chiến đấu của Đảng trong thời kỳ mới Gồm 3 chương: Chương I: Cơ sở lýluận về nâng cao NLLĐ và sức chiến đấu của Đảng; Chương II: NLLĐ và sứcchiến đấu của Đảng: Thực trạng và vấn đề đặt ra; Chương III: Quan điểm vàgiải pháp nâng cao NLLĐ và sức chiến đấu của Đảng trong thời kỳ mới Cơ sở

lý luận đưa ra 3 cơ sở: Chủ nghĩa Mác-Lênin về xây dựng Đảng Cộng sản,Đảng cầm quyền Tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng Cộng sản, xây dựng, chỉnhđốn Đảng; nâng cao NLLĐ và sức chiến đấu của Đảng Quan điểm của ĐảngCộng sản Việt Nam về xây dựng Đảng, về phương thức lãnh đạo và phươngthức cầm quyền của Đảng trong thời kỳ đổi mới

Trang 25

Trần Tất Thắng (2017), Nâng cao lãnh đạo công tác quốc phòng, quân

sự địa phương của đảng ủy quân sự tỉnh, thành phố trên địa bàn quân khu 3 giai đoạn hiện nay [130] Luận án đã khái quát quá trình lãnh đạo sự nghiệp

quốc phòng, quân sự và công tác quốc phòng, quân sự địa phương của Đảng,làm cơ sở nghiên cứu nguyên tắc, cơ chế lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành côngtác quốc phòng, quân sự của các cấp ủy địa trên địa bàn Quân khu 3

Công trình nghiên cứu những vấn đề lý luận, thực tiễn về NLLĐ côngtác quốc phòng, quân sự địa phương của đảng ủy quân sự tỉnh, thành phố trênđịa bàn Quân khu 3 Trên cơ sở đó, xây dựng khái niệm, xác định yêu cầu, nộidung và đề xuất giải pháp chủ yếu nâng cao NLLĐ công tác quốc phòng,quân sự địa phương của đảng ủy quân sự các tỉnh, thành phố trên địa bànQuân khu 3 giai đoạn hiện nay

Các công trình khoa học trên đã luận giải chi tiết toàn diện về vị trí, vaitrò, tính cấp thiết phải nâng cao NLLĐ, sức chiến đấu của tổ chức đảng; đưa raquan niệm, đặc điểm, tiêu chí nâng cao NLLĐ của các tổ chức đảng Đánh giáthực trạng ưu điểm, khuyết và nguyên nhân, rút ra những kinh nghiệm và đưa

ra những vấn đề có tính nguyên tắc nâng cao NLLĐ của tổ chức đảng Từ đó,

đề xuất những nội dung, giải pháp nâng cao NLLĐ của tổ chức đảng

Những công trình nghiên cứu trên rất gần với hướng nghiên cứu của đề tàiluận án, đó là hệ thống tài liệu tham khảo có giá trị cả về lý luận, thực tiễn đểnghiên cứu sinh có thể kế thừa, vận dụng để làm rõ hơn quan niệm trung tâm của

đề tài luận án, chỉ rõ chủ thể, đối tượng, lực lượng, nội dung, hình thức, biện phápnâng cao NLLĐ nhiệm vụ HLCĐ của các đảng ủy LĐT hải quân

1.3 Khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình đã công bố có liên quan đến đề tài và những vấn đề luận án cần tập trung giải quyết

1.3.1 Khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình đã được công bố liên quan đến đề tài

Một là, những công trình của các tác giả ở nước ngoài và trong nước

bàn đến HLCĐ với các nội dung: Vị trí, vai trò, tầm quan trọng của HLCĐ;

Trang 26

nguyên tắc HLCĐ; hình thức và phương pháp HLCĐ; đồng thời cũng chỉ rõnội dung, biện pháp HLCĐ

Hai là, các công trình nghiên cứu về xây dựng tổ chức đảng và NLLĐ

của tổ chức đảng đối với các lực lượng vũ trang đã làm rõ những nội dung: Vịtrí, vai trò tầm quan trọng của tổ chức đảng; nâng cao NLLĐ của tổ chứcđảng Các tác giả đã xác định: Để nâng cao NLLĐ phải nâng cao nhận thức,trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan chức năng và đội ngũ cán bộchủ trì các cấp; kiện toàn, lựa chọn, bồi dưỡng đội ngũ bí thư cấp ủy có phẩmchất, năng lực tốt; duy trì thực hiện tốt chế độ nền nếp, nguyên tắc sinh hoạt

Ba là, các công trình nghiên cứu trong nước trực tiếp bàn đến HLCĐ của

Quân đội, Quân chủng Hải quân rất đa dạng, phong phú, cụ thể bàn về: Huấnluyện và việc nâng cao chất lượng HLCĐ; về tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo,điều hành của cấp ủy, chỉ huy các cấp đối với công tác HLCĐ; một số côngtrình đánh giá thực trạng, rút ra bài học kinh nghiệm; dự báo những yếu tố tácđộng đến HLCĐ; đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao chất lượng HLCĐ

Bốn là, các công trình nghiên cứu trong nước trực tiếp bàn đến CTĐ,

CTCT trong HLCĐ của Quân đội, Quân chủng Hải quân đã làm rõ những nộidung:Về chất lượng HLCĐ; vị trí vai trò, mục đích, chủ thể, lực lượng nâng caochất lượng công tác HLCĐ, đánh giá thực trạng Đặc biệt có nhiều công trình đềxuất hệ thống giải pháp trong HLCĐ Song, ở những góc độ khác nhau về cácmặt hoạt động CTĐ, CTCT, hay chất lượng, hiệu quả, hiệu lực HLCĐ

