1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Một số kinh nghiệm hướng dẫn học sinh khối 12 cách làm phần đọc hiểu trong bài thi môn ngữ văn, kỳ thi THPT quốc gia

22 52 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 431 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁTRƯỜNG THPT LÊ VĂN HƯU SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM TÊN ĐỀ TÀI: MỘT SỐ KINH NGHIỆM HƯỚNG DẪN HỌC SINH KHỐI 12 CÁCH LÀM PHẦN ĐỌC- HIỂU TRONG BÀI THI MÔN NGỮ VĂN,

Trang 1

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ

TRƯỜNG THPT LÊ VĂN HƯU

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

TÊN ĐỀ TÀI:

MỘT SỐ KINH NGHIỆM HƯỚNG DẪN HỌC SINH KHỐI 12 CÁCH LÀM PHẦN ĐỌC- HIỂU TRONG BÀI THI MÔN NGỮ VĂN, KỲ THI

THPT QUỐC GIA

Người thực hiện: Nguyễn Thị Hương Chức vụ: Tổ phó CM

SKKN thuộc lĩnh vực (Môn): Ngữ văn

Thiệu Hoá, tháng 5 năm 2017

Trang 2

- Thực hiện Nghị quyết 29- NQ/TW về “đổi mới căn bản toàn diện Giáo dục và Đào tạo”, trong những năm gần đây ngành Giáo dục và Đào tạo đã và

đang thực hiện đổi mới một cách đồng bộ ở tất cả các khâu Trong đó chú trọngđến việc đổi mới kiểm tra đánh giá, từ khâu then chốt này sẽ dẫn đến việc đổimới nội dung và phương pháp dạy học Nếu như trước đây việc kiểm tra đánh

Trang 3

giá học sinh còn nặng về kiểm tra kiến thức, kĩ năng thì bây giờ việc kiểm tra,đánh giá học sinh theo hướng phát triển năng lực Để thực hiện được điều này,

Bộ đã thực hiện nhiều phương án trong đó đổi mới thi cử và cách ra đề thi làphương án hữu hiệu nhất Cũng từ năm đó dạng câu hỏi Đọc- hiểu bắt đầu đượcđưa vào đề thi để thay thế cho dạng câu hỏi tái hiện kiến thức Có thể nói, đây là

sự đổi mới tích cực trong cách ra đề Ngữ văn theo định hướng mới Nếu dạng

câu hỏi tái hiện kiến thức chỉ có thể kiểm tra học sinh ở mức nhận biết, thông hiểu, có biết, hiểu, nắm được những kiến thức văn học đã được dạy trong

chương trình hay không thì dạng câu hỏi Đọc- hiểu đã nâng cao hơn một mức

vận dung thấp, vận dụng sáng tạo, kiểm tra, phát triển được năng lực tự cảm

nhận một văn bản bất kì (có thể văn bản đó hoàn toàn xa lạ đối với các em) Nhưvậy, có thể thấy, bên cạnh việc ôn tập, rèn kỹ năng viết phần tự luận thì việc ôntập và rèn kỹ năng làm dạng câu hỏi đọc- hiểu là điều cần thiết phải trang bị chohọc sinh Để làm được phần này phải đòi hỏi người học có một năng lực đọc-hiểu văn bản nhất định trên một nền tảng kiến thức cơ bản

- Năm 2015, Bộ đã sát nhập hai kì thi tốt nghiệp THPT và Đại học- Caođẳng thành kì thi THPT Quốc gia Những thay đổi nói trên tiếp tục được thựchiện Bố cục của đề thi những năm gần đây bao gồm hai phần: Đọc- hiểu vàLàm văn Đối với phần đọc- hiểu, thí sinh cần phải nắm vững kiến thức phầntiếng Việt, lý thuyết làm văn của chương trình THCS và THPT

