SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁPHÒNG GD VÀ ĐÀO TẠO THÀNH PHỐ THANH HOÁ SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM HƯỚNG DẪN HỌC SINH LỚP 5 THỰC HÀNH CÁC DẠNG BÀI TẬP VỀ TỪ LOẠI TIẾNG VIỆT TRONG CHƯƠNG TRÌNH
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
PHÒNG GD VÀ ĐÀO TẠO THÀNH PHỐ THANH HOÁ
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
HƯỚNG DẪN HỌC SINH LỚP 5 THỰC HÀNH CÁC DẠNG BÀI TẬP VỀ TỪ LOẠI TIẾNG VIỆT TRONG CHƯƠNG TRÌNH TIỂU HỌC
Người thực hiện: Lê Thị Hảo Quý
Trang 21 MỞ ĐẦU 1.1 Lý do chọn đề tài
Trong hệ thống giáo dục, Tiểu học là cấp học nền tảng đặt cơ sở ban đầucho việc hình thành và phát triển nhân cách của con người, đặt nền móng vữngchắc cho giáo dục phổ thông và cho toàn bộ hệ thống giáo dục quốc dân Để đạtđược mục tiêu trên, nhà trường Tiểu học đã duy trì dạy học toàn diện, việc giúpcác em học tốt các môn học, học có phương pháp là mục tiêu hàng đầu được đặt
ra trong mọi tiết học, giúp cho sự phát triển kỹ năng, kỹ xảo, năng lực, tư duy vàkhả năng của các em
Mỗi môn học đều góp phần hình thành và phát triển nhân cách của trẻ,cung cấp cho các em những tri thức cần thiết để phục vụ cho cuộc sống, học tập
và sinh hoạt sao cho tốt nhất và có hiệu quả cao
Tiếng Việt là một môn học rất quan trọng ở nhà trường Tiểu học.Nó là mônhọc chính, là cơ sở để hình thành vốn ngôn ngữ chuẩn, làm nền tảng cho các bậchọc về sau.Ở Tiểu học, học sinh được học những kiến thức cơ bản về từ, từ loại,câu, …qua đó giúp học sinh có những hiểu biết ban đầu của những kiến thứcmới.Trong đó, phần từ loại được trải đều trong nội dung các bài học từ lớp 2 chođến lớp 5
Nói đến từ loại là nói đến sự phân lớp các từ trong vốn từ vựng của mộtngôn ngữ.Trong chương trình tiếng Việt ở Tiểu học, từ loại được phân chiathành: danh từ, động từ, tính từ, đại từ và quan hệ từ.Các kiến thức về từ loại,giúp cho học sinh ở bậc Tiểu học phân biệt được các từ loại, cách dùng từ, đặtcâu có ý nghĩa, vận dụng trong viết chính tả, làm bài tập tiếng Việt, …Khôngnhững thế, những kiến thức về từ loại sẽ giúp học sinh phát triển được vốn từ, kĩnăng nhận diện, sử dụng thành thạo trong viết văn, …Nhưng thực tế cho thấy,những kiến thức về từ loại là rất phong phú và đa dạng, học sinh còn gặp rấtnhiều khó khăn trong việc nhận diện từ loại, phân loại từ loại, vận dụng từ loạitrong dùng từ, đặt câu, Nếu không nắm vững những kiến thức cơ bản làm nềntảng thì học sinh hay dễ nhầm lẫn, mắc phải những lỗi sai cơ bản Và nếu khôngđược củng cố kiến thức ngay từ đầu thì học sinh Tiểu học sẽ gặp nhiều khó khăntrong việc phát triển ngôn ngữ viết của mình Vì thế, đối với giáo viên, việc dạy
về từ loại cho học sinh là một nhiệm vụ rất quan trọng, đang được nhiều ngườiquan tâm đến Giáo viên nắm vững những kiến thức và truyền đạt một cách dễhiểu cho học sinh, kích thích tính nhanh nhạy của học sinh, phát triển sự sángtạo, giúp học sinh tiếp thu bài nhanh hơn
Trang 3Ngoài ra, nó sẽ giúp thêm cho môn Tập làm văn, khi viết câu thì vế câu sẽchau chuốt hơn, diễn đạt bằng ngôn ngữ rõ ràng mạch lạc, biết sàng lọc để đưahình ảnh hay vào trong bài Nó còn giúp cho bộ môn chính tả như viết đúng, ítlỗi hơn Trong bộ môn kể chuyện, các em sẽ biết cách kể hay, hấp dẫn ngườinghe hơn Học tốt phần từ loại này, nó còn giúp cho việc học và nắm bắt kiếnthức các môn học khác một cách dể dàng hơn.