Năm là, các công trình nghiên cứu ở trong nước thể hiện tính đa dạng, phong

phú về xây dựng, nâng cao NLLĐ của cấp ủy, tổ chức đảng, cũng đã luận giải chi tiếttoàn diện về vị trí, vai trò, tính cấp thiết phải nâng cao NLLĐ của tổ chức đảng Đánhgiá thực trạng ưu điểm, khuyết điểm và nguyên nhân của ưu điểm, khuyết điểm; đưa

ra những vấn đề có tính nguyên tắc nâng cao NLLĐ của tổ chức đảng

Trang 27

Kết quả nghiên cứu của các công trình đã công bố có liên quan đến đề tài

là nguồn tư liệu có giá trị lý luận, thực tiễn sâu sắc giúp cho nghiên cứu sinh cóthể tham khảo, vận dụng, chọn lọc và kế thừa trong quá trình thực hiện luận án

Mỗi công trình nghiên cứu đã công bố có liên quan đến đề tài luận án đều

có đối tượng nghiên cứu độc lập, với mục đích, nhiệm vụ, nội dung nghiên cứuphù hợp, với phương pháp nghiên cứu của các chuyên ngành khoa học khác nhau

Do đó, mặc dù có sự giao thoa nhất định về khách thể nghiên cứu, nội dungnghiên cứu, nhưng cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàndiện, chuyên sâu về nâng cao NLLĐ nhiệm vụ HLCĐ của các đảng ủy LĐT hảiquân dưới góc độ khoa học chính trị, chuyên ngành Xây dựng Đảng và Chínhquyền Nhà nước Vì vậy, đề tài luận án là công trình nghiên cứu độc lập, khôngtrùng lặp với bất cứ công trình khoa học nào đã nghiệm thu, được công bố

1.3.2 Những vấn đề luận án cần tập trung giải quyết

Một là, nghiên cứu làm rõ những vấn đề cơ bản về các LĐT hải quân;

nhiệm vụ HLCĐ của các LĐT hải quân; năng lực lãnh đạo nhiệm vụ HLCĐ củacác đảng ủy LĐT hải quân; nâng cao NLLĐ nhiệm vụ HLCĐ của các đảng ủyLĐT hải quân; xác lập những vấn đề có tính nguyên tắc và tiêu chí đánh giá nângcao NLLĐ nhiệm vụ HLCĐ của các đảng ủy LĐT hải quân

Hai là, nghiên cứu khảo sát thực tiễn, điều tra, thu thập dữ liệu, đánh

giá đúng thực trạng nâng cao NLLĐ nhiệm vụ HLCĐ của các đảng ủy LĐThải quân; chỉ rõ những ưu điểm, hạn chế, khuyết điểm; nguyên nhân củanhững ưu điểm, hạn chế, khuyết điểm; khái quát những kinh nghiệm nâng caoNLLĐ của các đảng ủy LĐT hải quân

Ba là, phân tích, dự báo tình hình, làm rõ những yếu tố khách quan, chủ

quan tác động trực tiếp đến nâng cao NLLĐ nhiệm vụ HLCĐ của các đảng ủyLĐT hải quân giai đoạn hiện nay Trên cơ sở đó xác định rõ yêu cầu để phát huynhững yếu tố tác động thuận lợi, khắc phục hạn chế, những yếu tố tác động

Trang 28

tiêu cực đến quá trình nâng cao NLLĐ nhiệm vụ HLCĐ của các đảng ủy LĐT

hải quân trong thời gian tới

Bốn là, xác định rõ những yêu cầu đối với nâng cao NLLĐ nhiệm vụ

HLCĐ của các đảng ủy LĐT hải quân, đồng thời đề xuất những giải pháp nângcao NLLĐ nhiệm vụ HLCĐ của các đảng ủy LĐT hải quân trong những năm tới

Trang 29

Kết luận chương 1

Tổng quan các công trình nghiên cứu ở nước ngoài và trong nước cóliên quan đến đề tài luận án về nhiệm vụ HLCĐ, về CTĐ, CTCT trong quânđội; về xây dựng, nâng cao NLLĐ, SCĐ của các cấp ủy, tổ chức đảng trongQuân đội, Hải quân với nhiều nội dung có giá trị lý luận, thực tiễn sâu sắc

Kết quả tổng quan cho thấy, hiện nay chưa có công trình khoa họcnào nghiên cứu một cách cơ bản, hệ thống về nâng cao NLLĐ nhiệm vụHLCĐ của các đảng ủy LĐT hải quân trong Quân đội nhân dân Việt Namgiai đoạn hiện nay Vì vậy, việc khảo cứu, khái quát, hệ thống hóa kết quảnghiên cứu của các công trình khoa học có liên quan, qua đó tìm tòi, pháthiện ra những vấn đề chưa được đề cập, làm rõ… Từ đó, đề xuất những ýtưởng mới và luận giải sâu sắc hơn những vấn đề lý luận, thực tiễn đặt ra.Ngoài ra, việc tổng quan các công trình nghiên cứu khoa học có liên quan đến đềtài luận án đã giúp tác giả có phương pháp tiếp cận khoa học, phù hợp Đồngthời, đây là nguồn tài liệu phong phú để nghiên cứu sinh tham khảo, kế thừa cóchọn lọc, vận dụng vào nghiên cứu nâng cao NLLĐ nhiệm vụ HLCĐ của cácđảng ủy LĐT Hải quân giai đoạn hiện nay

