1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh và bài học đối với sinh viên

21 630 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 166 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chủ tịch Hồ Chí Minh – Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa kiệt xuất của nhân loại – Người chiến sĩ cộng sản quốc tế kiên cường – Người sáng lập, lãnh đạovà rèn luyện Đảng ta, Nhà nước ta,… Cuộc đời hoạt động của người đã để lại cho chúng ta và các thế hệ mai sau một di sản tinh thần vô giá, đó chính là Tư tưởng của Hồ Chí Minh. Đại hội VII (1991), Đảng ta khẳng định “chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng và cách mạng Việt Nam”. Đó là một quyết định có tầm lịch sử quan trọng thể hiện bước tiến mơi trong tư duy luận của Đảng ta.Tư tưởng Hồ Chí Minh là hệ thống tư tưởng quan điểm cơ bản phản ánh thực tiễn cách mạng thuộc địa. Trên cơ sở kế thừa, vận dụng, và phát triển sáng tạo chủ nghĩa MácLênin, tinh hoá văn hoá dân tộc và trí tuệ nhân loại nhằm giải phóng dân tộc giai cấp, con người. Đại hội lần thứ IX của Đảng (2001) khẳng định: Đảng và nhân dân ta quyết tâm xây dựng đất nước Việt Nam theo con đường xã hội chủ nghĩa trên nền tảng chủ nghĩa Mác Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh. Và bất cứ một tư tưởng nào cũng phải có nguồn gốc, cơ sở hình thành, đó chính là tuân theo qui luật hình thành tư tưởng từ ít đến nhiều, từ hình thức đến nội dung, bản chất. Vì vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh cũng không nằm ngoài qui luật đó.

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHOA CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH

TIỂU LUẬN GIỮA KỲ

Môn học:Tư tưởng Hồ Chí Minh Học kỳ II (2019-2020)

Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh và bài

học đối với sinh viên

Sinh viên: Bùi Văn Danh

MSSV: 1718154

Lớp: 17CSH

Trường: Đại học Khoa học tự nhiên

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 06 năm 2020

Trang 2

2

Trang 3

Mục lục:

PHẦN MỞ ĐẦU

PHẦN NỘI DUNG

I CƠ SỞ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH 5

1 Cơ sở khách quan 5

1.1 Bối cảnh lịch sử hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh 5

a Bối cảnh lịch sử Việt Nam cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX 5

b Bối cảnh thời đại 7

1.2 Những tiền đề tư tưởng lí luận 8

a Giá trị truyền thống dân tộc 8

b Tinh hoa văn hóa nhân loại 9

c Chủ nghĩa Mác – Lênin: 13

2 Nhân tố chủ quan 15

2.1 Khả năng tư duy và trí tuệ Hồ Chí Minh 15

2.2 Phẩm chất đạo đức và năng lực hoạt động thực tiễn 16

II BÀI HỌC ĐỐI VỚI SINH VIÊN 16

1 Tiếp thu và kế thừa những giá trị truyền thống của dân tộc đối với sinh viên 16

2 Tiếp thu giá trị tinh hóa văn hóa nhân loại đối với sinh viên 17

3 Học tập chủ nghĩa Mác-Lênin 18

4 Học tập tấm gương Chủ tịch Hồ Chí Minh 19

PHẦN KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 4

PHẦN MỞ ĐẦU

Chủ tịch Hồ Chí Minh – Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa kiệt xuất

của nhân loại – Người chiến sĩ cộng sản quốc tế kiên cường – Người sáng lập, lãnh đạovà rèn luyện Đảng ta, Nhà nước ta,… Cuộc đời hoạt động của người đã để lại cho

chúng ta và các thế hệ mai sau một di sản tinh thần vô giá, đó chính là Tư tưởng của Hồ

Chí Minh Đại hội VII (1991), Đảng ta khẳng định “chủ nghĩa Mác – Lê-nin và tư tưởng

Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng và cách mạng Việt Nam” Đó là một quyết định có tầm lịch sử quan trọng thể hiện bước tiến mơi trong

tư duy luận của Đảng ta

Tư tưởng Hồ Chí Minh là hệ thống tư tưởng quan điểm cơ bản phản ánh thực tiễncách mạng thuộc địa Trên cơ sở kế thừa, vận dụng, và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tinh hoá văn hoá dân tộc và trí tuệ nhân loại nhằm giải phóng dân tộc giai cấp, con

người Đại hội lần thứ IX của Đảng (2001) khẳng định: "Đảng và nhân dân ta quyết tâm

xây dựng đất nước Việt Nam theo con đường xã hội chủ nghĩa trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lê-nin và Tư tưởng Hồ Chí Minh" Và bất cứ một tư tưởng nào cũng phải có nguồn

gốc, cơ sở hình thành, đó chính là tuân theo qui luật hình thành tư tưởng từ ít đến nhiều,

từ hình thức đến nội dung, bản chất Vì vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh cũng không nằmngoài qui luật đó

4

Trang 5

PHẦN NỘI DUNG

I CƠ SỞ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

1 Cơ sở khách quan

1.1.Bối cảnh lịch sử hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh

a Bối cảnh lịch sử Việt Nam cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX

Vào năm 1859, đế quốc Pháp nổ súng đánh chiếm nước ta, giữa lúc chế độ phongkiến Việt Nam đang trên đà suy tàn, mâu thuẫn giữa giai cấp nông dân với giai cấp địachủ phong kiến trở nên gay gắt Trước hành động xâm lược của đế quốc Pháp, chế độphong kiến mà đại biểu là triều đình nhà Nguyễn đã chọn con đường quỳ gối đầu hàng,dâng nước ta cho Pháp Chế độ phong kiến Việt Nam trước đây đại biểu cho dân tộc, đếnnay bộc lộ rõ sự thối nát, bất lực và phản động Mặc dù vậy, ngay từ khi đế quốc Phápxâm lược nước ta, các phong trào yêu nước chống Pháp của nhân dân ta với truyền thốngkiên cường bất khuất đã liên tiếp nổ ra khắp Bắc, Trung, Nam Cuộc chiến đấu vô cùnganh dũng của nhân dân ta đã gây cho bọn xâm lược rất nhiều khó khăn, thiệt hại Phải mấtmột phần ba thế kỷ, đế quốc Pháp mới đặt được ách thống trị lên đất nước ta Tuy nhiên,các cuộc kháng chiến anh dũng đó đều không thành công, đều bị dập tắt trong máu lửa.Năm 1885, phong trào Cần Vương dưới sự lãnh đạo của các sĩ phu yêu nước phát triểnrầm rộ, nhưng cũng chỉ kéo dài được đến năm 1896 Tuy các sĩ phu giàu lòng yêu nước,nhưng không có khả năng vạch ra được giải pháp mới phù hợp với hoàn cảnh lịch sử và

xu thế phát triển của thời đại Đến cuối thế kỷ thứ XIX, các phong trào yêu nước chốngPháp đều bị thất bại Bởi kẻ thù mới này có tiềm lực kinh tế, có đội quân xâm lược nhànghề với ưu thế về vũ khí, kỹ thuật và phương tiện chiến tranh Nhận định phong trào

chống Pháp của nhân dân ta thời kỳ này, Chủ tịch Hồ Chí Minh sau này có viết: “Cuối

thế kỷ XIX chủ nghĩa đế quốc Pháp xâm lược Việt Nam Bọn vua quan và phong kiến đê tiện và hèn nhát đầu hàng và câu kết với bọn đế quốc để tiếp tục nô dịch nhân dân Việt Nam nhiều hơn, khiến nhân dân Việt Nam khổ cực không kể xiết Nhưng đại bác của bọn

