1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Một số biện pháp giúp học sinh làm tốt phần đọc hiểu trong đề thi trung học phổ thông quốc gia môn ngữ văn

28 79 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 216 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vi vây, viêc ôn luyên va chuân bi các kiến thức, biện pháp làmbài cho học sinh là một việc làm cần thiết để giúp học sinh có được kỹ năng cầnthiết khi học, làm bài thi, nâng cao khả năng

Trang 1

MỤC LỤC Trang

2.3.1 Nắm bắt hình thức, mục đích, yêu cầu, phạm vi kiến thức 5

đọc hiểu trong đề thi trung học phổ thông quốc gia

2.3.4 Một số kinh nghiệm xác định các đơn vị 20

Trang 2

2.3.5 Những điều cần lưu ý khi làm phần đọc hiểu 23

"Một nền giáo dục sẽ đào tạo các em nên những người công dân hữu ích cho nước Việt Nam, một nền giáo dục làm phát triển hoàn toàn những năng lực sẵn có của các em" [11].

Việc đổi mới phương pháp giảng dạy và kiểm tra đánh giá ở các bộ môn nóichung và môn Ngữ văn nói riêng đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo triển khai trongnhiều năm qua và đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận Trước đây, việc hìnhthành, bồi dưỡng năng lực đọc hiểu văn bản cho học sinh trong học tập môn Ngữvăn chưa được chú trọng đúng mức Lối dạy học truyền thụ tri thức một chiều, kéodài làm cho học sinh trở thành những người tiếp thu kiến thức thụ động, việc họccủa học sinh thiếu sự sáng tạo, chủ động, thiếu các kỹ năng cần thiết để xử lý cáctình huống mới nảy sinh trong quá trình học tập Trong dạy học văn, việc chú trọngđến đọc hiểu văn bản được xem là một đề xuất có tính đột phá trong việc đổi mớidạy học và kiểm tra đánh giá môn Ngữ văn, là một yêu cầu bức thiết đối với việc

Trang 3

Từ năm học 2014 – 2015 cho đến nay (năm học 2016 – 2017), Bộ Giáo dục

và Đào tạo tiếp tục thực hiện đổi mới kiểm tra đánh giá trong kỳ thi trung học phổthông quốc gia, thể hiện rõ trong cấu trúc đề thi môn ngữ văn gồm có 2 phần, phầnđọc hiểu và làm văn Năm 2014, Bộ Giáo dục và Đào tạo đề nghị các Sở Giáo dục

và Đào tạo, các trường trung học phổ thông lưu ý việc thực hiện việc đổi mới kiểmtra đánh giá chất lượng học tập môn Ngữ văn trong kì thi tốt nghiệp trung học phổthông thực hiện theo hướng đánh giá năng lực học sinh nhưng ở mức độ phù hợp

Cụ thể là tập trung đánh giá hai kĩ năng quan trọng: kĩ năng đọc hiểu văn bản và kĩnăng viết văn bản Đề thi gồm hai phần: đọc hiểu và viết (làm văn), trong đó tỷ lệđiểm của phần viết nhiều hơn phần đọc hiểu Như vây, co thê thây, bên canh kynăng viêt văn ban, ky năng đoc - hiêu văn ban la môt phân quan trong trong viêcgiang day cung như đanh gia chât lương hoc tâp môn Ngư văn Vi vây, rèn ky năngđoc - hiêu văn ban la điêu cân thiêt phai trang bi cho hoc sinh

Đoc - hiêu văn ban la môt trong hai phân băt buôc cua đê thi trung học phổthông quốc gia Phần này chiêm 30% số điểm trong toàn bài thi Để làm tốt phầnđọc hiểu cũng không phải là dễ, học sinh phải vận dụng nhiều kiến thức trong đóchu yêu la kiên thưc vê Tiêng Viêt bao gồm tư ngư, ngư phap, phong cach ngônngư… Cac biên phap nghê thuât va tac dung cua biên phap đo trong môt đoan văn,đoan thơ; cam nhân, nêu nôi dung, đăt nhan đê, sưa lôi văn ban Nhưng kiên thưcnay không mơi nhưng chưa đươc hê thông bai ban và chưa đươc rèn luyên thươngxuyên Câu hỏi trong phần đọc hiểu được thể hiện theo ba mức độ: nhận biết, thônghiểu và vận dụng Vi vây, viêc ôn luyên va chuân bi các kiến thức, biện pháp làmbài cho học sinh là một việc làm cần thiết để giúp học sinh có được kỹ năng cầnthiết khi học, làm bài thi, nâng cao khả năng cảm thụ văn chương, xuất phát từ mục

đích đó tôi đã mạnh dạn chọn đề tài: Một số biện pháp giúp học sinh làm tốt phần

Đọc – Hiểu trong đề thi trung học phổ thông quốc gia môn Ngữ văn.