Thông qua tổng quan về vấn đề nghiên cứu có liên quan đề tài luận án,cho thấy có sự giao thoa ở một mức độ nhất định về đối tượng, phạm vi, nộidung nghiên cứu Tuy nhiên, hiện nay chưa có công trình khoa học nào nghiêncứu một cách cơ bản, hệ thống, sâu sắc về nâng cao NLLĐ nhiệm vụ HLCĐcủa các đảng ủy LĐT hải quân Vì vậy, đề tài luận án là công trình có ý nghĩathiết thực về lý luận, thực tiễn không trùng lặp với các công trình đã công bố

Trang 30

Chương 2 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN NÂNG CAO NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO NHIỆM VỤ HUẤN LUYỆN CHIẾN ĐẤU

CỦA CÁC ĐẢNG ỦY LỮ ĐOÀN TÀU HẢI QUÂN 2.1 Lữ đoàn tàu hải quân và những vấn đề cơ bản về năng lực lãnh đạo nhiệm vụ huấn luyện chiến đấu của các đảng ủy lữ đoàn tàu hải quân

2.1.1 Lữ đoàn tàu hải quân và nhiệm vụ huấn luyện chiến đấu của các lữ đoàn tàu hải quân

Khái quát về Quân chủng Hải quân và lữ đoàn tàu hải quân

Quân chủng Hải quân, tiền thân là Cục phòng thủ bờ bể (thành lập ngày 07

tháng 5 năm 1955) Trải qua hơn 6 thập kỷ xây dựng, chiến đấu, chiến thắng và

trưởng thành, các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Hải quân nhân dân Việt Nam đã xây đắpnên truyền thống “Chiến đấu anh dũng, mưu trí sáng tạo, làm chủ vùng biển;quyết chiến, quyết thắng”, đã lập nên nhiều chiến công, thành tích vẻ vang đượcĐảng, Nhà nước 2 lần phong tặng “Danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhândân” (Năm 1989, 2015) và nhiều phần thưởng cao quý khác

Với chức năng là lực lượng nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ chủquyền biển, đảo, thềm lục địa của Tổ quốc, duy trì sự ổn định trên các vùng biển,đảo Giữ vững chủ quyền, không để xảy ra xung đột, tạo điều kiện thuận lợi, yêntâm cho các lực lượng trên biển, Quân chủng Hải quân phối hợp, hiệp đồng vớicác lực lượng bảo vệ tốt việc đánh bắt, nuôi trồng thủy hải sản Giao thông vận tảibiển; bảo vệ môi trường sinh thái biển, ứng phó với biến đổi khí hậu; thăm dò,khai thác dầu khí và các hoạt động kinh tế biển Tích cực, chủ động thực hiện tốtvai trò làm nòng cốt trong các hoạt động phòng, chống thiên tai, tìm kiếm, cứu hộ,cứu nạn trên biển, nhất là trên các vùng biển xa; thực sự là chỗ dựa tin cậy, vữngchắc cho các hoạt động kinh tế biển.

Hiện nay, Quân chủng được xây dựng, phát triển theo hướng cách mạng,chính quy, tinh nhuệ, hiện đại với đầy đủ các thành phần, lực lượng chiến đấu

Trang 31

gồm: Tàu mặt nước; tàu ngầm; không quân hải quân; tên lửa - pháo bờ biển; hảiquân đánh bộ - đặc công nước và các lực lượng phục vụ, bảo đảm hậu cần, kỹthuật, nghiên cứu khoa học kỹ thuật quân sự hải quân… Trong thế trận biển, đảo,

đây là lực lượng nòng cốt bảo vệ chủ quyền quốc gia của Việt Nam trên biển, có

nhiệm vụ quản lý và kiểm soát chặt chẽ các vùng biển, đảo thuộc chủ quyền củaViệt Nam trên biển Giữ gìn an ninh, chống lại mọi vi phạm chủ quyền, quyền chủquyền, quyền tài phán và lợi ích quốc gia, dân tộc của Việt Nam trên biển Bảo vệcác hoạt động bình thường của Việt Nam trên các vùng biển, đảo theo quy địnhcủa luật pháp quốc tế và pháp luật Việt Nam Bảo đảm an toàn hàng hải và tham

gia tìm kiếm cứu nạn theo pháp luật Việt Nam và các điều ước quốc tế mà Việt

Nam tham gia, sẵn sàng hiệp đồng chiến đấu với các lực lượng khác nhằm đánh

bại mọi cuộc tiến công xâm lược trên hướng biển

Theo tổ chức, biên chế Quân chủng Hải quân gồm: Bộ Tư lệnh Quân

chủng, các cơ quan trực thuộc Bộ Tư lệnh Quân chủng: Bộ Tham mưu; CụcChính trị; Cục Hậu cần; Cục Kỹ thuật và các cơ quan chức năng (15 đơn vị:Văn phòng, Phòng Đối ngoại, Phòng Tình báo, Phòng Điều tra hình sự,Phòng Tác chiến không gian mạng, Thanh tra, Phòng Tài chính, Phòng Cứu

hộ cứu nạn, Phòng Đăng kiểm, Phòng Kinh tế, Phòng Khoa học quân sự,Phòng Thi hành án, Viện kiểm sát Quân sự Hải quân, Tòa án Quân sự Hảiquân, Phòng Thông tin) và 5 vùng Hải quân (Vùng 1, 2, 3, 4, 5) và các đơn vịtrực thuộc Quân chủng, gồm: Học viện Hải quân, Trường Cao đẵng Kỹ thuậtHải quân, Viện Y học Hải quân, Viện Kỹ thuật Hải quân, Tổng công ty Tâncảng Sài gòn, Lữ đoàn Không quân 954, Lữ đoàn Tàu ngầm 189, Trung đoànTàu ngầm 196, Lữ đoàn Đặc công 126

