Thứ ba, việc vay nợ bằng các phát hành hành trái phiếu hoặc cổ phiếu củachính phủ cũng là một công cụ để thông qua đó chính phủ điều hành chính sách tiềntệ.Thứ tư, vay nợ nước ngoài là m
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong nền kinh tế, vay nợ là việc thu hút nguồn vốn nhành rỗi từ các chủ thểthặng dư (cá nhân và tổ chức) để đáp ứng nhu cầu về vốn của các chủ thể thiếu hụt,giúp duy trì quá trình sản xuất được liên tục và góp phần thúc đẩy đầu tư Xuất phát từquy luật đó, khái niệm “nợ công” ra đời để mô tả những khoản nợ do khu vực công vaycủa các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước nhằm trang trải các khoản chi tiêu, gópphần thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình
Ở bất kỳ quốc gia nào trên thế giới, nguồn vốn vay (nợ công) luôn có ý nghĩa hếtsức quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội, tuy nhiên, cùng với đó công tác quản lý,đảm bảo an toàn, bền vững nợ công là bài toán đặt ra với tất cả các nước Nhìn vào TheGlobal Debt Clock - đồng hồ đếm nợ của thế giới, bất cứ người nào cũng có thể choángváng với dãy số nhiều hơn 12 con số chỉ số nợ quốc dân của các cường quốc trên thếgiới Số liệu được Quỹ tiền tệ thế giới (IMF) công bố hồi tháng Tư cho thấy, tổng số nợtrên tất cả mọi lĩnh vực của Mỹ hiện nay đang cao gấp 350% tổng GDP của chính họ.Tại nền kinh tế đáng chú ý nhất thế giới hiện nay - Trung Quốc, tổng số nợ quốc giađược tính theo Đồng hồ chỉ số nợ thế giới đến ngày 15/6/2017 là hơn 10 nghìn tỷ USD,tương đương 93% GDP quốc gia Quốc gia láng giềng của họ là Nhật Bản có tổng số
nợ lên tới 220% GDP của đất nước Nếu như nền kinh tế không tăng trưởng, ắt sẽ dẫntới một cuộc khủng hoảng kinh tế hay khủng hoảng nợ công trên phạm vi toàn cầu,giống như rất nhiều các cuộc khủng hoảng đã xảy ra trong lịch sử, ảnh hưởng nghiêmtrọng tới sức khỏe nền kinh tế thế giới Là cuộc khủng hoảng nợ công đầu tiên của lịch
sử kinh tế thế giới hiện đại, khủng hoảng nợ ở châu Mỹ Latinh những năm 1970 - 1980được xem là thảm họa lớn nhất ở khu vực này Hậu quả để lại kéo dài đến tận đầu thậpniên 90, kinh tế tăng trưởng trì trệ, thu nhập bình quân đầu người giảm và chênh lệchgiàu nghèo ngày càng tăng
Nền kinh tế Việt Nam trong những năm gần đây trải qua những bất ổn vĩ mô kéodài bởi những khiếm khuyết cơ bản của nền kinh tế khi duy trì quá lâu mô hình tăng
Trang 2trưởng theo chiều rộng Mặc dù nền kinh tế đã có giai đoạn tăng trưởng cao vào nhữngnăm đầu của thế kỷ XXI và hiện tại là nước có thu nhập trung bình trên thế giới, nhưngnhững diễn biến tiêu cực gần đây của tăng trưởng, lạm phát, tỉ giá, thâm hụt thươngmại, thâm hụt ngân sách cao và nợ công tăng nhanh đang làm xấu thêm các chỉ số kinh
tế vĩ mô Những thách thức về nợ công hiện nay cho thấy đã đến lúc cần có một cuộccải cách tài khóa triệt để và toàn diện nhằm đưa ngân sách dần trở về trạng thái cânbằng nhằm bảo đảm tính bền vững của nợ công và duy trì sự ổn định lâu dài cho nềnkinh tế Những bài học được rút ra từ những gì đã diễn ra trong khủng hoảng nợ công,những nguyên nhân cũng như cách các nước đối mặt, giải quyết là kinh nghiệm quý giácho Việt Nam trong quá trình nhìn nhận thực trạng nợ công nước mình, đưa ra các giảipháp để giảm thiểu và quản lí chặt chẽ nợ công, từ đó giảm thiểu những rủi ro có thểdẫn tới một cuộc khủng hoảng nợ Vì vậy, nhóm chúng em chọn nghiên cứu đề tài
“Khủng hoảng nợ công ở Mỹ Latinh những năm 1980 và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam” nhằm góp phần giải quyết những vấn đề cấp thiết như trên.
2 Đối tượng nghiên cứu
- Cuộc khủng hoảng nợ công ở Mỹ Latinh những năm 1980
- Thực trạng nợ công ở Việt Nam hiện nay và nguyên nhân
3 Phạm vi nghiên cứu
- Nghiên cứu trên mức độ quốc gia tại Mỹ Latinh những năm 1980
- Nghiên cứu trên mức độ quốc gia tại Việt Nam
- Nghiên cứu các vấn đề liên quan đến thực trạng nợ công tại Việt Nam
4 Phương pháp nghiên cứu
- Thu thập số liệu và thông tin công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng
- Thu thập số liệu từ các báo cáo chuyên môn giai đoạn 2010 – 2017
- Nghiên cứu định tính thông qua bước thu thập số liệu từ World Bank, IMF,
Bộ Tài chính để từ đó xử lý và phân tích nhằm đưa ra những kết luận cụ thể
Trang 3về thực trạng nợ công tại Việt Nam và những nguyên nhân dẫn đến tình trạng này.
