Hệ thống tiền tệ quốc tế hình thành trên cơ sở mối quan hệ thương mại – tàichính giữa các quốc gia, là chế độ tổ chức lưu thông tiền tệ được thể hiện bằngnhững thỏa ước và những quy
Trang 1MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 2
DANH MỤC BẢNG BIỂU 3
DANH MỤC HÌNH ẢNH 3
MỞ ĐẦU 4
PHẦN 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 5
PHẦN 2: SỰ TIẾN TRIỂN CỦA CÁC HỆ THỐNG 7
TIỀN TỆ QUỐC TẾ 7
I Chế độ song bản vị (1792 - 1870s) 7
1 Những đặc điểm chính trong cơ chế hoạt động 7
2 Ưu – nhược điểm của chế độ song bản vị: 7
3 Sự sụp đổ - nguyên nhân của sự sụp đổ: 8
II Bản vị vàng (1876-1914): 9
1 Hoàn cảnh ra đời: 9
2 Những đặc điểm chính trong cơ chế hoạt động 9
3 Ưu – nhược điểm của chế độ bản vị vàng: 10
4 Sự sụp đổ - nguyên nhân sụp đổ: của chế độ Bản vị vàng: 14
III Hệ thống tiền tệ quốc tế giữa hai cuộc đại chiến thế giới 16
IV Hệ thống Bretton Woods (1945 - 1971) 19
1 Hoàn cảnh ra đời 19
2 Những đặc điểm chính trong cơ chế hoạt động của BWS 19
3 Những mặt tích cực và tiêu cực của Bretton Woods 22
4 Sơ lược lịch sử BWS - Sự sụp đổ của BWS 28
Trang 2V Hậu Bretton Woods (từ 1971 trở đi): 31
* Thỏa thuận Smithsonian (1971): 31
*Cú shock dầu mỏ 1973: 32
*“Snake in the tunnel”: 33
*Hiệp ước Jamaica (1976): 34
*Hiệp ước Plaza (1985): 35
*Hệ thống tiền tệ châu Âu (1979) - (EMS) 36
*Hệ thống tiền tệ hiện hành: 37
KẾT LUẬN 42
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 43
BẢNG PHÂN CÔNG CÔNG VIỆC 44
Trang 3DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BP, BOP Balance of Payments Cán cân thanh toán quốc tế
ECU European Currency Unit Đơn vị tiền tệ chung Châu ÂuEEC European Economic Community Cộng đồng kinh tế Châu ÂUEMS European Monetary System Hệ thóng tiền tệ Châu ÂuEPU Exchange rate Mechanism Cơ chế tỷ giá
ERM European Exchange rate
IMF International Monetary Fund Quỹ tiền tệ quốc tế
IMS International Monetary System Hệ thống tiền tệ quốc tế
OECD Organization for Economic
Co-operation and Development
Tổ chức hợp tác và phát triểnkinh tế
OEEC Organization for European
Trang 4DANH MỤC BẢNG BIỂU DANH MỤC HÌNH ẢNH
Trang 5MỞ ĐẦU
Việc nghiên cứu hệ thống tiền tệ quốc tế giúp chúng ta hiểu rõ hơn phần nàomôi trường tài chính quốc tế - một điều kiện không thể thiếu để thực hiện vàphát triển quan hệ kinh tế quốc tế Từ chính lý do đó, bọn em đã quyết địnhnghiên cứu đề tài “ Sự tiến triển của các hệ thống tiền tệ quốc tế”, nhằm đưa ranhững nhận định khách quan và tổng hợp nhất có thể để giải thích quá trình hìnhthành, phát triển và đặc biệt là lí do sụp đổ của các hệ thống tiền tệ trong quákhứ, từ dó lí giải được sự hình thành và cơ chế của hệ thống tiền tệ quốc tế ngàynay
Bố cục của bài tiểu luận gồm 3 phần:
Phần 1: Cơ sở lý thuyết
Phần 2: Sự tiến triển của các hệ thống tiền tệ quốc tế
I Chế độ song bản vị (1792 - 1870s)
II Chế độ bản vị vàng (1876-1914)
III Hệ thống tiền tệ quốc tế giữa hai cuộc đại chiến thế giới (1914 1945)
-IV Hệ thống Bretton Woods (1945 - 1971)
V Hậu Bretton Woods (1971 trở đi)
Phần 3: Kết luận
Vì khả năng nghiên cứu trong thời gian được cho phép còn hạn chế, bài tiểuluận của chúng em còn có thể có nhiều thiếu sót Chúng em mong nhận được sựgóp ý và giúp đỡ từ phía cô giáo
Chúng em xin chân thành cảm ơn cô
Trang 7PHẦN 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾTHệ thống tiền tệ quốc tế (The International Monetary System - viết tắt là
IMS) là hệ thống các tập quán, quy tắc, thủ tục và các tổ chức điều hành cácquan hệ tài chính - tiền tệ giữa các nước thành viên
Hệ thống tiền tệ quốc tế hình thành trên cơ sở mối quan hệ thương mại – tàichính giữa các quốc gia, là chế độ tổ chức lưu thông tiền tệ được thể hiện bằngnhững thỏa ước và những quy định giữa các quốc gia nhằm bảo đảm thực hiệncác giao dịch thanh toán quốc tế, với nội dung quy định đơn vị tiền tệ chungđược sử dụng trong thanh toán giữa các quốc gia và xác định tỷ giá hối đoái giữacác quốc gia