1.2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu đề tài này, trước hết là để trang bị cho bản thân một hệ thốngkiến thức cơ bản, những kinh nghiệm, kỹ năng cần thiết để giảng dạy tốt hơn mônNgữ văn

Đề tài hướng tới việc bổ trợ những kỹ năng cần thiết cho học sinh giúp họcsinh biết đọc hiểu văn bản một cách sáng tạo, từ đó ứng dụng vào giao tiếp thực

Trang 4

tiễn và đặc biệt là có thể làm tốt phần Đọc – Hiểu trong đề thi trung học phổ thôngquốc gia môn Ngữ văn.

Đề tài này cũng có thể trở thành tài liệu tham khảo cho đồng nghiệp trongquá trình giảng dạy

Mục đích, yêu cầu, phạm vi, cách thức ra đề phần Đọc - hiểu trong đề thitrung học phổ thông quốc gia

Cách thức, kỹ năng làm phần Đọc – Hiểu văn bản trong đề thi trung học phổthông quốc gia

1.3 Đối tượng nghiên cứu

Phần Đọc – Hiểu trong đề thi trung học phổ thông quốc gia môn Ngữ văn

1.4 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp điều tra khảo sát thực tế; thống kê; so sánh; phân loại; tổnghợp; phương pháp hệ thống

Trao đổi cũng với tổ chuyên môn, lấy ý kiến góp ý, bổ sung từ các đồngnghiệp để có thể thực hiện tốt hơn đề tài nghiên cứu này

1.5 Điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm

Cung cấp cho học sinh hệ thống phương pháp, cách thức làm phần đọc hiểutrong đề thi trung học phổ thông quốc gia

2 NỘI DUNG

2.1 Cơ sở lý luận

Đổi mới dạy học và kiểm tra đánh giá là yêu cầu cần thiết của giáo dục ViệtNam hiện nay nhằm đáp ứng yêu cầu chuẩn đầu ra về phẩm chất năng lực chongười học Sự đổi mới phải đồng bộ trên tất cả các môn học trong đó có môn Ngữ

văn: “Trong định hướng phát triển chương trình sau năm 2015, môn Ngữ văn được coi là môn học công cụ, theo đó năng lực giao tiếp tiếng Việt và năng lực thưởng thức văn học, cảm thụ thẩm mỹ là các năng lực chuyên biệt, ngoài ra, năng lực tư duy, năng lực sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực tự học (là các năng lực chung) cũng đóng vai trò quan trọng trong việc xác định các nội dung dạy học của môn học” [10] Trong học tập môn Ngữ văn việc đánh giá năng lực đọc - hiểu

của học sinh là một trong những thang bậc dùng để đánh giá năng lực học tập của

học sinh đối với môn học này: “Khi đánh giá năng lực chuyên biệt cũng như năng lực chung trong môn học Ngữ văn cần thông qua việc đánh giá các năng lực học tập cơ bản của môn học, đó là: năng lực đọc – hiểu, năng lực viết, năng lực nói –

Trang 5

trình bày.” [10] Năng lực đọc – hiểu văn bản của học sinh thể hiện ở khả năng vận

dụng tổng hợp các kiến thức Tiếng Việt, về các loại hình văn bản (bao gồm các vănbản học và văn bản thông tin) và kĩ năng phương pháp đọc, khả năng thu thập cácthông tin, cảm thụ cái đẹp và các giá trị của tác phẩm văn chương nghệ thuật Vớitác phẩm văn chương, đọc - hiểu là phải thấy được nội dung, mối quan hệ ý nghĩacủa văn bản do tác giả tổ chức và xây dựng; ý đồ, mục đích, tư tưởng của tác giảgửi gắm trong tác phẩm; giá trị đặc sắc của các yếu tố nghệ thuật; ý nghĩa của từngữ được dùng trong cấu trúc văn bản; thể loại của văn bản; hình tượng nghệthuật… Từ đó ứng dụng kiến thức và kỹ năng đã đọc vào thực tiễn đời sống Đọc -hiểu văn bản đề cao vai trò chủ thể tích cực, sáng tạo của học sinh trong hoạt động

đọc và như vậy mới đáp ứng yêu cầu điều 22 Luật Giáo dục: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác chủ động, sáng tạo của học sinh, phải phù hợp với đặc điểm từng lớp học, môn học […] rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn” [11].

Rèè̀n luyện năng lực đọc - hiểu cho học sinh là một việc làm quan trọng, kếtquả của việc đọc – hiểu phản ánh trình độ năng lực của học sinh trong học tập vàrèè̀n luyện Cho nên hiện nay trong đề thi THPTQG có thêm phần Đọc – Hiểu đểđáp ứng yêu cầu đánh giá kết quả học tập môn Ngữ văn theo hướng hình thành pháttriển năng lực

2.2 Thực trạng của vấn đề.

Theo yêu cầu của việc đổi mới dạy học và kiểm tra, đánh giá trong môn Ngữvăn, từ năm học 2014 – 2015, đề thi Tốt nghiệp THPT đã có sự thay đổi so vớitrước đây Trong đề thi, ngoài phần Làm văn có thêm phần Đọc – Hiểu chiếmkhoảng 3 điểm, phạm vi kiến thức khá rộng, bao gồm kiến thức về tiếng Việt, kiếnthức về làm văn Các câu hỏi trong phần Đọc – Hiểu thường xoay quanh nội dung,nghệ thuật, chủ đề của văn bản, đồng thời có thể yêu cầu các em trình bày suy nghĩcủa mình về vấn đề đặt ra trong văn bản (với câu hỏi này, các em chỉ trả lời ngắngọn theo dung lượng đề bài yêu cầu, khoảng 5 – 7 dòng) Để làm được phần nàyđòi hỏi người học phải có năng lực đọc hiểu văn bản nhất định trên một nền tảngkiến thức cơ bản

Qua thời gian nghiên cứu tìm hiểu, hướng dẫn, rèè̀n luyện năng lực đọc hiểuvăn bản cho học sinh THPT, tôi nhận thấy năng lực đọc hiểu văn bản của học sinhcòn nhiều hạn chế Điều đó do nhiều nguyên nhân, một trong nhưng nguyên nhân

Trang 6

đó là do áp lực thi cử, hiện nay, tình trạng giáo viên đọc hộ, hiểu hộ, cảm thụ hộhọc sinh diễn ra khá phổ biến; là do những kiến thức cơ bản học sinh tích lũy được

từ tiểu học đến THCS, THPT đã bị mai một nhiều Vì vậy học sinh cần được bổsung lại một cách có hệ thống và bài bản những kiến thức, kĩ năng phục vụ cho đọchiểu văn bản

Việc bổ trợ, trang bị lại các kiến thức cần thiết giúp cho học sinh làm tốtphần đọc - hiểu trong đề thi THPTQG cũng không phải là dễ dàng, gặp khá nhiềutrở ngại như hạn chế về thời gian, khối lượng kiến thức nhiều Nhiều giáo viên mônNgữ văn đã rất lo lắng, trăn trở về vấn đề này Hơn nữa, hiện nay, chưa có nhiều tàiliệu thiết thực để phục vụ cho việc dạy học cũng như kiểm tra đánh giá theo địnhhướng phát triển năng lực học sinh

Từ thực tế trên, tôi đã nghiên cứu, tìm tòi để đưa ra các giải pháp nâng caonăng lực đọc - hiểu văn bản cho học sinh, đó là hệ thống hóa những kiến thức cơbản (giúp học sinh năm bắt được bản chất) và cách nhận diện cùng một số kinhnghiệm khi làm bài Những kiến thức, kĩ năng cơ bản liên quan đến phần đọc –hiểu văn bản đã được chắt lọc, lựa chọn, sắp xếp thành một hệ thống từ đơn giảnđến phức tạp để học sinh dễ học, dễ nhớ và thuận lợi trong làm bài

2.3 Các giải pháp

2 3.1 Nắm bắt hình thức, mục đích, yêu cầu, phạm vi kiến thức phần đọc – hiểu trong đề thi trung học phổ thông quốc gia

a Về hình thức:

Phần đọc - hiểu thường chọn những văn bản trong chương trình lớp 10, 11,

12 hoặc là một đoạn văn, thơ, bài báo, lời phát biểu trong chương trình thời sự…ngoài SGK phù hợp với trình độ nhật thức và năng lực của học sinh Các câu hỏiphần đọc hiểu chủ yếu là kiến thức phần tiếng việt, làm văn như:

- Về ngữ pháp, cấu trúc câu, phong cách ngôn ngữ

- Kết cấu đoạn văn; các biện pháp nghệ thuật đặc sắc và tác dụng của biện pháp đó trong ngữ liệu đưa ra ở đề bài

- Nội dung chính và các thông tin quan trọng của văn bản? Các ý cơ bản?

- Ý nghĩa của văn bản? Đặt tên cho văn bản?

- Sửa lỗi văn bản

- Viết đoạn văn ngắn (khoảng 7 đến 10 dòng) bày tỏ suy nghĩ, cảm nhận,

Trang 7

- Cố tình viết sai chính tả, sai cấu trúc ngữ pháp và yêu cầu sửa lại cho đúng.

- Xác định hình thức ngôn ngữ biểu đạt, phương thức liên kết trong ngữ liệu

- Ý nghĩa của một từ, một hình ảnh nào đó trong ngữ liệu đưa ra

- Trong văn bản có một chỗ để trống, yêu cầu tìm từ thích hợp điền vào

b Phạm vi:

Ngữ liệu được dùng là một bài, đoạn thơ hoặc văn xuôi, một trích đoạn bài báo hoặc một lời nói, lời nhận xét của tác giả nào đó về một sự việc, sự kiện

- Văn bản văn học (Văn bản nghệ thuật)

+ Văn bản trong chương trình (Nghiêng nhiều về các văn bản đọc thêm)+ Văn bản ngoài chương trình (Các văn bản cùng loại với các văn bản được học trong chương trình)

- Văn bản nhật dụng: Loại văn bản có nội dung gần gũi, thời sự đối conngười và cộng đồng trong hiện tại như: Vấn đề về chủ quyền biển đảo, thiên nhiên,môi trường, năng lượng, dân số, quyền trẻ em, ma túy… Văn bản nhật dụng có thểdùng tất cả các thể loại cũng như các kiểu văn bản, song có thể nghiêng nhiều vềvăn học sử, phong cách tác giả, thủ pháp tu từ… Ở đây việc đọc văn đã tích hợp tựnhiên với tri thức tiếng Việt và làm văn

c Yêu cầu cơ bản của phần Đọc – Hiểu:

Câu hỏi được đưa ra theo ba cấp độ: nhận biết, thông hiểu và vận dụng

* Với cấp độ nhận biết:

Học sinh chỉ cần nắm được những kiến thức cơ bản là có thể nhận diện đốitượng Chẳng hạn nhận biết về kiểu, loại, phương thức biểu đạt, cách sử dụng từngữ, câu văn, hình ảnh, các biện pháp tu từ… trong văn bản

* Với cấp độ thông hiểu: Yêu cầu học sinh phải trả lời các câu hỏi sau:

- Nội dung chính của văn bản? Tóm tắt nội dung của văn bản? Với câu hỏinày, cần đọc kĩ văn bản, có thể dựa vào nhan đề và những câu văn mở đầu và kếtthức của bản để xác định nội dung chính

- Nếu một văn bản không có nhan đề, đề bài có thể yêu cầu đặt cho nó một nhan đề

- Trả lời được các câu hỏi vì sao?

- Phân tích được ý nghĩa và tác dụng của việc ngắt nhịp (nếu ngữ liệu là văn bản thơ, tùy bút, văn chính luận)

Trang 8

- Giải thích một số từ ngữ trong đoạn văn, chọn một số câu giải thích, chỉ ra câu có cách giải thích đúng.

- Giải thích ý một đoạn văn trong đó cho một số cách hiểu, chỉ ra cách hiểu sai hoặc đúng ở trong đó, hoặc tự diễn đạt cách hiểu của mình

- Khái quát tư tưởng văn bản, cho một số cách khái quát, tìm cách khái quát đúng ở trong đó hoặc tự viết lời khái quát

- Hiểu đặc điểm thể loại, phương thức biểu đạt, ý nghĩa của việc sử dụng từ ngữ, câu văn, hình ảnh, biện pháp tu từ

* Với cấp độ vận dụng: Yêu cầu học sinh phải trả lời được những câu sau:

- Tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng trong văn bản?

- Ý nghĩa của một số từ ngữ đặc biệt trong văn bản, thường là những từ ngữđược dùng với nghĩa chuyển, nghĩa hàm ẩn chứ không phải là những từ ngữ chỉ cónghĩa trực tiếp

- Trích ra một ý trong văn bản, yêu cầu phát triển thành một đoạn văn, hoặc viết đoạn văn thể hiện suy nghĩ riêng của bản thân

2.3.2 Hệ thống hóa những kiến thức cơ bản.

Để hình thành năng lực §ọc - hiểu cho học sinh, giáo viên giúp học sinh ôntập, củng cố, hệ thống hóa những kiến thức cơ bản để phục vụ tốt cho công tác đọc– hiểu, bao gồm kiến thức trên các lĩnh vực sau đây:

- Kiến thức về từ loại (khái niệm, phân loại từ) danh từ, động từ, tính từ, trợ

từ, hư từ, thán từ, từ láy, từ thuần Việt, từ Hán Việt… Hiểu được các loại nghĩa củatừ: nghĩa đen, nghĩa bóng, nghĩa gốc, nghĩa chuyển, nghĩa biểu hiện, nghĩa biểuthái…

- Kiến thức về câu (khái niệm, phân loại câu); các loại câu phân loại theo cấutạo ngữ pháp; các loại câu phân loại theo mục đích nói;

- Kiến thức về các biện pháp tu từ (so sánh, ẩn dụ, hoán dụ, nhân hóa, nóigiảm, nói tránh, điệp từ, điệp ngữ, phép đối…) Tu từ về ngữ âm: điệp âm, điệpvần, điệp thanh, tạo âm hưởng và nhịp điệu cho câu Tu từ về từ ngữ: So sánh, nhân

về câu: Lặp cú pháp, liệt kê, chêm xen, câu hỏi tu từ, đảo ngữ, đối, im lặng… Có

kỹ năng nhận biết các biện pháp tu từ được sử dụng trong một văn bản thơ hoặcvăn xuôi và phân tích tốt giá trị của việc sử dụng phép tu từ ấy trong văn bản

- Kiến thức về văn bản:

Trang 9

Kiến thức về các loại phong cách ngôn ngữ (sinh hoạt, nghệ thuật, chính luận, báo chí, khoa học, hành chính công vụ)

Kiến thức về phương thức biểu đạt (tự sự, biểu cảm, miêu tả, thuyết minh, nghị luận và hành chính công vụ)

Kiến thức về các phương thức biểu đạt (tự sự, biểu cảm, miêu tả, thuyết minh, nghị luận và hành chính công vụ)

2.3.2.1 Nhận diện các phong cách ngôn

ngữ a Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt.

- Là ngôn ngữ dùng trong giáo tiếp sinh hoạt hằng ngày, hoàn cảnh giao tiếpkhông mang tính nghi thức; giàu cảm xúc, ít trau chuốt, dùng để thông tin, trao đổi

ý nghĩ, tình cảm… trong cuộc sống Tồn tại ở dạng nói và dạng viết (chuyện trò, nhật kí, thư từ, tin nhắn) Ngôn ngữ khẩu ngữ, bình dị, tự nhiên

- Đặc trưng: Tính cụ thể, tính cảm xúc, tính cá thể

- Cách nhận biết: Nếu văn bản trích đoạn hội thoại, có lời đối đáp của nhânvật, hoặc trích đoạn một bức thư, nhật kí thì văn bản đó thuộc phong cách ngôn ngữsinh hoạt

b Phong cách ngôn ngữ khoa học

- Là ngôn ngữ được dùng trong giao tiếp thuộc lĩnh vực nghiên cứu, học tậpnghiên cứu và phổ biến khoa học Tồn tại ở hai dạng: dạng nói (bài giảng, phátbiểu, nói chuyện khoa học…) và viết (giáo án, sách, vở…)

- Đặc trưng cơ bản: Tính khái quát, trừu trượng; tính lí trí, lô gích; tính kháchquan, phi cá thể

- Cách nhận biết: Văn bản có nội dung khoa học, nhiều thuật ngữ thuộc cácngành khoa học, câu đủ thành phần, trình bày theo phần, chương, mục, không sửdụng các phép tu từ

c Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật

- Ngôn ngữ nghệ thuật là ngôn ngữ được lựa chọn, sắp xếp, tinh luyện từngôn ngữ thông thường và đạt giá trị nghệ thuật – thẩm mĩ, chủ yếu dùng trong cáctác phẩm văn chương (Văn xuôi, truyện, thơ, kịch), không chỉ có chức năng thôngtin mà còn thỏa mãn nhu cầu thẩm mĩ của con người

- Đặc trưng: Tính hình tượng, tính truyền cảm, tính cá thể:

Trang 10

- Phạm vi: Dùng trong văn bản nghệ thuật, ngôn ngữ tự sự (truyện ngắn, tiểuthuyết, phê bình, hồi kí…) Ngoài ra còn có trong văn bản chính luận, báo chí, lờinói hằng ngày.

- Cách nhận biết: Nếu văn bản trích trong một bài thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết, tùy bút, ca dao… thì nó thuộc phong cách ngôn ngữ nghệ thuật

d Phong cách ngôn ngữ hành chính công vụ

- Dùng trong giao tiếp thuộc lĩnh vực hành chính để điều hành, quản lý xãhội, giao tiếp giữa nhà nước với nhân dân, giữa nhân dân với cơ quan nhà nước,giữa cơ quan với cơ quan, giữa nước này và nước khác, giữa người này với ngườikhác… trên cơ sở pháp lí

- Có 2 chức năng: chức năng thông báo thể hiện ở các thông tư, nghị định,báo cáo, văn bằng, chứng chỉ, hóa đơn, hợp đồng, đơn từ…; chức năng sai khiến:thể hiện trong các văn bản quy phạm pháp luật, văn bản cấp trên gửi cho cấp dưới,nhà nước đối với nhân dân, tập thể với cá nhân

- Cách trình bày: thường có khuôn mẫu nhất định; sử dụng lớp từ hành chínhvới tần số cao; câu thường dài nhưng chỉ là kết cấu của một câu, gồm nhiều ý, mỗi

ý quan trọng thường được tách ra, xuống dòng, viết hoa đầu dòng

- Đặc trưng: Tính minh xác; tính công vụ

- Cách nhận biết: Căn cứ dấu hiệu mở đầu, kết thúc, các từ ngữ được dùng

Có phần quốc hiệu, tiêu ngữ ở đầu văn bản Có cơ quan chức năng ở cuối văn bản

Có lớp từ hành chính được sử dụng với tần số cao

e Phong cách ngôn ngữ chính luận

- Là ngôn ngữ dùng trong các văn bản chính luận hoặc là lời nói miệng trongcác buổi hội nghị, hội thảo, nói chuyện thời sự, nhằm trình bày, bình luận, đánhgiá, bày tỏ tư tưởng, lập trường, thái độ về những sự kiện, vấn đề chính trị, xã hội,văn hóa, tư tưởng,… theo một quan điểm chính trị nhất định; với mục đích tuyêntruyền, cổ động, giáo dục thuyết phục người đọc, người nghe để có nhận thức, hànhđộng đúng, tồn tại ở cả dạng nói và dạng viết

- Đặc điểm phương tiện diễn đạt: Sử dụng ngôn ngữ thông thường, lớp từngữ chính trị; câu có kết cấu chuẩn mực, gần với những phan đoán lô gich trongmột hệ thống lập luận; sử dụng nhiều biện pháp tu từ để tăng sức hấp dẫn cho lí lẽ,lập luận

Trang 11

- Đặc trưng: Tính công khai về quan điểm chính trị Tính chặt chẽ trong diễnđạt và suy luận: Luận điểm, luận cứ, ý lớn, ý nhỏ, câu đoạn phải rõ ràng, rànhmạch Tính truyền cảm, thuyết phục.

- Cách nhận biết: Nội dung văn bản liên quan đến những sự kiện, vấn đềchính trị, xã hội, văn hóa, tư tưởng; có thể hiện quan điểm của người nói, người

viết; dùng nhiều từ ngữ chính trị (như dân tộc, dân chủ, chính quyền, chủ quyền, tự do…); được trích dẫn trong các văn bản chính luận ở sách giáo khoa hoặc lời phát

biểu của các nguyên thủ quốc gia trong hội nghị, hội thảo, nói chuyện thời sự,chính trị…

h Phong cách ngôn ngữ báo chí

- Là ngôn ngữ dùng để thông báo tin tức thời sự trong nước và quốc tế, phảnánh chính kiến của tờ báo và dư luận quần chung, nhằm thúc đẩy sự tiến bộ của xãhội Tồn tại ở hai dạng: nói (thuyết minh, phỏng vấn trong các buổi phát thanh,truyền hình…) và viết (báo in)

- Ngôn ngữ báo chí được dùng ở những văn bản thông tin đại chúng, thể loạitiêu biểu là bản tin, phóng sự, tiểu phẩm… Ngoài ra còn có quảng cáo, bình luậnthời sự, thư bạn đọc… Mỗi thể loại có yêu cầu riêng về sử dụng ngôn ngữ

- Về từ vựng: sử dụng lớp từ rất phong phú, mỗi thể loại có một lớp từ vựngđặc trưng; về ngữ pháp: Câu văn đa dạng nhưng thường ngắn gọn, sáng sủa, mạchlạc; về các biện pháp tu từ: Sử dụng nhiều biện pháp tư từ để tăng hiệu quả diễnđạt