5 Nội dung nghiên cứu
Bài nghiên cứu này sẽ tập trung nghiên cứu những nội dung sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về nợ công và khủng hoảng nợ công: Cung cấp những kháiniệm và lý luận về nợ công và khủng hoảng nợ công
Chương 2: Khủng hoảng nợ công Mỹ Latinh những năm 1980: Xem xét cuộc khủnghoảng nợ công ở Mỹ Latinh những năm 1980, tìm hiểu nguyên nhân, giải pháp và từ
đó đưa ra những bài học về khủng hoảng nợ công
Chương 3: Khắc phục nợ công ở Việt Nam: Xem xét thực trạng nợ công ở Việt Nam
và đề ra những giải pháp để khắc phục tình hình nợ công ở Việt Nam
Trang 4Chương 1: Cơ sở lí luận
1.1 Lý luận chung về nợ công
1.1.1 Khái niệm nợ công
Nợ công là một khái niệm được đề cập khá đa dạng trong hoạt động quản lí nợcủa các quốc gia Tùy thuộc vào mục đích, phạm vi, thực tiễn của hoạt động quản lí nợcủa mỗi nước, nợ công có nhiều cách hiểu và định nghĩa khác nhau Cụ thể:
Theo Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF):
Theo nghĩa rộng, nợ công là nghĩa vụ nợ khu vực công, bao gồm toàn bộ nghĩa vụcủa chính phủ, các cấp chính quyền địa phương, ngân hàng trung ương và các tổ chứcđộc lập (50% nguồn vốn hoạt động thuộc về nhà nước hoặc thuộc về ngân sách nhànước quyết định và trong trường hợp vỡ nợ thì nhà nước phải trả nợ thay) Nợ côngtheo nghĩa hẹp là các khoản nợ của chính quyền trung ương, các cấp địa phương và cáckhoản nợ của tổ chức độc lập được chính phủ bảo lãnh
Qua khái niệm của IMF, khu vự nợ công được chia làm hai khu vực:khu vựccông tài chính và khu vực công phi tài chính Tuy nhiên, trên thực tế, số liệu nợ của haikhu vực trên được chính phủ bảo lãnh thì mới được tính vào nợ công Điều này cónghĩa là nợ công theo IMF đã loại trừ nợ ngân hàng trung ương và các khoản nợ khôngđược chính phủ bảo lãnhcủa các định chế tiền gửi và phi tiền gửi thuộc khu vực công,dẫn đến tổng nợ khu vực công không chính xác
Theo Ngân hàng thế giới (WB):
(1) nợ của Chính phủ trung ương và các Bộ, ban, ngành trung ương
(2) nợ của các cấp chính quyền địa phương
(3) nợ của Ngân hàng trung ương
(4) nợ của các tổ chức độc lập mà Chính phủ sở hữu trên 50% vốn nước hoặc thuộc vềngân sách nhà nước quyết định và trong trường hợp vỡ nợ thì nhà nước phải trả nợthay
Trang 5Như vậy, có thể thấy khái niệm nợ công của WB là khái niệm về nợ công đầy đủ nhất.
Theo Luật quản lí nợ công do chính phủ Việt Nam ban hành vào năm 2017:
“Nợ công quy định tại Luật này bao gồm nợ chính phủ, nợ chính phủ được bảo lãnh và
nợ chính quyền địa phương” Trong đó Luật quy định:
- Nợ Chính phủ là khoản nợ phát sinh từ các khoản vay trong nước, nước ngoài, được
ký kết, phát hành nhân danh Nhà nước, nhân danh Chính phủ
- Nợ được Chính phủ bảo lãnh là khoản nợ do doanh nghiệp, ngân hàng chính sách củaNhà nước vay được Chính phủ bảo lãnh
- Nợ chính quyền địa phương là khoản nợ phát sinh do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh vay
Ta có thế thấy, Luật quản lí nợ công của Việt Nam 2017 quy định phạm vi nợcông của nước ta hẹp hơn so với định nghĩa của IMF và WB vì phạm vi của chúng takhông bao gồm nợ của ngân hàng trung ương và nợ của các doanh nghiệp nhà nước.Vậy nên khi nghiên cứu báo cáo nợ công của Việt nam sẽ có sự khác biệt với báo cáocủa quốc tế
1.1.2 Bản chất kinh tế và ảnh hưởng của nợ công
Bản chất của nợ công
Xét về bản chất nợ công xuất phát từ tham hụt ngân sách hay nói cách khác tổngnguồn thu của chính phủ không đủ khả năng bao quát được tổng chi của mình Để giảiquyết vấn đề này chính phủ phải cắt giảm chi tiêu hoặc tăng nguồn thu ngân sách Cắtgiảm chi tiêu không phải là lựa chọn dễ dàng trong ngắn hạn vậy nên chính phủ thườnglựa chọn tăng nguồn thu ngân sách
Chính phủ tăng nguồn thu ngân sách bằng hai cách Thứ nhất, chính phủ lựa chọntăng thuế- nguồn thu trực tiếp và lớn nhất của chỉnh phủ Tuy nhiên việc tăng thuế cóthể dẫn tới hậu quả là giảm tiêu dùng, giảm động lực lao động dẫn tới suy thoái kinhtế.Thứ hai, chính phủ sẽ vay nợ trong nước và vay nợ nước ngoài băng cách thông qua
Trang 6ngân hàng trung ương phát hành cổ phhiếu hoặc trái phiếu cho các nhà đầu tư từ đó làm gia tăng nợ công dẫn tới thâm hụt ngân sách.
