Cho đến nay, việc triển khai chương trình Tiếng Việt 1 mới trên toànquốc đã lâu nhưng phần lớn giáo viên vẫn tỏ ra lúng túng, e ngại khi tổ chứcdạy luyện nói cho học sinh, còn học sinh r
Trang 1PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO YÊN ĐỊNH
TRƯỜNG TIỂU HỌC QUÝ LỘC
Trang 22 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.3.3 Sử dụng một số phương pháp dạy học tích cực vào dạy 15luyện nói trong môn Tiếng Việt
2.3.4 Một số chú ý khi tiến hành dạy luyện nói 21
3 KẾT LUẬN & KIẾN NGHỊ 23
Trang 3Trong những năm học vừa qua, ngành giáo dục đã phát động phongtrào thi đua "Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực" Muốn trởthành một môi trường giáo dục thật sự thân thiện, tích cực và có chất lượng,quan trọng nhất người giáo viên phải dạy Tiếng Việt cho học sinh chính làdạy học tiếng mẹ đẻ Chương trình Tiếng Việt mới nhấn mạnh chủ trương
“Hình thành và phát triển ở học sinh các kỹ năng nghe – nói - đọc - viết đểhọc tập và giao tiếp trong môi trường hoạt động của lứa tuổi” – Quan điểmgiao tiếp nói cụ thể hơn là quan điểm phát triển lời nói định ra nguyên tắc,phương hướng xây dựng chương trình môn Tiếng Việt Mỗi phân môn, mỗitiết học, mỗi nội dung dạy học đều hướng tới mục đích phát triển lời nói.Mục tiêu chủ yếu của môn Tiếng Việt lớp 1 hiện nay là chú trọng dạy chữtrên cơ sở dạy âm và dạy vần là để dạy chữ
Vấn đề phát triển lời nói cho học sinh đã được chủ tịch Hồ Chí Minh
dạy: “Tiếng nói là thứ của cải vô cùng lâu đời và vô cùng quý báu của dân
tộc Chúng ta phải giữ gìn nó, quý trọng nó, làm cho nó phổ biến ngày càng rộng khắp” Và cố thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng đã từng nói: “Trường học có trách nhiệm lớn lao trong việc giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt Phải làm cho thế hệ trẻ nói và viết tốt hơn chúng ta” Muốn thực hiện được
lời dạy đó, trường tiểu học cần phải có cách thức tổ chức và phương phápdạy học hợp lý, tích cực nhằm nâng cao chất lượng dạy - học môn TiếngViệt, giúp học sinh sử dụng thành thạo Tiếng Việt
Cho đến nay, việc triển khai chương trình Tiếng Việt 1 mới trên toànquốc đã lâu nhưng phần lớn giáo viên vẫn tỏ ra lúng túng, e ngại khi tổ chứcdạy luyện nói cho học sinh, còn học sinh rất khó khăn khi học phần này.Nhìn chung, việc dạy học nội dung này vẫn chưa đạt hiệu quả cao
Đây cũng là lý do tôi viết sáng kiến kinh nghiệm với chủ đề: “Một số biện pháp hướng dẫn nhằm giúp học sinh phát huy tính chủ động, tích cực, sáng tạo khi học và thực hành luyện nói trong môn Tiếng Việt ở lớp 1”.
Trang 41.3 ĐỐI TƯỢNG , PHẠM VI NGHIÊN CỨU:
Một số biện pháp hướng dẫn nhằm giúp học sinh phát huy tính chủđộng, tích cực, sáng tạo khi học và thực hành luyện nói trong môn TiếngViệt ở lớp 1”
1.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU :
a Phương pháp nghiên cứu tài liêu:
Nghiên cứu sách Tiếng Việt 1, sách giáo viên và các tài liệu tham khảo khác có liên quan đến phần luyện nói của học sinh
b Phương pháp nghiên cứu thực tế:
- Điều tra việc nói của học sinh trong giờ Học vần và Tập đọc.