Tỷ giá hối đoái (Foreign Exchange Rate) là giá cả của một đơn vị tiền tệ
của một quốc gia tính bằng tiền tệ của một quốc gia khác Nói cách khác tỷ giáhối đoái chính là tỷ lệ so sánh giữa hai đồng tiền của hai quốc gia khác nhau
Tỷ giá cố định: là tỷ giá hối đoái mà được giữ cố định trong một thời gian
dài với biên độ dao động nhỏ ở mức cho phép Các nước sử dụng: Trung Quốc,Kenya, Angola
Tỷ giá thả nổi hoàn toàn: Còn được gọi là tỷ giá linh hoạt bị chi phối bởi
cung cầu ngoại tệ và chính phủ không can thiệp vào điều tiết tỷ giá này Giá trịđồng nội tệ đối với đồng ngoại tệ được xác định tại điểm mà cung cầu bằngnhau Khi nhập khẩu tăng sẽ làm giảm cung ngoại tệ, đồng tiền ngoại tệ tăng giátheo và ngược lại Các nước theo đuổi: Mỹ, Úc, Canada, Chile, Nhật Bản,Mexico
Tỷ giá thả nổi có điều tiết: Đây là chế độ chính phủ tự do lựa chọn các cách
kiểm soát ổn định tỷ giá mà không mất đi tính độc lập về tiền tệ Dưới hình thứcnày tỷ giá được xét nằm giữa hai chế độ thả nổi và cố định Các nước sử dụng:Hungary, Iceland, Hàn Quốc…
Trang 8Liên minh tiền tệ: Được hiểu là sự hình thành một hệ thống tiền tệ chung,
bao gồm cả việc thành lập một ngân hàng, một đồng tiền chung và cùng thực thimột chính sách tiền tệ- tín dụng và chính sách ngoại hối chung
Tiêu chuẩn để đánh giá một hệ thống tiền tệ quốc tế có hiệu quả là độ tin
cậy về cả lý thuyết lẫn thực tế của hệ thống, tính ổn định của hệ thống tiền tệ khivận hành, khả năng bảo đảm cho đồng tiền của các hệ thông tiền tệ riêng của cácquốc gia và khu vực chuyển đổi dẽ dàng với nhau mà không gây nên những tácđộng xấu Thứ nhất, hệ thống tiền tệ phải có khả năng hạn chế tối đa thời gian vànhững hậu quả có thể xảy ra khi tiến hành điều chỉnh cán cân thanh toán củamình, điều chỉnh tỷ giá hối đoái giữa các quốc gia Thứ hai, hệ thống đó phải cókhả năng duy trì ổn định mức tỷ giá hối đoái, nguồn dự trữ ngoại tệ Thứ ba, hệthống tiền tệ phải có khả năng cũng cấp nguồn dự trữ ngoại tệ thích hợp nhằmgiúp các quốc gia điều chỉnh cán cân thanh toán, tỷ giá hối đoái mà không gâytác động tiêu cự tới nền kinh tế của quốc gia đó nói riêng cũng như nền kinh tếcủa khu vực nói chung
Cán cân thanh toán quốc tế ( the Balance of Payments - viết tắt là BOP
hay BP) là một bản báo cáo thống kê tổng hợp có hệ thống, ghi chép lại giá trịtất cả các giao dịch kinh tế giữa người cư trú với người không cư trú trong mộtthời kỳ nhất định, thường là 1 năm Các cán cân bộ phận của BP bao gồm 2thành phần chính là cán cân vãng lai và cán cân vốn - tài chính
Trang 9PHẦN 2: SỰ TIẾN TRIỂN CỦA CÁC HỆ THỐNG
TIỀN TỆ QUỐC TẾ
I Chế độ song bản vị (1792 - 1870s)
1 Những đặc điểm chính trong cơ chế hoạt động
Thương mại quốc tế hoạt động trên cơ sở “Bản vị hàng hóa”, trong đókim loại là hàng hóa (chủ yếu là vàng và bạc) được đúc thành khối làm phươngtiện trao đổi và lưu thông trong nền kinh tế
Vàng và bạc luôn là hai kim loại được ưa chuộng hơn hẳn do có nhữngđặc tính đáp ứng được những gì một đồng tiền hàng hóa cần có, như: sự khanhiếm, tính bền, có thể chuyên trở, dễ phân chia, đồng chất và chất lượng đượcduy trì lâu bền
Tỷ lệ trao đổi giữa tiền vàng và tiền bạc trong lưu thông phụ thuộc vàogiá trị thực tế của lượng vàng và lượng bạc chứa trong hai đồng tiền đó quyếtđịnh Giá cả hàng hóa và dịch vụ trên thị trường được tính bằng tiền vàng vàbằng tiền bạc Hai loại giá cả này sẽ thay đổi theo sự thay đổi tỷ giá giữa kimlại vàng và kim loại bạc hình thành tự phát trên thị trường
Mọi người được tự do đúc tiền vàng và tiền bạc Tiền vàng và tiền bạcđược tự do lưu thông trong phạm vi quốc gia và giữa các quốc gia với nhau
