Bắt đầu lên lớp 4,kiến thức Toán được nâng lên nhiều ở tất cả các mạch kiến thức như: Đại số,đại lượng, số học, hình học… Trong chương trình toán Tiểu học, phân số là một mạch kiến thức
Trang 110 2.3.1 Giải pháp 1 Phân loại đối tượng học sinh 4
11 2.3.2 Giải pháp 2 Nắm vững nội dung chương trình để phân 5dạng toán
12 2.3.3 Giải pháp 3 Phân dạng các dạng toán về cộng phân số 6
13 2.3.4 Giải pháp 4 Các bước làm bài toán về cộng hai hay 18nhiều phân số
Trang 21 ĐẶT VẤN ĐỀ.
1.1 Lý do chọn đề tài
Chương trình Toán ở Tiểu học được xây dựng theo mạch kiến thức nângcao dần từ lớp 1 đến lớp 5 Trong đó các kiến thức từ lớp 1 đến lớp 3 là kiếnthức đơn giản nên học sinh dễ tiếp cận, nắm bắt và vận dụng Bắt đầu lên lớp 4,kiến thức Toán được nâng lên nhiều ở tất cả các mạch kiến thức như: (Đại số,đại lượng, số học, hình học…)
Trong chương trình toán Tiểu học, phân số là một mạch kiến thức có vaitrò rất quan trọng bởi nó là cơ sở để mở rộng các mạch kiến khác như hỗn số, sốthập phân….Việc lĩnh hội các kiến thức về phân số còn giúp các em vận dụngvào trong thực tế cuộc sống hàng ngày và là cơ sở để các em học tiếp lên cácbậc học trên
Trong chương trình sách giáo khoa Toán Tiểu học, mạch kiến thức vềphân số có từ lớp 2 và lớp 3 Kiến thức về phân số lớp 2 và lớp 3 còn sơ giảnnên học sinh dễ nắm bắt, vận dụng kiến thức vào rèn kĩ năng tính Bắt đầu từ lớp
4, kiến thức toán về phân số được nâng lên một mức độ khó hơn và phức tạphơn, nhiều dạng tính toán hơn (Theo mạch kiến thức số học của chương trìnhtiểu học) Chương phân số chiếm khoảng 13 thời lượng của chương trình Toánlớp 4 Trong đó có thực hiện các phép tính cộng, trừ, nhân, chia phân số Lúcnày học sinh với bắt đầu được tiếp cận các phép tính với phân số nên các em cònnhiều vướng mắc, khó khăn khi thực hiện Một trong những phép tính đầu tiêntrong các phép tính với phân số đó là phép cộng phân số
Vậy làm thế nào để các em học sinh trong lớp có kĩ năng cộng phân sốmột cách tốt nhất Vấn đề này đã làm tôi suy nghĩ, trăn trở rất nhiều và đó làđộng lực giúp tôi tìm tòi, nghiên cứu cách truyền đạt kiến thức cho các em Quaquá trình nghiên cứu và trải nghiệm trong thực tế giảng dạy, tôi muốn chia sẻ
với các bạn đồng nghiệp: “Một số biện pháp giúp học sinh lớp 4 thực hiện tốt các bài toán cộng phân số”
Với đề tài này tôi chỉ đi sâu nghiên cứu và áp dụng giảng dạy về rèn kĩnăng cộng phân số cho học sinh lớp 4 Mong rằng sẽ nhận được sự góp ý chânthành của các cấp quản lí và các bạn đồng nghiệp để đề tài của tôi được hoànchỉnh hơn và áp dụng rộng rãi trong giảng dạy
1.2 Mục đích nghiên cứu.
Đưa ra một số giải pháp cụ thể giúp học sinh lớp 4 thực hiện tốt các bàitoán cộng phân số
Trang 31.3 Đối tượng nghiên cứu.