- Điều tra về dạy luyện nói của bản thân và đồng nghiệp
c Phương pháp nghiên cứu lí luận:
Nghiên cứu những vấn đề lí luận và thực tiễn liên quan đến dạy luyện nói.
d Phương pháp thực nghiệm:
Áp dụng những biện pháp tìm được vào việc giảng dạy phần luyện nói cho học sinh lớp 1D Trường Tiểu học Quý lộc
e Phương pháp tổng kết kinh nghiệm:
Tổng kết kinh nghiệm đúc rút được trong quá trình dạy luyện nói cho học sinh lớp 1
Trang 52 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM:
Mục tiêu của môn Tiếng Việt mới đã thể hiện được quan điểm mớitrong dạy học đó là quan điểm giao tiếp Hoạt động giao tiếp bao gồm cáchành vi nhận thông tin và phát thông tin Trong ngôn ngữ mỗi hành vi đều cóthể thực hiện bằng hai hình thức là khẩu ngữ (nghe, nói) và bút ngữ (đọc,viết) Dạy học theo quan điểm giao tiếp là xu thế phổ biến trong các tài liệudạy tiếng mẹ đẻ cũng như dạy ngoại ngữ ở các nước tiên tiến hiện nay Quanđiểm này được thể hiện trên cả hai phương diện nội dung và phương phápdạy học
Mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau về giao tiếp nhưng tựu chungthì về vấn đề cốt lõi của các định nghĩa là: giao tiếp là hoạt động tiếp xúc,trao đổi giữa con người với con người trong xã hội, nhằm truyền đạt chonhau những nhận thức, những tư duy hoặc nhằm bày tỏ, chia sẻ những tìnhcảm, thái độ, đối với nhau cũng như đối với các sự vật, hiện tượng trongthực tế khách quan Như vậy, điều kiện trước tiên đảm bảo cho một cuộcgiao tiếp diễn ra bình thường là phải có ít nhất hai đối tượng tham gia:1 đóngvai người nói và 1 đóng vai người nghe Hai vai này sẽ luân phiên thay đổinhau trong suốt quá trình giao tiếp, họ cũng phải sử dụng một thứ ngôn ngữnhất định, cùng chịu sự chi phối của hoàn cảnh và nội dung giao tiếp đểhướng tới mục đích đã đề ra
Trong quá trình dạy học luyện nói, lý thuyết giao tiếp giúp giáo viên
có sự định hướng về nội dung và phương pháp dạy học nhằm đạt được mụctiêu dạy học đề ra Đó là nhằm phát triển lời nói cho từng cá nhân học sinh
Vì vậy, đòi hỏi giáo viên cần biết chuyển nội dung dạy học thành những tìnhhuống giao tiếp gần gũi, giúp học sinh vận dụng kinh nghiệm của mình thựchiện hoạt động giao tiếp Từ đó học sinh sẽ có kỹ năng giao tiếp và tất nhiên
sẽ phát triển được lời nói cho các em
Chúng ta cũng đã biết trước khi vào lớp 1, trẻ đã được làm quen vớiTiếng Việt (tiếng mẹ đẻ) trong cuộc sống hàng ngày Đó là một phương tiệnquan trọng giúp các em giao tiếp với mọi người, với xã hội, giúp các emphát triển tư duy Khi vào lớp 1, việc học môn Tiếng Việt một cách có tổchức, có phương pháp khoa học sẽ giúp các em củng cố thêm hiểu biết cũngnhư các kỹ năng, kỹ xảo sử dụng tiếng mẹ đẻ của mình, từ đó giúp các emhọc tốt các môn học khác và giao tiếp tốt hơn
Việc dạy học nội dung luyện nói thực chất là dạy các em tạo lập nênnhững ngôn bản nói để phục vụ hoạt động học tập và giao tiếp Vì vậy nếugiáo viên vận dụng các phương pháp dạy học một cách phù hợp nhằm pháttriển kỹ năng nói để tổ chức dạy học nội dung luyện nói trong môn TiếngViệt 1 thì sẽ phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh
Từ đó nâng cao được hiệu quả dạy học, tăng cường năng lực sử dụng ngônngữ nói của học sinh
a/ Những yêu cầu về luyện nói ở lớp 1 :
Chuẩn kĩ năng nói cho lớp 1:
Trang 6Chủ đề Mức độ cần đạt Ghi chú
- Phát âm -Nói rõ ràng đủ nghe Nói liền
mạch cả câu
- Sử dụng nghi thức lời - Có thái độ lịch sự, mạnh dạn, - Nói đúng lượt
- Biết nói lời chào hỏi, chia tay người nghe khitrong gia đình, trường học nói
- Đặt và trả lời câu hỏi - Biết trả lời đúng vào nội dung
câu hỏi Nói thành câu
- Thuật việc, kể chuyện - Kể được một đoạn hoặc cả
mẩu chuyện có nội dung đơngiản được nghe thầy, cô kẻ trênlớp (kết hợp với nhìn tranhminh hoạ, đọc lời gợi ý dướitranh)
-Phát biểu, thuyết trình - Biết giới thiệu một vài câu về
mình, về bản thân hoặc một vài
đồ vật quen thuộc
b/ Hệ thống bài tập luyện nói trong SGK lớp 1 :
Sách Tiếng Việt có hai phần:
Phần Học vần có 103 bài được chia làm ba dạng bài cơ bản:
- Làm quen với âm và chữ cái: từ bài 1 đến bài 6
- Dạy – học âm vần mới: từ bài 7 đến bài 103 (82 bài)
- Ôn tập âm vần mới: Cứ 6, 7 bài học âm vần mới lại có một bài ôn
Nội dung luyện nói trong từng bài được sách giáo khoa xác định rất rõ
ràng Mỗi bài luyện nói có một tên gọi cụ thể (trừ 5 bài trong phần Làm
quen với âm và chữ) Các bài tập luyện nói được sắp xếp cuối mỗi bài dạy
âm, vần mới và được trình bày bằng tranh minh hoạ, có từ, ngữ chứa âm,vần đã học nói lên chủ đề luyện nói Ở phần này yêu cầu luyện nói được lặp
đi lặp lại và cách trình bày đơn giản cho phù hợp với giai đoạn học chữ củatrẻ Mục tiêu của phần này là giúp học sinh làm quen với không khí học tậpmới, mạnh dạn nói cho các bạn nghe và lắng nghe bạn nói
Phần Luyện tập tổng hợp
- Trong phần luyện tập tổng hợp được bố trí các bài theo tuần với ba chủđiểm lớn: Nhà trường, Gia đình, Thiên nhiên – Đất nước (từ tuần 25 trở vềsau) Các bài của mỗi tuần tập trung vào một chủ điểm – Cứ ba tuần hết mộtlượt chủ điểm Việc quay vòng chủ điểm này không phải là sự lặp lại y hệt
mà vòng sau mở rộng hơn vòng trước Cụ thể:
Loại I: Luyện nói câu chứa tiếng có vần ôn trong bài tập đọc:
+ Kiểu 1: Nói câu chứa tiếng có vần cho trước Kiểu này có 14 bài.
VD: Nói câu chứa tiếng có vần ưa – ua
M:- Nước chanh mát và bổ
- Quyển sách này rất hay
(Tiếng Việt 1 tập hai trang 62)
+Kiểu 2: Nhìn tranh nói câu chứa tiếng có vần cho trước Kiểu này có 1
bài
Trang 7VD: Nhìn tranh nói câu chứa tiếng có vần ăc- ăt (Tiếng Việt 1 tập hai trang 110).
Loại II: Luyện nói theo đề tài.
+ Kiểu 1: Bài tập luyện nói theo bài
Dạng 1: Trả lời câu hỏi theo tranh: Dạng này có 1 bài Ví dụ: trả lời
các câu hỏi theo tranh:
M: Tranh 1: Ai nấu cơm cho bạn ăn?
-Mẹ tôi nấu cơm cho tôi ăn Tranh 2:
Ai mua quần áo cho bạn? Tranh 3: Ai
chăm sóc bạn khi ốm? Tranh 4: Ai vui
khi bạn được cô khen?
(Tiếng Việt 1, tập hai – trang 56)
Dạng 2: Nói về một sự vật, sự việc…có nội dung liên quan đến bài tập đọc.