2 Ưu – nhược điểm của chế độ song bản vị:
2.1 Ưu điểm :
Thúc đẩy thương mại quốc tế diễn ra nhanh chóng
Trong lưu thông hàng hoá, việc sử dụng chế độ song bản vị có nhiều tiến
bộ hơn so với thời kỳ nền kinh tế đổi chác hiện vật
2.2 Nhược điểm
Nhà nước khó kiểm soát lượng vàng, bạc của mỗi quốc gia
Trang 10 Giá thị trường vàng và bạc có thể thay đổi
Hai thước đo giá trị với hai hệ thống giá cả gây trở ngại trong việc tínhtoán và lưu thông hàng hoá
3 Sự sụp đổ - nguyên nhân của sự sụp đổ:
* Quy luật Gresham: “tiền xấu trục xuất tiền tốt ra khỏi lưu thông” Đồng
tiền nào có giá trị danh nghĩa thấp hơn giá trị thực của nó trên thị trường dầndần bị quét khỏi lưu thông, nhường chỗ cho thứ tiền có giá trị danh nghĩa lớnhơn giá trị thực tế của nó Nếu trong lưu thông chỉ còn một kim loại giữ vai tròlàm tiền tệ thì điều đó cũng có nghĩa là chế độ song bản vị kết thúc nhườngchỗ cho một chế độ bản vị mới
Các quốc gia ngày càng giảm tỷ trọng của vàng hay bạc trong các đồng
xu, làm “bào mòn giá trị thực tế của tiền xu” Kết cục là đồng tiền thiếu giá trị đãloại bỏ đồng tiền có giá trị hơn ra khỏ lưu thông
Các nước áp dụng các tỷ lệ giá trị chính thức giữa vàng vàng bạc khácnhau Các nhà giao thương nhận ra mình có thể thu được lợi nhuận cao hơn khigiao dịch bằng đồng tiền có giá cao hơn tại nước ngoài (so với nội địa) Sự điềuchỉnh tỷ giá bạc/vàng đã dẫn đến trên thị trường chỉ còn tồn tại chế độ đơn bản
vị kim loại vàng
Từ cuối những năm 1860, các mỏ bạc được phát hiện nhiều, việc khai tháchang loạt khiến bạc trở nên mất giá so với vàng, do đó nhiều quốc gia khôngcòn sử dụng bạc làm bản vị cho đồng tiền quốc gia nữa, chế độ song bản vịbước đầu sụp đổ Mặt khác, tại Mỹ, sau sự gián đoạn do cuộc nội chiến năm
1861, vào năm 1879, chính phủ chính thức tuyên bố không chuyển đổi tiền rabạc nữa mà chỉ chuyển đổi ra vàng Chế độ song bản vị sụp đổ, hình thành chế
độ bản vị vàng cổ diển
Trang 11Mãi tới thế kỷ 18 sang thế kỷ 19, do công nghiệp khai thác vàng phát triển,các nước mới có đủ điều kiện chuyển từ chế độ hai bản vị sang chế độ bản vịvàng Anh là nước có nền kinh tế và thương mại phát triển nhất lúc bấy giờ, lànước đầu tiên thực hiện chế độ bản vị vàng, song cũng phải trải qua một hời kỳchuyển tiếp lâu dài từ 1717 đến 1821 Pháp lệnh của nhà nước Anh công bố thựchiện chế độ bản vị vàng vào năm 1816 nhưng mãi tới năm 1821 mới được thihành.Tuy nhiên, ban đầu chỉ có Vương quốc Anh và một số thuộc địa của nó đạtBản vị Vàng, Bồ Đào Nha gia nhập vào năm 1854 Các quốc gia khác thườngdùng Bản vị bạc hoặc, trong một số trường hợp, là Song Bản vị.
Năm 1871, Đức mới thống nhất, được hưởng lợi từ các khoản bồi thường doPháp trả sau chiến tranh Pháp-Phổ năm 1870, đã thực hiện các bước cơ bản đilên Bản vị Vàng Tác động của quyết định của Đức, cùng với sự thống trị vềkinh tế và chính trị của Vương quốc Anh và sự hấp dẫn của việc tiếp cận thịtrường tài chính Luân Đôn, đã đủ để khuyến khích các nước khác chuyển sangvàng Đến khoảng 1900, hầu hết các quốc gia trên thế giới, trừ Trung Quốc vàmột số nước Trung Mĩ, đã theo chế độ Bản vị vàng
2 Những đặc điểm chính trong cơ chế hoạt động
Gần như tất cả quốc gia cố định giá trị đồng tiền của mình theo một lượngvàng nhất định, hoặc liên kết đồng tiền của mình với đồng tiền của quốc gia đãlàm như trên
Trang 12Đồng nội tệ của mỗi quốc gia được tự do chuyển đổi thành vàng và không cóhạn chế trong việc xuất nhập khẩu vàng Tiền vàng lưu hành dưới dạng nội tệ,cùng với tiền kim loại và tiền giấy khác, với tỷ trọng khác nhau giữa các quốcgia
Bởi các đồng tiền của các nước được cố định theo vàng, tỷ giá hối đoái giữachúng cũng trở nên không đổi
* Chọn vàng vì: Những thuộc tính cần phải có để một dạng vật chất trởthành dạng cơ bản của tiền là