- Đặc trưng: Tính thông tin thời sự; tính ngắn gọn; tính sinh động, hấp dẫn

- Nhận biết: Căn cứ vào nguồn bài viết đề bài trích dẫn (một bản tin báo nào?Ngày nào? Sự kiện diễn ra ở đâu?) Với bản tin và phóng sự, có thời gian, sự kiện,nhân vật, những thông tin trong văn bản có tính thời sự

2.3.2.2 Các phương thức biểu

đạt a Phương thức biểu đạt tự sự

Là phương thức trình bày một chuỗi các sự việc, sự việc này dẫn đến sự việckia, cuối cùng kết thúc thể hiện một ý nghĩa Ngoài ra, còn tập trung khắc họa tínhcách nhân vật và nêu lên những nhận thức sâu sắc, mới mẻ về bản chất của conngười và cuộc sống

Cách nhận biết: có cốt truyện, có nhân vật, có diễn biến sự việc, có nhữngcâu văn trần thuật, có tư tưởng chủ đề, có ngôi kể thích hợp Tự sự thường được sử

Trang 12

dụng trong truyện, tiểu thuyết, văn xuôi nói chung, đôi khi còn được dùng trong thơ(khi muốn kể sự việc).

Ví dụ: “Mỵ không nói A Sử cũng không nói thêm nữa A Sử bước lại, nắm

Mỵ, lấy thắt lưng trói hai tay Mỵ Nó xách cả một thúng sợi đay ra trói đứng Mỵ vào cột nhà Tóc Mỵ xõa xuống, A Sử quấn tóc luôn lên cột, làm cho Mỵ không cúi, không nghiêng đầu được nữa Trói xong vợ, A Sử thắt nốt cái thắt lưng xanh ra ngoài áo rồi A Sử tắt đèn, đi ra, khép cửa buồng lại.”.

(Trích Vợ chồng A Phủ – Tô Hoài)

Đoạn văn trên được viết chu yêu theo phương thức biểu đạt tự sự

b Phương thức biểu đạt miêu tả

Là dùng ngôn ngữ tái hiện trạng thái sự vật, hiện tượng, con người, làm chongười nghe, người đọc có thể hình dung được cụ thể sự vật, sự việc hoặc nhận biếtđược thế giới nội tâm của con người như đang hiện ra trước mắt

Cách nhận biết: Có các câu văn, câu thơ tái hiện lại hình dáng, diện mạo,màu sắc, của người và sự vật (tả người, tả cảnh, tả tình…)

Ví dụ: “Trăng đang lên Mặt sông lấp lóng ánh vàng, Núi Trùm cát đứng sừng sững bên bờ sông thành một khối tim sẫm uy nghi, trầm mặc Dưới ánh trăng, dòng sông sáng rực lên, những con sóng nhỏ lăn tăn gợn đều mơm man vỗ nhẹ vào hai bên bờ cát”.

(Trích Trong cơn gió lốc - Khuất Quang Thụy).

Đoạn văn trên tả cảnh dòng sông trong một đêm trăng sáng

c Phương thức biểu đạt biểu cảm

Là dùng ngôn ngữ để bộc lộ tình cảm, cảm xúc của mình về thế giới xungquanh

Cách nhận biết: Có các câu văn, câu thơ miêu tả cảm xúc, thái độ của ngườiviết hoặc của nhân vật trữ tình (Cảm xúc của người viết, chứ không hẳn là cảm xúccủa nhân vật trong truyện)

Ví dụ: Đọc đoạn thơ và chỉ ra phương thức biểu đạt

Hùng vĩ thay, toàn thân đất nước Tựa Trường Sơn, vươn tới Trường Sa Trà Cổ rừng dương đến Cà Mau rừng đước Đỏ bình minh mặt sóng khơi xa.

Trang 13

Đã qua, thuở âm u bóng tang, tàn lụi cỏ cây Đã qua, nỗi đêm Nam ngày Bắc Giữa quê hương mà như kiếp đi đày!( )

Tôi lại mơ Trên Thái Bình Dương

Tổ quốc ta như một thiên đường Của muôn triệu anh hùng làm nên cuộc sống Của tự do, hy vọng, tình thương

(Trích Vui thế hôm nay, Thơ Tố Hữu, NXB Giáo dục, 1999)

Phương thức biểu đạt của đoạn thơ trên là biểu cảm

d Phương thức biểu đạt thuyết minh:

Là cung cấp, giới thiệu, giảng giải những tri thức (về đặc điểm, phươngpháp) của một sự vật, hiện tượng nào đó cho những người cần biết nhưng còn chưabiết