Tổ chức, biên chế các vùng Hải quân gồm: Bộ tư lệnh vùng, các cơ quan

chức năng: Phòng tham mưu, phòng chính trị, phòng hậu cần, phòng kỹ thuật, bantài chính; các lữ đoàn; trung tâm huấn luyện thực hành; một số đơn vị trực thuộcnhư: Đại đội cảnh vệ, tiểu đoàn thông tin, kho trạm

Đảng bộ Quân chủng Hải quân là Đảng bộ trực thuộc Quân ủy Trung

ương, được tổ chức theo Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam và và Quy định số

Trang 32

59-QĐ/TW, ngày 22/12/2016 của Bộ Chính trị “Về tổ chức đảng trong Quânđội nhân dân Việt Nam” Hệ thống tổ chức đảng trong Quân chủng Hải quânđược tổ chức tương ứng với tổ chức của Quân chủng, cụ thể: Ở Quân chủnglập Đảng bộ Quân chủng Hải quân; Đảng ủy Quân chủng Hải quân trực thuộcQuân ủy Trung ương, có số lượng 15 đến 21 ủy viên Trực thuộc Đảng ủyQuân chủng có Đảng bộ Bộ tham mưu, Đảng bộ Cục Chính trị, Đảng bộ CụcHậu cần, Đảng bộ Cục Kỹ thuật; đảng bộ các vùng Hải quân; đảng bộ các họcviện, nhà trường, các viện, công ty và các trung, lữ đoàn, các đơn vị tươngđương trực thuộc Quân chủng Đảng ủy các vùng Hải quân là đảng ủy cấptrên trực tiếp cấp cơ sở; trực thuộc các đảng ủy vùng Hải quân là các đảng ủyLĐT và đơn vị tương đương.

Theo Quy định số 59-QĐ/TW của Bộ Chính trị, Đảng ủy Quân chủngHải quân có 2 chức năng: Lãnh đạo mọi mặt các đơn vị thuộc quyền; nghiêncứu, đề xuất với Quân ủy Trung ương những vấn đề liên quan đến thực hiệnnhiệm vụ chính trị và CTĐ, CTCT trong Quân chủng Các chức năng đó củaĐảng ủy Quân chủng được thực hiện thông qua 8 nhiệm vụ cụ thể của Đảng

ủy trực thuộc Quân ủy Trung ương

Đảng ủy vùng Hải quân là cấp ủy cấp trên trực tiếp tổ chức cơ sở đảng,

trực thuộc Đảng ủy Quân chủng Hải quân; có số lượng từ 9 đến 15 ủy viên Trựcthuộc đảng ủy các vùng Hải quân gồm: Đảng bộ phòng tham mưu, đảng bộphòng chính trị, đảng bộ phòng hậu cần, đảng bộ phòng kỹ thuật; đảng bộ cácLĐT; đảng bộ trung tâm huấn luyện thực hành và một số tổ chức đảng ở đơn vịtrực thuộc đảng ủy vùng Hải quân Các đảng ủy vùng Hải quân có 2 chức năng,

8 nhiệm vụ, được xác định trong Quy định số 59-QĐ/TW của Bộ Chính trị

Lữ đoàn tàu hải quân

Từ điển Bách khoa Quân sự Việt Nam định nghĩa: Lữ đoàn là đơn vị

lớn hơn trung đoàn, nhỏ hơn sư đoàn; là binh đoàn chiến thuật, có thể hoạtđộng độc lập hoặc trong đội hình cấp trên trong QĐND Việt Nam Lữ đoàn tổchức biên chế trong các quân đoàn, quân khu, quân chủng, binh chủng, gồm4-6 tiểu đoàn và một số đại đội trực thuộc [9]

Trang 33

Lữ đoàn tàu hải quân là binh đoàn chiến thuật, đơn vị cơ sở thuộc các vùng, hoặc Quân chủng Hải quân, có khả năng hoạt động độc lập hay trong đội hình của cấp trên nhằm thực hiện nhiệm vụ chiến thuật hay chiến dịch; là lực lượng thường trực cơ động chủ yếu, lực lượng nòng cốt của Quân chủng trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo, thềm lục địa Tổ quốc và các nhiệm vụ khác.