Ảnh hưởng của nợ công
Từ bản chất kinh tế của nợ công, ta xét tác động của nợ công lên nền kinh tế theohai hướng: tích cực và tiêu cực
Về tích cực, thứ nhất, nợ công đáp ưng nhu cầu vốn trong nước để đảm bảo ansinh xã hội Trong giai đoạn đầu phát triển, để không làm thoái lui vốn đầu tư tư nhân,khoản vay nước ngoài là nguồn vốn bổ sung để phát triển kinh tế xã hội Thứ hai, nợcông giúp chính phủ giải quyết vấn đề bội chi ngân sách nhà nươc Trong khi tăngthuế, thắt chặt chi tiêu cần thời gian dài thay đổi, in tiền dẫn dễ dẫn tới lạm phát thì cáckhoản vay nước ngoài giúp cho chính phủ bù đắp kịp thời các khoản bội chi ngân sáchnhà nước Thứ ba, việc vay nợ bằng các phát hành hành trái phiếu hoặc cổ phiếu củachính phủ cũng là một công cụ để thông qua đó chính phủ điều hành chính sách tiềntệ.Thứ tư, vay nợ nước ngoài là một cách thu hút vốn đầu tư làm đẩy nhanh quá trìnhhội nhập của một nước với quốc tế tiếp cận nguồn vốn mà không cần phải giảm đầu tưhay chi tiêu trong nước
Về mặt tiêu cực, nợ công làm suy thoái kinh tế bất ổn môi trương vĩ mô Vay nợnước ngoài nhiều có thể làm giảm vị thế quốc gia trên trường quốc tế ,làm cho tỷ giátrong nước biến động vay trong nước làm tăng lãi suất, tăng chi phí đầu tư, làm giảmđộng lực đầu tư dẫn tới kinh tế suy thoái Từ các ảnh hưởng trên đó tác động đến sự ổnđịnh của môi trường vĩ mô dẫn đến lãi suất cao đi kèm với lạm phat và biến động tỷ giálàm tăng thâm hụt thương mại Và khi nợ công quá lớn nó sẽ dẫn tới khủng hoảng nợcông Khủng hoảng nợ công xảy ra dẫn tới khủng hoản tiền tệ và khủng hoảng kinh tếkhông chỉ ảnh hưởng tới một quốc ra mà nó kéo theo liên minh kinh tế toàn khu vựcnặng hơn thì lan ra toàn thế giới
1.1.3 Phân loại
Trang 7Theo phương thức này nợ công được chia làm hai loại vay trong nước và vaynước ngoài, các phân chia này không chỉ cho thấy yếu tố địa lí mà nó còn cho thấy cácyếu tố về dịch chuyển dòng tiền.Tuy nhiên trên thực tế, khi tiến hành thống kê và tínhtoán giá trị nợ công ở một số nước, trong đó có Việt Nam, người ta thường không quantâm đến khoản nợ trong nước mà chỉ quan tâm đến nợ nước ngoài dẫn đến sai sót khiđưa ra kết quả thông kê tính toán về nợ công của một quốc gia, gây khó khăn cho cácnhà quản lí trong việc kiểm soát, đưa ra biện pháp kịp thời để giải quyếtcác vấn đề phátsinh.
Phân loại theo chủ thể nợ
Theo Luật quản lí nợ công của Việt Nam (2017), đã chia nợ công thành ba loại:
- Nợ chính phủ: Bao gồm Nợ do Chính phủ phát hành công cụ nợ;Nợ do Chínhphủ ký kết thỏa thuận vay trong nước, nước ngoài; Nợ của ngân sách trung ươngvay từ quỹ dự trữ tài chính của Nhà nước, ngân quỹ nhà nước, quỹ tài chính nhànước ngoài ngân sách
- Nợ được Chính phủ bảo lãnh bao gồm: Nợ của doanh nghiệp được Chính phủbảo lãnh; Nợ của ngân hàng chính sách của Nhà nước được Chính phủ bảo lãnh
- Nợ chính quyền địa phương bao gồm: Nợ do phát hành trái phiếu chính quyềnđịa phương; Nợ của ngân sách địa phương vay từ ngân hàng chính sách của Nhànước, quỹ dự trữ tài chính cấp tỉnh, ngân quỹ nhà nước và vay khác theo quyđịnh của pháp luật về ngân sách nhà nước; Nợ do vay lại vốn vay ODA và vay
ưu đãi
1.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến nợ công
Muốn đảm bảo một nền kinh tế ổn định thì một chính phủ phải đảm bảo được tỉ lệ
nợ công trong mức kiểm soát và để làm được điều này thì các nhà quản lí nợ, quản língân sách cần làm tốt công tác dự báo, lập kế hoạch,góp phần ổn định kinh tế vĩ mô
Để làm tốt được điều đó, ta cần phải nắm rõ các nhận tố tác động đến nợ công từ đó,phòng ngừa,ngăn chặn và giải quyết kịp thời các vấn đề bất ổn gây ra từ các yếu tố đó
Trang 8 Thứ nhất, nợ công có mối quan hệ phụ thuộc chặt chẽ vào cân bằng ngân sách.