đế quốc không thể át tiếng nói yêu nước của nhân dân Việt Nam…Phong trào cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam không ngừng phát triển, kẻ trước ngã, người sau đứng

Trang 6

dậy Nhưng tất cả những cuộc khởi nghĩa yêu nước ấy đã bị dìm trong máu Những đám mây đen lại bao phủ đất nước Việt Nam”

Sang đầu thế kỷ XX, sau khi đã cơ bản hoàn thành giai đoạn vũ trang xâm lược nước

ta, đế quốc Pháp tiến hành kế hoạch “khai thác thuộc địa”, nhằm bóc lột, vơ vét sứcngười, sức của ở Việt Nam Dưới chế độ khai thác, bóc lột và thống trị của đế quốc Pháp,

xã hội Việt Nam có nhiều thay đổi quan trọng về kinh tế, chính trị và văn hóa

Cũng vào thời điểm đó, các trào lưu tư tưởng dân chủ tư sản trên thế giới dồn dậpdội vào nước ta: tư tưởng của Cách mạng Nga năm 1905 dưới tác động của nước Nhậtduy tân, chủ nghĩa tam dân của Tôn Trung Sơn, tư tưởng dân tộc, dân quyền của LươngKhải Siêu và Khang Hữu Vi, tư tưởng của Cách mạng tư sản Pháp, v.v Dưới ảnh hưởngcủa các trào lưu tư tưởng trên, phong trào yêu nước Việt Nam chuyển sang khuynh hướngmới mà ta thường gọi là cuộc vận động dân tộc dân chủ tư sản, tiêu biểu là các phong tràoĐông Du của Phan Bội Châu, Đông Kinh Nghĩa Thục của Lương Văn Can, cải cách dânchủ của Phan Châu Trinh, phong trào chống thuế ở Trung Kỳ,… Sau một thời gian pháttriển rầm rộ, các phong trào trên cũng nối tiếp nhau tan rã trước sự đàn áp man rợ của đếquốc Pháp Mặc dù còn thụ động, chưa tin vào sức mạnh của chính dân tộc mình, mànặng về cầu viện, cải cách, nhưng giải pháp mới theo khuynh hướng dân chủ tư sản chí ítcũng đặt vấn đề của dân tộc Việt Nam trong mối quan hệ quốc tế và thời đại nhất định.Những thay đổi về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội trên đây dẫn đến những thayđổi về tính chất và mâu thuẫn cơ bản của xã hội Việt Nam, về đối tượng và lực lượng củacách mạng Việt Nam Cơ cấu giai cấp xã hội cũng thay đổi: giai cấp công nhân và giaicấp tư sản hình thành cùng với sự phân hóa của các giai cấp cũ, rồi kéo theo sự thay đổi

về ý thức xã hội và đời sống Bị đế quốc Pháp xâm lược, xã hội Việt Nam từ một xã hộiphong kiến chuyển thành xã hội thuộc địa, nửa phong kiến Hai mâu thuẫn cơ bản trong

xã hội Việt Nam là: mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với đế quốc Pháp xâm lược; mâuthuẫn giữa nhân dân Việt Nam – chủ yếu là nông dân – với giai cấp địa chủ phong kiến.Đối tượng cần phải đánh đổ của cách mạng Việt Nam là đế quốc Pháp và giai cấp địa chủphong kiến Trong bối cảnh của tình hình quốc tế và trong nước như vậy, giải phóng dântộc là yêu cầu căn bản của xã hội Việt Nam, là nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam, là

