1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

tiểu luận tài chính quốc tế khủng hoảng nợ công ở châu âu năm 2010 và bài học cho việt nam

24 77 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 339,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tính cấp thiết của đề tài Ngân sách nhà nước bao gồm các khoản thu và chi của nhà nước, khi tổng chi tiêucủa ngân sách nhà nước vượt quá các khoản thu không mang tính hoàn trả của ngânsá

Trang 1

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 4

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KHỦNG HOẢNG NỢ CÔNG (BPO) 5

1.1 Khái niệm về nợ công và các nhân tố ảnh hưởng đến nợ công 5

1.2 Khái niệm và đặc điểm của khủng hoảng nợ công 7

CHƯƠNG 2: CUỘC KHỦNG HOẢNG NỢ CÔNG Ở CHÂU ÂU NĂM 2010 7

2.1 Nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng nợ công ở Châu Âu 2010 7

2.1.1 Nguyên nhân bên trong 7

2.1.2 Nguyên nhân bên ngoài 9

2.2 Diễn biến cuộc khủng hoảng nợ công Châu Âu 9

2.2.1 Trước khi xảy ra khủng hoảng nợ công Châu Âu (từ 2009 trở về trước) 9

2.2.2 Trong và sau cuộc khủng hoảng nợ công Châu Âu (2009 – 2014) 10

2.3 Tác động của cuộc khủng hoảng nợ công tới thế giới, liên minh Châu Âu 11

2.3.1 Tác động tới Châu Âu 11

2.3.2 Tác động đến thế giới 12

2.4 Xu hướng cải cách nhằm khắc phục khủng hoảng nợ công ở cấp độ Liên minh 14

2.4.1 Cải cách ngắn hạn 14

2.4.2 Cải cách dài hạn 15

2.4.3 Những khó khăn trong ứng phó với khủng hoảng nợ công 15

CHƯƠNG 3: NỢ CÔNG VIỆT NAM VÀ BÀI HỌC CỦA CUỘC KHỦNG HOẢNG NỢ CÔNG CHÂU ÂU VỚI VIỆT NAM 16

3.1 Tình hình nợ công 16

3.1.1 Quy mô nợ công 16

3.1.2 Cơ cấu nợ công 17

3.2 Tình hình sử dụng nợ công 18

3.3 Nguyên nhân nợ công ở Việt Nam tăng cao 19

3.3.1 Tăng trưởng kinh tế chậm 19

3.3.2 Bội chi ngân sách nhà nước 20

3.4 Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nợ công 20

KẾT LUẬN 23

Trang 2

TÀI LIỆU THAM KHẢO 24

Mục lục hình ảnh Hình 1: Nợ chính phủ EU (%GDP) 10

Hình 2: Tăng trưởng kinh tế toàn cầu năm 2008 - 2018 13

Hình 3: Tỷ lệ nợ công trên GDP (2013 – 2018) 17

Hình 4: Cơ cấu nợ công Việt Nam (2010 – 2017) 18

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ngân sách nhà nước bao gồm các khoản thu và chi của nhà nước, khi tổng chi tiêucủa ngân sách nhà nước vượt quá các khoản thu không mang tính hoàn trả của ngânsách nhà nước thì nước đó rơi vào tình trang thâm hụt ngân sách và có thể dẫn đến

nợ công

Có thể nói hầu hết các quốc gia đều có nợ công, dù ít hay nhiều, tạm thời hay mãntính Nợ công đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển nhưng sẽ trở thành quốcnạn khi bắt đầu gây tổn hại đến nền kinh tế Nó có thể dẫn đến lạm phát, làm cho quốcgia mất khả năng thanh toán và các nhà đầu tư mất niềm tin… Trong lịch sử phát triểntài chính, thâm hụt ngân sách nhà nước đã trở thành một hiện tượng khá phổ biến trongcác nước phát triển và các nước kinh tế chậm phát triển Kể từ cuộc khủng hoảng tàichính năm 2008 – 2009, nợ công ở các nền kinh tế phát triển đã tăng đáng kể Nổi bậtnhất trong khoảng thời gian vừa qua là cuộc khủng hoảng nợ công