Đặc trưng: Các luận điểm đưa ra đúng đắn, rõ ràng, phù hợp với đề tài đượcnói tới Lý lẽ và dẫn chứng thuyết phục, chính xác, làm sáng tỏ luận điểm

Các phương pháp thuyết minh: nêu đĩnh nghĩa, giải thích, liệt kê, nêu ví dụ,dùng số liệu, so sánh, phân loại, phân tích

Cách nhận biết: Có những câu văn chỉ ra đặc điểm riêng, nổi bật của đốitượng, cung cấp kiến thức về đối tượng, giúp người đọc hiểu rõ về đối tượng nàođó

Ví dụ: “Trong muôn vàn loài hoa mà thiên nhiên đã tạo ra trên thế gian này, hiếm có loài hoa nào mà sự sự đánh giá về nó lại được thống nhất như là hoa lan Hoa lan được người phương Đông tôn là “loài hoa hoa vương giả” (vương giả chi hoa) Còn người phương Tây thì làn là “nữ hoàng của các loài hoa” Họ lan thường được chia thành hai nhóm: nhóm phong lan bao gồm các loài sống bám trên đá, trên cây, có rễ nằm trong không khí Cò nhóm địa lan lại gồm những loài

có rễ năm trong đất hay lớp thảm mục…” [3]

Đoạn trích thuyết minh về hoa lan, nhằm mục đích làm cho người đọc hiểu

rõ về loài hoa này

e Phương thức biểu đạt nghị luận

Trang 14

Là phương thức chủ yếu được dùng để bàn bạc phải trái, đúng sai nhằm bộc

lộ rõ chủ kiến, thái độ của người nói, người viết rồi dẫn dắt, thuyết phục ngườikhác đồng tình với ý kiến của mình (Nêu ý kiến, đánh giá, bàn luận)

Cách nhận biết: Có vấn đề bàn luận, có quan điểm của người viết Nghị luậnthường đi liền với thao tác phân tích, giải thích, chứng minh, bình luận

Ví dụ: Đọc đoạn trích và chỉ ra phương thức biểu đạt

Sự thông cảm cùng một lúc là phương tiện và mục đích của sự trao đổi giữa con người với nhau Thế mà giáo dục nhằm mục đích làm cho con người cảm thông nhau lại hoàn toàn vắng bóng trong các giáo trình của chúng ta Hành tinh này cần những thông cảm lẫn nhau từ mọi phía Bởi tầm quan trọng của nó, cần

có một đổi mới về tâm thức ở mọi cách giáo dục và ở mọi giới tuổi nhằm phát triển

sự thông cảm Đó phải là công việc của nền giáo dục trong tương lai.

Sự thông cảm lẫm nhau giữa những con người, gần gũi như xa, từ nay phải trở thành cốt tử thì các liên hệ loài người mới có thể thoát ra khỏi tình bạn man dã của sự bất thông cảm.

Từ đó nảy ra một nhu cầu tìm hiểu về sự bất thông cảm, đến tận gốc rễ, phương thức và tác dụng của nó một nghiên cứu như vậy càng trở nên cần thiết khi nó liên quan đến, không phải cách biểu hiện mà là những gốc rễ của kỳ thị chủng tộc, của bài hoại, của khinh miệt Cùng lúc, nó sẽ tạo ra một trong những cơ

sở chắc chắn nhất của nền giáo dục phụng sự hòa bình.

(Edgar morin, Bảy tri thức tất yếu cho nền giáo dục tương lai, NXB Tri thức)

Phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích trên là nghị luận

h Phương thức biểu đạt hành chính – công vụ:

Dùng để trình bày ý muốn, quyết định nào đó, thể hiện quyền hạn, tráchnhiệm giữa người với người trên cơ sở pháp lý

Cách nhận biết: Bố cục của văn bản theo khuôn mẫu (Đầu tiên là quốc hiệu,tiêu ngữ, tên cơ quan ban hành văn bản…; lớp từ hành chính dùng với tần số cao;các từ ngữ, câu chỉ một ý…)

2.3.2.3 Các phương thức trần thuật và hình thức ngôn ngữ:

- Các phương thức trần thuật:

Trần thuật từ ngôi thứ nhất do nhân vật tự kể chuyện (Lời trực tiếp, xưng tôi); trần thuật từ ngôi thứ hai, người kể chuyện tự giấu mình; trần thuật từ ngôi thứ

Ngày đăng: 27/07/2020, 07:40

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w