Dạng này có 11 bài Ví dụ: Ở nhà em làm gì giúp bố mẹ (Tiếng Việt 1, tập
hai – trang 59)
Dạng 3: Kể về một người, một việc,…có liên quan đến nội dung bài tập
Dạng này có 5 bài VD: Kể về người bạn tốt của em (Tiếng Việt 1, tập hai –
trang 107)
+ Kiểu 2: Bài tập hỏi - đáp
Dạng 1: Hỏi – đáp về một sự việc, một người, một sự vật, hiện tượng….có
liên quan đến bài tập đọc.
Dạng này có 10 bài: Ví dụ: Hỏi nhau về những việc làm buổi sáng?
M: Sáng sớm, bạn làm việc gì?
-Tôi tập thể dục, sau đó đánh răng, rửa mặt…
(Tiếng Việt 1 tập hai - trang 68)
Dạng 2: Hỏi - đáp theo nội dung bài bài tập đọc Dạng này có 2 bài Ví dụ:
Hỏi - đáp theo bài thơ:
M: Con gì hay nói ầm ĩ?
( Tiếng Việt 1 tập hai - trang 113)
Loại III: Luyện nói theo nghi thức lời nói:
Nói lời chào của nhân vật theo tình huống trong bài học VD: Nói lờichào của Minh khi gặp bác đưa thư, khi mời bác uống nước (Tiếng Việt 1tập 2- trang 137)
Là một giáo viên đã nhiều năm liền dạy lớp 1 nên tôi biết luyện nói làmột nội dung cần thiết, có vai trò quan trọng trong việc góp phần phát triểnngôn ngữ cho học sinh, là tiền đề cho môn Tập làm văn sau này nhưngkhông phải là phần dễ dạy Nhiều giáo viên cũng xác định đây là một bộphận quan trọng trong giờ học học vần hoặc tập đọc lớp 1, song vì lượngthời gian dành cho nội dung này còn hạn chế (khoảng 10 phút cuối trong tiếthọc), nên đôi lúc bị “bỏ qua” hoặc có tiến hành thì chỉ được tổ chức mộtcách qua quýt Còn về phần học sinh thì khả năng luyện nói trong các giờhọc này thường chỉ dừng lại ở việc trả lời các câu hỏi trong sách hoặc củagiáo viên, rất hiếm có học sinh nào biết tự nói một số câu về chủ đề bài họcđưa ra
2.2 / Thực trạng của vấn đề:
2.1.1 Về phía giáo viên:
Trang 8- Xét về nguyên nhân chủ quan đầu tiên cần phải kể đến là quan niệm củagiáo viên, một số giáo viên còn xem nhẹ hoạt động nói của học sinh trướclớp, chỉ chú trọng đến kĩ năng đọc, viết nên trong giờ học Tiếng Việt thờilượng dành cho hoạt động nói của học sinh quá ít Chính vì thời lượng ít nên
số lượng học sinh tham gia nói về nội dung bài không được nhiều mà chỉqua loa một vài em mạnh dạn, hay phát biểu mà thôi
- Giáo viên chưa tập trung tìm hiểu về đặc điểm tâm sinh lý, môi trường sống của học sinh, chưa thật sự thông cảm với những khó khăn mà học sinh gặp phải nên khi tiến hành hỏi đáp chỉ yêu cầu những học sinh nói hay hoặc hay nói trả lời Không mấy quan tâm đến những học sinh ít nói, nghèo nàn
về ngôn ngữ, nói ngọng vì sợ gọi những em này trả lời sẽ làm mất nhiều thời gian Vấn đề này vô tình giáo viên đã làm cho những học sinh rụt rè ngày càng trở nên nhút nhát hơn
- Nêu câu hỏi chưa phù hợp với từng đối tượng học sinh trong lớp, câu hỏi dễ lại dành cho học sinh khá, câu hỏi khó đôi khi muốn học sinh yếu trảlời,…
- Dạy phần luyện nói chỉ đơn giản là gọi học sinh trả lời 2, 3 câu hỏi;chưa hướng dẫn học sinh biết liên kết các câu thành một đoạn đơn giản đúngchủ đề
- Có sửa sai nhưng chưa kiên trì, uốn nắn trong mọi tình huống, mọi hoạtđộng của bài cũng như ở những giờ học khác
- Chưa sáng tạo, linh hoạt, chưa biết kết hợp nhiều phương pháp dạy học trong quá trình lên lớp và điều chỉnh những nội dung cần thiết, phù hợp
để phần luyện nói đạt kết quả tốt
- Đồ dùng dạy học dành cho phần luyện nói còn chưa phong phú, chưa phù hợp, sơ sài chủ yếu dựa vào tranh trong sách giáo khoa
- Học sinh lớp 1 đa số rất hiếu động, dễ nhớ nhưng lại mau quên
nên việc ghi nhớ lời thầy cô dạy là chưa vững chắc
2.2 3 Một số hạn chế của sách giáo khoa và sách giáo
viên a Sách giáo khoa lớp 1:
- Có bài chủ đề luyện nói không liên quan đến chữ, vần của bài đó
Trang 9Ví dụ: Bài 20 : k - kh- kẻ - khế , thì chủ đề luyện nói lại là “ù ù, vo vo, vù
vù, ro ro, tu tu”.