Hiện nay, ngoài Lữ đoàn Tàu ngầm 189 trực thuộc Bộ Tư lệnh Quânchủng, còn các LĐT mặt nước thuộc biên chế của các vùng Hải quân, như:M25, M27, M61, M62, M67, M70, M71 và M72 Các LĐT được giao nhiệm

vụ quản lý, bảo vệ chủ quyền vùng biển từ Quảng Ninh đến vùng biển phíaTây Nam của Cà Mau và Kiên Giang; Quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa,đảo Phú Quý và vùng biển DK1

Tổ chức biên chế, trang bị của lữ đoàn tàu hải quân

Lữ đoàn tàu hải quân được tổ chức theo đúng quy định của Bộ Tổngtham mưu, bao gồm: Ban chỉ huy lữ đoàn, các cơ quan lữ đoàn gồm cácphòng tham mưu, chính trị, hậu cần, kỹ thuật và các đơn vị trực thuộc lữ đoàn(hải đội tàu, tàu và một số đơn vị trực thuộc lữ đoàn) Ban chỉ huy lữ đoàngồm: Lữ đoàn trưởng; chính ủy lữ đoàn; phó lữ đoàn trưởng - tham mưutrưởng; phó lữ đoàn trưởng; phó chính ủy

Đảng bộ LĐT hải quân là tổ chức cơ sở đảng 3 cấp gồm: Đảng ủy lữ đoàn,

đảng ủy hải đội và tương đương và các chi bộ tàu thuộc đảng ủy hải đội; các chi

bộ phòng: Tham mưu, chính trị, hậu cần, kỹ thuật trực thuộc đảng ủy lữ đoàn

Tổ chức quần chúng: Tổ chức đoàn cơ sở 3 cấp; công đoàn, phụ nữ Hội đồng quân nhân được tổ chức ở các tàu, đại đội và tương đương

Về biên chế trang bị, tùy theo chức năng, nhiệm vụ của từng LĐT mà

biên chế VKTBKT tàu thuyền cho phù hợp, cụ thể: Lữ đoàn M27 gồm hải đội tàu tuần tiễu, hải đội tàu vận tải phục vụ; Lữ đoàn M25 gồm hải đội tàu vận tải,

đổ bộ, phục vụ; Lữ đoàn M67 gồm các tàu đa năng, đa tác dụng, các tàu vận tải phục vụ; Lữ đoàn M71 gồm các tàu hộ vệ săn ngầm, các tàu vận tải phục vụ; Lữ

Trang 34

đoàn M62 gồm các tàu đa năng, đa tác dụng; Lữ đoàn M61 gồm hải đội tàu rà quét mìn, hải đội tàu vận tải đổ bộ và trạm sữa chữa kỹ thuật; Lữ đoàn tàu M72 gồm hải đội tàu tên lửa và hải đội tàu phóng ngư lôi, các tàu vận tải phục vụ; Lữ

đoàn tàu M70 gồm hải đội tàu tuần tiễu, hải đội tàu phóng lôi, tên lửa, hải độivận tải phục vụ và trung tâm huấn luyện thực hành

Chức năng, nhiệm vụ của LĐT hải quân

Căn cứ quy định chức năng, nhiệm vụ của Quân chủng Hải quân và Điềulệnh chiến đấu của LĐT mặt nước hải quân, các LĐT hải quân (trừ Lữ đoànTàu ngầm 189) có chức năng, nhiệm vụ sau:

Chức năng: Sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu, bảo vệ chủ quyền biển,

đảo; thực hiện chức năng “Đội quân công tác” - tham gia tìm kiếm, cứu nạn,khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa trên biển, ven biển, tiến hành công tácdân vận; tăng gia sản xuất cải thiện đời sống bộ đội

Nhiệm vụ của LĐT hải quân: Để thực hiện những chức năng trên, các

LĐT hải quân có nhiệm vụ:

Một là, huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, chiến đấu bảo vệ vững chắc vùng

biển, đảo, vùng trời và thềm lục địa của Tổ quốc theo phạm vi được phân công;

Hai là, huấn luyện chiến đấu, xây dựng chính quy, rèn luyện kỷ luật,

xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện;

Ba là, quản lý, bảo quản và sử dụng vũ khí, trang bị tàu thuyền, cơ sở vật

chất hậu cần - kỹ thuật hải quân;

Bốn là, tham gia phòng chống thiên tai, tìm kiếm cứu nạn cứu hộ trên

biển, ven biển;

Năm là, tiến hành công tác dân vận, củng cố mối quan hệ mật thiết với

nhân dân; xây dựng cơ sở địa phương vững mạnh, thế trận quốc phòng, anninh trên biển, ven biển vững chắc;

Sáu là, thực hiện các nhiệm vụ khác theo yêu cầu của trên: Tuần tra chung

cùng Hải quân các nước trong khu vực; thực hiện nhiệm vụ đối ngoại quốcphòng; quản lý, sử dụng đất quốc phòng theo quy định…