Cách thực hiện cộng phân số cho học sinh lớp 4 năm học 2015 – 2016 và
2016 - 2017 trong Trường Tiểu học
1.4 Phương pháp nghiên cứu.
- Phương pháp điều tra thực trạng
- Phương pháp nghiên cứu lý luận
- Phương pháp tổng kết rút kinh nghiệm
Lớp 3: Học sinh được học về tìm một phần mấy của một số, tìm một trongcác phần bằng nhau của một số Lúc này học sinh được mở rộng hơn tìm một
phần mấy của một số, không còn gói gọn trong khoảng 12 ; 1
Ở lớp 2, 3 sách giáo khoa chưa đưa ra khái niệm rõ ràng về phân số mà tachỉ ngầm hiểu khái niệm về phân số Trong khi đó, ở lớp 4 phân số được đượcnghiên cứu rõ ràng hơn Học sinh lúc này được tìm hiểu rõ qua các khái niệm,tính chất cơ bản của phân số, phân số bằng nhau, rút gọn phân số, quy đồng mẫu
số các phân số, các cách so sánh, các phép tính cộng, trừ, nhân, chia phân số
Phép cộng phân số được chia ra hai dạng cơ bản đó là cộng các phân số
có cùng mẫu số và cộng các phân số khác mẫu số Trong dạng cộng các phân sốkhác mẫu số thì học sinh còn được chia ra các dạng nhỏ như: Cộng hai phân sốkhác mẫu số; cộng số tự nhiên với một phân số; cộng một phân số với một số tựnhiên Trong phép cộng phân số, học sinh cũng được học về tính chất giao hoán
và tính chất kết hợp trong phép cộng phân số; Trong chương trình nâng cao còn
có thêm các bài toán cộng nhiều phân số, cộng các dãy phân số (Có quy luật)
Cộng một số tự nhiên với một phân số; cộng một phân số với một số tựnhiên sách giáo khoa không phân thành một tiết cụ thể mà chỉ là ở dạng hìnhthành kiến thức qua bài tập Các bài tập trong sách giáo khoa dạng này cũng ít,chưa đủ để rèn kĩ năng cho các em Ngoài ra trong sách giáo khoa rất ít đề cậpđến dạng cộng nhiều phân số (Chỉ có một bài cộng đến 3 phân số) nhưng cũng
đã đưa vào phần giảm tải cho học sinh Vì vậy khi gặp phải các bài toán cộngnhiều phân số các em cũng gặp không ít khó khăn Vậy chúng ta cần rèn kĩ năngcho các em thực hiện tốt tất cả các bài toán về cộng phân số
2.2 Cơ sở thực tiễn.
Trang 4Như đã nói trên, phân số là kiến thức mới với học sinh lớp 4 Khi bướcvào bài mở đầu, các em hào hứng, hăng say khi học tập, tiếp thu bài rất tốt Tuynhiên trong quá trình dạy học, tôi thấy học sinh còn gặp nhiều khó khăn trongquá trình tiếp thu kiến thức, đặc biệt là các phép tính với phân số trong đó cóphép cộng phân số Trong các bài kiểm tra các em còn nhầm lẫn giữa cách tínhnhư: khi cộng các em còn lấy tử số cộng tử số, mẫu số cộng với mẫu số, khi thìcác em quên không quy đồng mẫu số các phân số có mẫu số khác nhau Khi gặpcác bài toán cộng nhiều phân số, các em không biết giải quyết thế nào nên nhiều
em bỏ không làm Lúc này tôi đặt ra câu hỏi vì sao học sinh lại gặp khó nhưvậy? Theo tôi các bài toán về các phép tính với phân số trong sách giáo khoađưa ra còn ít và chỉ ở mức độ đơn giản để minh họa cho phần lý thuyết trong tiếthọc Vì thế học sinh chưa được rèn luyện kỹ năng nhiều, học sinh chưa thể đạtđến kĩ năng, kĩ sảo khi làm các bài toán liên quan đến các phép tính với phân số
Để hình thành được kĩ năng cộng các phân số một cách bền vững cho các em thìcác em cần được trang bị phần lí thuyết và phần bài tập một cách có hệ thống vànhiều hơn
Để khảo sát mức độ tiếp thu của học sinh, sau khi dạy hết phần phép cộngphân số theo phân phối chương trình sách giáo khoa, tôi đưa ra bài khảo sáttrong hai năm liên tục (Năm 2015 – 2016 và năm 2016 – 2017) như sau:
Trang 5- Chưa tìm được cách truyền đạt tốt nhất, dễ hiểu nhất đến học sinh Nên khi làm bài học sinh vẫn còn giặp nhiều lúng túng.