- Ngữ văn là môn học “khó nhằn” đối với nhiều học sinh vì thông thường

môn văn khá dài, khó nhớ ý và có cách diễn đạt rất phong phú Thực trạng học

sinh hứng thú với các môn xã hội như Ngữ văn, Lịch sử, Địa lý ngày càng suygiảm Phần lớn học sinh học văn với thái độ đối phó, học vì sức ép thi cử Mộtphần nguyên nhân của tình trạng này là sự ảnh hưởng của nền kinh tế thị trường,nhu cầu của phụ huynh học sinh và học sinh chưa tìm được cách học khoa học

và hợp lý

Xuất phát từ thực tiễn giảng dạy, yêu cầu của thi cử cũng như vai trò củamột giáo viên tâm huyết với nghề, nhiều năm ôn thi Tốt nghiệp, Đại học, đồngthời góp phần tháo gỡ những khó khăn trên, tôi đã lựa chọn đề tài sáng kiến kinhnghiệm: “Một số kinh nghiệm hướng dẫn học sinh khối 12 cách làm phần đọc- hiểu trong bài thi Môn Ngữ văn, kỳ thi THPT quốc gia”.

1.2 Mục đích nghiên cứu

Đưa ra đề tài này, thông qua việc hướng dẫn các em học sinh khối 12cách làm bài các dạng đề Đọc- hiểu, tôi muốn nâng cao chất lượng làm dạng câuhỏi Đọc-hiểu của học sinh THPT nói chung, học sinh trường THPT Lê Văn Hưunói riêng, nhất là các em học sinh lớp 12C4 chuẩn bị bước vào kì thi THPTQuốc gia Vì thế, khi nghiên cứu và thực hiện đề tài này tôi đã hướng tới cácmục đích cụ thể sau:

Trang 4

- Giúp học sinh nắm vững những kiến thức lý thuyết liên quan đến câu hỏi đọc hiểu

- Giúp học sinh có kỹ năng, phương pháp, cách thức làm dạng câu hỏi này đạt kết quả cao

- Góp phần nâng cao chất lượng bộ môn, đáp ứng yêu cầu thực tiễn

1.3 Đối tượng nghiên cứu

Học sinh trung học phổ thông, học sinh lớp 12 chuẩn bị thi THPT Quốc gia môn Ngữ văn Tôi chọn lớp 12 C4 trường THPT Lê Văn Hưu

1.4.Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này, người viết đã sử dụng các phương pháp sau:

- Phương pháp thống kê

- Phương pháp phân tích, tổng hợp

- Phương pháp so sánh

- Phương pháp điều tra

1.5 Điểm mới của đề tài

Kỳ thi THPT quốc gia 2017, có sự thay đổi về thời lượng và yêu cầu của

đề thi Cụ thể, năm nay, thời gian làm bài thi giảm từ 180 phút còn 120 phút.Cấu trúc đề thi vẫn gồm 2 phần nhưng phần Đọc-hiểu (3.0 điểm), trước đây gồm

2 đoạn trích - 2 văn bản , thí sinh phải trả lời 8 câu hỏi thì nay chỉ còn một vănbản với việc trả lời 4 câu hỏi Đặc biệt phần văn bản đọc- hiểu sẽ là cơ sở để họcsinh viết đoạn văn nghị luận xã hội trong phần Làm văn của bài thi

Những thay đổi về hình thức thi của kỳ thi THPT quốc gia từ 2015 đãmang tới cho các học sinh lớp 12 không ít bối rối Theo sự thay đổi này, nămnay, các học sinh sẽ phải thi 4 môn trong đó có 3 môn bắt buộc là: Toán, Văn,Anh và tổ hợp (hoặc tự nhiên hoặc xã hội)

Việc phải làm một bài thi được sử dụng với hai mục đích là vừa xét tốtnghiệp vừa tuyển sinh Đại học- Cao đẳng đã mang tới cho học sinh nhiều bănkhoăn, nhất là đối với môn Ngữ văn Bởi lẽ, lâu nay nhiều học sinh theo khối tựnhiên dường như bỏ ngỏ môn học này Chính vì thế, thời điểm này, các em đangrơi vào tình trạng chạy cấp tốc với mong muốn đủ điểm tốt nghiệp.