Dễ phân biệt
Bền vững
Ổn định về lượng sẵn có
Giá trị nội tại không bị biến động
Vàng đáp ứng tất cả các yêu cầu trên và có thể nói rằng nó là dạng vật chấtduy nhất trên thế giới đáp ứng được Lượng vàng mà con người có được khôngthay đổi đột biến trong nhiều thế kỷ; lượng vàng bổ sung nhờ khai mỏ là nhỏ và
dự tính được
* Chức năng chính của ngân hàng trung ương:
Duy trì khả năng chuyển đổi của tiền tệ fiat (còn được gọi là tiền pháp định
- đồng tiền có giá trị được xác lập bởi chính phủ hơn là một hàng hóa có đặc tínhvật lý) thành vàng ở mức giá cố định và tỷ giá hối đoái
Đẩy nhanh quá trình điều chỉnh sự mất cân bằng thanh toán, mặc dù việc nàythường bị phá rối
3 Ưu – nhược điểm của chế độ bản vị vàng:
3.1 Ưu điểm :
Ổn định giá trong dài hạn: Chế độ Bản vị vàng khiến chính phủ gặp khókhăn trong việc tăng giá bằng cách tăng cung tiền Trong thời kỳ Bản vị vàng,
Trang 13rất hiếm khi xảy ra lạm phát đáng kể, siêu lạm phát lại càng không bởi cung tiềnchỉ có thể tăng theo tốc độ tăng của cung vàng Lạm phát cao chỉ xảy ra khichiến tranh phá hủy một phần lớn nền kinh tế, làm giảm sản xuất hàng hóa hoặckhi xuất hiện một lượng vàng lớn khác Ở Mỹ, lạm phát xảy ra trong cuộc Nộichiến, đã phá hủy nền kinh tế của miền Nam Lạm phát cũng theo cơn sốt vàngCalifornia đã tạo ra một lượng lớn vàng để đúc Dữ liệu lịch sử cho thấy mức độdao động giá ngắn hạn cao hơn nhiều trong thời kỳ Bản vị vàng
Bản vị vàng tạo nên hệ thống tỷ giá hối đoái cố định giữa các quốc gia thànhviên và do đó làm giảm sự bất ổn trong thương mại quốc tế Dưới chế độ bản vịvàng cổ điển quốc tế, những biến động về giá ở một quốc gia sẽ được điều chỉnhmột phần hoặc toàn bộ bởi cơ chế tự cân bằng thanh toán gọi là cơ chế dòngchảy giá cả-bản kim (bản kim ở đây là tiền xu vàng) Cơ cấu này như sau:
Đầu tiên, khi giá một loại hàng hóa giảm xuống nhờ cung tăng vọt, tănghiệu quả vốn, giảm giá đầu vào hoặc do cạnh tranh, người mua sẽ nghiêng
về hàng hóa đó nhiều hơn những hàng hóa khác Bởi sự ổn định tỷ giátiền-vàng, người tiêu dùng ở các nước khác sẽ mua hàng hóa được địnhgiá thấp nhất và vì thế, vàng sẽ chảy về các nước có nền kinh tế hiệu quảnhất
Lúc đó, quốc gia mới nhận luồng vàng đến phải tăng cung tiền tệ và chịuáp lực lạm phát vừa phải để bù lại việc giảm giá trước đó
Đồng thời, lượng tiền lưu hành ở các nền kinh tế kém hiệu quả bị giảm đi,vì vậy giá cả ở các nước này giảm xuống cho đến khi sự cân bằng đượckhôi phục
VD: Giả sử một người Anh mua một món hàng giá 10 franc từ một nhà
cung cấp của Pháp Anh ta có thể trả £ 5 (nếu £ 1 = 2 FFr) bằng vàng hoặc bằngfranc Nếu nhập khẩu của Anh từ Pháp lớn hơn xuất khẩu của Anh sang Pháp(Anh thâm hụt thương mại so với Pháp) thì vàng di chuyển từ Anh sang Pháp Vìtiền giấy được đảm bảo bởi vàng, ngân hàng trung ương của mỗi quốc gia theoBản vị vàng phải duy trì dự trữ vàng
Trang 14Lượng tiền giấy đang lưu hành (và cung tiền) được xác định bởi ngang giáđúc và lượng vàng với ngân hàng trung ương Các ngân hàng trung ương phảiduy trì dự trữ vàng của họ Nếu Anh thâm hụt thương mại với Pháp, vàngchuyển từ Anh sang Pháp, dẫn đến sự sụt giảm cung tiền ở Anh và tăng cungtiền ở Pháp.
Do cung tiền tăng, giá ở Pháp sẽ có xu hướng tăng (lạm phát) Ngược lại vìlưu thông ít hơn ở Anh (giảm cung tiền) sẽ dẫn đến xu hướng giảm giá ở Anh.Lạm phát ở Pháp sẽ làm cho hàng hóa Pháp đắt hơn Sản phẩm tương tự đượcbán với giá 10 franc có thể bán với giá 15 franc Điều này sẽ làm nản lòng ngườimua Anh
Mặt khác, người Pháp sẽ thấy rằng hàng hóa của Anh rẻ hơn Kết quả lànhập khẩu của Anh từ Pháp sẽ giảm, xuất khẩu sang Pháp sẽ tăng và Anh sẽ cóđược thặng dư thương mại Điều này sẽ chuyển vàng từ Pháp sang Anh, dẫn đến