6

Trang 7

nguyện vọng thiết tha của cả dân tộc Việt Nam Rõ ràng, đến đầu thế kỷ XX, cách mạngViệt Nam diễn ra cuộc khủng hoảng về đường lối cứu nước, về giai cấp lãnh đạo sựnghiệp giải phóng dân tộc Cách mạng Việt Nam ở trong "tình hình đen tối như không cóđường ra”

b Bối cảnh thời đại

Vào giữa thế kỷ thứ XIX, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã thống trị ở Anh,Pháp, Đức và một số nước khác ở Tây Âu Ở các nước này, giai cấp tư sản tăng cường ápbức, bóc lột giai cấp công nhân Và cũng tại đây, phong trào công nhân phát triển từ "tựphát" đến "tự giác", mâu thuẫn cơ bản giữa giai cấp công nhân và giai cấp tư sản trở nêngay gắt Cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân đối với chủ nghĩa tư bản đòi hỏi phải có

lý luận tiên phong dẫn đường Để đáp ứng đòi hỏi đó, chủ nghĩa Mác ra đời với Tuyên

ngôn của Đảng Cộng sản Lý luận của chủ nghĩa Mác khẳng định sứ mệnh lịch sử toàn

thế giới của giai cấp công nhân là lật đổ chế độ tư bản chủ nghĩa, xây dựng xã hội mới, xãhội cộng sản chủ nghĩa

Đến cuối thế kỷ thứ XIX, chủ nghĩa tư bản thế giới chuyển sang giai đoạn đế quốcchủ nghĩa Các nước đế quốc tranh giành nhau xâm chiếm thuộc địa và đã căn bản hoànthành việc phân chia thế giới, áp đặt ách thống trị thực dân ở khắp các nước Á, Phi và MỹLatinh Thế giới bị chia cắt làm hai: một khu vực gồm các nước tư bản, có nền côngnghiệp phát triển, thường được gọi là phương Tây, còn khu vực còn lại gồm các nướcthuộc địa và phụ thuộc, nền kinh tế còn lạc hậu, thường được gọi là phương Đông Vấn đềđặt ra cho các nước thuộc địa và phụ thuộc là làm thế nào để được giải phóng Thế giớihình thành mâu thuẫn mới: mâu thuẫn giữa các dân tộc thuộc địa với chủ nghĩa đế quốc,thực dân Nó trở thành điều kiện khách quan cho phép phong trào cách mạng ở các nướcthuộc địa gắn bó với phong trào cách mạng quốc tế, đặc biệt là với phong trào cách mạngcủa giai cấp công nhân ở các nước tư bản

Sang đầu thế kỷ XX, nhiều sự kiện lịch sử diễn ra dồn dập, báo trước sự chuyển biếncủa tình hình quốc tế Cuộc xung đột, tranh giành quyền lợi giữa các nước đế quốc đã dẫnđến cuộc Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 - 1918), làm cho các mâu thuẫn vốn có củachủ nghĩa đế quốc trở nên gay gắt Cùng với phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân

Trang 8

ở các nước đế quốc, phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa và phụthuộc bùng lên mạnh mẽ, điển hình là Trung Quốc, Ấn Độ, Iran, Thổ Nhĩ Kỳ,Ápganixtan, Inđônêxia, v.v… Bão táp cách mạng với "phương Đông thức tỉnh" là nét đặcsắc của tình hình quốc tế trong giai đoạn này.

Trong bối cảnh lịch sử ấy, Lênin đã phân tích tình hình cụ thể, tiếp tục phát triển chủnghĩa Mác trong giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, đề ra lý luận cách mạng vô sản có thể thànhcông ở một số nước, thậm chí trong một nước tư bản phát triển trung bình; đồng thời nêulên nguyên lý về cách mạng giải phóng dân tộc thuộc địa, về sự đoàn kết giữa giai cấpcông nhân ở các nước tư bản và các dân tộc ở các nước thuộc địa trong cuộc đấu tranhchung chống chủ nghĩa đế quốc, thực dân Thực tiễn chứng minh lý luận của Lênin làđúng với thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Mười năm 1917 dưới sự lãnh đạo củaĐảng Bônsêvích Nga Thắng lợi đó là nguồn cổ vũ lớn lao đối với cách mạng thế giới,nhất là cách mạng ở thuộc địa Năm 1919, Lênin cùng các nhà cách mạng chân chính ởcác nước thành lập Quốc tế Cộng sản - một tổ chức quốc tế của phong trào cách mạng thếgiới Quốc tế Cộng sản ra đời đánh dấu bước phát triển mới về chất của phong trào cáchmạng vô sản và phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc trên phạm vi thế giới