- Trong thời lượng học chính khóa (Thời lượng theo phân phối chươngtrình sách giáo khoa) không có thời gian để tổng hợp, thống kê các dạng bài tập
để học sinh được củng cố khắc sâu kiến thức đã học Đặc biệt nhiều giáo viênkhông đưa các kiến thức mở rộng có liên quan để học sinh được tiếp cận Chính
vì thế, học sinh thường lúng túng khi gặp những bài toán dạng mở rộng
b Về học sinh
Qua các bài tập khảo sát trên thì tôi tìm ra một số nguyên nhân sau:
Câu a Học sinh làm đúng hết vì hai phân số đã cùng mẫu số chỉ cần lấy
tử số cộng với nhau để được tử số của tổng và giữ nguyên mẫu số
Câu b Một số học sinh lấy tử số cộng tử số và mẫu số cộng mẫu số.
Câu c Một số em sai như câu b, một số em lại quy đồng theo cách: “Lấy
tử số và mẫu số của phân số thứ nhất nhân với mẫu số của phân số thứ hai, lấy
tử số và mẫu số của phân số thứ hai nhân với mẫu số của phân số thứ nhất” (Tôi
gọi là quy đồng mẫu số Cách 1) mà không quy đồng mẫu số theo dạng “Lấy
một mẫu số làm mẫu số chung, chia mẫu số chung cho mẫu số còn lại đượcthương là một số tự nhiên “n” (“n” lớn hơn 1) sau đó lấy cả tử số và mẫu số củaphân số đó nhân với thương “n” vừa tìm được để được phân số có mẫu số bằng
với mẫu số của phân số kia” (Tôi gọi đây là quy đồng mẫu số Cách 2)
Câu d, e (tương tự nhau) Đều là dạng một số tự nhiên cộng với một phân
số Một số em quên chuyển số tự nhiên thành phân số sau đó cộng hai phân sốkhác mẫu số lại với nhau nên lấy tử số cộng với số tự nhiên và giữ nguyên mẫusố; một số em không biết là thế nào nên không làm
Câu g Một số em không biết nhóm các phân số có cùng mẫu số để cộng với nhau sau đó với cộng hai phân số khác mẫu số (như trường hợp câu b.) nên
không làm hoặc có làm thì cũng sai nhiều
Trước thực tế đó, để học sinh có kĩ năng thực hiện cộng hai hay nhiềuphân số một cách thuần thục, tôi đã tích cực tìm tòi, nghiên cứu tài liệu, thamgia các chuyên đề do nhà trường tổ chức Qua quá trình tìm hiểu và quá trìnhdạy học thực tế trên lớp tôi đã nhận ra một số kinh nghiệm cho bản thân về
“Một số biện pháp giúp học sinh lớp 4 thực hiện tốt các bài toán cộng phân số” Với cách dạy này, học sinh của tôi đã có được kĩ năng tính cộng phân số,
cho dù là hai hay nhiều phân số
2.3 Các biện pháp tổ chức thực hiện.
2.3.1.Giải pháp 1 Phân loại đối tượng học sinh.