Từ bản chất ta phân tích ở trên ta có thể thấy rằng thâm hụt ngân sách phản ánh rõ tìnhtrạng giá trị nợ công của một quốc gia Đồng nghĩa, khi khoảng cách thâm hụt được thuhẹp, những khoản vay giảm đi, làm cho nợ công cũng được giảm
Thứ hai, lãi suất thị trường có tác động đến các khoản nợ của chính phủ,khi lãisuất tăng lên hoặc giảm đi sẽ quyết định đến giá trị khoản vay tăng lên hoặc giảm đi.Đồng nghĩa, việc lãi suất tăng sẽ làm các khoản vay của chính phủ khó khăn hơn,không đảm bảo được khả năng trả nợ đúng hạn của chính phủ
Thứ ba, tốc độ tăng trưởng thực tế của nên kinh tế ảnh hưởng đến nợ công theohai hướng Một là, nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng nhanh thì chính phủ dễ dàng đivay tiền hơn, hậu quả là nợ công tăng lên Hai là, tăng trưởng kinh tế nhanh thường đikèm với lạm phát, dẫn đến khi đến hạn thanh toán, chính phủ phải bù lạm phát cho cáckhoản nợ
Thứ tư, tỷ giá là yếu tố có tác động lớn tới việc vay nước ngoài Sự biến độngcủa tỉ giá gây ra chi phí của khoản vay: có thể tăng lên hoặc giảm đi khi tỷ giá tănghoặc giảm
1.1.5 Các hình thức vay nợ và công cụ vay nợ công
Theo đặc điểm của các khản vay nợ,hình thức vay nợ được phân chia vào hainhóm chính là: vay nợ gián tiếp và vay nợ trực tiếp từ trong và ngoài nước Mỗi cáchvay nợ có ưu, nhược điểm riêng, thích hợp sử dụng cho những hoàn cảnh riêng, phụthuộc vào xếp hạng tín dụng và vị thế của mỗi quốc gia trên thị trường
Vay trực tiếp
Chính phủ các nước có một lựa chọn để cung cấp vốn cho các khoản thâm hụtđáng kể thông qua vay tiền trực tiếp từ các ngân hàng thương mại, các thể chế siêuquốc gia (ví dụ: Quỹ Tiền tệ Quốc tế, Ngân hàng thế giới, Ngân hàng phát triển châuÁ,…) Các nguồn vay này theo luật quản lí nợ công (2017) có hình thức như sau:
Trang 9 Vay hỗ trợ phát triển chính thức (vay ODA) là khoản vay nước ngoài có thành
tố ưu đãi đạt ít nhất 35% đối với khoản vay có điều kiện ràng buộc liên quan đến muasắm hàng hóa và dịch vụ theo quy định của nhà tài trợ nước ngoài hoặc ít nhất 25% đốivới khoản vay không có điều kiện ràng buộc
Vay ưu đãi nước ngoài là khoản vay nước ngoài có điều kiện ưu đãi hơn so với vay thương mại nhưng thành tố ưu đãi chưa đạt tiêu chuẩn của vay ODA
Vay thương mại là khoản vay theo điều kiện thị trường
Trong số các khoản vay trực tiếp đã liệt kê, nguồn vay ODA là nguồn vốn có tầmquan trọng lớn đối với các nước đang phát triển điển hình là Việt Nam Nguồn vay này
có thể nhận được dưới các thể thức: viện trợ song phương, viện trợ đa phương, viện trợkhông hoàn lại hay viện trợ của tổ chức phi chính phủ
Vay nợ gián tiếp
Chính phủ có thể tiến hành vay nợ gián tiếp qua các tổ chức, cá nhân để bù đắpthâm hụt ngân sách bằng cách phát hành các công cụ nợ ngắn hạn như: tín phiếu, tráiphiếu, hình thức chứng chỉ Trái phiếu là hình thức được các chính phủ ưa chuộngtrong đó có Việt Nam Theo Luật quản lí nợ công Việt Nam(2017),Trái phiếu gồm có:
Trái phiếu Chính phủ là công cụ nợ do Chính phủ phát hành để huy động vốn cho ngân sách nhà nước hoặc cơ cấu lại nợ
Trái phiếu chính quyền địa phương là công cụ nợ do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phát hành để huy động vốn cho ngân sách địa phương
Trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh là công cụ nợ do doanh nghiệp, ngân hàng chính sách của Nhà nước phát hành và được Chính phủ bảo lãnh
Tín phiếu Kho bạc là công cụ nợ do Kho bạc Nhà nước phát hành, có kỳ hạn không vượt quá 52 tuần
Công trái xây dựng Tổ quốc là trái phiếu do Chính phủ phát hành nhằm huyđộng nguồn vốn trong Nhân dân để đầu tư xây dựng công trình quan trọng quốc gia và
Trang 10các công trình thiết yếu khác phục vụ sản xuất, đời sống, tạo cơ sở vật chất, kỹ thuậtcho đất nước.
1.2 Khủng hoảng nợ công
1.2.1 Khái niệm khủng hoảng nợ công
Khủng hoảng nợ công là tình trạng nợ tăng quá cao ngoài tầm kiểm soát, điều tiết
và trả nợ của chính phủ Nợ không trả sớm làm “ lãi mẹ đẻ lãi con” khiến nợ càngchông chất, thâm hụt ngân sách càng kéo dài dẫn đén nền kinh tế chao đảo suy thoáitrầm trọng
1.2.2 Nguyên nhân dẫn tới nợ công
Nợ chồng nợ và quản lí yếu kém
