Chính vì vậy, Ngân hàng Nhà Nước cũng đã có những chính sách thayđổi lãi suất đối với tiền gửi bằng ngoại tệ để điều tiết nền kinh tế.. Với một lượng lớn ngoại tệ thu được từ tiền gửi tạ
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Với xu hướng toàn cầu hóa, quan hệ thương mại quốc tế, đầu tư quốc tế ngàycàng được củng cố và phát triển mạnh mẽ Việc tham gia vào phân công lao động quốc
tế đem lại cho những nước đang phát triển như Việt Nam cơ hội lớn để thúc đẩy pháttriển kinh tế trong nước, nâng cao đời sống của nhân dân Thông qua hoạt động thươngmại, thu hút đầu tư nước ngoài, Việt Nam có cơ hội tích lũy nguồn ngoại tệ lớn, đảmbảo nhu cầu nhập khẩu, tăng cường quỹ dự trữ ngoại hối quốc gia Nhưng đồng thời, nócũng làm cho nền kinh tế nước nhà nhạy cảm hơn bao giờ hết với những biến động củanền kinh tế thế giới, và không tránh khỏi những tác động tiêu cực
Trong những năm gần đây, một trong những đe dọa từ xu hướng toàn cầu hóachính là tình trạng đô la hóa nền kinh tế - khi mà đồng bản tệ mất đi vị trí trọng tâmcủa nó trong thanh toán, cất trữ giá trị Đây là vấn đề chung của những nước đangphát triển, nhưng đối với Việt Nam thì vấn đề này còn trầm trọng hơn Tình trạnglạm phát cao trong quá khứ đã làm xói mòn lòng tin của nhân dân vào VND Ngườidân trở nên sùng bái USD trong giao dịch các hàng hóa có giá trị và cất trữ
Từ năm 2013, tiền gửi bằng ngoại tệ giảm mạnh tưởng chừng như hiện tượng
Đô la hóa đã giảm, nhưng kể từ năm 2014 trở đi Đô la hóa lại bắt đầu vận động mộtcách rõ ràng Chính vì vậy, Ngân hàng Nhà Nước cũng đã có những chính sách thayđổi lãi suất đối với tiền gửi bằng ngoại tệ để điều tiết nền kinh tế Ví dụ như quyết
liệt thực hiện “Đề án chống đô la hóa”, với mục tiêu giảm tỉ trọng tiền gửi ngoại tệ
xuống 15% vào năm 2015 và chấm dứt tình trạng đô la hóa trước năm 2020
Do vậy, chúng em lựa chọn phạm vi nghiên cứu từ 2013 đến nay vì trong thập
kỷ qua, mặc dù lạm phát đã được kiểm soát và có xu hướng ổn định ở mức thấp,nhưng Đô la hoá vẫn còn là hiện tượng phổ biến ở các nước đang phát triển và cácnền kinh tế đang chuyển đổi, trong đó có Việt Nam Nhất là gần đây cuộc chiếntranh thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc cũng đã ảnh hưởng ít nhiều đến nền kinh
tế thế giới, khiến vấn đề Đô la hóa lại một lần nữa được đề cập đến
Để tìm hiểu sâu sắc hơn về thực trạng, nguyên nhân, những tác động và từ đó
đưa ra giải pháp cho tình trạng đô la hóa, đề tài “Đô la hoá và tác động của nó đến với nền kinh tế Việt Nam giai đoạn 2013-2019” được thực hiện.
Trang 2Đây là một đề tài khá khó, hơn nữa thời gian làm bài và trình độ của ngườiviết còn nhiều hạn chế nên khó tránh khỏi có những thiếu sót nhất định Qua đây
chúng em xin cảm ơn PGS TS Mai Thu Hiền đã tận tình hướng dẫn để chúng em
hoàn thành nghiên cứu này, nếu có thời gian và điều kiện chúng em sẽ mở rộng vàhoàn thiện đề tài này hơn nữa
2 Phương pháp nghiên cứu:
Trong quá trình nghiên cứu, đề tài sử dụng phương pháp phân tích định tính dựatrên cơ sở lý thuyết kinh tế học đã được chấp nhận rộng rãi, kết hợp với việc phân tích,suy luận để ứng dụng cho thực tế Việt Nam Nguồn dữ liệu sử dụng trong đề tài lànguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập từ NHNN, Tổng cục thống kê, ADB, IMF …
4 Kết cấu đề tài:
Kết cấu đề tài gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về đô la hóa
Chương 2: Thực trạng của đô la hóa đối với nền kinh tế Việt Nam giai đoạn
2013 – 2019
Chương 3: Giải pháp khắc phục tình trạng đô la hóa ở Việt Nam hiện nay
Trang 3NỘI DUNGCHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐÔ LA HÓA
1.1 Khái niệm chung
Theo tiêu chí của IMF, Đô la hóa (dollarization) là tình trạng mà tỷ trọng tiềngửi bằng ngoại tệ chiếm trên 30% trong tổng khối tiền tệ mở rộng bao gồm: tiền mặttrong lưu thông, tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi ngoại tệ.Ngoại tệ có thể gồm bất kỳ một loại ngoại tệ nào như: yên Nhật, bảng Anh,Euro, nhưng trong đa số các trường hợp nghiên cứu hiện tượng đô la hóa với đồngUSD Sau sự sụp đổ của hệ thống Bretton Woods đầu những năm 1970, USD đã trởthành phương tiện thanh toán quốc tế và chưa có dấu hiệu bị thay thế bởi một loạingoại tệ khác cho đến hiện nay Hơn thế, Mỹ cũng muốn tận dụng lợi thế là nềnkinh tế hàng đầu thế giới của mình để tăng cường sức mạnh cho đồng USD và tạo
áp lực cho các nền kinh tế mới nổi
1.2 Phân loại đô la hóa
1.2.1 Căn cứ vào hình thức
Căn cứ vào hình thức để phân loại, đô la hóa thể hiện dưới 3 hình thức vớimức độ đô la hóa tăng dần: Đô la hóa thay thế tài sản, Đô la hóa phương tiện thanhtoán và Đô la hóa định giá, niêm yết Đây là 3 bước phát triển của tình trạng đô lahóa ứng với các chức năng của tiền tệ là: phương tiện cất trữ giá trị, phương tiệnthanh toán và là thước đo giá trị
1.2.1.1 Đô la hóa thay thế tài sản