Muốn học sinh đạt kết quả cao thì cần rất nhiều yếu tố Trong đó học sinh
là một yếu tố cực kì quan trọng Để nắm được đặc điểm của từng đối tượng họcsinh, tôi phải theo dõi sát sao trong từng giờ học, nắm bắt được tâm sinh lí củatừng học sinh Nắm được khả năng tiếp thu kiến thức, khả năng tính toán củatừng em
Nắm được các đặc điểm đó của học sinh, tôi chia học sinh trong lớp thànhcác nhóm để tiện cho việc kèm cặp và giao bài phù hợp Đối với những em tiếp
Trang 6thu tốt, thực hiện thành thạo, nhanh, làm bài chính xác, nếu như giao cho các
em bài dễ quá, thường làm cho các em thiếu động lực, các em còn nhiều thờigian trống dẫn đến lãng phí thời gian của các em Nếu như giao bài khó đối vớinhóm học sinh thực hiện thường xuyên sai, làm không đủ bước thì các em lạikhông đủ thời gian làm bài hoặc không làm được, dẫn đến các em chán, mất tựtin, không muốn học Chính vì điều đó tôi chia học sinh thành các nhóm nhưsau:
Nhóm 1: Nhóm học sinh thực hiện thành thạo, nhanh, chính xác.
Nhóm 2: Nhóm học sinh thực hiện chậm.
Nhóm 3: Nhóm học sinh thực hiện thường xuyên sai, không đủ bước.
+ Nhóm 1 Tôi thường giao thêm các bài ở mức độ khó hơn, nhiều bài tậphơn để các em có thể phát huy được hết khả năng của mình
+ Nhóm 2: Tôi thường giao các bài ở mức vừa phải, số lượng bài cũng vừa phải, phù hợp với thời gian làm bài của các em
+ Nhóm 3: Với nhóm này, tôi thường xuyên giao bài ở mức độ dễ để các
em có thể tiếp cận được và không nản chí trong học tập
2.3.2 Giải pháp 2 Tự bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ Nắm vững nội
dung chương trình.
Một trong những yếu tố quan trọng quyết định đến chất lượng của họcsinh đó là giáo viên Ngoài sự tâm huyết, lòng nhiệt tình thì giáo viên phải cóphương pháp tốt, trình độ chuyên môn vững vàng Ý thức được điều này bảnthân luôn tự học, tự bồi dưỡng để chuyển tải đến học sinh tốt hơn. Đặc biệt vàođầu năm học nhà trường đã tổ chức hội thảo chuyên đề bồi dưỡng giáo viên vềphương pháp dạy học, tôi đã tích cực tham gia các chuyên đề đó Trong đợtchuyên đề tôi đã viết báo cáo tham luận chuyên đề về toán “Giúp học sinh Tiểuhọc thực hiện tốt bốn phép tính với phân số” và dạy minh họa cho chuyên đề(Bài: “Phép cộng phân số” (Tiếp theo) (SGK Toán 4 trang 127)) Bản thân tôi làngười chuẩn bị và triển khai chuyên đề trước tập thể giáo viên trong trường và
đã được mọi người đồng tình ủng hộ
Bên cạnh đó tôi cùng với đồng nghiệp trong tổ khối thường xuyên trao đổinội dung dạy học khó, vướng mắc vào các buổi sinh hoạt chuyên môn và nhữnggiờ ra chơi để trao đổi, tìm phương pháp dạy học mới để truyền tải đến học sinh
dễ hiểu nhất Hơn nữa, tôi đã nghiên cứu để dạy những bài khó cho đồng nghiệp
dự giờ, góp ý rút kinh nghiệm, trong đó có các bài toán về cộng phân số (cảchính khóa và trong tăng giờ buổi 2) Ngoài ra, tôi thường xuyên nghiên cứu để
có những sáng kiến trong dạy học Tôi cũng đã có những sáng kiến hiện đangđược thử nghiệm tại trường và đã mang lại hiệu quả thiết thực Qua quá trình bồidưỡng đã giúp tôi tháo gỡ được rất nhiều vướng mắc trong dạy học, đồng thờitôi đã tích luỹ thêm được nhiều kiến thức, kĩ năng để ngày càng vững hơn vềchuyên môn, nghiệp vụ
Bên cạnh việc nghiên cứu chương trình, việc tự học hỏi tôi còn thườngxuyên xin ý kiến chỉ đạo của ban giám hiệu, tham khảo các đồng nghiệp, qua đótôi cũng đã đúc rút được nhiều kinh nghiêm và vững vàng hơn trong chuyênmôn, nghiệp vụ Qua quá trình đó tôi đã đúc rút ra được một số kinh nghiệm
Trang 7giúp học sinh lớp 4 thực hiện tốt dạng toán cộng phân số Tôi đã áp dụng tronggiảng dạy cho học sinh lớp tôi và kết quả đạt được là rất khả quan trong hai nămhọc vừa qua (Năm học 2015 – 2016 và năm học 2016 – 2017)