Nguyên nhân lớn nhất dẫn tới khủng hoảng nợ công là các khoản nợ không thểhoàn trả Các khoản nợ này liên tục cộng dồn vào nhau lãi chồng lên lãi, cộng với gốcrồi lại tính lãi trên gốc mới.Khoản nợ đó càng ngày càng tăng mà ta không có một biệnpháp nào làm giảm lãi hoặc gia hạn lâu hơn giúp các con nợ có thể thành công trả nợ.Thêm vào đó là sự quản lí yếu kém của chính phủ, chính quyền các cấp địaphương được thể hiển rõ trong giai đoạn 1960-1970 ở các nước phương Tây khi họkhông kiểm soát được các khoản vay và chi tiêu cho cộng đồng Ngoài ra ở một sốquốc gia, đặc biệt là các nước nghèo, trình độ thấp, quản lí kém dẫn tới tình trạng tham
ô, tham nhũng của một nhóm người vì lợi ích nhóm mà nhiều khoản vay đi kèm với ưutiên xuất khẩu,… Làm cho dòng tiền chảy ra khỏi quốc gia nhều hơn dòng tiền vào
Vay không đúng mục đích
Là những khoản vay mà chính phủ không được nhân dân ủng hộ hoặc các khoảnvay mà chính phủ phải kế thừa từ những người tiền nhiềm Thực tế là nhiều nước kémphát triển bắt đầu nền độc lập từ các khoản nợ kếch xù có thể do chiến tranh gây ra
Toàn cầu, hóa hội nhập thế giới
Trang 11Sự ảnh hưởng của các quyết định kinh tế, hợp đồng, hiệp ướcvà các tổ chức quốc
tế đã và đang giúp các nước giàu hình thành nên xương sống của quá trình toàn cầu hóahiện nay Trong khi hầu hết các nước đang chìm ngập trong đói nghèo, nợ nần thì mộtvài nước lại nắm giữ khối tài sản khổng lồ giàu có, tuy nhiên đây không phải là hiệntượng ngẫu nhiên khi tăng tiêu chuẩn sống bằng các chính sách, các nước giàu đã phảitrả với giá rất kinh khủng Các nước giàu cũng mắc nợ nhưng họ có các phương tiện đểtránh rủi ro hơn các nước nghèo
1.2.3 Hậu quả của khủng hoảng nợ công
Hậu quả của khủng hoản nợ không chỉ gây ra ảnh hưởn tiêu cuacj đến các nước đivay mà nó còn ảnh hưởng đến các nước cho vay
Đối với chủ thể đi vay
Khung hoảng nợ như một trận động đất làm rung chuyển cả một quốc gia về mọimặt.Về kinh tế nền kinh tế suy thoái với mức lạm phát cao ngất ngưởng, GDP sụtgiảm, hoạt động sản xuất đình trệ, tỷ lệ thất nghiệp tăng
Từ nền kinh tế bất ổn nó dẫn tới chính trị bất ổn, đẩy các nước đang phát triển lúnsâu vao sự phụ thuộc với các nước tư bản Dần dà dẫn đến sự can thiệp chính trị củacác nước tư bản đến các chính sách của chính phủ gây xói mòn nền kinh tế Cuối cùng
là đời sống nhân dân đói nghèo cực khổ
Đối với chủ thể cho vay
Nền kinh tế của các nước tư bản trong thời kì khủng hoảng nợ cũng không tươisáng khi các con nợ lớn của họ tuyên bố phá sản không trả được nợ thì chính phủ cácnước đó sẽ phải chịu một khoản thất thoát nặng nề có thể kéo sự tăng trưởng kinh tếxuống đó cũng là lí do khi liên minh châu Âu EU luôn cố gắng giúp đỡ Hy Lap-con nợlớn nhất của họ Ngoài ra khi các nước đi vay mắc nợ họ sẽ cố gắng cắt giảm chi tiêugiảm nhập khẩu ảnh hưởng đến nguồn thu của các tư bản và gây ra thất nghiệp
Do đó khi co nợ găp phải khủng hoảng nợ đồng nghĩa là khả năng thanh khoảngiảm ảnh hưởng đến lưu thông hàng hóa thịtrường đóng băng Nghiêm trọng hơn khi
Trang 12số tiền con nợ vay chiếm một phần quan trọng trong nền kinh tế của các con nợ dễ dẫntới khi con nợ phá sản tạo ra hiệu ứng domino khiến cho nước tư bản phá sản hàng loạtcác tổ chức quốc tế lung lay sụp đổ kéo theo sự khủng hoảng kinh tế toàn cầu.
Chương 2: Cuộc khủng hoảng nợ công ở Mỹ Latinh năm 1980
2.1 Diễn biến khủng hoảng nợ công ở Mỹ Latinh
Cuộc khủng hoảng nợ công ở Mỹ Latinh trong những năm cuối thập niên 70 vàthập niên 80 có thể coi là thảm hoạ kinh tế lớn nhất ở khu vực này kể từ sau cuộc đạikhủng hoảng những năm 1930 Khủng hoảng nợ công bắt đầu từ ngày 12/8/1992 khichính phủ Mexico tuyên bố mất khả năng trả nợ vay 80 tỷ cho các ngân hàng quốc tế.Ngay sau đó, hàng loạt các nước châu Mỹ Latinh tuyên bố họ gặp phải khó khăn trầmtrọng trong việc trả nợ nước ngoài, như Argentina ( 1982, 1989), Bolivia (1980, 1986,1989), Brazil (1983, 1986 – 1987) và Ecuador ( 1982, 1983) Việc này tạo ra một phảnứng dây chuyền làm bùng phát khủng hoảng nợ trên toàn khu vực Mỹ Latinh
Cuộc khủng hoảng nợ công đã gây thiệt hại trầm trọng cho nền kinh tế cả của bênchủ nợ và các con nợ là các nước Mỹ Latinh Phía chủ nợ lớn nhất là các ngân hàng vàchính phủ Châu Âu và Mỹ, khi cuộc khủng hoảng xảy ra hệ thống tài chính ngân hàngcủa các nước này gặp thiệt hại nặng nề vì phải đối mặt với rủi ro tín dụng cao Ở chiềungược lại, khủng hoảng nợ công không chỉ làm sói mòn nền kinh tế các nước MỹLatinh mà còn làm cho những nước này mất khả năng vay nợ trong tương lai để khắcphục khủng hoảng vì những ngân hàng uy tín trên thế giới đã xếp những nước này vàodanh sách rủi ro cho vay cao, đồng thời các nước Mỹ Latinh cũng chịu tổn hại lớntrong thương mại quốc tế do các nước chủ nợ áp dụng những biện pháp trừng phạtthông qua các chính sách bảo hộ kinh tế, phong toả và tịch thu những tài sản của cácnước này ở nước ngoài