Trang 35

Nhiệm vụ huấn luyện chiến đấu của các lữ đoàn tàu hải quân

Quan niệm nhiệm vụ huấn luyện chiến đấu

Từ điển Bách khoa Quân sự Việt Nam xác định: HLCĐ là huấn luyện

quân sự cho quân nhân, phân đội, binh đội, binh đoàn, người chỉ huy và cơquan có kỹ năng, kỹ xảo để hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu và các nhiệm vụkhác HLCĐ bao gồm huấn luyện chiến thuật, huấn luyện kỹ thuật, huấn luyệnchỉ huy, huấn luyện đội ngũ, huấn luyện thể lực HLCĐ được tiến hành cả thờibình và thời chiến Nội dung và chất lượng HLCĐ có tác dụng rất quan trọngđối với sức chiến đấu và trình độ sẵn sàng chiến đấu của bộ đội HLCĐ đượctiến hành bằng các hình thức giảng bài, phổ biến kinh nghiệm, tập bài, luyệntập, bắn đạn thật và diễn tập Trong HLCĐ cán bộ và chiến sĩ được học tập,điều lệnh, điều lệ, vũ khí, kỹ thuật quân sự, luyện tập các thủ đoạn và phươngpháp chiến thuật trong chiến đấu HLCĐ gắn chặt với giáo dục chính trị.HLCĐ của LĐT hải quân được tiến hành phù hợp với yêu cầu của điều lệnh,điều lệ, chỉ thị, mệnh lệnh của người chỉ huy lữ đoàn Một trong những nguyêntắc cơ bản của HLCĐ là phải sát với thực tế chiến đấu Nội dung, hình thức,phương pháp HLCĐ được xác định trong kế hoạch và chương trình huấn luyện.Người chỉ huy các đơn vị phải trực tiếp soạn thảo chương trình, kế hoạch huấnluyện và trực tiếp huấn luyện cho cấp dưới theo phân cấp [9]

Điều lệ công tác Tham mưu huấn luyện năm 1997, định nghĩa: HLCĐ

là hoạt động của người chỉ huy, cơ quan đơn vị nhằm giáo dục, truyền thụkiến thức, rèn luyện cho bộ đội có bản lĩnh chính trị vững vàng và kỹ năngcần thiết về chiến thuật, kỹ thuật, có kỷ luật nghiêm minh, thể lực tốt để chiến

đấu và phục vụ chiến đấu

Theo Từ điển Hải quân, năm 2015: Huấn luyện là hệ thống các biện

pháp dạy và luyện cho bộ đội nhằm nâng cao bản lĩnh chính trị, năng lực tổchức chỉ huy của cán bộ, kỹ năng chiến đấu của chiến sĩ, trình độ nghiệp vụnhân viên chuyên môn kỹ thuật, trình độ hiệp đồng chiến đấu sát với yêu cầuthực tế chiến đấu Nội dung huấn luyện kỹ năng tác chiến và giáo dục lý luậnquân sự, chính trị, khoa học kỹ thuật, văn hóa, thể lực cho bộ đội [113, tr 280]

Trang 36

Từ những vấn đề trên, có thể quan niệm: HLCĐ của LĐT hải quân là

hệ thống hoạt động của người chỉ huy, cơ quan đơn vị bằng các hình thức, biện pháp truyền bá những tri thức và rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo chiến đấu hải quân; phát triển các phẩm chất chiến đấu cho từng người, từng ngành, từng tàu, từng hải đội và cả lữ đoàn, nâng cao năng lực tổ chức chỉ huy, trình

độ kỹ thuật, chiến thuật, tính kỷ luật, bản lĩnh, tác phong chiến đấu của cán

bộ, chiến sĩ nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, chiến đấu trong mọi tình huống.

Hằng năm, các LĐT hải quân phải thực hiện nhiệm vụ HLCĐ theo chỉlệnh của cấp trên, trực tiếp là các bộ tư lệnh vùng Hải quân triển khai đến cácLĐT với những nội dung chương trình, yêu cầu cụ thể Tuy nhiên, từ quanniệm trên có thể chỉ ra những vấn đề chủ yếu về thực hiện nhiệm vụ HLCĐcủa các LĐT hải quân như sau:

Mục đích: Bồi dưỡng tri thức; rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo, trình độ kỹ

chiến thuật; phát triển các phẩm chất chiến đấu cho từng người, từng bộ phận

và cả lữ đoàn; nâng cao năng lực tổ chức chỉ huy của đội ngũ cán bộ đáp ứngyêu cầu nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, chiến đấu trong mọi tình huống

Chủ thể lãnh đạo: Cấp ủy đảng các cấp, trực tiếp là đảng ủy LĐT Chủ thể chỉ đạo, quản lý: Chỉ huy các cấp, trực tiếp là hệ thống chỉ

huy ở các LĐT hải quân

Lực lượng tham gia: Là đội ngũ cán bộ, giáo viên kiêm chức, các cơ

quan chức năng làm nhiệm vụ HLCĐ của đơn vị

Đối tượng tác động: Là mọi cơ quan, tổ chức, lực lượng, đơn vị, mọi cán

bộ, chiến sĩ trong các LĐT hải quân

Yêu cầu nhiệm vụ HLCĐ của LĐT hải quân

Một là, HLCĐ của LĐT hải quân là phải tiến hành thường xuyên, liên tục,

sát thực tế sẵn sàng chiến đấu, chiến đấu và tình hình nhiệm vụ của các LĐT

Hai là, HLCĐ của LĐT hải quân là phải theo đúng nguyên lý giáo dục

của Đảng, quan điểm, phương châm, nguyên tắc và các mối kết hợp trongHLCĐ của QĐND Việt Nam

Trang 37

Ba là, HLCĐ của LĐT hải quân là phải đáp ứng yêu cầu trước mắt và lâu

dài, phù hợp với sự phát triển của VKTBKT và nghệ thuật quân sự hải quân

Bốn là, HLCĐ của LĐT hải quân là phải kết hợp chặt chẽ với giáo dục

chính trị - bồi dưỡng, rèn luyện phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng, lốisống trong sạch, lành mạnh của bộ đội Hải quân