2.3.3 Giải pháp 3 Phân dạng các bài toán về cộng phân số.
Qua việc nghiên cứu nhiều tài liệu như sách giáo khoa, các chuyên đề bồidưỡng học sinh, chuyên đề về phân số… Các bài toán đó cũng rất vừa sức vớihọc sinh Đó chính là tư liệu tham khảo hữu ích với giáo viên nói chung và vớibản thân tôi nói riêng Tuy nhiên các tài liệu này thường chưa phân dạng toán cụthể, chưa đưa ra cách làm cụ thể sau từng dạng toán mà còn đang lẫn với các bàitập trong chương trình (Ví dụ dạng cộng số tự nhiên với phân số hay cộng nhiềuphân số) học sinh chỉ được hình thành cách làm qua các bài tập Trước vấn đề
đó, tôi đã nghiên cứu chương trình để phân loại, sắp xếp các dạng bài toán theocác mức độ từ dễ đến khó, hướng dẫn học sinh giải và hướng dẫn học sinh rút rađược cách giải của từng dạng của phép tính Và cuối cùng tôi đưa ra hệ thốngbài tập tương ứng với từng dạng để học sinh rèn luyện kĩ năng tính một cáchthuần thục
Bám sát vào chương trình sách giáo khoa tôi chia phép cộng phân sốthành các dạng như sau:
Dạng 1: Cộng các phân số có cùng mẫu số.
Dạng 2 Cộng các phân số không cùng mẫu số.
Đối với dạng 1 (Cộng các phân số có cùng mẫu số.) học sinh chỉ được
học trong một tiết, và phần bài tập còn cung cấp thêm tính chất giao hoán với
phép cộng hai phân số Với dạng 2 (Cộng các phân số không cùng mẫu số) học
sinh được học 2 tiết lý thuyết và hai tiết luyện tập Trong đó tiết luyện tập thứnhất nhằm củng cố cách cộng hai phân số khác mẫu số Tiết luyện tập thứ haicung cấp thêm dạng cộng một số tự nhiên với một phân số và cung cấp thêmtính chất kết hợp của phép cộng phân số (Thông qua bài tập) Với thời lượngphân phối chương trình như vậy thì chưa đủ “thấm” với học sinh Đặc biệt là vớihọc sinh miền núi – điều kiện dân trí thấp, khả năng tiếp thu của các em cònchậm Hơn nữa học sinh lớp 4, lần đầu tiên được tiếp cận với các phép tính vớiphân số nên các em còn gặp nhiều khó khăn Ngoài các bài tập trong sách giáokhoa ở mức độ đơn giản thì các bài tập dạng khác cũng vừa sức đối với các emnhưng các em không được tiếp cận nên khi gặp phải các em lúng túng khôngbiết làm thế nào Vì lẽ đó, để rèn kĩ năng cộng phân số cho học sinh, tôi đã xâydựng chương trình ôn tập và dạy vào buổi thứ hai trong chương trình dạy họchai buổi/ ngày mà trường tôi đang thực hiện.Với chương trình này, tôi đã hệthống, củng cố những kiến thức cơ bản học sinh đã được học tổng hợp thành cácbước giải, sau đó mở rộng thêm các dạng khác có liên quan