Đô la hóa thay thế tài sản thể hiện qua tỷ lệ tiền gửi ngoại tệ trên tổng phươngtiện thanh toán (FCD/M2) Theo IMF, khi tỷ lệ này trên 30% thì nền kinh tế đóđược cho là có tình trạng đô la hóa cao, tạo ra các lệch lạc trong điều hành tài chínhtiền tệ vĩ mô Biểu hiện của tình trạng này là người dân thích nắm giữ trái phiếungoại tệ, gửi tiết kiệm bằng ngoại tệ để bảo vệ tài sản của họ trước tình hình lạmphát trong nước Đây là bước đầu tiên trong quá trình đô la hóa ở các nước đô lahóa không chính thức
Trang 41.2.1.2 Đô la hóa phương tiện thanh toán
Đô la hóa phương tiện thanh toán thể hiện qua mức độ sử dụng ngoại tệ trongthanh toán Các giao dịch thanh toán bất hợp pháp bằng ngoại tệ rất khó đánh giánhất là đối với những nền kinh tế tiền mặt như Việt Nam Biểu hiện của tình trạngnày là người dân nắm giữ một lượng lớn tiền gửi bằng đồng ngoại tệ trong hệ thốngngân hàng (nếu được pháp luật cho phép) Các khoản tiền lương, thuế, chi phí sinhhoạt hàng ngày vẫn sử dụng đồng bản tệ nhưng đối với những hàng hóa có giá trịcao như bất động sản, ô tô thì được chi trả bằng ngoại tệ
1.2.1.3 Đô la hóa định giá, niêm yết giá
Đô la hóa định giá, niêm yết giá là việc niêm yết, quảng cáo, định giá bằngngoại tệ Người dân sẽ có xu hướng neo giữ tất cả các loại mặt hàng vào một đồngngoại tệ mạnh để quy đổi ra đồng nội tệ
1.2.2 Căn cứ vào phạm vi
Theo Connie Mack (Các vấn đề cơ bản của đô la hóa, 1999) thì đô la hóa đượcchia thành 3 loại căn cứ vào phạm vi là: Đô la hóa chính thức, Đô la hóa bán chínhthức và Đô la hóa không chính thức
1.2.2.1 Đô la hóa chính thức
Đô la hóa chính thức hay còn gọi là đô la hóa hoàn toàn xảy ra khi đồng ngoại
tệ là đồng tiền hợp pháp duy nhất được lưu hành Nghĩa là đồng ngoại tệ không chỉđược sử dụng hợp pháp trong các hợp đồng giữa các bên tư nhân mà còn hợp pháptrong các khoản thanh toán của Chính phủ Nếu đồng ngoại tệ còn tồn tại thì nó chỉ
có vai trò thứ yếu và thường chỉ là đồng tiền xu hay các đồng tiền mệnh giá nhỏ.Thông thường, các nước chỉ áp dụng đô la hóa chính thức khi đã thất bại trong việcthực thi các chương trình ổn định kinh tế
Ví dụ về một số nước đang bị đô la hóa chính thức: Panama, Ecuador,
Salvador 1.2.2.2 Đô la hóa bán chính thức
Đô la hóa bán chính thức hay còn gọi là đô la hóa từng phần là tình trạng đồngngoại tệ được sử dụng như một đơn vị kế toán, phương tiện trao đổi, dự trữ giá trị
và phương tiện thanh toán trong khi đồng nội tệ vẫn tồn tại và lưu thông Đồngngoại tệ có chức năng như một đồng tiền hợp pháp thứ hai của nền kinh tế Cácnước ở tình trạng này vẫn duy trì một NHTW để thực hiện chính sách tiền tệ của họ
Trang 5Ví dụ về một số nước đang bị đô la hóa bán chính thức: Bahamas, Campuchia,Haiti, Lào, Liberia
1.2.2.3 Đô la hóa không chính thức
Đô la hóa không chính thức là trường hợp đồng ngoại tệ được sử dụng rộng rãitrong nền kinh tế, mặc dù không được quốc gia đó chính thức thừa nhận Ở nhữngnước có nền kinh tế bị đô la hóa không chính thức, phần lớn người dân đã quen vớiviệc sử dụng đồng ngoại tệ nhưng Chính phủ vẫn cấm niêm yết giá hàng hóa bằngngoại tệ, cấm dùng ngoại tệ đối với hầu hết giao dịch trong nước
Một số nước bị xếp vào nhóm này phải kể đến: hầu hết các nước ở châu MỹLatin, phần lớn các nước thuộc liên bang Xô viết cũ IMF cũng xếp Việt Nam vàotrong nhóm các nước bị đô la hóa không chính thức
Ngoài ra, hiện tượng đô la hóa còn được phân loại thành Đô la hóa trực tiếp và
Đô la hóa gián tiếp Theo Andreas Hauskrecht (2010) :
- Đô la hóa trực tiếp là khi một đồng ngoại tệ được sử dụng trong một nước
khác như là phương tiện thanh toán, cất trữ giá trị và là đơn vị hạch toán kế toán
- Đô la hóa gián tiếp là khi chính phủ một nước buộc phải phát hành trái phiếu
chính phủ bằng đồng ngoại tệ (thường là USD) vay nợ, hoặc cho phép các doanhnghiệp neo giá trị các hợp đồng theo loại ngoại tệ này thay vì cho phép sử dụng trựctiếp ngoại tệ
1.3 Nguyên nhân của hiện tượng đô la hóa
Đô la hóa là hiện tượng phổ biến xảy ra ở nhiều nước, đặc biệt ở các nước
chậm phát triển Các nguyên cứu của Andreas Hauskrecht (2010), Benjamin Cohen (2009) và Calvo & Guidotti (1998) đưa ra rất nhiều nguyên nhân khác nhau để lý
giải cho hiện tượng này, bao gồm những nguyên nhân xuất phát từ thực trạng yếukém của nền kinh tế cũng như nguyên nhân khách quan từ bên ngoài
1.3.1 Nguyên nhân bên ngoài
Theo Benjamin Cohen, toàn cầu hóa được coi là nguyên nhân bên ngoài cho hiện
tượng đô la hóa vì đây là xu hướng không tránh khỏi trong quá trình phát triển Đô lahóa xuất phát từ việc các đồng tiền mạnh có các quốc gia phát triển, đặc biệt là Mỹ,được sử dụng rộng rãi trong thương mại quốc tế Nói cách khác, USD là đồng
Trang 6tiền mạnh có thể tự do chuyển đổi và lưu thông trên toàn cầu 70% các giao dịchthương mại trên thế giới được thực hiện bằng đồng USD.