Trang 132.2 Nguyên nhân của cuộc khủng hoảng nợ công ở Mỹ Latinh
Với quy mô lớn và những hậu quả nặng nề mà nó gây ra, cuộc khủng hoảng MỹLatinh luôn nằm trong phạm vi nghiên cứu của rất nhiều những nhà kinh tế, chính trị,
đã có rất nhiều nguyên nhân được các nhà nghiên cứu đưa ra để giải thích cho cuộckhủng hoảng này Bài tiểu luận này xin phép được liệt kê và tóm tắt lại một số nguyênnhân chính mà theo nhóm tác giả là có ảnh hưởng lớn nhất đến cuộc khủng hoảng nợcông ở Mỹ Latinh
2.2.1 Nguyên nhân chủ quan
Cơ cấu kinh tế kém hiệu quả và việc phụ thuộc quá nhiều vào nguồn vốn nước ngoàiTrong những năm 1980 các nước khu vực Mỹ Latinh là những nước kém pháttriển với mức thu nhập bình quân đầu người chỉ khoảng 4014$/ năm Cơ cấu kinh tếcủa các nước phát triển không đồng đều giữa các ngành và các nước này chủ yếu thunhập từ việc xuất khẩu dầu Sau 2 cú sốc tăng giá dầu, dù các nước Mỹ latinh, đặc biệt
là Mexico, đã thu được khoản lợi nhuận lớn và được đánh giá là có tiềm năng tăngtrưởng kinh tế mạnh Tuy nhiên trên thực tế chính vì sự kém hiệu quả của mô hình kinh
tế trong nước và những điều hành không hợp lý trong chính sách vĩ mô đã làm chonhững nước này không những không thể đạt được kỳ vọng phát triển mà còn có bướcthụt lùi đáng kể và cuối cùng là đi tới tình trạng khủng hoảng nợ công Những bất cậptrong các quyết định kinh tế của các nước Mỹ Latinh bắt nguồn từ vấn đề lớn nhất: sựquân chủ độc tài trong quá trình chuyển dịch lên kinh tế thị trường làm cho thị trườnghoạt động kém hiệu quả
Vào những năm 1980, các ngành kinh tế chủ chốt tại các nước châu mỹ Latinhvẫn còn được sự bảo hộ của chính phủ, điều này triệt tiêu động lực tự phát triển của cácngành này, dẫn đến hiện trạng nhiều ngành tăng trưởng hết sức chậm chạp, thườngxuyên vay vốn nhưng không thực sự cân nhắc sử dụng đồng vốn sao cho đạt được hiệuquả cao nhất Đồng thời trong khoảng thời gian này, thị trường tài chính nói chung vàchứng khoán nói riêng ở khu vực không thực sự phát triển Điều này làm cho nhu cầucầu vay vốn tại ngân hàng của doanh nghiệp càng tăng lên Không những thế chỉ đạo
Trang 14sai lầm từ chính phủ khiến các ngân hàng trực thuộc chính phủ phải giữ lãi suất chovay thấp để tiếp tục bảo hộ cho các ngành trọng điểm đã đi lệch hoàn toàn so với quyluật cung – cầu vốn vay của thị trường, dẫn đến tình trạng cầu vượt quá cung Như vậy
để có thể đáp ứng được cầu vốn vay buộc chính phủ của các nước phải đứng ra vay vốn
từ nước ngoài
Đây không phải lỗi sai duy nhất trong điều hành chính sách kinh tế tại các nước
Mỹ Latinh, việc định hướng đầu tư sai lệch vào công nghiệp hoá mới thật sự là sai lầmlớn nhất dẫn tới khủng hoảng nợ công Trước mô hình kinh tế càng ngày càng tỏ ra yếukém, chính phủ nhiều nước đã quyết định đầu tư mạnh vào công nghiệp hoá Để làmđược điều đó tất nhiên không thể thiếu việc nhập khẩu nguyên vật liệu và trang thiết bịmáy móc từ nước ngoài, chính điều này làm các nước Mỹ Latinh từ vị thế xuất siêu dầutrở thành các nước nhập siêu, gây thâm hụt cán cân vãng lai và buộc các nước này phảivay nợ nước ngoài để tài trợ cho các chi tiêu của chính phủ Tuy nhiên việc phát triểncông nghiêp hoá trong khi vẫn giữ chế độ thị trường không tự do với quá nhiều sự canthiệp của chính phủ không cho thấy những tác dụng trong việc thúc đẩy nền kinh tế ởkhu vực này Theo như đánh giá của Hirschman ( 1971) : “ Công nghiệp hoá được kỳvọng sẽ thay đổi trật tự xã hội nhưng tất cả những gì nó làm chỉ là nâng cao sản xuất”.Nhìn vào biểu đồ dưới đây chúng ta có thể thấy rõ trong giai đoạn cuối thập niên 70,đầu thập niên 80, sau khi áp dụng mô hình công nghiệp hoá này tăng trường kinh tế tạicác nước Mỹ Latinh không những giảm mà còn đạt đến tăng trưởng âm, cán cânthương mai cũng giảm sút Như vậy sự đầu tư không hợp lý vào công nghiệp hoá đãthất bại trong việc thúc đẩy kinh tế mà thay vào đó đã để lại hậu quả là khoản nợ vaynước ngoài khổng lồ
Trang 15Hình 1: Tăng trưởng GDP và cán cân thương mại tài Mỹ Latinh 1961 - 2010 (%)
Từ những điều hành yếu kém về kinh tế dẫn đến nhu cầu vay nợ nước ngoài cao,các nước châu Mỹ Latinh đã trở nên quá phụ thuộc vào đầu tư nước ngoài Kể từ chiếntranh thế giới thứ 2, tỷ lệ đầu tư nước ngoài ở khu vực này chỉ dao động ở mức 19%,tuy nhiên trong giai đoạn 1975 -1980 tỷ lệ đầu tư đã tăng lên xấp xỉ 23% với chủ yếu làcác khoản đầu tư ngắn hạn Và ngay khi nền kinh tế có dấu hiệu đi xuống vào nhưngnăm đầu thập niên 80 thì nguồn vốn đầu tư nước ngoài cũng ồ ạt rút khỏi khu vực nàylàm tỷ lệ đầu tư nước ngoài giảm mạnh còn 17% trong thập niện 90 Do đã quen phụthuộc vào việc vay nợ nước ngoài nên điều này là một cú sốc lớn cho nền kinh tế MỹLatinh, làm rủi ro vỡ nợ bắt đầu được đẩy lên cao
Trang 16Hình 2: Tổng vốn đầu tư các quốc giá lớn, các quốc gia nhỏ và Mỹ Latinh qua nhiều giai đoạn ( % GDP)
Nguồn: Bertola & Ocampo ( 2012)
Ảnh hưởng của sụt giảm xuất khẩu
Như vậy từ việc tăng nhu cầu vay vốn để tài trợ cho chi tiêu chính phủ và cho khuvực tư nhân đã làm ngòi nổ cho khủng hoảng nợ công tại Mỹ Latinh, tuy nhiên đókhông phải là lý do duy nhất Như đã nêu ở trên, trong những năm thập niên 70 và 80,nguồn thu chủ yếu ở các nước khu vực Mỹ Latinh chủ yếu đến từ việc xuất khẩu dầu.Tuy nhiên sau cú sốc giá dầu lần 1, các nước nhập phát triển đã có các chính sách bảo
hộ mậu dịch, hạn chế nhập khẩu để gia tăng sản xuất và tiêu dùng trong nước Chínhđiều này gây ảnh hưởng đến lượng xuất khẩu dầu của các nước Mỹ Latinh và đặc biệt
là Mexico
Không chỉ chịu ảnh hưởng từ chính sách thương mại quốc tế mà xuất khẩu củakhu vực Mỹ Latinh còn chịu thiệt hại do lạm phát tăng cao trong những năm đầu thậpniên 80 Nguyên nhân xảy ra lạm phát lúc bấy giờ là vì đồng tiền của nhiều nước đượcneo cố định với USD Khi đồng USD lên giá do tình hình thâm hụt ngân sách tại Mỹthì đồng tiền của các nước Mỹ Latinh cũng bị đẩy giá lên theo Tình hình này diễn ranghiêm trọng nhất ở Mexico, khi tỷ lệ lạm phát ở nước này vào năm 1981 tăng quá cao
ở mức 27% Việc xảy ra lạm phát trong nước ảnh hưởng không nhỏ đến mặt hàng xuấtkhảu của các nước Mỹ Latinh, khiến cho thu nhập từ xuất khẩu càng sụt giảm, cán cânvãng lai thâm hụt Các nước Mỹ Latinh không thể trông vào nguồn thu ngoại tệ từ xuất
Trang 17nghĩa vụ nợ càng trở nên khó khăn và cuối cùng một loạt các nước đã phải tuyên bố mất khả năng trả nợ, khủng hoảng nợ công lan rộng
2.2.2 Nguyên nhân khách quan
Quyết định đầu tư không sáng suốt từ các nước châu Âu và Mỹ
Việc gián tiếp đưa các nước Mỹ Latinh rơi vào khủng hoảng nợ công chính là donguồn vốn nước ngoài ồ ạt đổ về khu vực này Sau cú sốc giá dầu tăng lần thứ nhất, cáncân vãng lai của các nước OPEC thặng dư Các nước này đã đem phần lớn lợi nhuậnsiêu khủng thu về được từ xuất khầu dầu gửi tại hệ thống các ngân hàng uy tín ở Châu
Âu và Mỹ Đích đến đầu tư của các ngân hàng này chính là khu vực Mỹ Latinh Lý dolựa chọn cho vay ở khu vực này là do lúc bấy giờ nhiều nước Mỹ Latinh cũng là nướcxuất khẩu dầu lớn vì vậy họ cũng thu được lợi nhuận cao, khi các ngân hàng quốc tếnhìn vào trữ lượng dầu của những quốc gia này thì rõ ràng các quốc gia ấy vẫn còn rấtnhiền tiềm năng thu lợi và có thể xếp hạng an toàn tín dụng tốt Tuy nhiên sai lầm ởđây là các ngân hàng không suy xét đến nền tảng cơ cấu kinh tế và hướng phát triểncủa các quốc gia này đã bộc lộ sự yếu kém từ cuối thập niên 60 Bằng chứng là do sựkhông phù hợp của những chính sách vĩ mô và các khoảng vay nợ đều được các nước
sử dụng kém hiệu quả, không sinh lời và cuối cùng là dẫn đến thâm hụt ngân sách, mấtkhả năng trả nợ Ngoài ra tư duy rằng chính phủ một quốc gia là không thể phá sản vàviệc cho vay nợ công là an toàn tuyệt đối là không đúng đắn, nhất là đối với nhữngquốc gia còn đang trong bước chuyển mình như các nước Mỹ Latinh lúc bấy giờ.Chính vì không suy xét kỹ mà đã rót quá nhiều vốn vào khu vực này rồi lại ồ ạt rút vốn
ra khi thấy nền kinh tế có dấu hiệu đi xuống đã làm cho các nền kinh tế non trẻ nàyhoàn toàn mất khả năng chống đỡ, làm cho khủng hoảng nợ công càng bùng phát rộnghơn
Giá trị thực của khoản vay bị đội lên nhiều lần do đồng USD tăng giá