sự sụt giảm trong cung tiền ở Pháp và tăng cung tiền ở Anh Chuỗi lặp lại mộtlần nữa theo hướng ngược lại và điều này tiếp tục
Nền kinh tế thường xuyên phải trải qua bất ổn, quốc gia có thâm hụt cán cân
sẽ phải trải qua thời kỳ kinh tế đình đốn, tỷ lệ thất nghiệp cao, ngược lại, quốcgia thặng dư lại phải trải qua thời kỳ lạm phát
Giải thích: do luồng vàng sẽ chảy từ quốc gia thâm hụt đến quốc gia thặng
dư, nước thặng dư sẽ có cung tiền tăng, làm cầu hàng hóa tăng, sẽ gây áp lựctăng giá, lãi suất có xu hướng giảm và tăng nhập khẩu từ quốc gia thâm hụt,
Trang 15trong khi đó quốc gia thâm hụt giảm cung tiền dẫn đến giảm giá, tăng lãi suất vàtăng xuất khẩu sang nước thặng dư kia Quá trình này sẽ lặp lại cho đến khi cáncân thanh toán của các nước cân bằng, vì vậy sẽ gây ra bất ổn thường xuyên.Các nhà kinh tế chính thống tin rằng suy thoái kinh tế có thể được giảmthiểu phần lớn bằng cách tăng cung tiền trong thời kỳ suy thoái kinh tế Trongchế độ Bản vị vàng cung tiền sẽ được xác định bởi nguồn cung vàng và do đóchính sách tiền tệ không còn được sử dụng để ổn định nền kinh tế Bản vị vàng
bị đổ lỗi cho việc kéo dài cuộc Đại suy thoái, vì trong thời kỳ này, các ngân hàngtrung ương không thể mở rộng tín dụng với tốc độ đủ nhanh để bù đắp giảmphát Cung tiền về cơ bản được xác định bởi tỷ lệ vàng được sản xuất ra Khi trữ
lượng vàng tăng nhanh hơn nền kinh tế sẽ dẫn đến lạm phát và ngược lại Thực
tế cho thấy là Bản vị vàng đã góp phần làm tăng mức độ nghiêm trọng và kéodài thời gian của cuộc Đại khủng hoảng
Nền kinh tế Mỹ bùng nổ trong nửa đầu những năm 1920 Roenty Twenties với các ngành công nghiệp như xây dựng và ô tô để nhanh chóng phục hồi sau
Trang 16-chiến tranh Trong nỗ lực chống lạm phát, Cục Dự trữ Liên bang đã tăng lãi suấtvào năm 1928 Nhưng các nước châu Âu đã vay tiền từ Hoa Kỳ trong Thế chiến
I đã gặp khó khăn trong việc trả hết nợ Do đó, xuất khẩu của Hoa Kỳ giảm Khithị trường chứng khoán sụp đổ vào năm 1929, các nhà đầu tư bắt đầu giao dịchtiền tệ và hàng hóa
Khi giá vàng tăng, mọi người đổi đô la của họ lấy vàng Nó trở nên tồi tệhơn khi các ngân hàng bắt đầu thất bại vào năm 1930, 1931 Mọi người bắt đầutích trữ vàng vì họ không tin tưởng bất kỳ tổ chức tài chính nào
Cục Dự trữ Liên bang tiếp tục tăng lãi suất để làm cho đô la trở nên có giá trịhơn và ngăn cản người dân tiếp tục làm cạn kiệt nguồn dự trữ vàng của Hoa Kỳ Lãi suất cao hơn làm trầm trọng thêm cuộc khủng hoảng bởi nó cho chi phíkinh doanh trở nên đắt đỏ hơn Nhiều công ty đã phá sản, tạo ra mức thất nghiệpkỷ lục Mỹ và các quốc gia khác theo Bản vị vàng không thể tăng cung tiền củahọ để kích thích nền kinh tế
4 Sự sụp đổ - nguyên nhân sụp đổ: của chế độ Bản vị vàng:
Hiện tại, không còn nước nào dùng chế độ Bản vị vàng nữa
Trong thời kỳ Chiến tranh thế giới I, nhu cầu mua đạn dược và thiết bị chiếntranh là vô cùng lớn.Tuy nhiên, so với nhu cầu vô hạn ấy thì vàng là hữu hạn vàkhông đáp ứng đủ số tiền cần bỏ ra Kịch bản chiến tranh này tương đương vớimột nền kinh tế đang mở rộng, nơi mà nhu cầu của mọi người đối với hàng hóa
và dịch vụ là vô hạn, nhưng nếu không có nguồn cung cấp vốn vô hạn thì điềunày không thể đạt được Các quốc gia tham gia vào cuộc chiến đã từ bỏ bản vịvàng vàng, ít nhất là tạm thời để đáp ứng nhu cầu vô hạn mà vàng không thểtheo kịp
Tuy nhiên, đến năm 1928, Bản vị vàng đã gần như được thiết lập lại, mặc
dù, do sự khan hiếm tương đối của vàng, hầu hết các quốc gia đã áp dụng chế độBản vị vàng hối đoái, trong đó họ bổ sung dự trữ vàng của ngân hàng trung ươngbằng tiền tệ (đô la Mỹ và bảng Anh ) có thể qui đổi thành vàng với tỷ giá ổn
Trang 17định Tuy nhiên, Bản vị vàng hối đoái đã sụp đổ một lần nữa trong cuộc Đại suythoái những năm 1930, và đến năm 1937, không một quốc gia nào duy trì hoàntoàn được Bản vị vàng.
