1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

tiểu luận tài chính quốc tế ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tiền tệ châu á 1997 đến các nước trong khu vực và bài học cho việt nam

39 97 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 39
Dung lượng 357,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiểu được tầm quan trọng của vấn đề này, nhómnghiên cứu đã tập hợp một số tài liệu tham khảo và chọn đề tài “Ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tiền tệ châu Á 1997 đến các nước trong khu vực

Trang 1

MỤC LỤC

DANH MỤC BẢNG, HÌNH 3

LỜI MỞ ĐẦU 4

CHƯƠNG 1: LÝ THUYẾT, MÔ HÌNH GIẢI THÍCH CÁC CUỘC KHỦNG HOẢNG TIỀN TỆ TRƯỚC ĐÂY CỦA CÁC CHUYÊN GIA KINH TẾ 6

1.1 Khái niệm khủng hoảng tiền tệ 6

1.2 Các mô hình khủng hoảng 7

1.2.1 Khủng hoảng tiền tệ thế hệ thứ nhất – Khủng hoảng tại châu Mỹ Latinh trong thập niên 80 7

1.2.2 Khủng hoảng tiền tệ thế hệ thứ hai – Khủng hoảng của Hệ thống tiền tệ châu Âu (EMS) 1992 – 1993 8

1.2.3 Khủng hoảng tiền tệ thế hệ thứ ba – Khủng hoảng tài chính châu Á 1997 10

CHƯƠNG 2: NGUYÊN NHÂN, DIỄN BIẾN CỦA CUỘC KHỦNG HOẢNG CỦA CUỘC KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH CHÂU Á NĂM 1997 VÀ NHỮNG ẢNH HƯỞNG ĐỐI VỚI CÁC NƯỚC TRONG KHU VỰC 13

2.1 Nguyên nhân của cuộc khủng hoảng 13

2.1.1 Nguyên nhân chủ quan 13

2.1.2 Nguyên nhân khách quan 15

2.2 Diễn biến cuộc khủng hoảng tại Thái Lan và một số nước trong khu vực 17

2.2.1 Tình hình tại Thái Lan 17

2.2.2 Diễn biến cụ thể ở các nước khác 19

Trang 2

2.3 Những ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng đối với nền kinh tế và thị

trường tiền tệ các nước trong khu vực 25

2.4 Một số ý nghĩa của cuộc khủng hoảng 30

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ BÀI HỌC RÚT RA TỪ CUỘC KHỦNG HOẢNG CHÂU Á 1997 32

3.1 Những bài học kinh nghiệm chung 32

3.1.1 Bài học thứ nhất: Phải có công cụ điều tiết luồng vốn 32

3.1.2 Bài học thứ hai: Cần xây dựng hành lang pháp lý phù hợp 32

3.1.3 Bài học thứ ba: Nguy cơ dư thừa vốn 33

3.2 Một số bài học rút ra cho Việt Nam 34

KẾT LUẬN 36

TÀI LIỆU THAM KHẢO 37

Trang 3

DANH MỤC BẢNG, HÌNH

Hình 1: Mô hình khủng hoảng tiền tệ thế hệ thứ nhất 7

Hình 2: Mô hình khủng hoảng tiền tệ thế hệ thứ hai 9

Hình 3: Mô hình khủng hoảng tiền tệ thế hệ thứ ba 11

Bảng 1: Tỷ giá hối đoái bình quân năm 1996 và 1997 25

Bảng 2: Chỉ số lạm phát tại một số quốc gia 26

Bảng 3: Tỷ lệ nợ công của chính phủ và lãi suất cho vay tại một số quốc gia 26 Bảng 4: Tình trạng hoạt động, phá sản của hệ thống ngân hàng 28

Bảng 5: Tình trạng thua lỗ, phá sản của các doanh nghiệp 28

Bảng 6: Chỉ số tăng trưởng GDP và tỷ lệ thất nghiệp khi khủng hoảng 29

Trang 4

Ảnh hưởng sâu rộng từ cuộc khủng hoảng tài chính tại Thái Lan đã đặt ramột câu hỏi lớn về việc phòng tránh các nguy cơ để không tái xuất hiện các cuộckhủng hoảng có quy mô lớn Hiểu được tầm quan trọng của vấn đề này, nhóm

nghiên cứu đã tập hợp một số tài liệu tham khảo và chọn đề tài “Ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tiền tệ châu Á 1997 đến các nước trong khu vực và bài học cho Việt Nam” nhằm nghiên cứu các tác động của nó đến thị trường các nước

trong khu vực và củng cố những bài học từ cuộc khủng hoảng đó trong bộ môn

“Tài chính quốc tế” của khoa Tài chính – Ngân hàng, trường Đại học Ngoạithương Tuy nhiên, với vốn kiến thức có hạn và khuôn khổ giới hạn của bài tiểuluận, nhóm nghiên cứu xin trình bày ba phần chính:

Chương 1: Lý thuyết, mô hình giải thích các cuộc khủng hoảng tiền tệtrước đây của các chuyên gia kinh tế

Chương 2: Diễn biến, nguyên nhân, hậu quả của cuộc khủng hoảng châu

Á 1997 và sự ảnh hưởng đến thị trường tiền tệ các nước trong khu vực

Chương 3: Một số bài học rút ra từ cuộc khủng hoảng châu Á 1997

Trang 5

CHƯƠNG 1: LÝ THUYẾT, MÔ HÌNH GIẢI THÍCH CÁC CUỘC KHỦNG HOẢNG TIỀN TỆ TRƯỚC ĐÂY CỦA CÁC CHUYÊN GIA

KINH TẾ 1.1 Khái niệm khủng hoảng tiền tệ

Theo C Reinhart, M Goldstein và G Kaminsky thì: “Khủng hoảng tiền tệ

là trạng thái mà ở đó một cuộc tấn công vào đồng tiền nội địa dẫn đến sự thâmhụt phần lớn dự trữ ngoại tệ và làm mất giá nhanh chóng đồng tiền nội tệ.” [1]Trong một nghiên cứu khác, S Claessens và M A Kose đã chỉ ra rằng:

“Khủng hoảng tiền tệ diễn ra khi có hoạt động đầu cơ tiền tệ dẫn tới sự mất giáđột ngột của đồng nội tệ hoặc buộc các cơ quan có liên quan ra sức bảo vệ đồngnội tệ bằng cách chi ra một lượng lớn dự trữ ngoại hối, tăng lãi suất hoặc thựchiện kiểm soát vốn.” [2]

Nhóm ba tác giả C Burnside, M Eichenbaum và S Rebelo đã định nghĩangắn gọn hơn về khủng hoảng tiền tệ: “Khủng hoảng tiền tệ là một tình trạng khi

mà tỉ giá hối đoái sụt giảm mạnh trong một thời gian ngắn.” [3]

Từ ba định nghĩa trên, ta có thể tổng kết rằng khủng hoảng tiền tệ là mộttrạng thái mà khi đó giá trị đối ngoại của đơn vị tiền tệ quốc gia bị suy giảm (nóicách khác là mất giá so với ngoại tệ) một cách nghiêm trọng và nhanh chóng.Chính phủ gặp khó khăn trong việc kiểm soát tỉ giá hối đoái và khi ngân hàngtrung ương cố gắng can thiệp để bảo vệ giá trị đồng nội tệ thì dự trữ ngoại hốicủa quốc gia bị mất đi ở quy mô lớn

Trên thế giới đã từng xảy ra những cuộc khủng hoảng tiền tệ khác nhau tại cácquốc gia khác nhau Chúng đều gây ra ảnh hưởng lớn tới nền kinh tế của quốc gianhưng không thể cùng giải thích nguyên nhân, diễn biến theo cùng một hướnggiống nhau Vì vậy, các chuyên gia kinh tế đã phân loại các cuộc khủng hoảng tiền

tệ thành từng thế hệ với tính chất khác nhau Dựa vào những nghiên cứu của các

Trang 6

hợp lại và đưa ra các mô hình giải thích về các cuộc khủng hoảng tiền tệ một cách

dễ nắm bắt

1.2 Các mô hình khủng hoảng

1.2.1 Khủng hoảng tiền tệ thế hệ thứ nhất – Khủng hoảng tại châu Mỹ

Latinh trong thập niên 80

Khủng hoảng tiền tệ liên quan đến việc chính phủ không còn đủ dự trữngoại tệ để đáp ứng như cầu sử dụng ngoại tệ của các khu vực khác nhau trongnền kinh tế và buộc phải phá giá Paul Krugman (1979) đã nghiên cứu và cho rađời một mô hình cho phép giải thích khá rõ nét về cơ chế của một cuộc tấn côngtiền tệ, được gọi là mô hình khủng hoảng tiền tệ thế hệ thứ nhất Mô hinh nàyđược xây dựng nhằm chứng minh sự thất bại của chính phủ trong nỗ lực neo giữ

tỷ giá bằng nguồn dự trữ ngoại hối của mình trước các cuộc tấn công của giớiđầu cơ Mô hình của Krugman sau đó được hai nhà nghiên cứu khác là Flood vàGarber phát triển thêm vào năm 1984, nhờ vào kết quả quan sát từ các cuộckhủng hoảng ở Argentina (1981) và Mexico (1982)

Hình 1: Mô hình khủng hoảng tiền tệ thế hệ thứ nhất

(Nguồn: Bài giảng Khủng hoảng tiền tệ của Nguyễn Xuân Thành, 2008)

Trang 7

Nguồn cơn bắt đầu bằng việc chính phủ duy trì tỷ giá hối đoái cố định.Chính phủ có thể bảo vệ tỷ giá bằng cách can thiệp trực tiếp vào trị trường ngoạihối Nếu có một thị trường tài chính phát triển, nhiệm vụ này có thể được thựchiện bằng các hoạt động thị trường mở hay can thiệp vào thị trường ngoại hối kỳhạn Tuy nhiên, việc bảo vệ tỷ giá cũng có giới hạn của nó Trước các sức épgiảm giá trị đồng nội tệ (thường thì do chính phủ in tiền để bồi đắp thâm hụtngân sách), chính phủ liên tục phải bán ngoại tệ để bảo vệ tỷ giá Dự trữ ngoạihối giảm và cuối cùng thì chính phủ buộc phải chấm dứt việc áp dụng tỷ giá cốđịnh và chuyển sang thả nổi tỷ giá Điểm đặc biệt là ngay trước khi dự trữ cạnkiệt, sự suy yếu của các yếu tố kinh tế vĩ mô căn bản trở thành tín hiệu cho cáccuộc tấn công mang tính đầu cơ vào đồng tiền nội tệ và đẩy nhanh khủng hoảng.

1.2.2 Khủng hoảng tiền tệ thế hệ thứ hai – Khủng hoảng của Hệ thống tiền tệ

châu Âu (EMS) 1992 – 1993

Cuộc khủng hoảng tiền tệ dưới Cơ chế Tỷ giá châu Âu (ERM) 1992 mangnhững đặc trưng mới mà mô hình thứ nhất không giải thích được Thực tế chothấy nhiều nước tham gia ERM rơi vào khủng hoảng tiền tệ khi dự trữ ngoại tệcủa họ vẫn khá dồi dào Điều đó cho thấy dự trữ ngoại tệ không phải là vấn đềchính của khủng hoảng mà thay vào đó chính là sự lựa chọn chính sách Donhững quan ngại về tác động của lãi suất cao và thất nghiệp nên chính phủ nhiềunước đã thả nổi tỷ giá hối đoái khi bị các nhà đầu cơ tấn công

Năm 1994, Obstfeld đã nghiên cứu vấn đề này và đề xuất một cách giảithích khác về khủng hoảng tiền tệ và được gọi là lý thuyết khủng hoảng tiền tệthế hệ thứ hai

Trang 8

Hình 2: Mô hình khủng hoảng tiền tệ thế hệ thứ hai

(Nguồn: Bài giảng Khủng hoảng tiền tệ của Nguyễn Xuân Thành, 2008)

Obstfeld đã đưa ra khái niệm “kỳ vọng xoay vòng” trong mô hình mới này.Theo Obstfeld, việc quyết định bảo vệ tỷ giá hối đoái cố định có cả lợi ích và chiphí Đứng trước sức ép phải thả nổi tỷ giá, nếu chính phủ quyết định bảo vệ tỷgiá cố định thì lợi ích có được sẽ là uy tín về chính sách trong dài hạn Nhưngviệc bảo vệ tỷ giá tạo ra những tác động tiêu cực tới nền kinh tế nội địa, vì thôngthường lãi suất sẽ tăng

Khi lãi suất tăng, trước hết, tăng trưởng kinh tế và tỉ lệ thất nghiệp sẽ chịuảnh hưởng Tác động thứ hai là tác động tới hệ thống ngân hàng Khi lãi suấttăng, ngân hàng buộc phải trả lãi cao hơn cho các khoản tiền gửi Những đốitượng vay nợ theo lãi suất thả nổi sẽ gặp khó khăn về khả năng thanh toán Tỷ lệ

nợ khó đòi và tình trạng vỡ nợ vì thế mà gia tăng, làm ảnh hưởng tới khả năngvững mạnh về mặt tài chính của cả hệ thống ngân hàng

Đứng trước sự cân đối giữa lợi ích và chi phí, chính phủ có thể lựa chọn bảo

vệ tỷ giá hối đoái hoặc thả nổi tỷ giá Các nhà đầu cơ cũng có hai lựa chọn: tấncông vào đồng nội tệ hoặc không Nếu thấy tại một thời điểm nào đó việc bảo vệ tỷgiá cố định tạo nên những chi phí kinh tế quá lớn thì các nhà đầu cơ có thể suy

Trang 9

đoán rằng chính phủ sẽ thả nổi tỷ giá để có thể giảm lãi suất và thúc đẩy tăngtrưởng kinh tế Kỳ vọng này làm các nhà đầu cơ và cả nhiều nhà đầu tư khácđồng loạt bán đồng nội tệ để mua vào ngoại tệ.