ở khu vực Châu Âu Nguy cơ Hy Lạp vỡ nợ là rất cao Khủng hoảng nợ ở Hy Lạp

có thể lây lan đến một loạt các nước khác trong EU có mức nợ quốc gia tươngđương với Hy Lạp như Ý, Bồ Đào Nha, Ireland, và Tây Ban Nha Cuộc khủnghoảng này không chỉ có những ảnh hưởng to lớn đến khu vực Châu Âu mà còn ảnhhưởng đến nền kinh tế thế giới và đe dọa đến tiền trình phục hồi kinh tế toàn cầu.Sau khi gia nhập WTO (2007), kinh tế Việt Nam đã hội nhập khá sâu vào kinh tếthế giới, thể hiện qua tỷ lệ xuất nhập khẩu và dòng vốn đầu tư nước ngoài vào ViệtNam chiếm tỷ lệ khá cao Nếu cuộc khủng hoảng nợ của Hy Lạp xảy ra thì kinh tếcủa Việt Nam cũng chịu ảnh hưởng nặng nề Khủng hoảng nợ công ở Châu Âucũng là bài học cho Việt Nam khi nhìn lại vấn đề nợ công và mô hình tăng trưởngcủa nền kinh tế Nhận thức được đây là một đề tài lớn, rộng và mang tính kỹ thuật,

từ những tư liệu tham khảo và sưu tầm trên báo và mạng Internet, chúng em chọn

đề tài “Khủng hoảng nợ công ở Châu Âu năm 2010 và bài học cho Việt Nam”

Do tính phức tạp của đề tài cùng nguồn tài liệu hạn chế, bài nghiên cứu còn nhiềuthiếu xót, chúng em mong sẽ nhận được nhiều sự góp ý từ cô giáo!

2 Mục đích nghiên cứu

Đề tài được thực hiện với mục đích cung cấp những thông tin tổng quan về nợcông và bản chất của nợ công, cuộc khủng hoảng nợ công ở Châu Âu, xem xétnguyên nhân, diễn biến, tác động và những cải cách cho vấn đề này, từ đó đánh giá,rút ra bài học cho Việt Nam

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Khủng hoảng nợ công ở Châu Âu

4 Cấu trúc bài nghiên cứu

Trang 4

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung củabài nghiên cứu gồm 3 chương:

• Chương 1: Cơ sở lý luận về khủng hoảng nợ công

• Chương 2: Cuộc khủng hoảng nợ công ở Châu Âu năm 2010

• Chương 3: Nợ công Việt Nam và bài học của cuộc khủng hoảng nợ công

ở Châu Âu với Việt Nam

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KHỦNG HOẢNG NỢ CÔNG (BPO) 1.1 Khái niệm về nợ công và các nhân tố ảnh hưởng đến nợ công

a Khái niệm Nợ công

Theo quan điểm của ngân hàng thế giới (WB) thì: Nợ công là tất cả các khoản nợcủa Chính phủ của một quốc gia

Nợ công được hiểu là nghĩa vụ nợ của bốn nhóm chủ thể bao gồm:

(1) nợ của Chính phủ trung ương và các Bộ, ban, ngành trung ương;

(2) nợ của các cấp chính quyền địa phương;

(3) nợ của Ngân hàng trung ương;

(4) nợ của các tổ chức độc lập mà Chính phủ sở hữu trên 50% vốn, hoặc việcquyết lập ngân sách phải được sự phê duyệt của Chính phủ hoặc Chính phủ làngười chịu trách nhiệm trả nợ trong trường hợp tổ chức đó vỡ nợ

Theo Luật Quản lý Nợ công số 29/2009/QH12 Việt Nam, Nợ công được quyđịnh trong Luật này bao gồm Nợ chính phủ, Nợ được Chính phủ bảo lãnh và Nợchính quyền địa phương Trong đó,

− Nợ chính phủ là khoản nợ phát sinh từ các khoản vay trong nước, nước ngoài,được ký kết, phát hành nhân danh Nhà nước, nhân danh Chính phủ hoặc các khoảnvay khác do Bộ Tài chính ký kết, phát hành, uỷ quyền phát hành theo quy định củapháp luật Nợ chính phủ không bao gồm khoản nợ do Ngân hàng Nhà nước ViệtNam phát hành nhằm thực hiện chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ

− Nợ được Chính phủ bảo lãnh là khoản nợ của doanh nghiệp, tổ chức tài chính, tín dụng vay trong nước, nước ngoài được Chính phủ bảo lãnh

− Nợ chính quyền địa phương là khoản nợ do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phốtrực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) ký kết, pháthành hoặc uỷ quyền phát hành

Như vậy, một cách khái quát nhất, có thể hiểu “nợ công là tổng giá trị các

khoản tiền mà Chính phủ thuộc mọi cấp từ trung ương đến địa phương đi vay nhằm

Trang 5

bù đắp cho các khoản thâm hụt ngân sách” và Chính phủ phải chịu trách nhiệmtrong việc chi trả khoản vay đó Vì thế, nợ công nói cách khác là thâm hụt ngânsách lũy kế tính đến một thời điểm nào đó Để dễ hình dung quy mô của nợ Chínhphủ, người ta thường đo xem khoản nợ này bằng bao nhiêu phần trăm so với GDP.

Nợ công xuất phát từ nhu cầu chi tiêu công quá lớn của Chính phủ Chi tiêu côngnhằm: Phân bổ nguồn lực; phân phối lại thu nhập; ổn định kinh tế vĩ mô Tuy nhiên,chi tiêu công quá lớn hay kém hiệu quả cũng sẽ gây ra những bất ổn cho nền kinh

tế Nhu cầu chi tiêu quá nhiều trong khi các nguồn thu không đáp ứng nổi buộcChính phủ phải đi thông qua nhiều hình thức (như phát hành công trái, trái phiếu,hiệp định tín dụng) và vay tiền trực tiếp từ các ngân hàng thương mại, các thể chếtài chính quốc tế… để bù vào khoản thâm hụt, từ đó dẫn đến tình trạng nợ công

Về bản chất, nợ công chính là các khoản vay để trang trải thâm hụt ngân sách Các khoản vay này sẽ phải hoàn trả gốc và lãi khi đến hạn, nhà nước sẽ phải thuthuế tăng lên để bù đắp Vì vậy, suy cho cùng, nợ công chỉ là sự lựa chọn thời gianđánh thuế: hôm nay hay ngày mai, thế hệ này hay thế hệ khác Vay nợ thực chất làcách đánh thuế dần dần, được hầu hết chính phủ các nước sử dụng để tài trợ cho cáchoạt động chi ngân sách

b Các nhân tố ảnh hưởng tới nợ công:

(1) Thâm hụt ngân sách cơ bản

Cân đối NSNN là yếu tố trực tiếp ảnh hưởng đến nợ công Từ bản chất nợ công

có thể thấy mức thâm hụt ngân sách phản ánh giá trị tuyệt đối của nợ chính phủ.Nếu NSNN thâm hụt cơ bản, nhu cầu vay nợ của Nhà nước sẽ gia tăng và làm trầmtrọng thêm tình hình nợ công Ngược lại, nếu NSNN thặng dư cơ bản, nhu cầu vay

nợ giảm hoặc Chính phủ có thêm nguồn tài chính để mua lại trái phiếu chính phủ(TPCP) trước hạn làm cho mức nợ công giảm xuống

(2) Lãi suất thực tế

Sự biến động của lãi suất trên thị trường sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến những khoản

nợ công có lãi suất thả nổi và những khoản vay mới Tỷ lệ các khoản nợ công có lãisuất thả nổi trong tổng nợ càng cao thì sự ảnh hưởng của lãi suất đến nợ công cànglớn Mặt khác, ngay cả những khoản vay có lãi suất cố định thì sự biến động của lãisuất thị trường cũng sẽ ảnh hưởng đến giá cả của các công cụ nợ, nghĩa là, gián tiếpảnh hưởng tới quy mô nợ công Bởi khi lãi suất tăng lên, chi phí vay nợ (trả lãi vàphí) tăng lên, các khoản vay của Chính phủ sẽ trở nên đắt hơn và khó khăn hơn, làmgia tăng nợ công

(3) Tốc độ tăng trưởng thực tế ảnh hưởng đến nợ công theo hai cơ chế Một

là, nền kinh tế phát triển hơn thì chính phủ dễ dàng vay tiền hơn, dẫn đến khảnăng nợ công tăng lên Hai là, tăng trưởng nhanh thường đi kèm với lạm phát, dẫnđến việc cấp bù lạm phát cho các khoản nợ đã đến hạn thanh toán

(4) Lãi suất ngoại tệ có liên quan đến các khoản vay nước ngoài của chính phủ

Cơ chế tác động của nhân tố này tương tự như lãi suất thực tế, chỉ khác nhau đề đốitượng hưởng lãi

Trang 6

(5) Tỷ giá

Trong cơ cấu danh mục nợ công có những khoản nợ vay bằng đồng ngoại tệ, do

đó, sự biến động của tỷ giá sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến nợ công Nếu nợ vay bằngngoại tệ, đặc biệt là những ngoại tệ có sự biến động lớn về giá trị chiếm tỷ lệ cao thìảnh hưởng của sự biến động tỷ giá đến nợ công càng lớn

1.2 Khái niệm và đặc điểm của khủng hoảng nợ công

a Khủng hoảng nợ công là gì?

Khủng hoảng nợ công là tình trạng nợ công tăng cao (vỡ nợ), làm chao đảo nềnkinh tế do mất cân đối giữa thu và chi ngân sách quốc gia Nhu cầu chi quá nhiềutrong khi nguồn thu không thể đáp ứng nổi dẫn đến chính phủ phải di vay tiềnthông qua nhiều hình thức như phát hành công trái, trái phiếu, hiệp định tín dụng,…

để chi Từ đso dẫn tới tình trạng nợ không có khả năng hoàn trả Thâm hụt ngânsách kéo dài làm cho nợ công gia tăng Nợ không trả sớm để lâu thành “lãi mẹ đẻlãi con” và ngày càng chồng chất thêm

b Đặc điểm của khủng hoảng nợ công

Dựa vào những định nghĩa nêu trên, có thể chỉ ra một số đặc trưng quan trọngmang tính bản chất đối với các cuộc khủng hoảng nợ công trên thế giới

Một là, khủng hoảng nợ công mang bản chất là khủng hoảng kinh tế, làm suy giảmcác hoạt động kinh tế kéo dài và trầm trọng hơn cả suy thoái trong chu kỳ kinh tế.Hai là, khủng hoảng nợ công không phân biệt quốc gia phát triển hay quốc gia đangphát triển Điều này có nghĩa là, bên cạnh vấn đề thiếu nợ thường xuyên tái diễn

ở các quốc gia thuộc “Thế giới thứ ba”, khủng hoảng nợ hoàn toàn có khả năng xảy

ra ở những nước phát triển, nơi nền kinh tế tăng trưởng một cách tương đối cao và

ổn định

Ba là, khủng hoảng nợ công một khi đã diễn ra thường kéo dài trong một thờigian, kéo theo nhiều hệ lụy không chỉ trên lĩnh vực kinh tế mà còn trong chính trị -văn hóa - xã hội

Bốn là, khủng hoảng nợ công gắn liền với mức độ tín nhiệm của chính phủ quốcgia xảy ra sự kiện Khi nợ công liên tục tăng cao, nền kinh tế bị hạ bậc tín nhiệmtheo báo cáo của các tổ chức chuyên đánh giá tín nhiệm công ty và quốc gia, niềmtin của người dân và giới đầu tư bị lung lay; khi đó nền kinh tế dễ trở thành mụctiêu tấn công của các thế lực đầu cơ quốc tế

CHƯƠNG 2: CUỘC KHỦNG HOẢNG NỢ CÔNG Ở CHÂU ÂU NĂM 2010 2.1 Nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng nợ công ở Châu Âu 2010

2.1.1 Nguyên nhân bên trong

Thứ nhất, việc gia nhập vào EU và vào Khu vực đồng tiền chung Euro khiến cho các nước thành viên phải từ bỏ chính sách tiền tệ riêng của mình

Trang 7

Có một thực tế diễn ra trong khối liên minh EU là trình độ phát triển của cácthành viên trong khối là rất khác biệt nhau, trong khi các nước Nam Âu (như BồĐào Nha, Hy Lạp) tăng trưởng rất chậm chạp, nhiều nước rơi vào khủng hoảng nợcông thì nhiều nước như Đức lại tăng trưởng rất nhanh Điều này đòi hỏi phải cóchính sách riêng cho mỗi nước Tuy nhiên thực tế ấy đã không được đáp ứng đầy

đủ, điển hình là chính sách về tiền tệ Chính sách tiền tệ - là một công cụ hữu hiệu

để điều hành nền kinh tế vĩ mô – lại không do Chính phủ mỗi nước nắm giữ Cụthể, lãi suất trên thị trường do ECB quy định, lãi suất trái phiếu chính phủ do chínhphủ mỗi nước quy định Dẫn đến các nước kém cạnh tranh sẽ phải phat hành tráiphiếu chính phủ với lãi suất cao hơn để có tiền chi tiêu