Ngày nay, khi mà hầu hết các nước đều theo xu hướng mở cửa hội nhập nềnkinh tế, các giao dịch thương mại quốc tế, đầu tư nước ngoài có ảnh hưởng trực tiếpđến nền kinh tế và hệ thống chính sách tiền tệ của mỗi quốc gia Việc này đã tạo racầu sử dụng ngoại tệ Ở một mức độ nào đó, đô la hóa có thể được coi là hiện tượngtất yếu
1.3.2 Nguyên nhân bên trong
Thâm hụt ngân sách nhà nước
Theo Andreas Hauskrecht, nguyên nhân chủ yếu của hiện tượng này là tình
trạng thâm hụt ngân sách rất thường thấy ở các quốc gia đang phát triển Thâm hụtNSNN, đi kèm với việc thâm hụt cán cân thương mại và cán cân vãng lai đã kíchthích tình trạng vay nợ nước ngoài, tạo ra một lượng lớn cung ngoại tệ cho nền kinh
tế Hơn nữa, thực trạng này nếu kéo dài sẽ làm giảm sút lòng tin của dân chúng vàođồng nội tệ, kích thích tình trạng găm giữ ngoại tệ
nó Người dân mất niềm tin vào đồng nội tệ, từ đó họ phải tìm các công cụ dự trữgiá trị khác, trong đó có các đồng ngoại tệ có uy tín Với chức năng ban đầu làmphương tiện cất giữ giá trị, dần dần đồng ngoại tệ sẽ cạnh tranh với đồng nội tệtrong chức năng làm phương tiện thanh toán hay làm thước đo giá trị
Nhận tiền gửi và cho vay bằng ngoại tệ
Khi có một lượng lớn ngoại tệ trong tay, các ngân hàng sẽ cho vay ra nền kinh tếhoặc đẩy lượng ngoại tệ này vào trong lưu thông Dựa vào công thức tính số nhân tiền
có thể thấy lượng ngoại tệ trong nước sẽ tăng lên Khi người dân nắm trong tay lượngngoại tệ này sẽ có xu hướng dùng trong thanh toán, gây ra tình trạng đô la hóa
8
Trang 7Việc cho vay bằng ngoại tệ sẽ càng đẩy mạnh tình trạng đô la hóa Với mộtlượng K đơn vị ngoại tệ ban đầu đi vay, khách hàng cần trả ngân hàng K(1+i) đơn
vị ngoại tệ Việc này làm cho cầu ngoại tệ trong nước tăng lên, vị trí của đồng nội tệ
bị xói mòn Nó khiến cho người dân thêm kỳ vọng vào sự giảm giá nội tệ và tìnhtrạng đô la hóa càng trầm trọng hơn
Vốn đầu tư nước ngoài
Đối với các nước đang phát triển, nguồn vốn trong nước (bao gồm: vốn từNSNN, vốn tư nhân) cho nhu cầu đầu tư phát triển là không đủ Các nước này sẽcách thu hút thêm nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài như FDI, ODA, các khoản vaythương mại Việc thu hút được nhiều vốn đầu tư từ nước ngoài cũng đồng nghĩa vớiviệc có một lượng ngoại tệ lớn trong nền kinh tế, kích thích tình trạng đô la hóa
1.4 Tác động của đô la hóa đối với nền kinh tế
1.4.1 Tác động tích cực
Thứ nhất, đô la hóa làm giảm áp lực đối với nền kinh tế trong những thời kỳlạm phát cao, bị mất cân đối và các điều kiện kinh tế vĩ mô không ổn định Do cómột lượng lớn ngoại tệ mạnh trong hệ thống ngân hàng, sẽ là một công cụ tự bảo vệchống lại lạm phát và là phương tiện để mua hàng hoá ở thị trường phi chính thức
Ở các nước đô la hoá chính thức, bằng việc sử dụng đồng ngoại tệ, họ sẽ duy trìđược tỷ lệ lạm phát gần với mức lạm phát thấp làm tăng sự an toàn đối với tài sản tưnhân, khuyến khích tiết kiệm và cho vay dài hạn Hơn nữa, ở những nước nàyNHTW sẽ không còn khả năng phát hành nhiều tiền và gây ra lạm phát, đồng thờiNSNN sẽ không thể trông chờ vào nguồn phát hành này để trang trải thâm hụt ngânsách, kỷ luật về tiền tệ và ngân sách được thắt chặt Do vậy, các chương trình ngânsách sẽ mang tính tích cực hơn
Thứ hai, đô la hóa giúp tăng cường khả năng cho vay của ngân hàng và khả nănghội nhập quốc tế Với một lượng lớn ngoại tệ thu được từ tiền gửi tại ngân hàng, cácngân hàng sẽ có điều kiện cho vay nền kinh tế bằng ngoại tệ, qua đó hạn chế việc phảivay nợ nước ngoài, và tăng cường khả năng kiểm soát của NHTW đối với luồng ngoại
tệ Đồng thời, các ngân hàng sẽ có điều kiện mở rộng các hoạt động đối ngoại, thúc đẩyquá trình hội nhập của thị trường trong nước với thị trường quốc tế
Trang 8Thứ ba, hạ thấp chi phí giao dịch Ở những nước đô la hoá chính thức, các chiphí như chênh lệch giữa tỷ giá mua và bán khi chuyển từ đồng tiền này sang đồngtiền khác được xoá bỏ Các chi phí dự phòng cho rủi ro tỷ giá cũng không cần thiết,các ngân hàng có thể hạ thấp lượng dự trữ, vì thế giảm được chi phí kinh doanh.Thứ tư, thúc đẩy thương mại và đầu tư Các nước thực hiện đô la hoá chínhthức có thể loại bỏ rủi ro cán cân thanh toán và những kiểm soát mua ngoại tệ,khuyến khích tự do thương mại và đầu tư quốc tế Các nền kinh tế đô la hoá có thểđược, chênh lệch lãi suất đối với vay nợ nước ngoài thấp hơn, chi ngân sách tiảmxuống và thúc đẩy tăng trưởng và đầu tư.
Thứ năm, thu hẹp chênh lệch tỷ giá trên hai thị trường chính thức và phi chínhthức Tỷ giá chính thức càng sát với thị trường phi chính thức, tạo ra động cơ đểchuyển các hoạt động từ thị trường phi chính thức sang thị trường chính thức
đô la hóa sẽ tác động đến việc hoạch định và thực thi chính sách tỷ giá Đô la hoá cóthể làm cho cầu tiền trong nước không ổn định, do người dân có xu hướng chuyển từđồng nội tệ sang ngoại tệ, làm cho cầu ngoại tệ tăng mạnh gây sức ép đến tỷ giá Khicác đối thủ cạnh tranh trên thị trường thế giới thực hiện phá giá đồng tiền, thì quốc gia
bị đô la hoá sẽ không còn khả năng để bảo vệ sức cạnh tranh của khu vực xuất khẩuthông qua việc điều chỉnh lại tỷ giá hối đoái Ở trong các nước đô la hoá không chínhthức, nhu cầu về nội tệ không ổn định Trong trường hợp có biến động, mọi người bấtngờ chuyển sang ngoại tệ có thể làm cho đồng nội tệ mất
Trang 9giá và bắt đầu một chu kỳ lạm phát Khi người dân giữ một khối lượng lớn tiền gửibằng ngoại tệ, những thay đổi về lãi suất trong nước hay nước ngoài có thể gây ra
sự chuyển dịch lớn từ đồng tiền này sang đồng tiền khác (hoạt động đầu cơ tỷ giá).Những thay đổi này sẽ gây khó khăn cho NHTW trong việc đặt mục tiêu cung tiềntrong nước và có thể gây ra những bất ổn định trong hệ thống ngân hàng Trườnghợp tiền gửi của dân cư bằng ngoại tệ cao, nếu khi có biến động làm cho người dân
đổ xô đi rút ngoại tệ, trong khi số ngoại tệ này đã được ngân hàng cho vay, đặc biệt
là cho vay dài hạn, khi đó NHTW của nước bị đô la hoá cũng không thể hỗ trợ được
vì không có chức năng phát hành ngoại tệ
Thứ tư, Đô la hoá chính thức sẽ làm mất đi chức năng của NHTW là ngườicho vay cuối cùng của các ngân hàng Trong các nước đang phát triển chưa bị đô lahoá hoàn toàn, mặc dù các ngân hàng có vốn tự có thấp, song công chúng vẫn tintưởng vào sự an toàn đối với các khoản tiền gửi của họ tại các ngân hàng Nguyênnhân là do có sự bảo lãnh ngầm của Nhà nước đối với các khoản tiền này Điều nàychỉ có thể làm được đối với đồng tiền nội tệ, chứ không thể áp dụng được đối vớingoại tệ Đối với vác nước đô la hoá hoàn toàn, khu vực ngân hàng sẽ trở nên bất ổnhơn trong trường hợp ngân hàng thương mại bị phá sản và sẽ phải đóng cửa khichức năng người cho vay cuối cùng của ngân hàng trung ương đã bị mất
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CỦA ĐÔ LA HÓA ĐỐI VỚI NỀN KINH
TẾ VIỆT NAM GIAI ĐOAN 2013 – 2019
2.1 Thực trạng của hiện tượng đô la hóa ở Việt Nam giai đoạn 2013-2019
2.1.1 Giai đoạn 2013-2015
Năm 2013:
Tình trạng đô la hóa trong nền kinh tế giảm nên NHNN đã mua được mộtlượng lớn ngoại tệ để tăng dự trữ ngoại hối Nhà nước Trong 8 tháng đầu năm 2013,Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã thực hiện đồng bộ các biện pháp ổn định tỷ giá vàthị trường ngoại tệ, tạo điều kiện tăng dự trữ ngoại hối, hỗ trợ cho việc thực thichính sách tiền tệ, góp phần kiểm soát lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô
Một số biện pháp quan trọng cho thấy sự chủ động của NHNN trong việc điềuhành chính sách quản lý tỷ giá và thị trường ngoại tệ như công khai ngay từ đầu năm
11
Trang 10định hướng tiếp tục duy trì ổn định tỷ giá trong năm 2013 với mức biến động 2 - 3%nhằm ổn định tâm lý thị trường, định hướng kỳ vọng tỷ giá và củng cố niềm tin củangười dân vào VND.
Bên cạnh đó, NHNN đã điều chỉnh tăng 1% tỷ giá bình quân liên ngân hàng từmức 20.828 VND/USD lên mức 21.036 VND/USD kể từ ngày 28/6/2013, đồng thờiđiều chỉnh giảm lãi suất tối đa đối với tiền gửi bằng USD của tổ chức, cá nhân tạiTCTD, đảm bảo phù hợp với diễn biến cung cầu ngoại tệ, các cân đối vĩ mô, diễnbiến cán cân thanh toán quốc tế, chính sách điều hành lãi suất VND và tiếp tụckhuyến khích người dân nắm giữ VND, giảm nắm giữ ngoại tệ
Việc điều hành linh hoạt tỷ giá mua vào USD của NHNN đã khuyến khích cácTCTD bán ngoại tệ cho NHNN để tăng dự trữ ngoại hối nhà nước và điều chỉnh linhhoạt tỷ giá bán ra để can thiệp thị trường phù hợp với mục tiêu ổn định thị trường.Đồng thời, NHNN đã kết hợp chặt chẽ việc điều hành chính sách quản lý tỷ giá vàthị trường ngoại tệ với các công cụ chính sách tiền tệ để điều hòa lượng tiền VNDcung ứng khi mua ngoại tệ tăng dự trữ ngoại hối nhà nước nhằm không gây áp lựclên lạm phát và không ảnh hưởng đến điều hành tỷ giá
Nhờ triển khai đồng bộ và quyết liệt các giải pháp ổn định thị trường, trong 8tháng đầu năm 2013, thị trường ngoại tệ và tỷ giá về cơ bản diễn biến ổn định, phùhợp với diễn biến cung cầu ngoại tệ trên thị trường và góp phần thực hiện mục tiêukiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, khuyến khích xuất khẩu, kiểm soát nhậpkhẩu, hạn chế nhập siêu và tăng dự trữ ngoại hối nhà nước, chuyển dần quan hệ huyđộng - cho vay ngoại tệ sang quan hệ mua - bán ngoại tệ, đảm bảo an toàn hệ thốngTCTD, tăng niềm tin vào VND Những biến động bất thường trong một số thờiđiểm đã được NHNN can thiệp kịp thời nên thị trường ngoại tệ và tỷ giá đã nhanhchóng ổn định trở lại
Tín dụng bằng ngoại tệ cũng giảm mạnh phù hợp với chủ trương chuyển quan
hệ huy động-cho vay bằng ngoại tệ sang quan hệ mua-bán bằng ngoại tệ, giảm sức
ép tín dụng bằng ngoại tệ và rủi ro liên quan đến chênh lệch giữa các loại tiền của
hệ thống ngân hàng Nhờ tỷ giá ổn định, tình trạng đô la hóa trong nền kinh tế giảmnên NHNN đã mua được một lượng lớn ngoại tệ để tăng dự trữ ngoại hối Nhà nước,góp phần tăng tiềm lực tài chính và uy tín của quốc gia
Trang 11Hình 1: Dữ trữ ngoại hối cứa Việt Nam đến năm 2013
(Nguồn: Trung tâm nghiên cứu, Tập đoàn Đầu tư Phát triển Việt Nam)
Năm 2014:
Năm 2013 khép lại một năm bận rộn khi nhiều chính sách điều hành tài chính tiền tệ của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước (NHNN) được triển khai liên tục,quyết liệt và nhiều chính sách đã phát huy tác dụng góp phần ổn định và phục hồikinh tế Một trong những chính sách đó đã đạt được hiệu quả rõ rệt trong thời gianqua là công tác chống đô la hóa nền kinh tế Tỷ lệ đô la trong nền kinh tế đã đượcgiảm mạnh
-Với mục tiêu giảm tỷ trọng tiền gửi ngoại tệ xuống 15% vào năm 2015 vàchấm dứt tình trạng đô la hóa trước năm 2020, NHNN đã lên kế hoạch và thi hànhnhiều chính sách, biện pháp ngay từ năm 2011 Trong hơn 2 năm qua, thị trườngngoại hối cơ bản ổn định, thanh khoản ngoại tệ của hệ thống được cải thiện Có thờiđiểm tỷ giá có áp lực tăng nhưng chủ yếu do yếu tố tâm lý và đã nhanh ổn địnhngay sau những động thái can thiệp kịp thời của NHNN
Để mở đường trước khi đưa Pháp lệnh quản lý ngoại hối (ban hành năm 2013)với hàng loạt sửa đổi nhằm quản lý ngoại hối chặt chẽ hơn sẽ có hiệu lực từ 1/1/2014,NHNN đã thi hành một loạt các biện pháp như tăng mạnh dự trữ bắt buộc bằng ngoại
tệ, giảm mạnh trạng thái ngoại hối của các NHTM (giảm trạng thái ngoại tệ của các
13
Trang 12tổ chức tín dung (TCTD) xuống mức ±20% vốn điều lệ so với yêu cầu trước đó là
±30%), áp trần lãi suất tiền gửi ngoại tệ thấp hơn và yêu cầu kết hối ngoại tệ 100%đối với doanh nghiệp Nhà nước; hạn chế ngân hàng cho vay ngoại tệ và đối tượngđược vay ngoại tệ; giảm lãi suất huy động tiền gửi bằng ngoại tệ đối với cá nhân vàdoanh nghiệp; nghiêm cấm các giao dịch, niêm yết giá trong nước bằng vàng, ngoạitệ…
Với chủ trương và các biện pháp quyết liệt như vậy từ NHNN đã khiến chotính hấp dẫn của ngoại tệ, đặc biệt là đồng USD giảm xuống Tín dụng bằng ngoại
tệ cũng giảm mạnh, kéo theo hiện tượng găm giữ, đầu cơ ngoại tệ, cũng giảm điđáng kể, đồng thời góp phần quan trọng giúp cho vị thế của tiền đồng, niềm tin vàotiền đồng được nâng lên Ngoài ra, hiện tượng niêm yết bằng đồng USD tại cáckhách sạn, một số trung tâm mua bán cũng giảm đáng kể Việc niêm yết, mua bánbằng USD đối với đồ điện tử, ôtô, bất động sản… gần như đã biến mất sau nhiềunăm làm đau đầu các nhà quản lý
Thành công lớn nhất của các biện pháp chống đô la hóa thể hiện rõ khi đếncuối 2013, tỷ lệ tiền gửi ngoại tệ trên tổng phương tiện thanh toán tiếp tục giảm, cònkhoảng 12%, dữ trữ ngoại hối tăng gấp hai lần so với cuối năm 2011 Đặc biệt, nhờ
đó, tâm lý nắm giữ ngoại tệ được đẩy lùi, thị trường tự do bị thu hẹp Tình trạngđôla hóa giảm, lòng tin vào đồng Việt Nam được nâng cao
Từ đầu năm 2014, ngày 2/1/2014, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 01 vềnhững nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu chỉ đạo điều hành thực hiện kế hoạch phát triểnkinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2014 Về chính sách tiền tệ,Chính phủ yêu cầu NHNN chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan, địa phương điềuhành chủ động, linh hoạt các công cụ chính sách tiền tệ, phối hợp chặt chẽ với chínhsách tài khóa nhằm kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và hỗ trợ tăng trưởnghợp lý; bảo đảm thanh khoản của các tổ chức tín dụng và của nền kinh tế
Cũng trong Nghị quyết này, Chính phủ nhấn mạnh vai trò của NHNN trong việcquản lý hiệu quả thị trường ngoại hối, thị trường vàng, tiếp tục củng cố kết quả chốngvàng hóa, kiên quyết đẩy nhanh chống đô la hóa, có các biện pháp huy động nguồn lực
từ vàng phục vụ phát triển kinh tế - xã hội Đồng thời, đẩy mạnh thực hiện thanh
Trang 13toán không dùng tiền mặt cũng như hạn chế sử dụng các biện pháp hành chính đốivới thị trường tiền tệ.
Hình 2: Tỷ lệ các phương thức thanh toán năm 2013-2014
Số lượng người sử dụng ví điện tử năm 2014 tăng 29%
Ngay sau đó, NHNN cũng đã ban hành Chỉ thị số 01/CT-NHNN về tổ chức thựchiện chính sách tiền tệ và đảm bảo hoạt động ngân hàng an toàn, hiệu quả năm 2014.Theo đó, mục tiêu trong năm 2014 sẽ tiếp tục theo đuổi chính sách tiền tệ chủ động,linh hoạt Điều hành tỷ giá và lãi suất phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô, tiền tệ, đặcbiệt diễn biến lạm phát, bảo đảm giá trị tiền đồng Đồng thời thực hiện các giải phápquản lý ngoại hối nhằm quản lý thị trường ngoại hối, ổn định tỷ giá, khắc phục tìnhtrạng đôla hóa nền kinh tế, tạo điều kiện tăng dự trữ ngoại hối Nhà nước
Năm 2015:
Báo cáo Tình hình kinh tế năm 2015 và tháng 5 năm 2014 của Ủy ban Giámsát tài chính quốc gia phân tích, đối với ngoại tệ, thanh khoản đang chịu áp lực nhấtđịnh Trong khi tính đến tháng 4, tiền gửi bằng ngoại tệ giảm 9,1%, cho vay ngoại tệ
đã tăng 7,2% so với đầu năm Do đó, tỷ lệ cho vay/tiền gửi ngoại tệ đã tăng từ84,3% cuối năm 2013 lên 99,5% vào cuối tháng 4/2014
Không ít doanh nghiệp trước kia để có USD trả nợ nước ngoài, đã vay bằngVND, sau đó hoán đổi sang ngoại tệ để trả nợ thay, vì vay nợ trực tiếp bằng USD sẽđẩy nhu cầu ngoại tệ tăng lên, tuy nhiên, hiện tượng này dường như đang lặp lại
Trang 14Các chuyên gia kinh tế độc lập phân tích, phần huy động ngoại tệ đang giảmkhoảng 4 - 5% từ đầu năm đến giờ, trong khi đó, dư nợ tăng lên nhanh chắc chắn sẽgây sức ép lên ngoại tệ Bản thân các ngân hàng cũng không còn dư ngoại tệ nhiều,không thể âm trạng thái nhiều như trước, bởi muốn âm trạng thái, phải vay ngoại tệbằng cách vay nước ngoài hay trong nước Vay nước ngoài trước đây khá dễ dàng,dẫn đến tình trạng huy động ngoại tệ nhiều, có phần không dùng đến, bán ra thịtrường lấy tiền đồng cho vay với lãi suất tốt hơn hay đầu tư vào trái phiếu chínhphủ Nhưng vay nước ngoài giờ đây không dễ, trong khi phần huy động thấp hơn
mà phần đầu tư lớn, nên lượng ngoại tệ cơ bản ngân hàng nắm giữ ít chắc chắn sẽgây áp lực lên ngân hàng
Cảnh báo đô la hóa sẽ có thể quay trở lại Như vậy, diễn biến của việc cho vayngoại tệ tăng nhanh cũng khiến cơ quan quản lý cần thận trọng, nhưng để giảm đô lahóa bằng cách đẩy lãi suất tiền đồng xuống thấp hơn nữa, để khi lãi suất VND vàUSD tiệm cận nhau thì không còn nhu cầu vay mượn ngoại tệ rõ ràng là điều không
dễ dàng Lộ trình chống đô la hoá sẽ kéo dài đến năm 2020, nhưng hiện Chính Phủ
đã thực hiện thông qua việc tăng dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi ngoại tệ và đưa radanh mục không được phép cho vay ngoại tệ, giảm lãi suất huy động tiền gửi bằngngoại tệ đối với cá nhân và doanh nghiệp Theo mục tiêu đề ra, đến năm 2017-2018
sẽ không còn tiền gửi ngoại tệ và cho vay ngoại tệ trong hệ thống ngân hàng thươngmại
Hình 3: Các cân tài chính Việt Nam (tỷ USD) 2013-2015
Trang 15Hình 4: Diễn Biến lạm phát 2013-2015
2.1.2 Giai đoạn 2016-2017
Năm 2016
Bước sang năm 2016, sau khi trải qua năm 2015 đầy biến động khi mà để duy trì
ổn định thị trường ngoại tệ, NHNN phải bán ra một số lượng ngoại tệ đáng kể để canthiệp vào thị trường, thị trường ngoại hối năm 2016 của Việt Nam nhìn chung là khá ổnđịnh, bất chấp bối cảnh thị trường thế giới tiềm ẩn nhiều rủi ro với sự gia tăng
17
Trang 16các yếu tố bất định từ các sự kiện địa chính trị xảy ra bất ngờ như việc nước Anh bỏphiếu rời EU (Brexit), kết quả bầu cử Tổng thống Mỹ cũng như việc Thủ tướng Ýtuyên bố từ chức sau trưng cầu dân ý thất bại, thêm vào đó là kỳ vọng Fed tăng lãisuất thúc đẩy luồng vốn rút khỏi các thị trường mới nổi, tỷ giá các đồng tiền liên tụcbiến động Chính sách thông báo tỷ giá trung tâm hàng ngày của NHNN bước đầuphát huy tác dụng, góp phần ổn định thị trường ngoại tệ, giảm tâm lý đầu cơ của cácnhà đầu tư.
Như vậy, thay vì trước đây tỷ giá USD/VNĐ được điều chỉnh dựa trên sự biếnđộng và áp lực cung cầu của đồng USD trên thị trường thì giờ đây NHNN đã dựavào 8 đồng tiền của các nước có quan hệ thương mại, vay, trả nợ và đầu tư lớn vàothị trường Việt Nam để làm cơ sở, cụ thể là các đồng USD, EUR, nhân dân tệ, yênnhật, đô la Singapore, đồng Won, đô la Đài Loan và đồng bath Thái Về biên độgiao dịch thì NHNN vẫn nhất quán duy trì ở tỷ lệ 3% vốn được điều chỉnh tăng từ2% lên từ ngày 19/08/2015 cho đến nay
Với tỷ giá trung tâm được điều chỉnh linh hoạt mỗi buổi sáng trước giờ giaodịch đã giúp cho sự biến động hàng ngày không quá lớn và cũng không gây sốc chodoanh nghiệp, nhất là những doanh nghiệp có hoạt động kinh doanh sử dụng nhiềungoại tệ trong giao dịch thanh toán, vay mượn Ngoài ra, sự điều chỉnh linh hoạt ởđây là có tăng có giảm, tức đi theo xu hướng thị trường cũng như xu hướng tănggiảm của các ngoại tệ mạnh trên thế giới, thay vì chỉ đi theo mỗi chiều tăng lên nhưgiai đoạn trước đây
Qua chế độ tỷ giá này không chỉ ngăn chặn hoạt động đầu cơ “lướt sóng” mà
còn giúp ổn định thị trường ngoại hối và tăng cường giải pháp chống “đô la hóa”
nền kinh tế Về lâu dài, điều này sẽ giúp tăng vị thế của VND và tăng tính ổn địnhcủa thị trường ngoại hối
Vào cuối tháng 5 năm 2016, tỷ giá tại nhiều ngân hàng thương mại có dấuhiệu nóng lên do ảnh hưởng của tin đồn về khả năng cục Dự Trữ Liên Bang Mỹ(FED) sẽ tăng lãi suất vào tháng 6/2016 và ảnh hưởng từ sự giảm tốc của nền kinh
tế Trung Quốc làm đồng Nhân Dân tệ giảm đáng kể Bên cạnh đó, trên thị trườngViệt Nam, việc mua vào 7 tỷ USD để dự trữ của NHNN cũng góp phần làm giáđồng USD tăng lên
Trang 17Lãi suất liên ngân hàng vào tháng 5/2016 lại có những diễn biến trái chiều sovới tháng trước đó, có chiều hướng giảm sâu và giữ ở mức thấp liên tiếp trong nhiềutuần tiếp theo do các nguyên nhân sau: huy động vốn VNĐ tăng nhanh hơn tín dụngVND, NHNN đã bơm hơn 72.000 tỷ VND thông qua kênh ngoại hối.
Nhìn chung, trong 10 tháng đầu năm 2016, với những điều kiện thị trường trong
và ngoài nước có nhiều yếu tố thuận lợi hỗ trợ sự ổn định của tỷ giá và thị trường ngoại
tệ Tỷ giá trung tâm được NHNN điều chỉnh dao động từ 21.828 VND/USD đến21.946 VND/USD, dao động dưới mức ±0,5% Tỷ giá chỉ giảm nhẹ khoảng 0,1% sovới thời điểm cuối năm 2015 Tỷ giá giao dịch của các NHTM diễn biến linh hoạt trongbiên độ cho phép Thanh khoản ngoại tệ toàn hệ thống ngân hàng Việt Nam được cảithiện, lòng tin vào giá trị của đồng Việt Nam được củng cố
Sau 10 tháng tương đối ổn định, thị trường ngoại tệ Việt Nam trong 2 tháng cuốinăm 2016 chịu áp lực bởi nhiều yếu tố biến động từ trong nước và từ thị trường quốc
tế Trên thị trường tài chính quốc tế, đồng USD có xu hướng tăng giá từ đầu tháng 10
do kỳ vọng Fed tăng lãi suất, đặc biệt, USD tăng giá mạnh sau khi ông Donald Trumpđắc cử Tổng thống Mỹ với kế hoạch tăng chi tiêu ngân sách và thu hút đầu tư về Mỹ đểkích thích kinh tế trong nước, khiến lạm phát của Mỹ có thể tăng nhanh trong thời giantới và thúc đẩy Fed thắt chặt chính sách tiền tệ nhanh hơn nữa Chỉ trong 2 tuần sau kếtquả bầu cử tại Mỹ được công bố ngày 9/11, đồng USD tăng giá tới 3,7% kéo theo sựsụt giảm của hàng loạt đồng tiền các nước mới nổi Đà tăng giá của đồng USD còn tiếpdiễn sau khi Fed quyết định tăng lãi suất mục tiêu thêm 25 điểm phần trăm và phát tínhiệu về khả năng tăng lãi suất 3 lần trong năm 2017 thay cho 2 lần trong cuộc họptháng 11/2016 Trên thị trường trong nước, tình hình cung cầu ngoại tệ kém thuận lợihơn so với các tháng đầu năm theo quy luật mùa vụ Cán cân thương mại sau khi thặng
dư trong 9 tháng đầu năm thì từ tháng 10, đã chuyển sang nhập siêu phản ánh nhu cầungoại tệ phục vụ nhập khẩu tăng trong những tháng cuối năm Thêm vào đó là việcxuất hiện tin đồn thất thiệt về việc NHNN sắp đổi tiền khiến một bộ phận người dân đổ
đi mua đô-la Mỹ và vàng khiến tỷ giá trên thị trường tự do tăng mạnh, tác động tiêucực tới tâm lý thị trường
Những diễn biến phức tạp nói trên đã tạo ra áp lực mạnh lên tỷ giá VND/USD.Trong điều kiện đó tỷ giá tham chiếu trung tâm liên tục được NHNN điều chỉnh tăng
Trang 18dần Tính đến ngày 21/12/2016, NHNN đã điều chỉnh tỷ giá trung tâm lên mức22.154, tăng 1,21% so với đầu năm (UBGSTCQG, 2016) Điều này có thể đượcnhìn nhận như biện pháp điều chỉnh linh hoạt từ NHNN khi một số ngoại tệ chủchốt trên thế giới giảm giá mạnh so với USD, đặc biệt là đồng Nhân dân tệ (CNY)
và Bảng Anh (GBP) Đây cũng có thể coi là bước chuẩn bị cho việc tăng giá USD
do nhu cầu ngoại tệ có thể tăng trở lại đáp ứng nhu cầu thanh toán cuối năm và dựphòng cho khả năng FED tăng lãi suất vào tháng 12/2016
Bên cạnh điều chỉnh tỷ giá trung tâm linh hoạt phù hợp với diễn biến thị trườngtrong và ngoài nước, NHNN còn chủ động thực hiện đồng bộ các giải pháp để ổn địnhthị trường ngoại tệ Thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng, NHNN liên tụcphát đi thông điệp sẵn sàng bán ra USD để bình ổn thị trường, bác bỏ tin đồn không căn
cứ cũng như cảnh báo rủi ro đối với hoạt động đầu cơ tỷ giá để người dân và doanhnghiệp nắm được tình hình Đi cùng với truyền thông là các biện pháp cụ thể khẳngđịnh thực hiện cam kết đã đưa ra như việc NHNN niêm yết tỷ giá bán và bán ngoại tệ
hỗ trợ thanh khoản cho các TCTD với tỷ giá thấp hơn tỷ giá trần, qua đó giúp củng cốlòng tin của thị trường vào điều hành của NHNN Các công cụ chính sách tiền tệ cũngđược phối hợp đồng bộ, kịp thời nhằm giảm bớt áp lực trên thị trường ngoại tệ như mởrộng kỳ hạn phát hành tín phiếu NHNN và nâng nhẹ lãi suất phát hành để thu tiền đồng
về, giảm động lực đầu cơ ngoại tệ ngắn hạn trên thị trường trong khi vẫn tạo điều kiệngiảm lãi suất trên thị trường liên ngân hàng Bên cạnh đó, NHNN kịp thời ban hànhThông tư số 31/2016/TT-NHNN ngày 15/11/2016 về cho vay bằng ngoại tệ, trong đócho phép gia hạn các đối tượng được vay vốn bằng ngoại tệ tại Thông tư 24/2015/TT-NHNN và Thông tư 07/2016/TT-NHNN đến hết năm 2017 cũng là yếu tố thuận lợi cho
sự ổn định của thị trường và tỷ giá ở mức phù hợp
Nhờ các giải pháp điều hành đồng bộ nói trên của NHNN mà thị trường ngoại
tệ năm 2016 nhìn chung khá ổn định, bất chấp đồng USD có những biến động mạnh
so với các ngoại tệ khác trên thị trường tài chính thế giới Theo đánh giá củaUBGSTCQG, mặc dù tỷ giá có tăng theo xu hướng thế giới vào những tháng cuốinăm 2016, nhưng mức biến động thấp hơn so với các đồng tiền trong khu vực (xemHình A) và vẫn thấp hơn tỷ giá trần cho phép 50 đồng
Trang 19Hình 6: Mức giảm giá của các đồng tiền trong khu vực so với đồng USD, năm
2016
Đến cuối năm 2016, cả tỷ giá trung tâm và tỷ giá thị trường chỉ tăng 1,2% so vớicuối năm 2015 Đây là mức biến động khá ổn định nếu so với các ngoại tệ khác, cũngnhư trong bối cảnh đồng USD trên thế giới tăng giá mạnh mẽ Điều quan trọng là mặc
dù tỷ giá tăng nhưng thanh khoản thị trường vẫn đảm bảo, các giao dịch ngoại tệ trênthị trường vẫn diễn ra bình thường, không có tình trạng căng thẳng như tại một số thờiđiểm ở các năm trước do nguồn cung ngoại tệ dồi dào từ hoạt động kiều hối, đầu tưnước ngoài và hoạt động đầu cơ, găm giữ ngoại tệ đã giảm bớt đáng kể
Trang 20Hình 7: Tỷ giá USD/VND niêm yết sáng 31/12/2016
(Nguồn: Bloomberg, VCBS (trích dẫn từ: gia-tiep-tuc-chiu-suc-ep-lon-tu-the-gioi-trong-nam-2017-20161228173656749.htm)
http://dantri.com.vn/kinh-doanh/ty-Theo NHNN, tín dụng bằng đồng Việt Nam tăng 8,11% so với cuối năm 2015,tăng 22,95% so với cùng kỳ năm trước và chiếm 90,8% tổng tín dụng nền kinh tế.Trong khi đó tín dụng bằng ngoại tệ giảm 4,64% so với cuối năm 2015 Lý giải choviệc tín dụng bằng ngoại tệ sụt giảm, NHNN cho rằng xu hướng này cũng phù hợpvới điều kiện kinh tế vĩ mô và định hướng điều hành của NHNN khi hoạt động sảnxuất kinh doanh đang được cải thiện và chủ trương của Chính phủ về hạn chế tìnhtrạng đô la hóa…
Như vậy, với việc kiên định mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạmphát, phối hợp hài hòa, chặt chẽ trong điều hành giữa lãi suất, tỷ giá và được hỗ trợ
từ cách thức điều hành tỷ giá mới, thông tin tuyên truyền đầy đủ, tỷ giá và thịtrường ngoại tệ diễn biến ổn định, thanh khoản đảm bảo, các nhu cầu mua ngoại tệ
hợp pháp, hợp lý được đáp ứng đầy đủ, tình trạng đô la hóa tiếp tục được đẩy lùi,
dự trữ ngoại hối Nhà nước được củng cố Lầu tiên Việt Nam có 41 tỷ USD dự trữngoại hối, cao nhất từ trước đến thời điểm đó
Trang 21Hình 8: Dữ trự ngoại hối Việt Nam 2016
Năm 2017
Năm 2017, được nhiều chuyên gia trong nước và quốc tế đánh giá là năm thànhcông trong công tác quản lý ngoại hối, quản lý thị trường ngoại tệ và thị trường vàngcủa NHNN Trong năm, NHNN tiếp tục điều hành linh hoạt tỷ giá trung tâm; trongđiều kiện nguồn cung ngoại tệ dồi dào, điều chỉnh linh hoạt tỷ giá mua ngoại tệ phùhợp với diễn biến thị trường để mua ngoại tệ bổ sung dự trữ ngoại hối Nhà nước Đồngthời thực hiện linh hoạt các công cụ CSTT để duy trì chênh lệch lãi suất VND và USD
ở mức hợp lý, điều hành thanh khoản tiền đồng để vừa hỗ trợ ổn định tỷ giá khi cầnthiết, vừa hỗ trợ thực hiện mục tiêu ổn định lãi suất trên thị trường (huy động của cácngân hàng từ dân cư và tổ chức kinh tế) Theo đánh giá của Bloomberg, đồng Việt Nam
là một trong những đồng tiền ổn định nhất Châu Á Thanh khoản thị trường thông suốt,các nhu cầu ngoại tệ hợp pháp của nền kinh tế được đáp ứng đầy đủ, kịp thời, hệ thốngcác TCTD mua ròng ngoại tệ từ tổ chức, cá nhân với khối lượng lớn, từ đó có điều kiệnbán lại cho NHNN để bổ sung dự trữ ngoại hối Nhà nước
Trong những năm gần đó, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã tương đối thànhcông trong việc thực hiện mục tiêu ổn định tỷ giá Tính trung bình, VND chỉ mất giá
23
Trang 22khoảng 2%/năm trong năm 2017 so với USD trong giai đoạn 2012 - 2016 Theo lýthuyết, trong điều kiện lãi suất huy động VND hiện nay là 5%, còn trần lãi suất huyđộng USD theo quy định của NHNN là 0%, việc VND chỉ mất giá 2%/năm so vớiUSD sẽ khiến tình trạng đô la hoá giảm.
Trên thực tế, tình trạng đô la hoá cũng đã có xu hướng giảm trong giai đoạn
2012 - 2016 Tuy nhiên, theo Uỷ ban Giám sát Tài chính Quốc gia, tín dụng ngoại
tệ trong 6 tháng đầu năm 2017 đã tăng 7,3% so với cùng kỳ năm 2016, chiếm 8,3%tổng tín dụng Nguyên nhân chính dẫn đến thực trạng này là do khi rủi ro về tỷ giákhông lớn (đặc biệt là khi đồng USD giảm giá mạnh trong 6 tháng đầu năm 2017),còn lãi suất cho vay VND lại ở mức cao, nhu cầu vay và huy động USD sẽ có xuhướng gia tăng
Cụ thể, với mức lãi suất cho vay tháng 8/2017 là 7%, còn kỳ vọng VND mấtgiá so với USD chỉ khoảng 2%/năm, các doanh nghiệp sẽ có nhu cầu vay USD vớimức lãi suất từ 4-5%, và do vậy, các ngân hàng thương mại cũng sẽ có nhu cầu huyđộng USD từ nền kinh tế với mức lãi suất từ 1 - 2%
Trước thực trạng chênh lệch lãi suất VND và lãi suất USD nêu trên, một
số đề xuất cho rằng NHNN cần nâng lãi suất tiền gửi USD để huy động vốn USDvới lãi suất thấp
Tuy nhiên, TS Nguyễn Đức Độ, Viện Kinh tế Tài chính (Học viện Tài chính)cho rằng nếu lãi suất chỉ được nâng nhẹ lên mức 0,5% - 1%, nó sẽ không có tácđộng đáng kể tới việc huy động thêm vốn cho nền kinh tế, bởi các NHTM hiện vẫnđang huy động USD với lãi suất 2% Nhưng nếu nâng lãi suất huy động USD lênmức 2% hoặc cao hơn, thì với rủi ro tỷ giá là 2%/năm và chênh lệch lãi suất huyđộng và cho vay (NIM) là 3%, lãi suất cho vay VND sẽ khó có thể giảm xuống dướimức 7% hiện nay, và do vậy, chủ trương giảm lãi suất của Chính phủ sẽ khó đượcthực hiện Nói cách khác, yêu cầu hạ lãi suất VND và nâng lãi suất USD để tănghuy động vốn có thể mâu thuẫn nhau nếu không được tính toán kỹ lưỡng
Bởi vậy, một giải pháp khác cho thực trạng chênh lệch lãi suất giữa USD vàVND hiện nay là giảm lãi suất cho vay VND để từ đó giảm nhu cầu vay USD từ cácdoanh nghiệp cũng như nhu cầu huy động USD từ các ngân hàng Khi lãi suất chovay giảm xuống, chẳng hạn còn 6% thay cho 7% như trước đây, và NHNN tiếp tục
Trang 23ổn định tốc độ mất giá của VND so với USD ở mức khoảng 2%/năm, các doanhnghiệp sẽ chỉ có nhu cầu vay USD nếu lãi suất cho vay USD giảm xuống còn từ 3-4% và các NHTM sẽ chỉ có nhu cầu huy động USD ở mức lãi suất từ 0-1%.
Về lý thuyết, tình trạng găm giữ USD sẽ chủ yếu phụ thuộc vào tương quan lãisuất giữa VND và lãi suất USD, nên khi giảm đồng thời 1% đối với cả lãi suất VND vàlãi suất USD, sẽ không có tác động giảm tình trạng đô la hoá Tuy nhiên, trên thực tế
do việc nắm giữ USD phải chịu các chi phí liên quan đến mua/bán, chuyển đổi, thậmchí cả vấn đề pháp lý, nên khi mức lãi suất USD giảm về mặt tuyệt đối xuống còn 0%,động cơ nắm giữ USD và tình trạng đô la hóa nhiều khả năng sẽ giảm theo
Có thể thấy, trong suốt thời gian đó, NHNN đã thực hiện các giải pháp điềuhành tỷ giá linh hoạt trên cơ sở bám sát diễn biến thị trường trong nước và quốc tế,
có kết hợp đồng bộ với các công cụ chính sách tiền tệ khác, tỷ giá và thị trườngngoại tệ Chính vì vậy, từ năm 2016 đến nay về cơ bản diễn biến tỷ giá ổn định, Tỷgiá năm 2017 về cơ bản ổn định, tỷ giá USD/VND chỉ tăng 1,2% Đây là điểm sáng
để Việt Nam được nâng xếp hạng tín nhiệm bởi các tổ chức quốc tế Cùng với đó,thanh khoản thị trường ngoại tệ thông suốt Các nhu cầu ngoại tệ hợp pháp của nềnkinh tế được đáp ứng đầy đủ, kịp thời
Hệ thống các tổ chức tín dụng mua ròng ngoại tệ từ tổ chức, cá nhân với khốilượng lớn, từ đó có điều kiện bán lại cho Ngân hàng Nhà nước để bổ sung Mạnglưới hoạt động của các đại lý đổi ngoại tệ ngày càng được mở rộng nhằm thu hútlượng ngoại tệ trong dân cư vào hệ thống ngân hàng và là một trong những kênhquan trọng thu hút được nguồn ngoại tệ tiền mặt từ cá nhân là người nước ngoài đếnViệt Nam du lịch, thăm viếng… Tính đến thời điểm cuối năm 2017, số lượng đại lýđổi ngoại tệ đã tăng lên mức 538 đại lý, doanh số đổi ngoại tệ năm 2017 ước đạt tớikhoảng 245 triệu USD Đồng thời, tổng doanh số ngoại tệ tiền mặt TCTD mua từ cánhân trong năm 2017 ước đạt khoảng 3,3 tỷ USD cho thấy, xu hướng nắm giữ ngoại
tệ tiền mặt của người dân đã giảm mạnh
Như vậy, đi đôi với việc kiên định thực hiện chính sách ổn định kinh tế vĩ mô vàkiểm soát lạm phát ở mức hợp lý, tiếp tục điều hành linh hoạt tỷ giá trung tâm theo sátdiễn biến thị trường, trong năm 2017, NHNN đã chủ động thực hiện nhiều giải pháp vềquản lý ngoại hối được nêu ở phần trên để từng bước chuyển hóa nguồn lực