Như vậy, chế độ Bản vị vàng sụp đổ do 2 nguyên nhân chính:
Cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất
Cuộc đại suy thoái kinh tế năm 1929 – 1933
Hai nguyên nhân này dẫn đến châu Âu phải mua quá nhiều hàng hóa của Mỹbao gồm hàng hóa, vũ khí, quân nhu trong thời kỳ chiến tranh và hầu như tất
cả các hàng hóa, trang thiết bị, cho quá trình tái thiết nền kinh tế sau chiếntranh
Để có tiền chi dùng cho việc mua lượng hàng hóa khổng lồ trên, các nướcchâu Âu buộc phải phát hành một lượng tiền khổng lồ Với cung tiền lớn nhưvậy khiến cho lượng vàng dự trữ cho mục đích bảo chứng của các quốc gia châu
Âu trở nên quá nhỏ bé Tình trạng đó đã dẫn đến lạm phát và siêu lạm phát ở cácquốc gia châu Âu
Để bảo vệ chế độ bản vị vàng, các quốc gia buộc phải vay mượn vàng củaMỹ khiến cho lượng vàng dùng cho bảo chứng của Mỹ cũng giảm theo và vì thếkéo nước Mỹ lâm vào tình trạng lạm phát chung
Tất cả các nước châu Âu + Bắc Mỹ lâm vào tình trạng lạm phát và siêu lạmphát đã buộc các quốc gia này phải lần lượt bãi bỏ chế độ bản vị vàng Chế độbản vị vàng do đó mà hoàn toàn sụp đổ
Trang 18III Hệ thống tiền tệ quốc tế giữa hai cuộc đại chiến thế giới
Khi chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ năm 1914, hệ thống tiền tệ thế giớirơi vào thời kì hỗn loạn, hệ thống bản vị vàng tồn tại hơn 35 năm đã phảinhường chỗ cho hệ thống tỷ giá thả nổi Các quốc gia không ngừng in thêm tiền
để tài trợ cho chiến tranh dẫn đến khi chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc, cácnước rơi vào tình trạng lạm phát, thậm chí siêu lạm phát Tại Đức, từ năm 1913đến năm 1918, tốc độ phát hành tiền tệ tăng 8,5 lần, đồng DEM sụt giá 50% sovới USD Năm 1921, tốc độ phát hành tiền của NHTW Đức tăng gấp 5 lần sovới năm 1918, năm 1922 tăng gấp 10 lần so với năm 1921 Đến tháng 8/1923,một chiếc bánh mì hay một phong thư ở Đức đã có giá 1000DEM Mỹ tham giachậm hơn nên có lạm phát thấp hơn các nước Châu Âu, làm tăng sức cạnh tranhthương mại của Mỹ, do vậy lượng vàng đổ vào Mỹ nên dự trữ vàng của Mỹ tănglên nhanh chóng
Trong nỗ lực khôi phục lại thời kì hoàng kim của thương mại thế giới trongchế độ bản vị vàng, năm 1922, các nước đã tham gia hội nghị tiền tệ - tài chínhquốc tế tổ chức tại Genoa (Italia) mở đường hình thành hệ thống bản vị hối đoáivàng, trong đó, đồng GBP là đồng tiền thanh toán và dự trữ quốc tế Năm 1925,nước Anh ấn định ban vị vàng như lúc trước chiến tranh (1913) trong khi lúc này
tỉ lệ lạm phát của nước Anh cao hơn nhiều so với mức trước chiến tranh, điềunày khiến cho nền kinh tế Anh rơi vào tình trạng thiểu phát, thất nghiệp tăngcao Tỉ lệ thất nghiệp của nước Anh từ 3% năm 1920 tăng vọt lên đến 18% năm
1926, các cuộc bãi công diễn ra khắp nơi, nước Anh rơi vào khủng hoảng Điềunày có ý nghĩa là, hầu hết các đồng tiền đều phá giá so với đô la, trong khi đó tỷgiá GBP/USD được duy trì không thay đổi so với trước chiến tranh là 4.8065USD/GBP Việc ấn định tỷ giá này đã làm hồi sinh chế độ bản vị vàng, tuy nhiênsau năm 1925 giá cả hàng hóa ở Anh không giảm xuống như trước chiến trang,
do đó việc ấn định này làm bảng Anh định giá quá cao Hơn nữa, đây là chế độbản vị hối đoái vàng khi rất nhiều NHTW đã thay đổi cơ cấu dự trữ quốc tếchuyển từ vàng sang ngoại tệ Sự dịch chuyển này một phần là do thương mại vàđầu tư quốc tế của Mỹ tăng và đô la ngày càng được sử dụng nhiều trong giao
Trang 19dịch quốc tế Cuộc Đại suy thoái kinh tế vào năm 1929 đã làm sụp đổ hệ thốngngân hàng trên thế giới và làm tan biến mọi lòng tin và khả năng các quốc giatiếp tục duy trì việc chuyển đổi các đồng tiền ra vàng Gánh nặng đè lên nướcAnh và một cuộc hỗn loạn đã xảy ra vào ngày 21/09/1931, buộc nước Anh vàcác nước khác phải từ bỏ chế độ tỷ giá cố định và việc chuyển đổi đồng tiền củanước mình sang vàng, tiếp sau là Mỹ vào năm 1933 Hệ thống Genoa sụp đổ.