2 NỘI DUNG 2.1 Cơ sở lý luận của đề tài

2.1.1 Khái niệm đọc- hiểu

Lâu nay trong dạy học văn, người ta thường dùng thuật ngữ là giảng văn, phân tích văn…song từ khi thay sách đã thay bằng thuật ngữ Đọc- hiểu văn bản.

Đây không chỉ là sự thay đổi về tên gọi mà thực chất là sự thay đổi thay đổiquan niệm về bản chất của môn Ngữ văn, cả về phương pháp dạy học văn và cáchoạt động khi tiếp nhận tác phẩm văn học cũng có những thay đổi Theo Giáo

Trang 5

sư- Tiến sĩ Nguyễn Thanh Hùng “Đọc hiểu là một khái niệm khoa học chỉ mức

độ cao nhất của hoạt động đọc; đọc hiểu đồng thời cũng chỉ năng lực văn của người đọc”.“Đọc hiểu là hoạt động truy tìm và giải mã ý nghĩa văn bản” Còn với Giáo sư Trần Đình Sử :“Đọc hiểu văn bản như một khâu đột phá trong việc đổi mới dạy học và thi môn Ngữ văn, là yêu cầu bức thiết đối với việc đào tạo nguồn nhân lực mới cho đất nước tiến theo các nước tiên tiến” Đọc- hiểu là quá

trình thâm nhập vào văn bản với thái độ tích cực, chủ động Đây là một năng lựccần thiết mà người học nói chung và học sinh THPT cần quan tâm Nếu chúng takhông có trình độ năng lực đọc thì không hiểu đúng, đánh giá đúng văn bản.Không nắm vững, đánh giá được văn bản thì không thể tiếp thu, bồi đắp được trithức và cũng không có cơ sở để sáng tạo Vì thế vấn đề Đọc- hiểu môn Ngữ văntrong nhà trường là rất cần thiết

Như vậy, Đọc- hiểu là hoạt động đọc và giải mã các tầng ý nghĩa của vănbản thông qua khả năng tiếp nhận của học sinh Đọc- hiểu là tiếp xúc với vănbản, hiểu được nghĩa hiển ngôn, nghĩa hàm ẩn, các biện pháp nghệ thuật, thônghiểu các thông điệp tư tưởng, tình cảm của người viết và giá trị tự thân của hìnhtượng nghệ thuật Với quan điểm phát huy vai trò chủ thể của học sinh, xuấtphát từ đặc thù của văn chương (nghệ thuật ngôn từ), mà vấn đề Đọc- hiểu vănbản ngày càng được quan tâm

Đọc- hiểu văn học trong nhà trường THPT thường hướng tới các vấn đề

cụ thể sau:

- Nhận biết đúng, chính xác về văn bản: các phong cách ngôn ngữ; Nhận

biết đề tài, nhan đề, chủ đề, tóm tắt được các nội dung của văn bản; Nắm đượccác phương thức biểu đạt của văn bản ; các thao tác lập luận

- Thông hiểu, đánh giá đúng văn bản: Cảm nhận được những đặc sắc, nổi

bật về từ ngữ, hình ảnh,chi tiết, các biện pháp tu từ ; Hiểu được ý nghĩa hàm ẩncủa văn bản, đánh giá được nội dung, ý nghĩa của văn bản bằng kiến thức, kinhnghiệm của mình

- Vận dụng để giải quyết một vấn đề cụ thể: Liên hệ mở rộng một vấn đề

nào đó từ văn bản bằng suy nghĩ, ý kiến của mình; Vận dụng văn bản để trìnhbày phương hướng, biện pháp giải quyết một vấn đề cụ thể của cuộc sống, của

xã hội

2.1.2 Phạm vi đọc - hiểu

- Văn bản đưa ra làm ngữ liệu có thể là văn bản văn học (thơ/ văn xuôi).Văn bản đó có thể nằm trong chương trình chính khóa/ đọc thêm thậm chí lànhững văn bản rất mới, hoàn toàn xa lạ với học sinh- văn bản ngoài nhà trường.Loại văn bản này đang được sử dụng nhiều hơn vì nó liên quan đến viết đoạnvăn nghị luận xã hội ở phần Làm văn

- Văn bản đưa ra làm ngữ liệu có thể là những văn bản nhật dụng trong đời sống hàng ngày

2.2 Thực trạng vấn đề

Trang 6

- Câu hỏi Đọc hiểu là một kiểu dạng khá mới mẻ được đưa vào đề thi

THPT Quốc gia nên chưa được cụ thể hóa thành một bài học riêng trong chươngtrình Ngữ văn bậc THPT Dạng này cũng không có nhiều tài liệu, bài viết

chuyên sâu để tham khảo Nó chưa “lộ diện” thành một bài cụ thể trong sách

giáo khoa, hơn nữa kiến thức đọc hiểu nằm rải rác trong chương trình học mônNgữ văn từ cấpTHCS đến cấp THPT Chính vì thế, mà không ít giáo viên ôn thiTHPT Quốc gia tỏ ra lúng túng khi hướng dẫn học sinh làm bài Điều đó cũngảnh hưởng ít nhiều đến chất lượng, kết quả bài thi của học sinh

- Đọc -hiểu văn bản là một trong hai phần bắt buộc có trong một đề thi THPTQuốc gia Phần này tuy không chiếm phần lớn số điểm(3/10) nhưng lại có vị trírất quan trong bởi nó quyết định điểm cao hay thấp trong một bài thi Nếu họcsinh làm sai hết phần này thì chắc chắn điểm toàn bài còn lại dù có tốt mấy cũngchỉ đạt khoảng 6,0 điểm Ngược lại, nếu học sinh làm tốt phần đọc hiểu các em

sẽ có nhiều cơ hội đạt điểm văn 7,0 hoặc 8,0 Như vậy, phần Đọc- hiểu gópphần không nhỏ vào kết quả thi môn Ngữ văn cũng như tạo cơ hội cao hơn chocác em xét tuyển Đại học Có thể nói, ôn tập và làm tốt phần Đọc -hiểu chính là

giúp các em gỡ điểm cho bài thi của mình Vì vậy, việc ôn tập bài bản để các em

học sinh lớp 12 làm tốt phần đọc- hiểu, làm tốt bài thi của mình càng trở nên cấpthiết Đối với học sinh trường THPT Lê Văn Hưu, nhất là lớp 12, đây là phầnkiến thức mà các em đang rất quan tâm, mong muốn được các thầy cô củng cố

để chuẩn bị cho kì thi THPT Quốc gia

- Ngay từ khi Bộ GD&ĐT thông báo và hướng dẫn các sở, các trườngTHPT thực hiện đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá trong kì thi tốt nghiệpTHPT năm học 2013-2014, vấn đề Đọc - hiểu thu hút sự chú ý của rất nhiều cácthầy cô và học sinh nhất là học sinh lớp 12 Cùng với việc chuyên viên của Bộ

GD & ĐT giải đáp những thắc mắc về hướng ra đề phần Đọc - hiểu (liên quanđến phần ngữ pháp, Tiếng Việt, ngữ liệu chủ yếu lấy phần đọc thêm) thì nhiềuthầy cô giáo luyện thi có nhiều kinh nghiệm cũng đăng trên trang cá nhân củamình những bài ôn tập Đọc- hiểu Song những hướng dẫn ôn tập đó thực sựchưa có tính hệ thống

- Một số cuốn sách phục vụ cho ôn luyện thi THPT Quốc gia môn Ngữ

văn đã ra mắt bạn đọc: Bộ đề luyện thi THPT Quốc gia Ngữ văn năm 2015 của thầy Phan Danh Hiếu, Hướng dẫn ôn luyện thi THPT Quốc gia môn ngữ văn, nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2015 và cuốn Bộ đề luyện thi THPT Quốc gia môn Ngữ văn của tác giả Lê Quang Hưng, nhà xuất bản Đại học

Quốc gia Hà Nội, năm 2016, đã đề cập tới dạng câu hỏi Đọc hiểu, cung cấp một

số kiến thức lý thuyết Song học sinh chưa được tiếp cận nhiều

Như vậy, các bài nghiên cứu, các cuốn sách hướng dẫn ôn luyện đều đềcập tới tất cả các phần trong đề thi môn văn THPT Quốc gia Chưa có sáchnghiên cứu riêng phần Đọc- hiểu một cách bài bản những kiến thức lý thuyết,bài tập thường gặp trong đề Đọc- hiểu và cũng chưa phân loại quy củ, chi tiết,

hệ thống kiến thức để học sinh dễ ôn tập Chính vì thế, đề tài sáng kiến kinh

nghiệm: “Một vài kinh nghiệm hướng dẫn học sinh khối 12 cách làm phần

Trang 7

Đọc-hiểu trong bài thi môn Ngữ văn, kỳ thi THPT Quốc gia” vẫn là một đề tài mới,

có tính ứng dụng, cần thiết rất cao

- Thực tế mấy năm gần đây đề thi môn Ngữ văn có phần Đọc- hiểu Năm

2015, Bộ GD & ĐT hợp nhất hai kì thi Tốt nghiệp THPT và tuyển sinh vào Đạihọc, Cao đẳng thành một kì thi chung Từ chỗ có nhiều đề thi Ngữ văn (đề thi tốtnghiệp THPT; đề thi tuyển sinh vào Đại học, Cao đẳng khối C, D), năm nay chỉ

có một đề thi duy nhất vừa lấy điểm để xét tốt nghiệp, vừa lấy điểm để xét vàoĐại học, Cao đẳng Phần Đọc -hiểu trong đề thi từ chỗ chiếm 2/10 điểm nayđược nâng lên 3/10 điểm Nhưng thay vì 1 văn bản với 3 câu hỏi nhỏ như năm

2014, đề thi năm 2015 ra 2 văn bản khá dài với 8 câu hỏi nhỏ Đến năm 2016cấu trúc đề thi môn văn cũng không có gì thay đổi so với năm học trước Nămnay, chỉ một văn bản với 4 câu hỏi nhỏ.(GV cung cấp các đề thi của từng năm đểhọc sinh tham khảo)

- Kiến thức đọc-hiểu cả trong chương trình THCS và THPT tương đối nhiều,học sinh đã học từ lâu nên thường bị mai một, thậm chí không còn để ý Vì vậy,giáo viên cần cung cấp một cách hệ thống lượng kiến thức liên quan đến đọc-hiểu

2.3 Các giải pháp thực hiện (Hướng dẫn học sinh ôn luyện)

Với phần đọc- hiểu trong bài thi nhiều em học sinh tỏ ra rất lúng túng, bănkhoăn làm thế nào để làm tốt được phần này trong bài thi Đứng trước thựctrạng đó, bằng kinh nghiệm của bản thân đang trực tiếp ôn thi THPT Quốc gia,qua những năm dạy đội tuyển học sinh giỏi, dạy chuyên đề ôn thi đại học cũng

như trao đổi với đồng nghiệp, tôi đề xuất một vài kinh nghiệm hướng dẫn học sinh khối 12 làm phần Đọc- hiểu trong bài thi môn Ngữ văn, kỳ thi THPT Quốc gia như sau:

Một là, cung cấp kiến thức lý thuyết Đọc- hiểu (Hệ thống kiến thức)