1.2. Những tiền đề tư tưởng lí luận

a Giá trị truyền thống dân tộc

Tư tưởng Hồ Chí Minh có cội nguồn từ những giá trị truyền thống tốt đẹp của dântộc Khi tôn vinh Người là danh nhân văn hóa kiệt xuất và Anh hùng giải phóng dân tộc,

tổ chức UNESCO đã ghi nhận: Hồ Chí Minh là kết tinh của truyền thống văn hóa ngànnăm của dân tộc Việt Nam Dân tộc Việt Nam trải qua hàng nghìn năm lịch sử dựng nước

và giữ nước đã tạo lập cho mình một nên văn hóa riêng, phong phú và bền vững với

những giá trị truyền thống tốt đẹp và cao quý Đó là truyền thống yêu nước, ý chí kiên

cường, bất khuất, tự lập, tự cường; tinh thần nhân nghĩa, truyền trống đoàn kết, tương thân, tương ái; cần cù, dũng cảm, thông minh, sáng tạo, lạc quan, yêu đời;….

Trong những giá trị đó, chủ nghĩa yêu nước truyền thống là tư tưởng, tình cảm cao

quý, thiêng liêng nhất, là cội nguồn của trí tuệ sáng tạo và lòng dũng cảm của người ViệtNam, cũng là chuẩn mực đạo đức cơ bản của dân tộc Chúng ta có thể khẳng định rằngchủ nghĩa yêu nước như một dòng chảy xuyên suốt quá trình lịch sử hàng ngàn năm đấu

8

Trang 9

tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam; là bản sắc văn hóa, là thước đo chophẩm giá của con người Việt Nam, mà mọi học thuyết du nhập vào Việt Nam đều phùhợp với truyền thống và chủ nghĩa yêu nước đó

Trong các giá trị truyền thống Việt Nam, tinh thần nhân nghĩa, truyền trống đoàn

kết, tương thân, tương ái là những nét hết sức đặc sắc Truyền thống này hình thành cùng

lúc với sự hình thành dân tộc, từ hoàn cảnh và nhu cầu đấu tranh quyết liệt với thiên nhiên

và giặc ngoại xâm Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói “Dân tộc ta là một dân tộc giàu lòng

bác ái” và chính Người là biểu tượng, là kết tinh của lòng nhân ái Việt Nam Lòng nhân

ái, vị tha của Hồ Chí Minh xuất phát từ lẽ sống “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ” và

dành tất cả cho mọi kiếp người, không phân biệt miền xuôi hay miền ngược, già trẻ, gáitrai, hễ là người Việt Nam yêu nước đều có chỗ trong trái tim và tấm lòng nhân ái của

Người Người lo cho đồng bào phải chịu cực khổ, đau đớn khi đất nước trong cảnh “một

cổ hai tròng” Chính điều này đã thúc giục Người phải nhanh chóng tìm ra con đường

mới để giúp dân tộc thoát khỏi cảnh lầm than, cực khổ

Cuối cùng, dân tộc Việt Nam là một dân tộc cần cù, dũng cảm, thông minh, sáng tạo

trong sản xuất và chiến đấu và cũng là một dân tộc ham học hỏi, không ngừng mở rộng

tiếp nhận tinh hoa văn hóa nhân loại, từ Nho, Phạt, Lão của phương Đông đến tư tưởngvăn hóa hiện đại phương Tây Và Chủ tịch Hồ Chí Minh là hình ảnh sinh động và trọnvẹn của truyền thống đó

b Tinh hoa văn hóa nhân loại

Tiếp thu những giá trị phương Đông:

đến Liên Xô năm 1923, trả lời phỏng vấn của một nhà báo, Người đã tự giới thiệu: “Tôi

sinh ra trong một gia đình nhà nho An Nam Thanh niên trong những gia đình ấy thường học Khổng giáo, đồng chí chắc biết Khổng giáo không phải là tôn giáo mà là một

Trang 10

thứ khoa học về kinh nghiệm đạo đức và phép ứng xử Và trên cơ sở đó người ta đưa ra khái niệm về “thế giới đại đồng”” Hay tại Đại hội Quốc tế cộng sản năm 1935, Người

ghi trong lý lịch: “Thành phần gia đình nhà nho”

Hồ Chí Minh cũng đã đánh giá đúng đắn vai trò của Nho giáo và người sáng lập ra

nó là Khổng Tử đã đặc biệt khai thác những mặt tích cực của tư tưởng Nho giáo Hơn aihết, Hồ Chí Minh hiểu rõ những mặt bất cập, hạn chế của Nho giáo Đó là trong Nho giáo

có những yếu tố duy tâm, lạc hậu, phản động như tư tưởng đẳng cấp, khinh lao động chântay, khinh phụ nữ, khinh thường thực nghiệm, doanh lợi…Tuy nhiên, Chủ tịch Hồ Chí

Minh đã nhận xét: “Tuy Khổng Tử là phong kiến và tuy trong học thuyết của Khổng Tử

có nhiều điều không đúng song những điều hay trong đó thì chúng ta nên học” Theo đó,

những mặt tích cực của Nho giáo là nó đề cao văn hóa, lễ giáo, tạo ra truyền thống hiếu

học với châm ngôn “Học không biết chán, dạy không biết mỏi” Về điểm này, Nho giáo

hơn hẳn các học thuyết cổ đại, bởi vì nhiều học thuyết cổ đại chủ trương ngu dân để dễcai trị

Bên cạnh kế thừa, Hồ Chí Minh còn khắc phục về quan điểm Nho giáo thời đó, cụthể về phạm trù “trung–hiếu” trong triết lý phương Đông Trong giai đoạn phong kiến,quan niệm về “trung” trong Nho giáo được hiểu là "trung quân", có nghĩa là hết lòng với

vua Điều này ta có thể thấy rõ trong câu nói của Khổng Tử: "Quân sử thần dĩ lễ, thần sự

quân dĩ trung" (Nhà vua sai khiến bề tôi thì dùng lễ, bề tôi phụng sự nhà vua thì giữ đạo

trung) Còn về chữ “hiếu” trong quan niệm của Nho giáo có nội dung khá phong phú.Nhưng phần lớn đều nói về trong mối quan hệ gia đình, ở mối quan hệ con cháu đối vớiông bà cha mẹ, nêu lên nghĩa vụ của con cháu đối với ông bà cha mẹ, mà cụ thể đó là con

cái phải phụng dưỡng bố mẹ khi già và tế tự họ khi mất Khổng Tử nói : "Sống thì phải

phụng dưỡng thân thể, chết thì an táng theo lễ" Theo dòng chảy của thời gian, trung và

hiếu đã thâm nhập vào nước ta và đã trở thành một trong những chuẩn giá trị của các triềuđại phong kiến Bác Hồ tiếp nhận trung - hiếu ở một tầm nhận thức mới Bác đã gọt bỏnội dung cũ của Nho giáo là trung với vua và đưa vào đó nội dung mới : Trung là trungvới nước Bên cạnh đó, chữ hiếu không còn bó hẹp trong phạm vi trọn đạo làm con đốivới ông bà cha mẹ mình, mà hiếu còn là hiếu thảo với nhân dân, vì nhân dân mà phục vụ

Về phật giáo:

10

Ngày đăng: 27/07/2020, 16:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w