Nhận thức rõ tầm quan trọng của từ loại trong chương trình Tiểu học, làgiáo viên đứng lớp đã 20 năm, qua mét thời gian giảng dạy, tôi thấy học sinhcủa mình rất cố gắng học tập tất cả các môn học đặc biệt là môn Tiếng Việt.Nhưng trong thực tế, khi học đến từ loại Tiếng Việt thì nhiều em còn lúng túng.Với suy nghĩ: "Làm thế nào để học sinh nắm chắc kiến thức này và tự tin trong
học tập?" nên tôi đã quyết định chọn đề tài: "Hướng dẫn học sinh lớp 5 thực
hành các dạng bài tập về từ loại Tiếng Việt trong chương trình Tiểu học" 1.2 Mục đích nghiên cứu
Xuất phát từ những vấn đề trên và qua nghiên cứu, tìm hiểu trong nhiềunăm dạy phân môn Luyện từ và câu cho học sinh lớp 5 tôi đã chọn đề tài
"Hướng dẫn học sinh lớp 5 thực hành các dạng bài tập về từ loại Tiếng Việt trong chương trình Tiểu học" Trong đề tài này, tôi không có nhiều tham vọng
mà chỉ nhằm mục đích đóng góp một phần công sức của mình vào công tác giáodục nhà trường Với việc nghiên cứu đề tài, tôi sẽ có bài học kinh nghiệm để cóthể áp dụng vào thực tiễn giảng dạy môn Luyện từ và câu và đặc biệt là phần từloại trong trường Tiểu Học Lý Tự Trọng nói riêng và ngành giáo dục thành phốnói chung.Ngoài ra, nó còn giúp cho chúng ta thấy rõ tầm quan trọng của từ loạiTiếng Việt để từ đó tìm ra phương pháp hay để giúp học sinh tiếp thu bài mộtcách nhẹ nhàng, khắc sâu kiến thức về từ loại Điều này càng có ý nghĩa, nếu đềtài thành công đồng thời chất lượng học tập của các em được nâng lên một cách
rõ rệt.về từ loại, giúp cho các em phát triển về vốn từ của mình
Chỉ tiêu: Cuối năm học 100% học sinh có thể làm tốt các bài về từ loại theoyêu cầu Trên cở sở kiến thức, kĩ năng về văn từ loại mà các em đã được học,các em có vận dụng tốt ở các lớp trên
1.3 Đối tượng nghiên cứu
Sáng kiến "Hướng dẫn học sinh lớp 5 thực hành các dạng bài tập về
từ loại Tiếng Việt trong chương trình Tiểu học" Trong đề tài này, đối tượng
nghiên cứu là các dạng bài tập về từ loại (danh từ, động từ, tính từ) trong chươngtrình sách Tiếng Việt ở Tiểu học
Trang 41.4 Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu đề tài này, tôi đã sử dụng những phương pháp:
- Phương pháp nghiên cứu xây dựng cở sở lí thuyết
- Phương pháp điều tra khảo sát thực tế, thu thập thông tin
- Phương pháp thống kê, xử lí số liệu
2 PHẦN NỘI DUNG 2.1 Cơ sở lý luận
Ở trong Trường Tiểu học, môn Tiếng Việt giữ vai trò đặc biệt quan trọng,
nó góp phần đắc lực vào việc thực hiện mục tiêu đào tạo thế hệ trẻ ở Tiểu họctheo đặc trưng bộ môn của mình Việc dạy Tiếng Việt trong nhà trường nhằmtạo cho học sinh năng lực sử dụng Tiếng Việt văn hoá và hiện đại để suy nghĩ,giao tiếp và học tập Thông qua việc học Tiếng Việt, nhà trường rèn luyện chocác em năng lực tư duy, phương pháp suy nghĩ, giáo dục các em những tư tưởnglành mạnh, trong sáng, góp phần hình thành nhân cách cho học sinh