Hai là, đưa ra một số lưu ý về phương pháp làm phần Đọc- hiểu Ba

là, cung cấp hệ thống bài tập thực hành rèn kĩ năng Đọc- hiểu

2.3.1 Cung cấp lý thuyết

Giáo viên cần cung cấp kiến thức lý thuyết có liên quan đến dạng câu hỏiĐọc- hiểu để ôn tập cho học sinh Nó là chìa khóa mà học sinh phải có để sửdụng trong quá trình đọc hiểu một văn bản thông thường Khi học sinh đã cómột nền tảng kiến thức cơ bản thì giáo viên chỉ cần mình họa bằng một số đề cơbản Từ đó học sinh hoàn toàn có thể chủ động, tự tin khi đứng trước bất cứ một

đề đọc hiểu văn bản nào

Sau mỗi phần lý thuyết đều có ví dụ minh họa để học sinh củng cố, kiểmchứng lại lý thuyết Bao gồm các câu hỏi về: Các loại phong cách ngôn ngữ; cácphương thức biểu đạt; các thao tác lập luận; phương thức trần thuật; phươngthức miêu tả tâm lí; các biện pháp tu từ; các phép liên kết; các hình thức lậpluận; các thể thơ; xác định nội dung chính, đặt nhan đền; viết một đoạn văn ngắntrình bày quan điểm của cá nhân về một vấn đề của cuộc sống có liên quan đếnvăn bản

2.3.1.1 Các phong cách chức năng ngôn ngữ (6 phong cách)

Trang 8

Bất kỳ một văn bản đều thuộc một phong cách nhất định, thậm chí có thểthuộc 2 phong cách Vậy làm thế nào để học sinh nhận diện phong cách mộtcách chính xác.

- Để cung cấp về khái niệm, đặc trưng và để học sinh dễ nhận diện, phânbiệt các phong cách, giáo viên có thể cho học sinh nắm kiến thức bằng cách lậpbảng như sau:

cách ngôn

ngữ

Sinh hoạt dùng trong giao tiếp thể ngữ mang tính tự

sinh hoạt hàng ngày, + Tính cảm nhiên, thoải máithuộc hoàn cảnh giao xúc và sinh động, íttiếp không mang tính +Tính cá trau chuốt…giaonghi thức Giao tiếp ở thể tiếp tư cách cá

đổi tư tưởng, tình cảm nhật kí, cuộc nói

thân, bạn bè, hàng xóm,đồng nghiệp, đồng hành,

2 Khoa học - Là phong cách được +Tính trừu - Phong cách này

dùng trong lĩnh vực tượng- khái bao gồm các vănnghiên cứu, học tập và quát bản: khoa họcphổ biến khoa học Ðây + Tính lí chuyên sâu, KH

là phong cách ngôn ngữ trí- lôgic giáo khoa , KHđặc trưng cho các mục +Tính phổ cập

đích diễn đạt chuyên khách

3 Nghệ thuật - Là phong cách được + Tính hình - Các văn bản

dùng trong sáng tác văn tượng văn học: Thơ,

truyền cảm - Từ ngữ trau

4 Chính luận - Là phong cách được + Tính công -Người giao tiếp

dùng trong lĩnh vực khai về thường bày tỏchính trị xã hội, thường quan điểm chính kiến, quanbày tỏ chính kiến, bộc lộ chính trị điểm tư tưởng,công khai quan điểm +Tính chặt tình cảm củachính trị, tư tưởng của chẽ trong mình với nhữngmình đối với những vấn diễn đạt và vấn đề chính trị,

đề thời sự nóng hổi của suy luận xã hội

Trang 9

xã hội + Tính - lời tuyên ngôn,

truyền cảm cáo, chiếu biểu,

và thuyết hịch, bài luận phục:

5 - Là phong cách được +Tính thông - Các loại vănBáo chí dùng trong lĩnh vực tin thời sự bản thuộc lĩnh

thông tin của xã hội về + Tính ngắn vực truyền thông(thông tấn)

tất cả những vấn đề thời gọn của xã hội về tất

sự trong nước và quốc + Tính sinh cả các vấn đề thời

dẫn

chính- dùng trong giao tiếp minh xác thuộc lĩnh vựcCông vụ thuộc lĩnh vực hành + Tính giao tiếp điều

chính- công vụ Ðấy là khuôn mẫu hành và quản lígiao tiếp giữa Nhà nước + Tính công xã hội

với nhân dân, giữa nhân vụ

dân với cơ quan Nhànước, giữa cơ quan với

cơ quan, giữa nước này

và nước khác

- Sau khi cung cấp lý thuyết, giáo viên cung cấp một số văn bản, yêu cầu học sinh nhận diện xem văn bản ấy thuộc phong cách ngôn ngữ nào, vì sao?

2.3.1.2 Các phương thức biểu đạt (6 phương thức).

Một văn bản bất kỳ nào đó đều phải sử dụng phương thức biểu đạt Cóthể xuất hiện nhiều phương thức biểu đạt như tự sự và miêu tả, thuyết minh vàbiểu cảm… song sẽ có một phương phương thức nổi bật nhất

- Để học sinh dễ nhận diện các phương thức biểu đạt trong các văn bản,giáo viên cung cấp một cách hệ thống đặc điểm các phương thức biểu đạt Giáoviên cho học sinh nắm kiến thức bằng cách lập bảng như sau:

TT Phương

thức biểu Đặc điểm nhận diện Thể loại

đạt

1 Tự sựTrình bày các sự việc (sự - Bản tin báo chí

kiện) có quan hệ nhân quả - Bản tường thuật, tườngdẫn đến kết quả (diễn biến sự trình

nghệ thuật

2 Miêu tả Tái hiện các tính chất, thuộc - Văn tả cảnh, tả người,

tính sự vật, hiện tượng, giúp vật…

con người cảm nhận và hiểu - Đoạn văn miêu tả trong

3 Biểu cảm Bày tỏ trực tiếp hoặc gián - Điện mừng, thăm hỏi,

Trang 10

tiếp tình cảm, cảm xúc của chia buồncon người trước những vấn - Tác phẩm văn học: thơ

đề tự nhiên, xã hội, sự vật trữ tình, tùy bút

4 Thuyết Trình bày thuộc tính, cấu tạo, - Thuyết minh sản phẩm

minh nguyên nhân, kết quả có ích - Giới thiệu di tích,

hoặc có hại của sự vật hiện thắng cảnh, nhân vậttượng, để người đọc có tri - Trình bày tri thức vàthức và có thái độ đúng đắn phương pháp trong khoa

5 Nghị luận Trình bày ý kiến đánhgiá, bàn - Cáo, hịch, chiếu, biểu

luận, trình bày tư tưởng, chủ - Xã luận, bình luận, lờitrương quan điểm của con kêu gọi, sách lí luận.người đối với tự nhiên, xã - Tranh luận về một vấnhội, qua các luận điểm, luận đề trính trị, xã hội, văn

cứ và lập luận thuyết phục hóa

6 Hành chính - Trình bày theo mẫu chung - Đơn từ

- công vụvà chịu trách nhiệm về pháp - Báo cáo lí các ý

kiến, nguyện vọng - Đề nghị của cá nhân, tập thể đối với

cơ quan quản lí

- Giáo viên cung cấp các ngữ liệu( văn bản) cụ thể yêu cầu học sinh chỉ racác phương thức biểu đạt của văn bản

2.3.1.3 Các thao tác lập luận (6 thao tác)

Trong một văn bản thường kết hợp nhiều thao tác lập luận, song thường

có một thao tác chính

- Để học sinh dễ nắm bắt kiến thức giáo viên cung cấp hệ thống lý thuyết

về các thao tác lập luận theo bảng sau:

TT Thao tác lập Khái niệm- Đặc điểm để nhận diện

luận

1 Giải thích- Giải thích là vận dụng lí lẽ để cắt nghĩa vấn đề nghị luận

một cách rõ ràng và giúp người khác hiểu đúng ý nghĩa

2 Phân tích- Phân tích là chia tách đối tượng, sự vật hiện tượng thành

nhiều bộ phận, yếu tố nhỏ để đi sâu xem xét kĩ lưỡngnội dung và mối liên hệ bên trong của đối tượng

3 Chứng minh - Chứng minh là đưa ra những cứ liệu- dẫn chứng xác

đáng để làm sáng tỏ một một vấn đề để thuyết phục người đọc người nghe tin tưởng vào vấn đề

4 Bình luận- Bình luận là bàn bạc đánh giá vấn đề, sự việc, hiện tượng…

đúng hay sai, hay/dở; tốt/xấu, lợi/hại…; để nhận thức đối tượng, có cách ứng xử phù hợp và có phương châm hành động đúng

Trang 11

5 So sánh- So sánh là một thao tác lập luận nhằm đối chiếu hai hay nhiều

sự vật, đối tượng hoặc là các mặt của một sự vật để chỉ

ra những nét giống nhau hay khác nhau, từ đó thấy được giá trị của từng sự vật hoặc một sự vật mà mình quan tâm

- Hai sự vật cùng loại có nhiều điểm giống nhau thì gọi

là so sánh tương đồng, có nhiều điểm đối chọi nhau thìgọi là so sánh tương phản

6 Bác bỏ - Bác bỏ là chỉ ra ý kiến sai trái của vấn đề trên cơ sở

đó đưa ra nhận định đúng đắn và bảo vệ ý kiến lậptrường đúng đắn của mình

- Sau khi cung cấp lý thuyết giáo viên cho học sinh mộ số bài tập minhhọa, yêu cầu nhận diện chỉ ra các thao tác lập luận được sử dụng trong văn bản

2.3.1.4.Các phương thức trần thuật (3 phương thức)

- Các phương thức này xuất hiện trong văn bản văn xuôi Có 3 phươngthức trần thuật như sau:

TT Các phương thức Đặc điểm nhận diện

trần thuật

1 Trần thuật từ ngôi - Người kể chuyện xuất niện trực tiếp xưng tôi

thứ 1 (Nhân vật tự kể chuyện)- như “Chiếc thuyền

ngoài xa”- Nguyễn Minh Châu

2 Trần thuật từ ngôi - Người kể chuyện tự giấu mình (không xuất

thứ 3 hiện trực tiếp nhưng biết hết mọi chuyện)- gọi

nhân vật là “hắn”, “thị”, “y”

3 Trần thuật từ ngôi - Người kể chuyện tự giấu mình nhưng diểm

thứ 3 nhìn và lời kể lại theo giọng điệu của nhân vật

trong tác phẩm (Lời nửa trực tiếp)

- Giáo viên cung cấp một số văn bản minh hoạ trích trong các tác phẩm

“Chí Phèo” - Nam Cao, “Những đứa con trong gia đình”- Nguyễn Thi, “Vợ nhặt” - Kim Lân, “ Chiếc thuyền ngoài xa”-Nguyễn Minh Châu.

2.3.1.5.Các phương thức miêu tả tâm lí (2 phương thức)

Đây chính là phương thức khắc hoạ nội tâm nhân vật xuất hiện trong tácphẩm văn xuôi Cụ thể:

TT Các phương thức Đặc điểm nhận diện

miêu tả tâm lí

1 Miêu tả tâm lí trực - Tái hiện tâm lí nhân vật qua dòng độc thoại

2 Miêu tả tâm lí gián - Tái hiện tâm lí nhân vật qua nét mặt, cử chỉ,

- Giáo viên cung cấp cho học sinh một số đoạn trích trong các tác phẩm

đã học: đoạn miêu tả độc thoại nội tâm của Chí Phèo trong “Chí Phèo”- Nam

Ngày đăng: 27/07/2020, 07:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w