- Một số chủ đề nói chưa gần gũi,chưa phù hợp với học sinh của từng
vùng miền Ví dụ: Bài 8- le le, bài 9- vó bè, bài 33- Lễ hội, bài 34 – Đồi,
núi.
- Phần luyện tập tổng hợp: Số lượng từng dạng bài tập còn chưa hợp lý.Bài tập về nghi thức lời nói còn ít (chỉ có 2 bài, chỉ xoay quanh vấn đề nói
lời chào, lời chia tay) đó là bài Mẹ và cô - Sách Tiếng Việt 1 tập 2 trang 73
và bài Bác đưa thư - sách Tiếng Việt 1 tập 2 trang 136 Số lượng nói theo đề tài nhiều và chủ yếu là độc thoại (đây lại là mức độ cao của dạng thức lời
nói, sẽ rất khó với học sinh lớp 1)
- Những đề tài hội thoại có tranh gợi ý không còn phù hợp với thông tư
30 Ví dụ :
Bài 65 trang 133 sách Tiếng Việt 1 tập một
Chủ đề luyện nói : Điểm mười
Trang 10Bàn tay mẹ - sách Tiếng Việt 1 tập 2 trang 56
-Ai nấu cơm cho bạn ăn?
-Mẹ tôi nấu cơm cho tôi ăn
Ai mua quần áo mới cho bạn?
Ai chăm sóc khi bạn ốm? Ai vui khi bạn được điểm mười?
Trang 11Bài Chuyện ở lớp – Sách Tiếng Việt 1 tập 2 trang 101 : Hãy kể với cha mẹ:
Hôm nay ở lớp em đã ngoan thế nào
Bài Chuyện ở lớp – Sách Tiếng Việt 1 tập 2 trang 101
b Sách giáo viên:
- Phần lớn các bài soạn trong sách giáo viên chỉ là gợi ý cách thức, các bướcđơn giản Các biện pháp đưa ra để luyện nói cho học sinh chỉ là nêu tên màkhông chỉ ra cụ thể cách thức thực hiện Ví dụ: Phần học vần, sách giáo viênhướng dẫn dạy học luyện nói lặp đi lặp lại cách làm sau:
+ Bước 1: Học sinh đọc tên bài luyện nói.
+ Bước 2: Giáo viên có các câu hỏi gợi ý theo tranh cho thích hợp.
+ Bước 3: Học sinh trả lời.
Hoặc: Với bài luyện nói “Bạn đã làm gì để bảo vệ loài chim?” (Sách Tiếng
Việt 1 tập hai - trang 152), sách giáo viên chỉ hướng dẫn: Chia nhóm, cácnhóm kể cho nhau xem bạn đã làm gì để bảo vệ các loài chim Cử người kểtrước lớp
- Hệ thống câu hỏi ở một số bài còn hạn chế:
+ Câu hỏi không kích thích tính tư duy của học sinh Ví dụ: Bài “Le le”- có câu hỏi: Vịt, ngan được người nuôi ở ao, hồ Còn loài vịt sống tự do không
có người chăn được gọi là gì?
+ Có câu hỏi quá dài, khiến người nghe khó theo dõi, trong khi đáp án trả lời
lại là “có” hoặc “không”: Ra giữa nắng bắt chuồn chuồn, châu chấu, cào
cào, tối về sụt sịt, mai không đi học được, có tốt không?
+ Có câu hỏi trong cùng một hệ thống trùng lặp nhau: Chủ đề “Phim hoạt
hình có câu hỏi 1: Em thấy cảnh gì trong tranh?, câu hỏi 2: Trong cảnh đó
em thấy những gì?, câu hỏi 3: có ai ở trong cảnh? Họ đang làm gì?
Chính vì những khó khăn, hạn chế trên mà giáo viên thêm phần ngại
và lúng túng khi dạy luyện nói cho học sinh Hơn nữa, nội dung luyện nóicòn được coi là khó dạy, khó học Dạy nói cho học sinh lớp 1 phải gắn với
Trang 12cả việc dạy đọc, dạy viết, dạy nghe Vì vậy khi dạy nội dung này người giáoviên phải có nhiều sáng tạo, linh hoạt, biết kết hợp nhiều phương pháp dạyhọc trong quá trình lên lớp, biết điều chỉnh những nội dung cần thiết để giờhọc đạt kết quả tốt.
2.3 CÁC BIỆN PHÁP THỰC HIỆN:
2.3 1Giúp học sinh phát triển lời nói
Để giúp học sinh phát triển lời nói, giáo viên cần biết vận dụng lýthuyết hội thoại vào dạy luyện nói:
* Phải tạo được nhu cầu hội thoại cho học sinh
- Việc tạo ra nhu cầu nói năng cho học sinh hết sức quan trọng Khi cónhu cầu biểu đạt, các em sẽ mạnh dạn, hứng thú, trình bày chân thực hơnnhững suy nghĩ riêng của mình về đề tài đang được nói đến
- Để tạo ra nhu cầu giao tiếp cho học sinh, giáo viên cần tạo ra nhữngtình huống giao tiếp giả định nhưng phải gần gũi và có sức hấp dẫn, kíchthích nhu cầu nói của các em Khi đã hoà mình vào hoàn cảnh đã nhập vaigiao tiếp thì khi ấy các em sẽ thể hiện hết mình, muốn nói thực sự hết mình
* Phải tạo ra được hoàn cảnh giao tiếp tốt:
- Hoàn cảnh giao tiếp trong giờ Tiếng Việt chính là điều kiện lớp họctrong giờ luyện nói Nó gồm: không khí lớp học, tư thế của giáo viên, cáchoạt động nghe của học sinh, trật tự lớp học và một số hoạt động khác cóảnh hưởng gián tiếp đến việc nói năng của học sinh Bởi vì học sinh khôngthể nói trong hoàn cảnh lớp học ồn ào hoặc các em sẽ khó diễn đạt trước cặpmắt nghiêm khắc của giáo viên Các em sẽ tự tin hơn, phấn khởi hơn trước
sự chú ý lắng nghe của các bạn, trước ánh mắt trìu mến hoặc những lời độngviên khích lệ của cô giáo
- Khi học sinh đang nói giáo viên không nên ngắt lời một cách tuỳ tiệnbởi sự gián đoạn trong lời nói thường làm các em lúng túng, giáo viên chỉnên sửa sai hoặc uốn nắn khi các em đã kết thúc phần nói của mình
2.3.2 Rèn kĩ năng nói cho học sinh:
Để rèn kĩ năng nói và khả năng diễn đạt cho học sinh thì giáo viên cầnphải làm những việc sau:
* Xác định và nắm rõ mục tiêu chính của chủ đề luyện nói
Chính chủ đề là điểm tựa, gợi ý cho phần luyện nói Gợi ý sao cho tất
cả học sinh đều được nói, không đi quá xa với chủ đề Chẳng hạn như chủ
đề “Nói lời cảm ơn; Con ngoan trò giỏi; Giúp đỡ cha mẹ”… nếu đi quá sâu
sẽ lẫn sang tiết Đạo đức Để khắc phục điều này tôi chỉ định hướng các em câu hỏi gợi ý xoay quanh vấn đề trọng tâm cần luyện nói Ví dụ:
Với chủ đề: Nói lời cảm ơn:
+ Em hãy kể cho cô và các bạn trong nhóm nghe về những lần mình đã cảm
ơn ai đó về điều gì?
Với chủ đề Giúp đỡ cha mẹ tôi hỏi:
+ Hai bạn nhỏ đã làm gì để giúp đỡ cha mẹ?
+ Em thường giúp đỡ cha mẹ vào những lúc nào?
+ Em đã giúp đỡ cha mẹ những việc gì? Hãy nói cho các bạn cùng nghe
nhé! Còn với chủ đề: Con ngoan, trò giỏi tôi có câu hỏi gợi ý:
Trang 13+ Em đã làm được những việc gì để cố gắng là một người con ngoan trong gia đình?
và dự trù thêm một số câu hỏi cho từng đối tượng, đi từ câu hỏi khái quát rồimới gợi ý bằng những câu hỏi nhỏ (Khi các em lúng túng sẽ dễ dàng có cơ
sở theo định hướng của cô để rèn nói.) Ví dụ:
Khi tôi dạy bài 24 Chủ đề : Quà quê Tôi xây dựng hệ thống câu hỏi
dành cho các đối tượng như sau:
- Tranh vẽ gì? (tranh vẽ mẹ đi chợ về cho hai chị em quà.) - dành cho học sinh trung bình - yếu
- Quà của mẹ có những gì? (quà của mẹ có nhãn, mía, hồng) - dành cho học sinh trung bình - yếu
- Các em thử đoán xem bé đón mẹ hay đón quà? ( hai chị em rất vui, bé chìahai tay đón mẹ và cả quà mẹ cho nữa.) - Dành cho học sinh khá - giỏi
Các em sẽ hào hứng và tham gia vào phần luyện nói một cách chủđộng, tích cực hơn Nếu các em trả lời đúng nhưng chưa thành câu, giáo viênchú ý uốn nắn sửa chữa ngay và cho các em nói lại để các em nhớ, tạo thành
kĩ năng
Cần lưu ý để tạo nên ấn tượng tốt cho các em khi giảng dạy nói chung
và đàm thoại nói riêng thì người giáo viên phải thực sự gương mẫu trongviệc nói năng, nói đủ ý, diễn đạt gãy gọn và trong quá trình rèn luyện chohọc sinh qua từng câu, từng bài nên kiên trì, không nóng vội mà quát nạt,giận dỗi hay trách móc học sinh Phải hết sức nhã nhặn với các đối tượngtrong lớp tạo không khí vui vẻ, phấn trấn giúp các em có cảm giác thoải máithì hoạt động nói mới diễn ra một cách tự nhiên
Nên chú trọng tìm hiểu điểm tâm sinh lý, những khó khăn của họcsinh trong lớp để có sự sẻ chia, thông cảm, động viên các em nói nhiều vàmạnh dạn hơn bắt đầu từ những điều đơn giản nhất, dần dần tăng mức độkhó lên theo thời gian
*/ Phân các chủ đề thành nhiều nhóm để lựa chọn phương pháp và hình thức khác thay đổi cho phù hợp với cá nhân, nhóm, đối thoại, độc thoại,
…
Với những chủ đề gần gũi với học sinh như: Chủ đề: bố mẹ, ba má;
Quà quê; Nhà trẻ; Bé và bạn bè; Người bạn tốt; Bữa cơm, Hãy kể với cha
mẹ hôm nay ở lớp con đã ngoan thế nào?;…Giáo viên gợi mở cho học sinhnói qua vốn hiểu biết thực tế của các em, lựa chọn những hình thức học tập,trò chơi v.v…
Chẳng hạn:
- Chủ đề nói về gia đình: “Bố mẹ - Ba má, Bà cháu”…có thể cho học sinhsắm vai nhân vật thể hiện tình cảm của ông bà, bố mẹ đã yêu thương, quan