Môn Tiếng Việt ở Tiểu học bao gồm các phân môn: Học vần (lớp 1), tậpđọc, chính tả, tập viết, từ ngữ, ngữ pháp, tập làm văn, kể chuyện Mỗi phân mônđều có nhiệm vụ riêng song mục đích cuối cùng của chúng ta là cung cấp chohọc sinh những kiến thức phổ thông về ngôn ngữ Trên cơ sở đó rèn luyện kỹnăng nghe, nói, đọc, viết nhằm giúp học sinh vận dụng các từ đã học vào phânmôn tập làm văn vốn rất hạn chế bởi việc hiểu nghĩa từ loại chưa chính xác Mặt khác, từ loại là sự phân loại vốn từ của một ngôn ngữ cụ thể thànhnhững loại, những lớp hạng dựa vào những đặc trưng ngữ pháp Sự quy loại mộtlớp từ nào đó vào một từ loại nhất định được xác định bởi những đặc trưng vềngữ nghĩa, về hoạt động ngữ pháp của nó ( về hình thái học hoặc về cú pháphọc, hoặc về cả tình thái học và cú pháp học) trong việc thực hiện một chức vụ
cú pháp nhất định Như vậy, bất kì hệ thống ngôn ngữ của một dân tộc nào, củamột cộng đồng người nào ( cho dù ngôn ngữ ở trình độ phát triển hay còn ởtrạng thái thô sơ; đã có hệ thống ngôn ngữ chữ viết hay chưa …) đã có vốn từvựng, có ngữ pháp riêng thì đều có từ loại Từ loại là một phổ niệm của mọingôn ngữ, không phụ thuộc vào phương thức biểu hiện của nó
+ Về danh từ
Ở lớp 2, lớp 3 danh từ được gọi là từ chỉ sự vật (người, con vật, đồ vật, câycối).Các dạng bài tập chủ yếu: tìm từ chỉ sự vật;cách sử dụng danh từ trong câutheo mô hình : Ai(cái gì, con gì) là gì? Ai(cái gì, con gì) làm gì?Ai(cái gì, congì)thế nào?
Trang 5Lên lớp 4 học danh từ thông qua các khái niệm và các bài tập.Nội dung vềdanh từ ở lớp 4 gồm : khái niệm danh từ, các tiểu loại danh từ, danh từ chung,danh từ riêng, viết hoa tên riêng.
5 đặc biệt phần từ loại trong chương trình Tiểu học được phân bố đều trong nộidung học từ lớp 2 đến lớp 5.Từ loại được đem vào nội dung học cho học sinh từmức độ đơn giản đến phức tạp hơn, nội dung được trải đều trong chương trình,không quá chú trọng quá cụ thể vào một lớp học nào, tạo điều kiện cho học sinhtiếp thu kiến thức dễ dàng hơn
Trang 6Năm học 2016 - 2017, tôi được phân công dạy lớp 5D, trường Tiểu học Lý
Tự Trọng Lớp tôi có 38 học sinh trong đó có: 22 em nam, 16 em nữ Hầu hếtcác em đều mạnh dạn, ngoan ngoãn, vâng lời thầy cô Tuy nhiên, các bài tập bảnthân tôi đưa ra các em đều khó hoàn thành hoặc hoàn thành nhưng thiếu chiềusâu, nhiều em nhớ nhanh nhưng cũng nhanh quên, vốn hiểu biết của các emkhông được mở rộng Để nắm cụ thể về thực trạng của các em trong lớp về việchọc từ loại, với mong muốn học sinh của mình học tốt hơn, hiệu quả giờ dạy đạtcao hơn Bản thân tôi đã khảo sát chất lượng và xem mức độ tiếp thu phần nàycủa các em như thế nào với đề bài như sau:
Đề bài: (Thời gian 40 phút)
Câu1: Xác định chủ ngữ, vị ngữ của các câu sau :
a.Chích bông là một con chim bé xinh đẹp trong thế giới loài chim
b.Cô mùa xuân xinh tươi đang lướt nhẹ trên cánh đồng
c.Màu vàng trên lưng chú lấp lánh
Câu2: Tìm danh từ, tính từ, động từ trong đoạn văn sau :
Ngày xưa, dế Trống và dế Mái đều gáy to và khoẻ như nhau
Câu 3: Hãy xác định từ loại của các từ được gạch chân trong các câu sau :
a.Con mèo con đuổi bắt con con chuột con con
b.Cuộc đời của học sinh đầy những kỉ niệm đẹp
c.Bạn Hà kỉ niệm tôi chiếc bút này khi chia tay nhau
Câu 4: Hãy viết một đoạn văn ngắn từ 4-5 câu có nội dung tự chọn và xác định từ loại có trong đoạn văn đó
Đáp án đề khảo sát:
Câu 1:
a Chích bông là một con chim bé xinh đẹp trong thế giới loài chim
b Cô mùa xuân xinh tươi đang lướt nhẹ trên cánh đồng
c Màu vàng trên lưng chú lấp lánh
Câu2:
Danh từ Động từ Tính từNgày xưa, dế trống, dế Mái Gáy To, khoẻ
Trang 7Câu 3: Học sinh xác định đúng các từ loại gạch chân như sau :
a.Con mèo con đuổi bắt con con chuột con con
DT DT DT TT b.Cuộc đời của học sinh đầy
những kỉ niệm đẹp
DTc.Bạn Hà kỉ niệm tôi chiếc bút này khi chia tay nhau
ĐTCâu 4: Học sinh viết được đoạn văn theo yêu cầu và xác định đúng từ loại có trong đoạn văn
Tôi tiến hành khảo sát ở 2 lớp: Lớp 5D (do tôi làm chủ nhiệm) và 5C
Sau khi chấm bài, tôi nhận thấy các em làm được như sau:
Câu 1: Rất ít em xác định đúng cả ba câu Nhiểu em chỉ xác định đúng ý a, b còn
ý c các em đều xác định bộ phận chủ ngữ là màu vàng, vị ngữ là; trên lưng chú lấp lánh
Câu2: Các em xác định được danh từ là: dế Trống, dế Mái Động từ là:Gáy Tính
từ là: to, khoẻ Và không có học sinh nào xác định được từ ngày xưa là danh từCâu 3: Các em đều xác định đúng từ con thứ nhất là danh từ, còn hai từ con tiếptheo phần lớn các em cho là tính tính Còn từ kỉ niệm các em đều cho là động từCâu 4: Hầu hết học sinh đều viết được đoạn văn đúng với yêu cầu nhưng viếtcâu chưa đúng cấu trúc ngữ pháp, chấm câu chưa hợp lí, liên kết các câu cònchưa chặt chẽ, diễn đạt còn chưa hay và xác định từ loại còn chưa chính xác
Và kết quả làm bài của học sinh đạt được như sau:
Qua kết quả làm bài khảo sát, tôi nhận thấy đa số các em đều làm chưa tốt
Số em hoàn thành tốt còn ít, số em hoàn thành và chưa hoàn thành còn nhiều.Bản thân tôi suy nghĩ và rút ra được: các em làm được kết quả như vậy là donhững nguyên nhân sau:
Thứ nhất: Học sinh chưa nắm vững cách xác định chủ ngữ và vị ngữ, các
em chưa nắm rõ chủ ngữ do từ ngữ hay thường do loại từ nào tạo thành? Vị ngữ
do từ ngữ hoặc do từ loại nào tạo thành? nên đã xác định sai
Trang 8Thứ hai: Học sinh chưa nắm rõ khái niệm của từ loại và khả năng kết hợp
từ của từ loại nên đã xác định chưa đầy đủ
Thứ ba: Học sinh thường chưa cẩn thận khi làm bài, làm bài xác định chưa
rõ yêu cầu, đưa từ nhiều khi còn chưa phù hợp với văn cảnh
Thứ tư: Do không phân định đúng ranh giới của từ mà học sinh xác định từ
loại sai
Thứ năm: Nhiều em không nắm được khái niệm "từ loại" nên không hiểu
đúng yêu cầu của bài tập
Thứ sáu: Khi xác định từ loại học sinh còn gặp khó khăn trong những
trường hợp mà nghĩa của từ hoặc dấu hiệu hình thức không rõ ràng
Thứ bảy: Thời gian luyện tập, số tiết luyện tập về từ loại Tiếng Việt còn
chưa được nhiều
Xuất phát từ yêu cầu của việc dạy học từ loại trong môn Tiếng Việt, đồng
thời xuất phát từ những thực trạng trên tôi xin đề xuất: “Hướng dẫn học sinh
lớp 5 thực hành các dạng bài tập về từ loại Tiếng Việt trong chương trình Tiểu học”.
2.3 Các giải pháp để giải quyết vấn đề
Để thực hiện tốt, bản thân tôi đã đưa ra giải pháp như sau: Đó là tôi đã phân
ra từng loại bài tập thực hành để hướng dẫn học sinh
A c¸c d¹ng bµi tËp híng dÉn häc sinh líp 5 thùc hµnh tõ lo¹i tiÕng viÖt
trong ch¬ng tr×nh tiÓu häc.
1 Dạng thứ nhất: Các bài tập khắc sâu lý thuyết về từ loại.
1.1.Danh từ: Là từ chỉ người, sự vật, hiện tượng
Ví dụ: - Chỉ người: Anh, chị học sinh
- Chỉ vật: Nhà, bàn, ghế, cây, Hà Nội
- Chỉ hiện tượng: Gió, bão, hoà bình
Để giúp học sinh nhận diện và khắc sâu kiến thức về danh từ, tôi đã đưa racác biện pháp sau:
Biện pháp 1: - Thêm vào trước nó một từ chỉ số lượng (một, hai, vài,
những, các ) xem có được không, nếu được thì đó là một danh từ Ví dụ: Haihọc sinh
Biện pháp 2:-Thêm vào sau nó một từ chỉ trỏ (này, ấy, kia, đó ) xem có
được không nếu được thì đó là một danh từ Ví dụ: Học sinh ấy
Biện pháp 3:- Danh từ có nhiều loại: phân biệt danh từ chung với danh từ
riêng, danh từ cụ thể, danh từ trừu tượng.:
+ Danh từ chung: là tên gọi chung của một loại sự vật.
Trang 9VD: Học sinh, công nhân, thành phố
+ Danh từ riêng: là tên gọi riêng của một loại sự
vật VD: Võ Thị Sáu, núi Trường Sơn
Ngoài ra, tôi còn giúp học sinh cách phân biệt danh từ cụ thể với danh từtrừu tượng
+ Danh từ cụ thể: chỉ những sự vật mà ta có thể nhận ra được bằng giác quan (nhìn, nghe, ngửi, thấy, đếm được )
VD: Nhà, tủ, ghế, bàn …
+ Danh từ trừu tượng: chỉ những sự vật mà ta nhận ra được bằng suy nghĩ chứ không phải bằng các giác quan
VD: Niềm vui, đạo đức, thái độ
Biện pháp 4: Trong câu, danh từ (Đứng một mình hoặc kèm theo các từ
phụ thuộc) có thể làm nhiều chức vụ khác nhau: Nó có thể làm chủ ngữ, vị ngữ,trạng ngữ
1.2 Động từ: Là từ chỉ hoạt động hay trạng thái của người, sự vật.
VD: Ngủ, chạy
Để giúp học sinh nhận diện và khắc sâu kiến thức về động từ, tôi đã đưa ra các biện pháp sau :
Biện pháp 1: Tôi chỉ cho học sinh thấy được khả năng kết hợp của động từ
*Trước động từ : Các thành tố phụ chỉ thời gian (đã, đang, sẽ, sắp, ); chỉ
mệnh lệnh (hãy); chỉ sự phủ định (không, chẳng, chưa )
Ví dụ: Chỉ vài hôm, lộc non đã tràn đ ầy trên bàn tay mùa đông của câybàng Dáng mọc của lộc rất lạ, thẳng đứng trên cành, như thể đêm qua có ai đãthả ngàn vạn búp lá nhỏ xíu từ trên trời, xanh biếc chi chít đầy cành
(Bàng thay lá - Hoàng Phủ Ngọc Tường )
Ai hãy làm thinh chớ nói nhiều
Để nghe dưới đáy nước hồ reo
Trang 10*Anh nhìn trăng và nghĩ tới ngày mai…
*Ví dụ :
* Học tập là nhiệm vụ của học sinh.(ĐT làm chủ ngữ)
* Chúng ta xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa (ĐT làm vị ngữ)
* Chúng em hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ học tập (ĐT làm định ngữ)
* Bạn Lan rất thích xem phim (ĐT làm bổ ngữ)
* Nhớ lời cha mẹ dặn, chúng em không đi chơi xa (ĐT làm trạng
ngữ) Biện pháp 3: Tôi cho học sinh biết được có hai loại động từ:
a) Động từ chỉ trạng thái, hoạt động do người hay sự vật thực hiện, không ảnh hưởng tới người hay sự vật khác gọi là động từ nội động
VD: Em bé ngủ.
b) Động từ chỉ hoạt động của người hay sự vật thực hiện có ảnh hưởng đếnngười hay sự vật khác gọi là động từ ngoại động
VD: Bác nông dân đang gặt lúa.
Biện pháp 4: Tôi chỉ ra cho học sinh thấy được các động từ: có, là, bị, được
- Động từ "bị" và "được" chỉ trạng thái tiếp thu
- Động từ "có" chỉ trạng thái tồn tại hoặc sở hữu
- Động từ "là" chỉ được dùng trong câu giới thiệu, nhận xét, đánh giá
1.3 Tính từ: Là từ chỉ tính chất của người, loài vật, đồ vật, cây cối như: màu
sắc, hình thể, khối lượng, kích thước, dung lượng, phẩm chất
Ví dụ : - Xanh, đỏ, xanh biếc, đỏ thắm (chỉ màu sắc)
- Vuông, tròn, thon (chỉ hình thể)
- To, nhỏ, dài, ngắn (chỉ kích thước)
- Nặng, nhẹ, nhiều, ít (chỉ khối lượng, dung lượng)
- Tốt, xấu, thông minh (chỉ phẩm chất)
Để giúp học sinh nhận diện và khắc sâu kiến thức về tính từ, tôi đã đưa ra các biện pháp sau :
Trang 11Biện pháp 1: Tôi cho học sinh thấy được khả năng kết hợp của tính từ
*Trước tính từ : + Là các phụ từ tình thái : còn (rất ), đã, không, đều, …
Ví dụ :
Vẫn còn rất sớm
Đã gan dạ
Cả hai cái áo đều mới
+ Phụ từ chỉ mức độ : hơi, khá, rất, cực kì, tương đối, …
Ví dụ :
Hơi xấu, rất đẹp, bài hát cực kì hay, …
Cô ấy vẫn còn đang rất trẻ
*Sau tính từ
Có thể là thực từ hoặc hư từ, có thể thuộc những từ loại khác
Ví dụ :
Tốt gỗ hơn tốt nước sơn
Xấu người đẹp nết còn hơn đẹp người
Biện pháp 3 : Phân loại tính từ
Tính từ được phân chia thành hai nhóm chính : tính từ đánh giá được về mức độ và tính từ không đánh giá được về mức độ
+ Tính từ đánh giá được về mức độ :
Ví dụ : Tường rất trắng, trời xanh quá !
TT TT+ Tính từ không đánh giá được về mức độ :
Ví dụ : Khăn quàng đỏ thắm, căn nhà rộng rãi
1.4 Đại từ: Để giúp học sinh nhận diện và khắc sâu kiến thức về đại từ, tôi đã
đưa ra các biện pháp sau :