Trong giai đoạn sau chiến tranh thế giới thứ nhất, Mĩ vẫn duy trì chuyển đổiUSD ra vàng, bên cạnh đó, do không bị tàn phá do chiến tranh nên lạm phát ở
Mĩ thấp hơn ở các nước Châu Âu vì vậy lúc này vai trò của USD càng đượcnâng lên, một số quốc gia dự trữ bằng USD bên cạnh GBP Tuy nhiên, cuộckhủng hoảng kinh tế 1929-1933 dẫn đến sự sụp đổ của hệ thống tài chính vàthương mại quốc tế, hệ thống tiền tệ quốc tế rơi vào thời kì hỗn mang, các quốcgia bất hợp tác chính sách cho đến khi bùng nổ chiến tranh thế giới thứ 2 vàonăm 1939 Kết quả là sự sụp đổ của hệ thống tài chính và thương mại quốc tế đã
để lại một vết hằn sâu sắc cho thế hệ tiếp theo
Như vậy, có thể tóm tắt lại những diễn biến của hệ thống tiền tệ quốc tế giữa
Biểu đồ 2 Tỷ lệ thấtnghiêp 1929 - 1944
Trang 20hai cuộc thế chiến qua các thời kì và cơ chế sau:
Thời kỳ thả nổi
Thế chiến thứ I giai đoạn 1915-1925 đã làm sụp đổ hệ thống bản vị vàng Trongkhi gần như cả thế giới ngừng quy đổi tiền tệ theo vàng thì Mỹ vẫn theo đuổi cơchế này thêm vài năm nữa Chính điều này đã giúp nâng vị thế của đồng USDvới vai trò là một đồng tiền dự trữ quốc tế
Giai đoạn thả nổi cơ chế tỷ giá đầu thế kỷ 20 – khi mà các chính phủ cóthể tự do can thiệp thị trường – bị coi là giai đoạn hỗn loạn và bất ổn Do đó, sauchiến tranh, các nước dự định khôi phục lại cơ chế trước Thế chiến thứ I
Hệ thống bản vị vàng giữa 2 cuộc thế chiến
Sau Thế chiến I, việc khôi phục kinh tế trở thành nhu cầu cấp thiết cho các nướcchâu Âu, do đó các nước đã tiến tới thỏa thuận lập một trật tự mới trong quan hệthương mại, tín dụng và tiền tệ quốc tế
Tại hội nghị Genoa năm 1922, các nước thừa nhận vai trò của đồng bảng Anh làđồng tiền thanh toán và dự trữ quốc tế Do đó thực tế, chế độ tiền tệ lúc này làchế độ bản vị bảng Anh
Hệ thống thả nổi trước hiệp ước Bretton Woods
Các chính phủ châu Âu lần lượt phá vỡ cam kết tuân thủ hệ thống bản vị vàngkhiến hệ thống tiền tệ quốc tế tiếp tục theo cơ chế thả nổi, duy chỉ có USD vẫntheo cơ chế neo tỷ giá với vàng Tuy nhiên, hệ thống này suy yếu dần trong giaiđoạn Đại suy thoái những năm 1930
Đến năm 1934, tổng thống Mỹ lúc đó là Roosevelt đã ra sắc lệnh cấm dựtrữ vàng và giảm tỷ lệ quy đổi còn khoảng từ 20 USD/oz -35 USD/oz Ngoài ra,sắc lệnh cũng yêu cầu người dân không xuất khẩu vàng, và chuyển vai trò dự trữvàng sang cho Cục dự trữ liên bang Mỹ (Fed)
Có thể nhận thấy, giai đoạn giữa hai cuộc chiến tranh thế giới là thời kì biếnđộng và có rất nhiều thay đổi trong hệ thống tiền tệ quốc tế do chiến tranh tácđộng Điều này gây bất lợi với hệ thống tiền tệ của các nước Châu Âu và cũng là
Trang 21thời kì giúp đồng USD được nâng cao vị thế và đóng vai trò quan trọng trongnền kinh tế thế giới.
Trang 22IV Hệ thống Bretton Woods ( Bretton Woods System - BWS ) (1945 - 1971)
1 Hoàn cảnh ra đời
Sau chiến tranh, hệ thống tiền tệ quốc tế bước vào giai đoạn các khối tiền tệ không lưu thông với nhau, như: Khối bảng Anh, khối USD và khối các đồng tiềntiếp tục gắn với vàng Ngoài ra, các biện pháp kiểm soát ngoại hối, thuế quan và các hạn chế thương mại khác được áp dụng phổ biến
Năm 1944, trong một bản báo cáo có sức thuyết phục trước liên đoàn các Dân tộc, Ragnar Nurkse lý luận rằng những gì đã trải qua cho thấy chế độ tỷ giá thả nổi không khuyến khích mà trái lại còn luôn kìm hãm phát triển thương mại quốc tế, làm phân bố các nguồn lực trở nên không hiệu quả, nhìn chung đây là chế dộ không có tính ổn định do các hoạt động đầu cơ tư nhân
Vào tháng 7 năm 1944, 730 đại biểu từ 44 quốc gia đã tập trung tại một khu nghỉ mát trên núi ở Bretton Woods, New Hamsphire, Mỹ, để thảo luận về một trật tự tiền tệ quốc tế mới Hội nghị được mở ra thảo luận các vấn đề về thanh toán quốc tế sau Chiến tranh Thế giới thứ II Mục tiêu hy vọng là tạo ra một hệ thống để tạo thuận lợi cho thương mại quốc tế trong khi vẫn bảo vệ các mục tiêu chính sách tự trị của các quốc gia riêng lẻ Đó là điều cần thiết sau chiến tranh, aicũng tổn thất cả cần phải bỏ qua những định kiến về nhau để thống nhất tới một
sự xây dựng chung
Sau chiến tranh, do có vị thế vượt trội về kinh tế và chính trị, Mỹ đã tạo ra sức ảnh hưởng không nhỏ tới các quyết định của hội nghị Sau khi xem xét các khuyến nghị khác nhau do chính phủ các nước đưa ra, mà chủ yếu là từ hai nướcđóng vai trò quan trọng Mỹ và Anh với hai đại diện Harry Dexter White và John Maynard Keynes Hội nghị đã phê chuẩn hệ thống tiền tệ quốc tế mới, được đặt tên là Bretton Woods System (BWS)
Trang 232 Những đặc điểm chính trong cơ chế hoạt động của BWS
2.1 Hệ thống chế độ tỷ giá cố định nhưng có thể điều chỉnh
Mỗi đòng tiền quốc gia được ấn định một tỷ giá trung tâm với USD và được phép dao động trong biên độ 1% Tỷ giá USD tự nó được cố định với giá vàng là
$35/ounce Vào năm 1945, chính phủ Mỹ nắm giữ gần 70% lượng vàng dự trữ thế giới, điều này ngầm cam kết rằng USD sẽ được duy trì chuyển đổi ra vàng không hạn chế tại mức giá ổn định $35/ounce
Nếu vượt quá biên độ tỷ giá 1% thì ngân hàng trung ương của các nước phải can thiệp vào thị trường tiền tệ bằng cách mua vào hoặc bán ra một lượng USD nhất định để ổn định lại tỷ giá
Trong trường hợp cán cân thanh toán quốc tế (Balance of Payments - BP) bị mất cân bằng thì có thể tiến hàng nâng hay phá giá đồng tiền của mình Nếu thayđổi tỷ giá nhỏ hơn 10% thì IMF không có ý định can thiệp, nhưng nếu thay đổi ởmức cao hơn thì phải có sự chấp thuận của IMF
Các quốc gia thành viên cam kết không hạn chế chuyển đổi nội/ ngoại tệ đối với các giao dịch vãng lai Tuy nhiên không có cam kết bắt buộc chuyển đổi đối với các giao dịch vốn, chính phủ các nước vẫn có thể sử dụng các biện pháp khác nhau để kiểm soát chu chuyển vốn
GERMAN MARK DM4.2/$
USD
$35/ounce
Biểu đồ 3 Cơ chế neogiá theo USD
Trang 24Đơn vị tiền tệ quốc tế là USD Đô la Mỹ là đồng tiền chuẩn, được sử dụng làm phương tiện dự trữ và thanh toán quốc tế Việc sử dụng USD trong thanh toán quốc tế và ngoại thương là không hạn chế.