2.3.3.1 Dạng 1 Cộng các phân số có cùng mẫu số.
Để có được kĩ năng cộng các phân số một cách bền vững được so sánhnhư một ngôi nhà muốn đẹp, muốn chắc chắn trước hết cần có một cái nền vàmóng chắc chắn
Trang 8Đối với dạng toán cộng các phân số cùng mẫu số tôi tiến hành ôn tập củng cố như sau:
* Bước 1 Củng cố lại kiến thức cơ bản đã học
* Bước 2 Mở rộng kiến thức có kiên quan
* Bước 3 Xây dựng hệ thống bài tập để học sinh củng cố kiến thức
2.3.3.1 a Cộng hai phân số cùng mẫu số (Củng cố kiến thức cơ bản)
Kiến thức cơ bản rất quan trọng với học sinh, nó ví như nền móng củamột ngôi nhà, nền móng có vứng với xây được những tầng tháp cao Mà muốnhọc sinh nắm vững được kiến thức cơ bản thì ngay từ khi hình thành kiến thứcmới, giáo viên cần giúp học sinh hiểu bản chất dạng toán Tôi đã hình thànhkiến thức mới như sau:
Ví dụ: Có một băng giấy, bạn Nam tô màu 83 băng giấy, sau đó tô tiếp
82 băng giấy Hỏi bạn Nam đã tô màu bao nhiêu phần băng giấy? (SGK toán 4,
trang 126)
Bước 1: Phân tích tìm hiểu đề bài.
Sau khi đọc ví dụ tôi cho học sinh phân tích đề bài bằng cách đặt câu hỏi:
- Bài toán cho ta biết điều gì?
(Có một băng giấy, bạn Nam tô màu 83 băng giấy, sau đó tô tiếp 82 băng
giấy) - Bài toán hỏi chúng ta điều gì?
( Bài toán hỏi bạn Nam đã tô màu bao nhiêu phần băng giấy?)
- Làm thế nào em có thể tìm đước số phần băng giấy đã tô màu?
(Em lấy số phần băng giấy được tô màu lần đầu cộng với số phần băng giấy được tô màu lần sau).
- Băng giấy được chia làm mấy phần bằng nhau? (
Băng giấy được chia thành 8 phần bằng nhau.)
-Lần thứ nhất bạn Nam tô màu được mấy phần băng giấy?
( Lần thứ nhất bạn Nam tô màu được 83 băng
giấy) - Lần thứ 2 Nam tô mấy phần băng giấy?
( Lần thứ 2 Nam tô được 82 băng giấy)
Trang 9- Như vậy bạn Nam đã tô màu mấy phần băng giấy?
(Như vậy bạn Nam đã tô màu được 85 băng giấy)
=>Kết luận: Cả 2 lần bạn Nam đã tô màu được 5 băng giấy.
8
3 2
+ Vậy kết quả của phép tính cộng 8 8 bằng bao nhiêu?
- Lúc này học sinh dễ dàng thấy được bạn Nam đã tô màu được 85 băng
giấy Bước 2: Hướng dẫn cách thực hiện
- Đến đây tôi yêu cầu học sinh tìm cách thực hiện phép cộng để tìm tổng
+ Học sinh sẽ phát hiện ra cách cộng: Lấy tử số của hai phân số cộng lại với nhau (3 + 2 = 5) và mẫu số giữ nguyên
83 82 382 85
Bước 3: Chốt cách làm.
Đến đây tôi đặt câu hỏi để học sinh rút ra được cách làm:
- Muốn cộng hai phân số cùng mẫu số ta làm thế nào?
- Học sinh rút ra được quy tắc như sau:
Muốn cộng hai phân số cùng mẫu số, ta cộng hai tử số với nhau và giữ nguyên mẫu số (Quy tắc SGK Toán 4, trang 126)
Sau khi hình thành kiến thức cho học sinh tôi cho các em làm nhanh vào bảng con một số bài tập để củng cố kiến thức sau:
Trang 10Ví dụ: Trong một đợt vận chuyển gạo cứu giúp vùng lũ miền Trung có 4 xe
vận chuyển, xe thứ nhất chở được 111 số gạo, xe thứ hai chở được 112 số gạo,
xe thứ ba chở được 114 số gạo, xe thứ tư chở được 113 số gạo Hỏi cả 4 xe chở được bao nhiêu phần số gạo ?