Thứ hai, các nước thành viên Khu vực đồng Euro có cơ hội tiếp cận các nguồnvốn đầu tư nước ngoài dễ dàng, nhưng sự yếu kém trong quản lý vốn vay cũng làmột trong những nguyên nhân chủ yếu khiến các nước này lâm vào tình trạng thâmhụt ngân sách nghiêm trọng Ngoài ra nạn trốn thuế, tham những cũng gây thấtthoát nguồn thu không nhỏ, gây ảnh hưởng tới ngân sách của chính phủ

Ví dụ: Năm 2006, tỉ lệ trốn thuế ở Hy Lạp là 3,4% GDP, hơn 15% hoạt độngkinh tế ở Italia diễn ra “trong bóng tối” gây thiệt hại cho nước này lên tới khoảng

100 tỷ Euro

Thứ ba, kinh tế tăng trưởng chậm, sức cạnh tranh kém, năng suất lao động thấp

Sự yếu kém của một số nước đã dẫn đến tình trạng “con sâu làm rầu nồi canh”, lànguyên nhân dẫn đến sự khủng hoảng trong tổ chức liên minh EU Trong khu vựcđồng EURO, Bồ Đào Nha được coi là mắt xích yếu kém nhất với tỉ lệ tăng trưởngthấp vào năm 2001 và năm 2003 đã có tình trạng suy thoái (tăng trưởng kinh tế là -0,9%) Tỷ lệ thất nghiệp cao dẫn đến tình hình phát triển kinh tế ở Italia

Thứ tư, khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu làm trầm trọng thêmtình hình nợ công ở các nước này

Cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008- 2009 ở Hy lạp buộc nước này phải níu giữgói cứu trợ khổng lồ để cứu vãn nền kinh tế làm tình hình thâm hụt ngân sách càng trởnên nghiêm trọng hơn Khủng hoảng cũng làm bộc lộ những yếu kém trong chính sáchphát triển kinh tế cũng như mô hình quản trị tài chính của nước này Hệ quả là ngày27/4/2010 công ty xếp hạng tín dụng Standard & Poor’s đã đánh giá mức độ tín dụngcủa Hy Lạp xuống mức có khả năng vỡ nợ Cuộc khủng hoảng nợ công diễn ra tạiIreland lại khởi nguồn từ sự bùng nổ bong bóng bất động sản giai đoạn 2001-2007.Thứ năm, rủi ro nợ công cao, và khoản vay nợ nước ngoài chiếm tỷ trọng lớn

Tỷ lệ trái phiếu do nước ngoài nắm giữ tại Hy Lạp chiếm tới 80% và các chủ nợphần lớn là các Ngân hàng Châu Âu Nợ nước ngoài càng cao sẽ khiến nền kinh tếtrong nước dễ bị ảnh hưởng bởi các yếu tố từ nước ngoài

Trang 8

Thứ sáu, mặc dù trình độ kinh tế của các nước trong EU-28 và khu vực đồng tiềnchung Euro là rất khác nhau, nhưng các nước này vẫn phải đảm bảo mục tiêu duytrì các dịch vụ công và chế độ an sinh xã hội ở mức khá cao.

Thứ bảy, thiếu tính thống nhất giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa.Cùng với những nguyên nhân chung mà các nước thành viên trong khủng hoảng

nợ công đều vấp phải, thì các lí do dẫn đến khủng hoảng nợ công của từng nướcthành viên cũng có những điểm đặc thù và rất khác nhau Có nguyên nhân liên quanđến điều kiện và gia nhập trở thành nước thành viên EU, các chế độ vay ưu đãi, tàichính và chi tiêu công, đầu tư công ,yếu kém trong sử dụng vốn và quản lí vốn vaycủa ngân hàng, bản chất của nợ công (ví dụ, nợ tư nhân chuyển thành nợ công…),hoặc thực hiện chính sách thuế khóa sai lầm, bất cân đối…

2.1.2 Nguyên nhân bên ngoài

Thứ nhất, do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu

2.2 Diễn biến cuộc khủng hoảng nợ công Châu Âu

2.2.1 Trước khi xảy ra khủng hoảng nợ công Châu Âu (từ 2009 trở về trước)

Trước năm 1999, để thỏa mãn các quy định về tài chính công trong Thỏa ước ổnđịnh và tăng trưởng (mức thâm hụt ngân sách không được vượt quá 3% GDP và nợcông không được vượt quá 60% GDP), các chỉ tiêu này đều được các quốc gia ứngviên tuân thủ nghiêm túc Tuy nhiên, xu hướng này có dấu hiệu đảo chiều khi Liênminh Kinh tế tiền tệ châu Âu (EMU) đi vào hoạt động Từ năm 2003, phần lớn cácnước khu vực đồng Euro có tỷ lệ nợ trên 60% GDP Điều này cho thấy các nước bắtđầu không tuân thủ nghiêm ngặt các quy định trong EMU