Trong chế độ này, các nước thành viên duy trì dự trữ quốc tế chính thức của họ một cách rộng rãi dưới hình thức vàng hoặc các tài sản bằng đô la và có quyền bán đô la cho Cục dự trữ liên bang Mỹ lấy vàng theo giá chính thức Vàngvẫn đóng vai trò trung tâm để so sánh sức mua giữa các đồng tiền với nhau thông qua chiếc cầu nối là đồng USD, Có thể nói hệ thống Bretton Woods là hệ thống bản vị hối đoái vàng dựa trên USD cho nên người ta còn gọi đây là chế độtỷ giá ngoại hối vàng (hay “Bản vị vàng- ngoại tệ”, hay “Bản vị hối đoái vàng” - Gold-Exchange Standard)
2.2 Hai tổ chức quốc tế mới được hình thành
Quỹ tiền tệ quốc tế (International Monetary Fund - IMF) và Ngân hàng Tái thiết và Phát triển (gọi tắt là Ngân hàng thế giới - World Bank - WB) Nhiệm vụ IMF là giám sát và thúc đẩy hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tiền tệ và thúc đẩy tăng trưởng thương mại thế giới hay nói cách khác là theo dõi, giám sát BWS Nhiệm vụ WB là trợ giúp tái thiết kinh tế châu Âu bị chiến tranh tàn phá
Những nhiệm vụ cơ bản của IMF là đảm bảo cho hệ thống chế độ tỷ gái cố định hoạt động một cách trơn tru và hiệu quả bằng cách cung cấp cho mỗi quốc gia một hạn mức tín dụng thường xuyên để tài trợ cho thâm hụt tạm thời của BP.Mỗi thành viên của IMF được phân bổ một hạn mức tín dụng có độ lớn tỷ lệ thuận với tầm quan trọng của nền kinh tế đó và được phản ánh bằng tỷ trọng đóng góp cho IMF của họ
Khi rút vốn từ IMF, mỗi thành viên dùng đồng bản tệ của mình để mua tài sản dự trữ (thông thường là USD) Mọi khoản vay đều phải được hoàn trả sau 3 đến 5 năm, bằng cách dùng tài sản dự trữ để mua lại đồng tiền của mình
Trang 25Quyền rút vốn đặc biệt (SDR) là một dạng tiền dự trữ quốc tế, được IMF tạo
ra vào khoảng những năm cuối của thập kỉ 60 SDR đóng vai trò như một nhân
tố bổ sung cho những dạng dữ trữ (vàng, đôla) sẵn có ở các quốc gia
SDR được tạo ra để làm giảm bớt nỗi lo về những hạn chế của vàng và đôla với vai trò độc tôn trong việc thanh toán các tài khoản quốc tế, SDR được thiết
kế để làm tăng thêm tính lỏng quốc tế bằng việc bổ sung thêm cho những loại tiền tệ dự trữ tiêu chuẩn
3 Những mặt tích cực và tiêu cực của Bretton Woods
3.1 Tác động tích cực
Đối với một số người, BWS là một thành phần quan trọng của thời kỳ tăngtrưởng vàng sau chiến tranh, mang lại sự ổn định về tỷ giá hối đoái, trái ngượcvới sự biến động xảy ra trong các giai đoạn trước và cả sau BWS
Đồng USD trở thành đồng tiền dự trữ quốc tế, vượt qua hạn chế của vàng vềnguồn cung khan hiếm, yêu cầu an ninh bảo mật tốn kém và chi phí vận chuyểncao Hơn nữa, các nước gửi niềm tin vào USD vì chừng nào tỷ giá Vàng/USDkhông đồi bằng $35/ounce, có thể nói USD “as good as gold” (không kém gìvàng) Nhưng mặt khác, không giống như vàng, đầu tư vào USD hay bằng USDcó thể kiếm được lời từ lãi suất Trong khi đó đầu tư vào vàng thuộc về một loạiđầu tư sẽ không bao giờ sản xuất bất cứ thứ gì Bất kỳ sự tăng trưởng nào tronggiá trị của nó phụ thuộc hoàn toàn vào niềm tin rằng cuối cùng người khác sẽ trả
nhiều tiền hơn cho nó (Dhirendra Kumar)