Bước 1: Phân tích đề bài.
Yêu cầu học sinh đọc đề, phân tích đề bằng cách đặt các câu hỏi?
- Bài toán cho biết gì?
(Có 4 xe vận chuyển, xe thứ nhất chở được 111 số gạo, xe thứ hai chở được 112
số gạo, xe thứ ba chở được 114 số gạo, xe thứ tư chở được 113 số gạo.)
- Bài toán yêu cầu chúng ta làm gì?
(Tính xem 4 xe chở được bao nhiêu phần số gạo?)
- Để biết cả 4 xe chở được bao nhiêu phần số gạo ta làm thế nào?
( Em lấy số phần gạo của mỗi xe chở được cộng lại với nhau.)
Ta được phép cộng nào?
(Ta được phép cộng 111 112 114 113 ?)
Bước 2: Hướng dẫn cách thực hiện
Sau đó tôi hướng dẫn học sinh vẽ sơ đồ số gạo mà 4 xe đã chở được tôi lại
có các câu hỏi gợi ý sau:
- Em hiểu “xe thứ nhất chở được 111 số gạo” nghĩa là thế nào?
(Tức là tổng số gạo được chia làm 11 phần bằng nhau thì xe thứ nhất chở được một phần như thế.)
- Tương tự hỏi với các xe còn lại thì học sinh xác định được số phần chở được của mỗi xe và hoàn thành sơ đồ minh họa như sau:
Cả 4 xe = ?
- Qua sơ đồ em hãy cho biết 4 xe trở được bao nhiêu phần số gạo? (Qua
sơ đồ học sinh dễ dàng nhìn thấy bốn xe chở được 1011 (số gạo))
- Làm thế nào em có thể cộng 111 112 114 113 1011
(Em lấy các tử số cộng lại với nhau: (1 + 2 + 4 + 3 = 10) và giữ nguyên mẫu
số là 11
* Từ đó có phép cộng như sau:
Trang 11Bước 4: Rút ra công thức tổng quát
Từ quy tắc trên tôi rút ra công thức tổng quát cho dạng này như sau:
- Qua ví dụ nhanh, tôi thấy học sinh đều tính được phép cộng nhiều phân
số cùng mẫu số
Đến đây tôi cho học sinh so sánh quy tắc cộng hai phân số cùng mẫu số
và quy tắc cộng nhiều phân số cùng mẫu số.
Học sinh sẽ phát hiện được điểm giống nhau là cộng hai phân số haynhiều phân số cùng mẫu số đều lấy tử số cộng với nhau và giữ nguyên mẫu sốchung Còn khác nhau là: khi cộng hai phân số cùng mẫu số thì ta chỉ cộng hai
tử số với nhau, còn cộng nhiều phân số cùng mẫu số thì ta cộng nhiều tử số lạivới nhau
Qua so sánh hai quy tắc thấy được điểm chung và điểm riêng của phépcộng hai phân số cùng mẫu số và cộng nhiều phân số cùng mẫu số, tôi yêu cầuhọc sinh suy nghĩ tìm ra một quy tắc chung cho phép cộng nhiều phân số cùngmẫu số
Học sinh dễ dàng tìm ra quy tắc sau:
Khi cộng hai hay nhiều phân số cùng mẫu số ta cộng các tử số lại với nhau và giữ nguyên mẫu số.
a b a b .
n nn
Học sinh Tiểu học, các em còn nhỏ, trí nhớ chưa bền Các em dễ nhớnhưng cũng rất chóng quên Vì vậy để củng cố, khắc sâu kiến thức cho học sinh,ngoài dạy chắc kiến thức mới, tôi đã xây dựng thêm hệ thống bài tập và dạy vàocác buổi học thứ hai của chương trình 10 buổi/tuần như sau: