1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

tiểu luận tài chính quốc tế đặc điểm và chức năng của hệ thống tiền tệ quốc tế

26 93 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 180 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tổng quan về hệ thống tiền tệ quốc tế - Được hình thành trên cơ sở quan hệ thương mại – tài chính giữa các nước.. Cụ thể bao gồm:  Các chế độ tiền tệ và quy tắc xác định, điều tiết tỷ g

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Tiền tệ là một khái niệm hết sức quen thuộc trong xã hội hiện tại Nhắc đến tiền, người tathường nghĩ ngay đến tiền giấy, tiền ngân hàng và gần đây là tiền điện tử cũng đã trở thànhthuật ngữ không còn xa lạ ở mọi nơi trên thế giới Càng đi ngược về các nền kinh tế trong quákhứ, chúng ta càng phát hiện ra có nhiều dạng tiền tệ khác nhau Tiền đã từng là các kim loạiqúy như vàng, bạc, tồn tại dưới các dạng thỏi, nén hoặc đồng xu Thậm chí ở nhiều nơitrong các xã hội cổ xưa, bò, cừu, lụa thậm chí cả những chuỗi vỏ sò đã từng được sử dụng rấtphổ biến xưa kia thì nay không còn sử dụng nữa, nhiều loại tiền thì chỉ mới trở nên phổ biếntrong vài chục năm gần đây Tiền tệ xuất hiện khi có quan hệ trao đổi hàng hóa từ đó có thểhiểu quan hệ mậu dịch giữa các quốc gia dẫn đến hình thành nên hệ thống tiền tệ quốc tế.Như vậy thì hệ thống tiền tệ quốc tế là gì? Nó có đặc điểm và chức năng gì đối với nền kinh tếcủa mỗi quốc gia và các quốc gia trên thế giới? Bài tiểu luận của nhóm chúng em xin phép

được nghiên cứu và lựa chọn đề tài “Đặc điểm và chức năng của Hệ thống Tiền tệ quốc tế”

nhằm tìm ra lời giải đáp cho nhưng câu hỏi trên

Do hạn chế về kiến thức cũng như thời gian nghiên cứu, bài tiều luận của chúng em khôngtránh khỏi những thiếu sót, chúng em rất mong nhận được sự góp ý từ cô và các bạn quan tâmđến đề tài Chúng em xin chân thành cảm ơn

Trang 2

MỤC LỤC

I Đặc điểm của hệ thống tiền tệ quốc tế 4

1 Tổng quan về hệ thống tiền tệ quốc tế 4

1.1 Khái niệm 4

1.2 Hoạt động 4

2 Quá trình hình thành và phát triển 6

2.1 IMS trước chiến tranh thế chiến thứ II 6

2.2 IMS giai đoạn giữa hai cuộc chiến tranh thế giới 9

2.3 IMS sau đại chiến thế giới thứ II 10

II Chức năng của hệ thống tiền tệ quốc tế 19

1.Cung cấp các cơ sở để xác định tỷ giá hối đoái, tạo sự ổn định cho lưu thông ngoại hối 19 2 Mở rộng hệ thống thanh toán đa quốc gia 20

3 Tăng cường hợp tác, giúp đỡ, tạo ra các liên minh kinh tế vững mạnh 21

III Hoạt động và vai trò của một số tổ chức tài chính quốc tế có quan hệ với Việt Nam 23

1 Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) 23

2 Ngân hàng thế giới (World Bank) 24

3 Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) 26

Trang 3

NỘI DUNG

I Đặc điểm của hệ thống tiền tệ quốc tế

1 Tổng quan về hệ thống tiền tệ quốc tế

- Được hình thành trên cơ sở quan hệ thương mại – tài chính giữa các nước

- Là hệ thống bao gồm các chế độ tiền tệ, chế tài điều tiết quan hệ tài chính giữa các quốc gia

và các định chế tài chính quốc tế Cụ thể bao gồm:

 Các chế độ tiền tệ và quy tắc xác định, điều tiết tỷ giá giữa đồng tiền của các nước khác nhauvới nhau

 Các chế tài điều tiết các mối quan hệ và hoạt động tài chính quốc tế và các quốc gia

 Hệ thống thị trường tài chính quốc tế

Hệ thống tiền tệ quốc tế tập trung vào hai điểm đó là:

- Chọn loại hình tiền tệ làm đơn vị tiền tệ quốc tế Đơn vị tiền tệ chung là đơn vị thanh toán, đolường và dự trữ giá trị của một cộng đồng kinh tế Thông thường các nước sử dụng một đồngtiền mạnh của một quốc gia nào đó trong khối làm đồng tiền chung của khối Các đồng tiềnUSD, GBP… đã từng là các đồng tiền quốc tế trong một khoảng thời gian Tuy nhiên, sau này

do sự phát triển và hội nhập kinh tế, các liên minh kinh tế được hình thành hoàn toàn trên cơ

sở tự nguyện do vậy, không có một đồng tiền nào của quốc gia được chọn làm đồng tiền

Trang 4

Ngày 01/01/1999 Đồng tiền chung của châu Âu gọi là EURO đã ra đời với tỷ giá ngay tạingày ra đời là 1 EURO = 1,16675 USD

Tổ chức lưu thông tiền tệ: Chế độ tổ chức lưu thông tiền tệ trong các hệ thống tiền tệ quốc tếthông thường bao gồm những nội dung đặc trưng sau: - Xác định tỷ giá giữa đồng tiền chungvới các đồng tiền thàng viên của khối Có thể theo tỷ giá cố định hoặc tỷ giá thả nổi - Quyđịnh về lưu thông tiền mặt, thanh toán không dùng tiền mặt và lưu thông các giấy tờ có giákhác ghi bằng đồng tiền chung của cả khối - Quy định về tỷ lệ dự trữ ngoại hối: ấn định tỷtrọng giá trị của đồng tiền chung trong tổng dự trữ ngoại hối của các nước thành viên, củangân hàng thuộc khối  Tiền tệ quốc tế và hệ thống tiền tệ quốc tế là sản phẩm của các liênminh kinh tế Do vậy sự phát triển của hệ thống tiền tệ quốc tế phụ thuộc vào các liên minhkinh tế Tuy nhiên, các liên minh kinh tế thường không đứng vững trong một thời gian dài docác nguyên nhân khác nhau cho nên khi các liên minh kinh tế tan vỡ thì hệ thống tiền tệ quốc

tế cũng bị ảnh hưởng theo

Quá trình phát triển của hệ thống tiền tệ quốc tế: Hệ thống tiền tệ quốc tế đã hình thành từ

tự phát đến tự giác Ban đầu là tự phát thể hiện một đồng tiền của quốc gia nào đó tự nó cóđầy đủ các yếu tố trở thành tiền tệ quốc tế Dần dần hệ thống tiền tệ quốc tế được hình thànhmột cách tự giác trên cơ sở các quốc gia thỏa thuận, thống nhất với nhau thông qua đàm phán,

ký kết văn bản hoặc thừa nhận một đồng tiền của một quốc gia nào đó làm đơn vị tiền tệ quốc

tế Trong phần tiếp theo chúng ta sẽ xem kỹ hơn sự phát triển này

Trang 5

2 Quá trình hình thành và phát triển

2.1 IMS trước chiến tranh thế chiến thứ II

2.1.1 Chế độ bản vị hàng hoá – đơn và song bản vị

Bản vị tiền tệ là thứ được dùng làm cơ sở định giá đồng tiền quốc gia

Bản vị vàng hay kim bản vị là chế độ tiền tệ mà phương tiện tính toán kinh tế tiêu chuẩn

được ấn định bằng hàm lượng vàng Dưới chế độ bản vị vàng, tổ chức phát hành tiền mặt (ởdạng giấy bạc hay tiền xu) cam kết sẵn sàng nhận lại tiền mặt và trả vàng nếu được yêu cầu

- Chế độ bản vị hàng hóa: Kể từ thời cổ cho đến thời cận đại, thương mại quốc tế hoạt động

trên cơ sở “bản vị hàng hóa”, trong đó kim loại là hàng hóa (chủ yếu là vàng và bạc) được đúcthành những khối với chức năng làm phương tiện trao đổi và lưu thông trong nền kinh tế.Trong lịch sử, vàng và bạc luôn là hai kim loại được ưa chuộng đặc biệt hơn hẳn các kim loạikhác, bởi vì những đặc tính của chúng luôn đáp ứng những điều mà đồng tiền hàng hóa yêucầu: sự khan hiếm, tính bền, có thể chuyên chở, dễ phân chia, đồng chất và chất lượng đượcduy trì lâu bền Sự chấp nhận vàng và bạc là tiền còn được củng cố từ một thực tế là các kimloại này được sử dụng rộng rãi và có giá trị sử dụng phi tiền tệ trong các ngành công nghiệphoặc trang sức

Sự ra đời của tiền đúc “thiếu giá” (1540 – 1560): Ở dạng tinh khiết, bản vị hàng hóa kim loạihoạt động dựa trên cơ sở giá trị đầy đủ của đồng xu, nghĩa là giá trị tiền tệ của chúng cũngchính là giá trị kim loại của các đồng xu Điều này có nghĩa là khi giá vàng thay đổi so với giábạc sẽ làm tỷ lệ trao đổi giữa các đồng xu vàng và bạc thay đổi theo

Mặc dù tiền xu đúc mang theo nhãn hiệu riêng của từng quốc gia làm bằng chứng đảm bảo vềnội dung và chất lượng kim loại, nhưng trong thực tế các quốc gia thường đúc những đồng xubằng hỗn hợp kim loại là vàng và bạc với các kim loại khác có giá trị thấp hơn Các quốc giangày càng thường xuyên giảm tỷ trọng của vàng (hay bạc) trong các đồng xu; hành động nàygọi là bào mòn giá trị thực tế tiền xu Điều này làm mất giá trị dần trong lưu thông, nên hànhđộng này được xem là tiền thân của phá giá thời hiện đại

Với lý do này, những ai đang nắm giữ cả hai đồng tiền sẽ ưu tiên dùng đồng tiền bị bào mòn(thiếu giá trị) để thanh toán trước còn đồng tiền có giá trị đầy đủ thì ưu tiên làm phương tiệncất trữ Hơn nữa những đồng tiền có giá trị đầy đủ có thể được nấu chảy để bán kim loại

Trang 6

trị thấp hơn Kết quả là chỉ đồng tiền bị bào mòn được định giá cao tồn tại trong lưu thôngcòn đồng tiền có giá trị đầy đủ (được định giá thấp) bị biến mất khỏi lưu thông.

Điều này đã thuyết phục Nữ hoàng Anh đi đến quyết định thay thế toàn bộ các đồng tiền đã bịbào mòn bằng cách đúc các đồng tiền khác đầy đủ giá trị

Như vậy Chế độ bản vị hàng hóa có ưu và nhược điểm như sau:

Ưu điểm:

- Thúc đẩy thương mại quốc tế diễn ra nhanh chóng

- Trong lưu thông hàng hoá, việc sử dụng chế độ song bản vị có nhiều tiến bộ hơn so với thời

kỳ nền kinh tế đổi chác hiện vật

Nhược điểm

- Khó kiểm soát được chất lượng thực sự đồng tiền của mỗi quốc gia

- Hai bản vị kim loại có sự khác biệt trong việc ấn định tỷ giá giữa các nước khó tránh khỏiquy luật Gresham

- Chế độ song bản vị ở Mỹ (1792–1861): Luật đúc tiền năm 1792 đã thông qua đồng đô la là

đơn vị tiền tệ của Mỹ có giá trị cố định của vàng so với bạc Như vậy ở Mỹ chính thức hìnhthành chế độ đồng bản vị, với giá trị của đô la được ấn định bằng 24,75 grains vàng hoặc371,25 grains bạc Điều này hàm ý, tỷ lệ trao đổi giữa vàng và bạc là 15/1

Tuy nhiên càng về cuối thế kỷ 18 thì giá bạc trên thị trường bắt đầu giảm Ngoài ra ở cácnước khác, ví dụ như Pháp, hình thành chế độ đồng bản vị với tỷ lệ 15,5/1, điều này kíchthích luồng bạc chạy vào và luồng vàng chạy ra khỏi nước Mỹ Vàng từ từ biến ra khỏi lưuthông ở Mỹ, do đó xét về mặt danh nghĩa thì Mỹ vẫn áp dụng chế độ đồng bản vị nhưng thực

tế đã nhường chỗ cho chế độ đơn bản vị bạc

Sự sụp đổ của chế độ song bản vị (1861): Chế độ đơn bản vị bạc ở Mỹ tồn tại đến năm 1834khi Quốc hội Mỹ quyết định tăng giá vàng làm tỷ giá vàng/bạc thành 16/1 trong khi ở nướcngoài là 15,5/1 Như vậy Vàng định giá quá cao và bạc định giá quá thấp Một lần nữa nước

Mỹ chỉ còn chế độ đơn bản vị kim loại đó là vàng

Trang 7

2.1.2 Chế độ bản vị vàng 1880-1914

Thời kỳ hoàng kim của chế độ bản vị vàng (1880 – 1914): chế độ bản vị vàng giữa các năm1880-1914 thường được nhìn nhận như một hệ thống hoạt động một cách ổn định và hợp tácgiữa các nước trong các khu vực và trên thế giới

Đặc trưng và các nguyên tắc cơ bản của chế độ bản vị vàng:

1 Gắn giá trị của đồng tiền với vàng Dưới chế độ bản vị vàng, quốc gia ấn định cố định giátrị đồng tiền của mình với vàng hay nói cách khác, chính phủ ấn định cố định giá vàng tínhbằng tiền quốc gia, đồng thời sẵn sàng không hạn chế mua và bán vàng tại mức giá đã quyđịnh Ví dụ, trong trường hợp của Mỹ, giá của một troy ounce vàng nguyên chất 480 grains là20,67 USD, do đó, sở đúc tiền của Mỹ sẵn sàng và không hạn chế mua vàng và bán vàng ra ởmức giá này Bản vị vàng giữa hai đồng tiền trở thành tỷ lệ trao đổi giữa chúng, tức tỷ giá hốiđoái Ví dụ 1 ounce vàng nguyên chất ở Anh có giá 4,24 GBP và Mỹ giá 20,67 USD, như vậy

tỷ giá hối đoái sẽ là 20,67/4,67 = 4,87

2 Tự do đúc tiền vàng đủ giá Các quốc gia có thể do đúc ra các loại tiền vàng ở mọi mệnhgiá mong muốn để phục vụ nhu cầu của người dân và chính phủ

3 Tự do xuất nhập khẩu vàng: Dưới chế độ bản vị vàng, xuất khẩu và nhập khẩu vàng được

tự do hoạt động Do vàng được chu chuyển tự do giữa các quốc gia, nên tỷ giá trao đổi trên thịtrường tự do không biến động đáng kể so với bản vị vàng Ví dụ giữa đô la và bảng Anh, giả

sử tỷ giá thị trường tự do là 5 USD/GBP có độ chênh lệch đáng kể so với bản vị vàng là 4,87USD/GBP

4 Dự trữ vàng với quy mô đủ lớn là yêu cầu để bảo đảm sức mua đồng tiền – money backs togold Dưới chế độ bản vị vàng, NHTW luôn phải duy trì một lượng vàng dữ trữ trong mốiquan hệ trực tiếp với số tiền phát hành Số vàng dự trữ này cho phép NHTW xử lý uyểnchuyển việc chuyển đổi tiền ra vàng mà không gặp bất cứ trở ngại nào, hay nói cách khác,tiền do NHTW phát hành được bảo đảm bằng vàng 100% và tiền được chuyển đổi tự dokhông hạn chế ra vàng Quy tắc đảm bảo bằng vàng buộc NHTW khi mở rộng cung ứng tiềncho nền kinh tế phải tuân thủ kỷ luật” chỉ phát hành tiền khi có luồng vàng từ công chúngchảy vào NHTW” Kết quả là, khả năng thay đổi cung ứng tiền chính là sự thay đổi lượngvàng trong tay những người cư trú Lượng vàng có sẵn được xác định bằng khối lượng vàngđược sản xuất ra (đây là lượng vàng do ngành khai khoáng nội địa cung ứng, một phần đượcbán trực tiếp cho công chúng sử dụng, phần còn lại bán cho chính phủ) Ngoài ra, khi cán cânthanh toán quốc tế thặng dư, sẽ có một luồng vàng ròng chảy vào trong nước, do dó làm chocung tiền trong nước tăng

Trang 8

Có thể nói ưu điểm lớn nhất của chế độ bản vị vàng là giúp các hoạt động kinh tế, tài chính(gắn với tiền tệ) được diễn ra một cách dễ dàng và chính xác hơn rất nhiều Tuy nhiên giữacác nước có thực sự tuân thủ nghiêm ngặt những quy tắc của chế độ bản vị vàng hay không?Chế độ này có thực sự lý tưởng như những gì các nước thời kỳ này đang nghĩ Câu trả lời làkhông Ở một số quốc gia chế độ này bắt đầu bị biến thể khi quy tắc về mối quan hệ giữ dựtrữ vàng và khối lượng tiền phát hành không được áp dụng một cách nghiêm ngặt Và điềunày là nguyên nhân chính dẫn đến sự dần sụp đổ của chế độ này.

Chúng ta có thể nhận xét ưu điểm và nhược điểm của chế độ bản vị vàng 1890-1914 như sau:

Ưu điểm:

• Giúp cho thương mại quốc tế phát triển hưng thịnh

• Khuyến khích đầu tư và gia tăng phúc lợi thế giới

Nhược điểm:

• Nền kinh tế phải trải qua sự bất ổn thường xuyên

• Cung ứng tiền tệ ở các quốc gia bị ảnh hưởng lớn bởi khả năng cung ứng vàng củamỗi nước

Trang 9

2.2 IMS giai đoạn giữa hai cuộc chiến tranh thế giới

Năm 1914, đại chiến xảy ra Các nước bắt buộc sử dụng chế độ thả nổi Mỹ tham gia chậmhơn nên có lạm phát thấp hơn các nước Châu Âu, làm tăng sức cạnh tranh thương mại của

Mỹ, do vậy lượng vàng đổ vào Mỹ nên dự trữ vàng của Mỹ tăng lên nhanh chóng

Sau cuộc chiến, các nước Châu Âu tiếp tục thả nổi đồng tiền và hầu hết các đồng tiền đã bịphá giá đáng kể so với đô la Ngược lại với các nước có tỷ lệ lạm phát cao tiến hành ấn địnhlại giá vàng ở mức cao hơn so với chiến tranh phù hợp với tỷ lệ lạm phát hàng hóa, thì nướcAnh lại chọn phương án thiểu phát trong những năm đầu 1920s và vào năm 1925 nước Anh

đã ấn định bản vị vàng ở mức giống như trước khi chiến tranh xảy ra (1913)

Điều này có ý nghĩa là, hầu hết các đồng tiền đều phá giá so với đô la, trong khi đó tỷ giáGBP/USD được duy trì không thay đổi so với trước chiến tranh là 4.8065USD/GBP Việc ấnđịnh tỷ giá này đã làm hồi sinh chế độ bản vị vàng, tuy nhiên sau năm 1925 giá cả hàng hóa ởAnh không giảm xuống như trước chiến tranh, do đó việc ấn định này làm bảng Anh định giáquá cao Hơn nữa, đây là chế độ bản vị hối đoái vàng khi rất nhiều NHTW đã thay đổi cơ cấu

dự trữ quốc tế chuyển từ vàng sang ngoại tệ Sự dịch chuyển này một phần là do thương mại

và đầu tư quốc tế của Mỹ tăng và đô la ngày càng được sử dụng nhiều trong giao dịch quốc tế

Sự quay trở lại chế độ bản vị vàng không kéo dài được lâu Cuộc Đại suy thoái kinh tế vàonăm 1929 đã làm sụp đổ hệ thống ngân hàng trên thế giới và làm tan biến mọi lòng tin và khảnăng các quốc gia tiếp tục duy trì việc chuyển đổi các đồng tiền ra vàng Gánh nặng đè lênnước Anh và một cuộc hỗn loạn đã xảy ra vào ngày 21/09/1931, buộc nước Anh và các nướckhác phải từ bỏ chế độ tỷ giá cố định và việc chuyển đổi đồng tiền của nước mình sang vàng,tiếp sau là Mỹ vào năm 1933 Kết quả là sự sụp đổ của hệ thống tài chính và thương mại quốc

tế đã để lại một vết hằn sâu sắc cho thế hệ tiếp theo

Trang 10

2.3 IMS sau đại chiến thế giới thứ II

2.3.1 Hệ thống Bretton Woods (BWS)

 Sự ra đời của hệ thống tiền tệ Bretton Woods (1944)

Ra đời vào năm 1944 và kết thúc vào năm 1971 Vào năm 1944, một hội nghị quốc tế đượcnhóm họp tại Bretton Woods (Mỹ) với sự tham gia của 44 quốc gia đã đưa ra một loạt cácbiện pháp liên quan đến lĩnh vực tài chính tiền tệ của thế giới, dân đến sự hình thành của hệthống Bretton Woods (hay chế độ bản vị USD) Cơ quan trung tâm của hệ thống tiền tệ này làQuỹ tiền tệ quốc tế (IMF)

 Đặc trưng và hoạt động của hệ thống tiền tệ Bretton Woods 1944

o Hệ thống chế độ tỷ giá cố định nhưng có thể điều chỉnh chế độ bản vị đồng USD

Chế độ tỷ giá hối đoái cố định được xây dựng quanh đồng đô la Mỹ gắn với vàng Đồng đô lađổi ra vàng ở mức 35 USD một ounce

Dưới hệ thống Bretton Woods, các ngân hàng trung ương của các nước trừ Hoa Kỳ phải cónhiệm vụ duy trì tỷ giá hoái đoái cố định giữa các đồng tiền của họ với đồng đô la

Các quốc gia phải cam kết theo đuổi chính sách kinh tế và tiền tệ để có trách nhiệm giữ tỷ giáhối đoái giao động ±1% so với giá trị ngang giá đã được thỏa thuận bằng cách mua hoặc bánngoại hối khi cần thiết Chỉ với những quốc gia có tình trạng mất cân đối nghiêm trọng mới cóthể được thay đổi ngang giá cho đồng tiền của họ Và khi các quốc gia phá giá hoặc nâng giátiền tệ >5% phải có sự đồng ý trước của IMF

Nếu đồng tiền của một nước quá cao so với đồng đôla thì ngân hàng trung ương của nước đócần phải bán tiền của mình để đổi lấy đôla , đẩy giá trị của đồng tiền đó xuống Ngược lại, nếugiá trị đồng tiền của một nước quá thấp thì nước đó cần phải mua vào tiền của chính mình, dovậy sẽ đẩy giá của đồng tiền đó lên

Tuy các mức ngang giá chính thức giữa các đồng tiền với đồng đôla và từ đó với vàng phảiđược cố định nhưng thỏa thuận của BWS cũng quy định cho phép thay đổi các mức ngang giá(bằng cách phá giá, hoặc nâng giá đồng tiền) trong và chỉ trong trường hợp thanh toán quốc tế

bị mất cân đối nghiêm trọng Chính vì vậy mà hệ thống chế độ tỷ giá cố định nhưng có thểđiều chỉnh các mức ngang giá chính thức

o Hình thành hai tổ chức quốc tế mới là Quỹ tiền tệ Quốc tế IMF và Ngân hàng Tái thiết vàPhát triển Quốc tế (IBRD)

Trang 11

2.3.2.Hệ thống tiền tệ hậu Bretton – Woods

i Sự ra đời của quyền rút vốn đặc biệt SDR

Thương mại quốc tế phát triển mạnh mẽ, tốc độ tăng trưởng thương mại quốc tế vượt qua tốc

độ tăng dự trữ quốc tế Mặt khác, dự trữ quốc tế phụ thuộc quá nhiều vào mức độ thâm hụtcán cân thanh toán của Mỹ Điều này làm dấy lên mối lo ngại tăng trưởng kinh tế quốc tế cóthể bị kìm hãm Nhận thấy nguy cơ này, các nước thành viên của IMF đã họp và năm 1967đưa ra bản “Sửa đổi lần Thứ nhất các điều khoản của IMF” Cụ thể nội dung sửa đổi là traoquyền cho IMF thiết lập tài khoản rút vốn đặc biệt để bổ sung vào hạn mức tín dụng của IMF.Đến năm 1969, Quyền rút vốn đặc biệt - Special Drawing Right-SDR chính thức ra đời

a Khái niệm

Quyền rút vốn đặc biệt - Special Drawing Right-SDR

- Là một tài sản dự trữ quốc tế được tạo ra bởi IMF, để bổ sung tài sản dự trữ cho các thànhviên Mỗi thành viên của IMF được phân bổ một số lượng SDR nhất định và tỷ lệ thuận vớihạn mức tín dụng tại IMF

- Là phương tiện thanh toán giữa NHTW và IMF, các quốc gia có thể rút SDR trong hạn mứccho phép vào bất cứ thời điểm nào khi cán cân thanh toán gặp khó khan hoặc có nhu cầu bổsung vào nguồn dự trữ của mình

Tính đến ngày 01/10/2016 , giá trị của SDR dựa trên rổ 5 đồng tiền chính – đôla Mỹ (USD),Euro (EUR), nhân dân tệ (RMB), yên Nhật (JPY) và đồng bảng Anh (GBP) Cụ thể, tỷ trọngtương đương của USD, EUR, RMB, JPY, GBP lần lượt là 41.73%, 30.93%, 10.92%, 8.33%

và 8.09%

Trang 12

c Vị trí hiện tại

Ngày nay SDR ít được sử dụng như một tài sản dự trữ, mà chức năng chính của nó là sử dụngnhư một tài khoản tại IMF của các nước thành viên và một số tổ chức quốc tế khác, sử dụngnhư một đơn vị tính toán Quốc gia nắm giữ SDR có thể đổi ra các đồng tiền khác theo haicách:

- Thông qua thoả thuận trao đổi tiền với các nước thành viên khác

- Thông qua một thành viên được chỉ định, có điạ vị đối ngoại cao để trao đổi với một thànhviên khác có vị thế yếu hơn

Ngoài ra, trong thương mại quốc tế, việc sử dụng SDR chỉ mang tính chất tính toán

Ví dụ: năm 2009 WB đã thông qua khoản tín dụng trị giá 235,2 triệu Quyền rút vốn đặc biệt(SDR) tương đương khoảng 350 triệu USD cho Chương trình Hỗ trợ xóa đói giảm nghèo(PRSC) ở Việt Nam

ii Hội nghị Jamaica 1976

a Bối cảnh

Từ khi hệ thống Bretton – Woods chính thức sụp đổ năm 1973, các quốc gia chủ yếu theo chế

độ tỷ giá thả nổi, tuy nhiên, chế độ này chưa có được sự thừa nhận quốc tế chính thức

Vào tháng 1/1976, tại Kingston, Jamaica, các nước thành viên đã chính thức công bố hợppháp hóa hoạt động cho chế độ tỷ giá thả nổi Hệ thống Gia-mai-ca chính thức ra đời từ Hộinghị quốc tế của IMF tại Gia-mai-ca Hội nghị đề ra mục tiêu tăng cường vị thế của SDR vàcông bố SDR trở thành tài sản dự trữ chính thức

- Áp dụng chế độ tỷ giá thả nổi có quản lí của Chính phủ các nước, dưới sự giám sát và hỗ trợcủa IMF Có nghĩa các quốc gia có quyền tự lựa chọn chế độ tỷ giá mà mình cho là phù hợp

Trang 13

nhưng đặt dưới sự giám sát và hỗ trợ của IMF Tuy nhiên IMF không được trao quyền trừngphạt những quốc gia vi phạm.

- Cho phép các nước được liên kết để thành lập hệ thống tiền tệ khu vực, nhằm thúc đẩy pháttriển thương mại quốc tế

- Đơn vị thanh toán chính thức giữa IMF và các nước thành viên là SDR Tuy nhiên, trongthanh toán và giao dịch quốc tế giữa các nước, đồng USD vẫn giữ vai trò chủ chốt Giá trịđồng SDR được xác định 5 năm một lần dựa trên giá trị tiền tệ của nhóm 5 nước

Hệ thống Gia-mai-ca chính thức đánh dấu sự kết thúc của hệ thống Bretton – Woods, hoạtđộng được hơn 30 năm, nhiều lần cải tiến và có tác dụng khá tốt Tuy nhiên, trong giai đoạnnày, các quốc gia vẫn giữ dự trữ bằng vàng, USD hoặc SDR, ngoài ra một số đồng tiền nhưEURO, Yên Nhật, Bảng Anh trở thành những ngoại tệ mạnh trên thế giới Do mỗi quốc gia cóquyền tự chọn một chế độ tỷ giá thích hợp nhằm đạt được lợi ích cao nhất mà mỗi một chế độ

tỷ giá lại có những ưu, nhược điểm khác nhau nên không tránh khỏi những mất cân bằng cáncân thanh toán do sự thay đổi của tỷ giá

iii Đồng USD hùng mạnh trong những năm 1980-1985

Từ tháng 1/1980 đến 3/1985, USD không ngừng tăng giá, tăng gần 50%

Nguyên nhân do Mỹ áp dụng chính sách tiền tệ thắt chặt, nhưng nới lỏng chính sách tài khóa,kết quả là thâm hụt ngân sách Trong khi châu Âu lại thắt chặt chính sách tiền tệ và tài khóadẫn đến lãi suất của Mỹ cao hơn châu Âu Do đó, luồng vốn đổ vào để tài trợ làm cho cángcân vãng lai của Mỹ trở nên xấu đi

iv Hiệp định Plaza và Thỏa ước Louvre

Ngày 22/9/1985 hiệp định Plaza được bộ trưởng tài chính của nhóm G5 gồm Mỹ, NhậtBản, Đức, Anh và Pháp ký kết tại khách sạn Plaza, thành phố New York, Mỹ Mục đích củahiệp định là làm cho đồng USD mất giá một cách có kiểm soát so với các đồng tiền khác.Theo hiệp định này, các nước đã cam kết “hợp tác với nhau chặt chẽ hơn nữa để USD tiếp tụcgiảm giá” Để thực hiện cam kết này, các nước đã tiến hành mua vào mác Đức(DEM), yênNhật(JPY) và bán ra USD Trong vòng hai năm kể từ khi Thỏa thuận này có hiệu lực, tỷ giáhối đoái giữa USD và JPY đã giảm tới 51%

Tuy nhiên, việc USD giảm giá quá nhanh dẫn đến những lo ngại về nguy cơ sụp đổ của đồngUSD Điều này dẫn đến ngày 22/02/1987 Thỏa ước Louvre tại bảo tàngLouvre, Paris, Pháp bởi nhóm G6 khi đó gồm Anh, Canada, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Pháp và Tây

Ngày đăng: 27/07/2020, 06:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w