Nội dung nhiệm vụ HLCĐ của các LĐT hải quân

Nhiệm vụ HLCĐ của các LĐT hải quân toàn diện, đa dạng phong phú,sát với đặc điểm đối tượng, chiến trường, địa bàn tác chiến Nội dung nhiệm

vụ HLCĐ của LĐT hải quân bao gồm:

Theo lĩnh vực, có nội dung huấn luyện quân sự, huấn luyện chính trị,huấn luyện hậu cần, huấn luyện kỹ thuật;

Theo đối tượng tác động có nội dung huấn luyện cho cán bộ; nội dunghuấn luyện cho quân nhân chuyên nghiệp, nhân viên chuyên môn kỹ thuật; nộidung huấn luyện cho hạ sĩ quan, binh sĩ

Theo phương pháp tổ chức, có nội dung huấn luyện điều lệnh (Điều lệnh kỷluật, Điều lệnh quản lý bộ đội, Điều lệnh đóng quân canh phòng, Điều lệnh đội ngũ,Điều lệnh lệnh tàu, Điều lệnh tác chiến LĐT mặt nước hải quân;…); nội dung huấnluyện chiến thuật (chiến thuật cá nhân, chiến thuật đơn tàu, chiến thuật biên độitàu…); nội dung huấn luyện khoa mục chung (là huấn luyện về cấu tạo chung củatàu, rèn luyện sức chịu đựng sóng gió, rèn luyện thể lực, các biện pháp cấp cứu, sơcứu, phòng chống vũ khí hủy diệt lớn, huấn luyện các biện pháp bảo vệ sức sốngtàu và vũ khí, phương tiện kỹ thuật trong chiến đấu; huấn luyện đối sách trên biển,luật biển, quy tắc nghé vào cảng nước ngoài, quy tắc ứng xử Biển Đông…) Trong

đó huấn luyện chiến thuật hải quân là trung tâm

Hình thức, phương pháp HLCĐ của các LĐT hải quân

Hình thức HLCĐ của các LĐT hải quân gồm:

Huấn luyện lý thuyết: Bài giảng, thảo luận, tự học, phân tích chuyên đề,

hội thảo, hội nghị

Trang 38

Huấn luyện thực hành: Huấn luyện sĩ quan: Bài tập nhóm, hội báo

chiến thuật, luyện tập tại vị trí chỉ huy; huấn luyện cơ quan chỉ huy: Luyệntập cơ quan, diễn tập chỉ huy - cơ quan Đối với từng tàu: Thao diễn chiếnđấu toàn tàu, bài tập chiến đấu tàu, hành quân đơn tàu (diễn tập chiến thuậttàu) Đối với đơn vị: Huấn luyện biên đội tàu hành quân trên biển, huấnluyện vòng tổng hợp, diễn tập chiến thuật

Phương pháp HLCĐ của các LĐT hải quân:

Là phương pháp kết hợp lý luận với thực tiễn; lên lớp, thảo luận, luyệntập thực hành trên VKTBKT được biên chế, tổ chức trên tàu; triển khai thựchành sát các tình huống trên chiến trường biển, đảo, các bài huấn luyện theotừng khoa mục, huấn luyện vòng tổng hợp kết hợp sử dụng vũ khí, diễn tập Trong thực tế HLCĐ của các LĐT hải quân thường vận dụng các phươngpháp huấn luyện như sau: Phương pháp trình bày bằng lời (giảng bài, kểchuyện, trao đổi, tự nghiên cứu); phương pháp làm mẫu, phương pháp làm bàitập (diễn tập, luyện tập,…); phương pháp huấn luyện theo đối tượng

Phương pháp huấn luyện theo đối tượng gồm: Phương pháp huấn luyệncho sĩ quan là phương pháp huấn luyện theo thứ tự phát triển kiến thức và kỹ năngcho sĩ quan trong quá trình huấn luyện: Tiến hành huấn luyện lý thuyết (lên lớp,thảo luận, tự học, hội thảo, hội nghị khoa học quân sự); huấn luyện thực hành (bàitập nhóm, hội báo chiến thuật, luyện tập tại vị trí chỉ huy, tham gia diễn tập)

Phương pháp huấn luyện cho cơ quan chỉ huy là đầu tiên huấn luyện cho cơ

quan, sau đó tiến hành huấn luyện phối hợp chung thành phần chỉ huy và cơ quan(luyện tập tham mưu, hậu cần, chuyên môn) giải quyết các nhiệm vụ khác nhau

Phương pháp huấn luyện cấp lữ đoàn là phản ánh quy trình huấn luyện

nói chung để giải quyết các nhiệm vụ theo chức năng Sau khi huấn luyện sĩquan, huấn luyện cơ quan, huấn luyện phối hợp chỉ huy - cơ quan, huấn luyệncho từng tàu thì huấn luyện cấp lữ đoàn Nội dung huấn luyện chính của lữđoàn là huấn luyện hiệp đồng các lực lượng trong toàn lữ đoàn, hiệp đồng vớicác lực lượng khác của Hải quân và binh chủng khác

Trang 39

Đặc điểm nhiệm vụ HLCĐ của các LĐT hải quân

Thứ nhất, HLCĐ của các LĐT hải quân vừa mang tính độc lập cao; vừa có sự phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ giữa nhiều lực lượng và gắn bó với quá trình xây dựng Quân chủng tiến thẳng lên hiện đại.

Do đặc điểm của VKTBKT tàu thuyền hải quân rất hiện đại với nhiềuchủng loại khác nhau để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ cụ thể khác nhaunhưng yêu cầu tính tập thể rất cao trong khai thác, sử dụng và điều hành… Mỗinội dung công việc trong thực hiện nhiệm vụ của đơn tàu đều không thể thực hiệnđược bởi đơn lẻ, hoặc số ít con người, bộ phận, phương tiện mà phải phối hợpgiữa các vị trí, các ngành và toàn thể con tàu… Tuy vậy, tất cả đều phải thốngnhất hướng vào thực hiện thắng lợi nhiệm vụ HLCĐ Mặt khác, HLCĐ của cácLĐT là hệ thống các biện pháp với nhiều hình thức đa dạng phong phú, phức tạp,mang tính tổng hợp cao; hiệp đồng chặt chẽ trong từng bộ phận, từng ngành, từngtàu, từng biên đội… Để thực hiện nhiệm vụ của mình trong huấn luyện, mỗi quânnhân phải có hiểu biết, kỹ năng tổng hợp, không chỉ biết vị trí chiến đấu của mình

mà còn phải biết các vị trí chiến đấu liên quan và có ý thức kỷ luật tốt Để thựchiện các nội dung, khoa mục huấn luyện đòi hỏi phải phát huy được sức mạnhtổng hợp của nhiều tổ chức, lực lượng, bộ phận trong và có khi cả ngoài LĐT.Như vậy, mỗi quân nhân trên tàu phải có tư duy, phương pháp, tác phong vừachuyên sâu, vừa toàn diện, bao quát - phải “Giỏi một vị trí chiến đấu”, “Biết nhiều

vị trí chiến đấu” liên quan; mỗi cán bộ phải có tư duy, kỹ năng lãnh đạo, chỉ huybao quát mang tính tổng hợp cao trong thực hiện nhiệm vụ HLCĐ

Huấn luyện và xây dựng lực lượng gắn bó chặt chẽ với nhau Hiện nayQuân chủng Hải quân đang quán triệt, thực hiện chủ trương của Đảng: Xâydựng Hải quân nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại.Đây là chủ trương lớn, quán xuyến, chi phối đến mọi hoạt động của toànQuân chủng và mỗi đơn vị, nhất là hoạt động HLCĐ Điều đó cũng có nghĩa

là, HLCĐ của các LĐT hải quân phải hướng tới xây dựng, tác chiến chínhquy, hiện đại Quân chủng Hải quân vốn là Quân chủng chiến đấu, kỹ thuật

Trang 40

Hiện nay, được biên chế nhiều chủng loại VKTBKT, tàu thuyền hiện đại vàthường xuyên được bổ sung, đổi mới, cải tiến; đó là điều kiện thuận lợi chonâng cao chất lượng HLCĐ, xây dựng chính quy, rèn luyện kỷ luật, đổi mớiphương pháp tác phong công tác Đồng thời, cũng đặt ra những vấn đề phứctạp trong lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức, quản lý, điều hành HLCĐ.

Quân chủng và các LĐT hải quân đang tiếp tục quán triệt, thực hiện

phương châm huấn luyện “Cơ bản, thiết thực, vững chắc”, coi trọng huấn

luyện đồng bộ, chuyên sâu; huấn luyện ban đêm; huấn luyện trong điều kiệnthời tiết, khí tượng, thủy văn phức tạp và sát thực tế chiến trường biển, đảo.Huấn luyện cho bộ đội Hải quân sử dụng thành thạo VKTBKT, tàu thuyềntrong tổ chức biên chế hiện có, làm chủ và khai thác tốt các loại VKTBKTmới, hiện đại, nâng cao trình độ kỹ thuật, chiến thuật; hiểu biết sâu sắc vềtruyền thống đánh giặc và nghệ thuật quân sự của dân tộc “Lấy nhỏ đánh lớn,lấy ít địch nhiều” HLCĐ của các LĐT tại cảng, tại căn cứ và nhất là trên biểnđòi hỏi sự phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ giữa nhiều lực lượng, bộ phận (trongmột ngành, trong mỗi tàu, mỗi biên đội, từng lữ đoàn; trong và cả ngoài Quânchủng) Do vậy rất phức tạp, đòi hỏi phải có sự phối hợp, hiệp đồng rất chặtchẽ với ý thức tổ chức kỷ luật nghiêm túc, tác phong khoa học

Đặc điểm trên đòi hỏi, trong lãnh đạo nhiệm vụ HLCĐ, các đảng ủy LĐTphải có chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện thật tốt phương châmhuấn luyện; kết hợp chặt chẽ huấn luyện với giáo dục nhiệm vụ xây dựng Quânchủng, xây dựng đơn vị; coi trọng huấn luyện cho bộ đội làm chủ VKTBKT hiệnđại; quan tâm bồi dưỡng phương pháp khoa học, tác phong chính quy, xây dựngtinh thần đoàn kết, hiệp đồng, lập công tập thể cho các bộ, chiến sĩ…

Thứ hai, HLCĐ của các LĐT hải quân gắn với môi trường biển, đảo và nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, cũng như các nhiệm vụ khác trên biển.

Huấn luyện chiến đấu của các LĐT hải quân thường xuyên gắn liền vớimôi trường, chiến trường biển, đảo với những điều kiện khó khăn, khắc

Ngày đăng: 28/07/2020, 06:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w