Trước năm 2008 (khủng hoảng tài chính – kinh tế toàn cầu), nợ công trung bình củakhu vực đồng tiền chung châu Âu (Eurozone) ổn định qua các năm ở mức xấp xỉ 70%GDP, tuy nhiên nợ công giữa các nước thành viên lại có sự khác biệt tương đối lớn.Trong khi Ai-len, Tây Ban Nha, Hà Lan duy trì mức nợ công dưới 60% GDP, thì hầuhết các nước khác nợ công đều có xu hướng tăng lên, điển hình như Đức, Pháp và BồĐào Nha; nợ công của Hy Lạp, Italia thường xuyên ở mức trên 100% GDP Ai-len vàTây Ban Nha luôn duy trì được tình hình tài chính lành mạnh khi ngân sách thườngxuyên thặng dư và nợ công luôn ở mức thấp (nợ công Ai-len giảm

Trang 9

đều đặn qua các năm từ 48,6% năm 1999 còn 27% năm 2007, nợ công Tây BanNha thường xuyên ở mức xấp xỉ 50% GDP).

2.2.2 Trong và sau cuộc khủng hoảng nợ công Châu Âu (2009 – 2014)

Nợ công ở các nước thành viên Liên minh châu Âu (EU) đều có xu hướng tăngđáng kể sau 2007, hầu hết nợ công ở các quốc gia thuộc EU đều vượt ngưỡng quyđịnh, lý do bởi chính sách tài khóa lỏng lẻo và khả năng quản trị tài chính công kémhiệu quả

Hình 1: Nợ chính phủ EU (%GDP)

Tháng 9/2008, cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu nổ ra xuất phát từ khủnghoảng tín dụng và nhà đất ở Mỹ đã tạo nên một “cú sốc” mạnh mẽ đến nền kinh tếcác nước thành viên EU Để cứu vãn nền kinh tế, các quốc gia đều phải tăng chitiêu công, biến các khoản nợ tư nhân thành nợ công Hệ quả là sau thời điểm này,

nợ công của EU đều có xu hướng tăng vọt, điển hình là Hy Lạp và Italia đều ở mứctrên 115% vào năm 2009

Khi lãi suất trái phiếu Chính phủ kỳ hạn 2 năm của Hy Lạp liên tục tăng cao từ3,47% vào tháng 01/2010, lên 9,73% vào tháng 07/2010 cũng chính là dấu hiệu khởiđầu cho cuộc khủng hoảng nợ công tại châu Âu Cuộc khủng hoảng nợ công châu Âuđược bắt đầu từ Hy Lạp, sau đó lần lượt xảy ra ở Ai-len, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha,

CH Síp 5 nước này đã phải cầu viện sự trợ giúp của bộ 3 các nhà cứu trợ để tránh vỡ

nợ, đó là EU, ECB, IMF Đồng EUR đã liên tục bị mất giá, cuộc khủng hoảng nợ côngchâu Âu đã làm tổn thất hàng nghìn tỷ USD thu nhập tài chính của các nước thành viên

EU Từ năm 2009, diễn biến cuộc khủng hoảng nợ công của các nước EU ngày càngxấu đi, khi nợ công của EU cứ liên tục tăng, nếu như năm 2008 là 62%,

Trang 10

2009 là 74,6%, năm 2010 là 80%, năm 2011 là 82,5%, năm 2012 là 85,5% và năm

2013 đã tăng lên đến 86,8% GDP, và mức thâm hụt ngân sách của EU từ 2,4% năm

2008 đã tăng lên 6,9% năm 2009, 6,6% năm 2010 (gấp 2 lần, thậm chí 3 lần so vớiquy định của Hiệp ước tăng trưởng và ổn định là 3%)

Năm 2014, các nước châu Âu tuy đã vượt qua khỏi đáy của cuộc khủng hoảng nợcông, nhưng vẫn tiềm ẩn nguy cơ bùng phát trở lại Xu hướng nợ công châu Âu vẫntăng

2.3 Tác động của cuộc khủng hoảng nợ công tới thế giới, liên minh Châu Âu 2.3.1 Tác động tới Châu Âu

a Tác động tới thị trường tài chính và hệ thống ngân hàng Châu Âu:

Lo ngại về tình trạng nợ công ở châu Âu ngày càng xấu hơn khiến giá trái phiếusụt giảm và lợi tức thì tăng cao Lợi tức trái phiếu kỳ hạn 2 năm của Hy Lạp tănglên 19% và của Bồ Đào Nha là 5.7%

Các nhà đầu tư ngại rót vào vào hệ thống ngân hàng châu Âu do các ngân hàngnày đang ôm rất nhiều trái phiếu chính phủ, riêng các công ty tài chính lớn nhấtChâu Âu nắm giữ trên 134 tỉ Euro trái phiếu Hy Lạp, Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha

Sự do dự này của các nhà đầu tư đã làm tăng lãi suất trái phiếu ngân hàng, một sốngân hàng châu Âu phải trả chi phí vay vốn cao hơn so với trước đây Vào ngày2/9/2010, các nhà đầu tư yêu cầu tăng lãi suất thêm 393 điểm cơ bản khi mua lạitrái phiếu chính phủ thời hạn 5-10 năm từ ngân hàng BNP Paribas (dữ liệu của ngânhàng Merrill Lynch) Kết quả điều tra của Morgan Stanley cho thấy, các ngân hàngkhu vực nằm khoảng 90% nợ chính phủ Hy Lạp trên bảng cân đối tài sản Việc cácnhà đầu tư e ngại rót vốn vào hệ thống ngân hàng cũng dẫn tới một hệ quả tất yếunữa là ngân hàng chậm trễ trong thế kỉ 21

Việc tăng vốn cần thiết, gây khó khăn trong việc cho vay, kể cả cho vay lẫnnhau, làm tăng lượng tiền gửi tại ngân hàng trung ương châu Âu (ECB)

b Tác động tới đồng tiền Euro:

Cuộc khủng hoảng nợ Hy Lạp đã đẩy số phận của đồng Euro tới miệng vực khiđồng tiền này liên tục mất giá so với đồng USD và các đồng tiền chủ chốt khác.Đồng Euro bắt đầu dược giao dịch từ tháng 1/1999 với tỉ giá 1,1837USD/MộtEuro Bầu không khí ảm đạm của khủng hoảng nợ Hy Lạp đã ảh hưởng xấu đếnđồng euro sau 11,5 năm lưu hành, đồng tiền này mất 15% trong 6 tháng đầu 2010,xuống mức kỉ lục 1,1877 USD trong vòng 4 năm vào ngày 7/6 Sau đó, đồng tiềnnày đã tăng trở lại 6.7% và giao dịch ở mức 1,3207 USD và ngày 5/8 tại Frankfurt,nhưng lại giảm mạnh và chỉ còn 1,2665 USD và ngày 9/9 Theo ước lượng trungbình của 39 nhà chiến lược do Bloomberg điều ra, đồng euro sẽ giảm còn 1,21 USDtrong năm nay Nhưng theo dự báo của Shaun Osborne thuộc công ty Chứng Khoántại TD tại Toronto, đồng tiền ày sẽ giảm xuống còn 1,08 USD vào cuối năm nay

Trang 11

Vóng xoáy khủng hoảng đã khiến niềm tin của giới đầu tư vào đồng Euro ngàycàng thêm suy sụp, trong khi các đồng tiền có mức lãi suất thấp như USD và YênNhật đang được xem là có độ cao an toàn hơn Tính đến tháng 7/2010, Euro đãgiảm giá khoảng 15,7% so với USD và 8.5 so với GBP và 20% so với JPY và hiệnđang giao dịch ở mức 106,44 yên(ngày 10/90, đồng Euro có thể tiếp tục giảmxuống dưới 100 yên, mức thấp nhất kể từ tháng 6/2001.

Cuộc khủng hoảng nợ công Hy lạp đã phơi bày khiếm khuyết của đồng Euro màngười ta vẫn lo ngại ngay từ khi nó chính thức ra đời Chung 1 chính sách tiền tệtrong ta ngân hàng trung ương châu Âu ECB khiến các nước không thể thực hiệnphá giá tiền tệ để giải quyết các khó khăn về thâm hụt ngân sách Sai lầm trong chitiêu của 1 nước gây ảnh hưởng đến kinh tế các nước khác do cùng sử dụng 1 đồngtiền, khi các giải pháp cứu trợ không phát huy hiệp quả tình hình xấu nhất là HyLạp có thể rút ra khỏi Eurozone, trở lại dùng đồng Drachma có giá trị thấp hơnEuro, kéo theo đó là Ý, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha Đức cũng có thể ra khỏi khối

do không chấp nhận tiếp tục chi trả trợ giúp cho những khoảng nợ khổng lồ củanhững nước thành viên Kết cục dẫn tới là đồng euro sẽ sụp đổ

c Tác động tới chính trị - xã hội:

+Những bất đồng về chính trị: chính quyền Berlin tỏ ra không đồng ý với thóiquen chi tiêu bị xem là “hoang phí” của chính phủ Hy Lạp Các nhà làm luật ởBerlin đã khiến Athens thất vọng khi gợi ý : Nếu muốn có tiền, tại sao Hy Lạpkhông bán bớt đi vài hòn đảo? Dường như ngay lập tức, Phó thủ tướng Hy LạpTheodoros Pânglos tuyên bố, Đức có thể giải quyết cuộc khủng hoảng nợ ở Hy Lạpbẳng cách trả lại số vàng bạc mà quân đội Đức quốc xã đã chiếm giữ trong 23 nămthời gian chiến thắng “Họ đã lấy đi của cải của Hy lạp mà chẳng thấy đem trả lại.trong tương lai, sẽ đến lúc chúng tôi phải nói tới chuyện này”, ông Pânglos nói.+Bất ổn xã hội : Trung tâm của sự giận dữ không đâu khác chính là Hy Lạp “cáinôi của khủng hoảng nợ và biểu tình”

Toàn bộ hệ thống giao thông cả đường thuỷ lẫn đường bộ, nhiều chuyến bayquốc tế và nội địa đã bị hủy bỏ, lùi giờ bay do các nhân viên không lưu tham giabãi công Đây cũng là tình trạng chung đối với nhiều quốc gia ở lục địa già khichiến dịch cắt giảm ngân sách ngày càng được tăng tốc

2.3.2 Tác động đến thế giới

Trang 12

Hình 2: Tăng trưởng kinh tế toàn cầu năm 2008 - 2018

Nền kinh tế toàn cầu có mối quan hệ qua lại và ngày càng tùy thuộc lẫn nhau, vìvậy, nếu các khối thương mại lớn như EU (chiếm 17, 2 % xuất, nhập khẩu thế giới,năm 2011) hoặc khu vực đồng Euro (18nước thành viên EU), hoặc các quốc gianhư Mỹ hay Trung Quốc… gặp suy thoái sẽ gây ra những ảnh hưởng lớn đến tăngtrưởng kinh tế toàn cầu Rủi ro tín dụng chính phủ liên tiếp ở châu Âu đã dấy lênmối quan ngại về sự phục hồi chậm chạp tăng trưởng kinh tế toàn cầu Tăng trưởngsản lượng chậm lại đáng kể trong năm 2011, và tăng trưởng yếu tiếp tục diễn ratrong năm 2012 và 2013

Kinh tế thế giới đã đứng trên bờ vực của cuộc khủng hoảng tiếp theo khi mà tăngtrưởng kinh tế bắt đầu suy giảm trên diện rộng từ giữa năm 2011 và tăng trưởngtrung bình trong năm 2011 là khoảng 2,8%, tăng trưởng kinh tế tiếp tục sụt giảmtrong năm 2012 và 2013 Theo một báo cáo của Liên hợp Quốc, năm 2013, tăngtrưởng tổng sản phẩm thế giới năm 2012 là 2,6% và năm 2013 là 3,0%, thấp hơnmức tăng trưởng toàn cầu giai đoạn trước khủng hoảng

Trong khi các nước đang phát triển và các nền kinh tế chuyển đổi tiếp tục sẽ làđộng lực cho nền kinh tế thế giới, với mức tăng trưởng trung bình là 5,4 % vào năm

2012 và 5,8% vào năm 2013 Trong số các nước đang phát triển như, tăng trưởngcủa Trung Quốc giảm từ mức10,3% năm 2010 xuống 9,3% năm 2011 và tiếp tụcgiảm xuống còn dưới 9% năm 2013, kinh tế Ấn Độ mở rộng khoảng từ mức 7,7 %đến 7,9% trong giai đoạn 2012 và 2013, giảm so với mức 8,5% năm 2010, tốc độtăng trưởng kinh tế vẫn được duy trì

Ngày đăng: 27/07/2020, 06:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w