Hầu hết các khoản nợ công của các nước Mỹ Latinh đều là vay bằng đồng dollarvới lãi suất thả nổi trên cơ sở lãi suất LIBOR Tuy nhiên đến năm 1978, thâm hụt ngânsách Mỹ làm cho tỷ giá LIBOR tăng từ 9.5% lên 16.6% Điều này đã làm đẩy giá USD,tăng giá trị thực của các khoản tín dụng bằng USD, đồng thời cũng làm tăng lãi vay
Trang 18Chính vì lý do này mà nghĩa vụ nợ của các nước Mỹ Latinh càng trở nên nặng nề, khiến cho các chính phủ phải tuyên bố mất khả năng trả nợ
2.3 Phản ứng của các quốc gia Mỹ Latinh trong thời gian khủng hoảng
Giai đoạn 1 ( Từ trước khủng hoảng – 1985)
Trong giai đoạn này, nhiều thay đổi vĩ mô đã được thực hiện với việc các nhàkinh tế và hoạch định chính sách dự đoán rằng cuộc khủng hoảng sẽ diễn ra trong mộtkhoảng thời gian ngắn, cuộc khủng hoảng sẽ kết thúc ngay khi các nền kinh tế có dấuhiệu phục hồi
Để thoát khỏi cuộc khủng hoảng, đã có những cố gắng thành lập một liên hiệpgiữa những chủ nợ của khu vực này Điển hình là cuộc hội nghị diễn ra tại Cartagena,Chile vào năm 1984 (sau này gọi là sự đồng thuận Cartagena) Sau hội nghị này, cáckhoản nợ của Bolivia và Ecuador đều đã được hoãn lại, trong khi các con nợ lớn nhưMexico, Brazil hay Venezuela vẫn phải tiếp tục thỏa hiệp trực tiếp với các ngân hàngcủa họ, còn Argentina vẫn tỏ thái độ cứng rắn và không chịu thỏa hiệp Điều này có thểthấy rằng dù đã cố gắng nhưng khu vực này vẫn chưa có được một sự đồng thuận nhấtđịnh trong khu vực, nhiều quốc gia muốn tự mình giải quyết các khoản nợ của mình.Chính sự bảo thủ này đã dẫn đến việc khu vực Mỹ Latinh lại càng lún sâu thêm vàokhủng hoảng
Giai đoạn 2 (Bắt đầu từ tháng 9 năm 1985)
Cuộc khủng hoảng nợ bước vào giai đoạn hai với sự khởi xướng của kế hoạchBaker lần thứ nhất (Baker Plan) tại Seoul nhằm đưa ra được những điều chỉnh trongviệc tạo ra những điều luật cho vay hiệu quả hơn cùng với một gói tín dụng đi kèm với
nó Gói cứu trợ này vào thời điểm đó vẫn chưa đủ để giải quyết hoàn toàn cuộc khủnghoảng, và hai năm tiếp theo, được thay thế bằng kế hoạch Baker lần thứ hai, đổi mớitrong trong việc tạo điều kiện cho các hoạt động mua lại hoặc trao đổi nợ và cho phépphát hành trái phiếu với lãi suất thấp
Giai đoạn 3 (bắt đầu vào tháng 3 năm 1989, gần bảy năm sau kể từ ngày bắt đầu
Trang 19Giai đoạn 3 bắt đầu với kế hoạch Brady (Brady Plan), bao gồm việc giảm bớt cáncân nợ, đi kèm với việc tạo điều kiện cho khu vực Mỹ Latinh được vay mượn từ cácnguồn tài chính tư nhân quốc tế Đây là giai đoạn cuối cùng của cuộc khủng hoảng, vàcác quốc gia Mỹ Latinh cũng dần đi vào phục hồi nền kinh tế Tuy nhiên, một thập kỷsuy thoái vì khủng hoảng đã làm cho mức đóng góp của khu vực này vào GDP thế giớigiảm 1,5%, cùng với việc GDP đầu người trong khu vực giảm 8% so với các quốc giacông nghiệp và 23% so với mức trung bình chung toàn thế giới.
2.4 Bài học rút ra từ khủng hoảng nợ công tại Mỹ Latinh
Thứ nhất: Bài học về việc vay nợ công hợp lý
Các nước đang phát triển đi vay nợ cần phải phát triển các cơ cấu kinh tế hợp lý,
có trọng điểm đầu tư vốn và có kế hoạch trả nợ rõ ràng, tránh tình trạng vay nợ để đầu
tư vào các công trình kém hiệu quả, lạm dụng quá mức các nguồn vốn vay nợ ngắnhạn Dòng vốn đầu tư ngắn hạn chảy vào một quốc gia có thể sẽ nhanh chóng được rút
ra ồ ạt khi các nhà đầu tư thấy mối rủi ro, điều này sẽ gây mất cân bằng lớn đến nềnkinh tế, vì vậy việc quá phụ thuộc vào nợ công là vô cùng nguy hiểm
Thứ hai: Bài học về việc vay bằng đồng ngoại tệ và chính sách tỷ giá kém linh hoạtHầu hết các nước rơi vào khủng hoảng đều duy trì chế độ tỷ giá cố định, neo cốđịnh đồng nội tệ với USD Việc duy trì một chế độ tỷ giá cố định sẽ khiến cho đồng nội
tệ bị định giá quá cao do các đồng tiền mạnh như USD lại được thả nổi linh hoạt Hậuquả là giảm sức cạnh tranh thương mại quốc tế của quốc gia Hơn nữa, khi nội tệ bị phágiá sẽ làm gánh nặng nợ nước ngoài tăng lên quá mức gây khó khăn trong thanh toáncủa quốc gia đó
Thứ ba: Xây dựng hệ thống tài chính ngân hàng hoạt động hiệu quả và dự trữ ngoại hối hợp lý để tự phòng vệ trước nguy cơ khủng hoảng
Chúng ta thấy rõ rằng, với tiềm lực tài chính của thế giới thì không thể tránh hayloại bỏ hoàn toàn các cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu Mỗi quốc gia phải tự họccách bảo vệ mình, tìm cách loại bỏ các rủi ro cho nền kinh tế Điều đó có nghĩa là,quốc gia đó phải xây dựng được một hệ thống ngân hàng hoạt động đúng luật định có