Các quốc gia đang trong tình trạng tăng trưởng chậm và có tỉ lệ thất nghiệpcao Muốn giảm tỷ lệ thất nghiệp, kích thích kinh tế thì phải hi sinh tỷ giá hối đoái,bắt buộc phải giảm lãi suất Khi giảm lãi suất thì đầu tư nước ngoài vào quốc gia đó

sẽ tụt giảm, cung nội tệ giảm làm đồng nội tệ bị giảm giá Các nhà đầu tư tấn côngtiền tệ sẽ làm cho đồng nội tệ giảm giá đến mức kỉ lục Chính phủ thấy rằng chínhsách lãi suất làm cho đồng nội tệ sụt giá một cách trầm trọng do đó chính phủ buộcphải quay lại giữ vững tỉ giá Muốn ổng định tỷ giá thì bên cạnh việc can thiệp trựctiếp bằng cách mua hoặc bán ngoại tệ thì chính phủ có thể sử dụng công cụ lãi suất,tức là phải tăng lãi suất đồng nội tệ để kéo đồng nội tệ lên

Mô hình này có nhược điểm là khó giải thích sự khủng hoảng tự phát xảy ra

Kỳ vọng đầu cơ phụ thuộc vào việc suy đoán phản ứng của chính phủ, những phảnứng của chính phủ lại phụ thuộc vào việc những thay đổi về giá cả và các chỉ sốkinh tế khác tác động thế nào tới tình hình kinh tế và chính trị, nhưng những thayđổi này lại phụ thuộc vào kỳ vọng của các nhà đầu cơ Chính những yếu tố và tácđộng xoay vòng này khiến cho nguy cơ xảy ra những cuộc khủng hoảng tự phát

1.2.3 Khủng hoảng tiền tệ thế hệ thứ ba – Khủng hoảng tài chính châu Á 1997

Khi khủng hoảng tài chính châu Á 1997 nổ ra, các nhà nghiên cứu thấyđược sự xuất hiện của khủng hoảng kép, khủng hoảng tiền tệ và khủng hoảngngân hàng Mô hình khủng hoảng tiền tệ thế hệ thứ hai không giải thích đượccho khủng hoảng tài chính ở châu Á năm 1997, bởi vậy Krugman, Radelet vàSachs (1998) đã đưa ra lý thuyết khủng hoảng thế hệ thứ ba

Trang 10

Hình 3: Mô hình khủng hoảng tiền tệ thế hệ thứ ba

(Nguồn: Bài giảng Khủng hoảng tiền tệ của Nguyễn Xuân Thành, 2008)

Các quốc gia quá tập trung vào các ngân hàng, tin tưởng vào sự phát triểncủa các định chế tài chính nhưng lại thiếu biện pháp giám sát Bởi vậy mà cácdòng vốn được đổ vào một cách mạnh mẽ nhưng lại bị phân bổ bất cân xứng.Các dòng vốn ngắn hạn được cho vay dài hạn tạo ra sự bất cân xứng giữa tài sản

nợ và tài sản có, làm nợ ngoại tệ kì hạn ngắn gia tăng Mặt khác, khi các khoảnvay bằng ngoại tệ tăng thì nguy cơ biến động tỷ giá sẽ ảnh hưởng đến khả năngthanh toán, rủi ro tín dụng tăng cao, tỷ lệ nợ khó đòi sẽ gia tăng do khả năngkiểm soát yếu kém Hơn nữa, việc chính phủ giữ chế độ tỷ giá cố định, định giácao đồng nội tệ, khiến thâm hụt thương mại gia tăng, làm mất cân đối cán cânthanh toán của một quốc gia dẫn đến nguy cơ xảy ra khủng hoảng

Hệ thống kiểm soát tại các quốc gia này yếu kém, đầu tư kém hiệu quả dophân bố các nguồn vốn sai lệch, xảy ra tham nhũng Dòng vốn vào tăng nhanh, đầu

tư quá mức sẽ làm cho giá trị các tài sản tài chính cao hơn giá trị thực làm xuất hiệnbong bóng tài sản Hệ quả là khi bong bóng vỡ, giá các tài sản sẽ nhanh

Trang 11

chóng rớt giá trở về giá trị thực Tàii sản tài chính giảm giá đột ngột, sụt giảmcán cân thương mại buộc chính phủ phải áp dụng các biện pháp can thiệp và mộttrong số đó là lãi suất Lãi suất huy động vốn ngắn hạn được điều chỉnh tăng vàlãi suất các khoản vay cũng tăng, khiến tỷ lệ nợ khó đòi cao, ngân hàng mất khảnăng thanh toán trong hoạt động của mình do bất cân xứng về các kì hạn tài sản

có và tài sản nợ Điều này sẽ dẫn đến khủng hoảng xảy ra Dấu hiệu khủnghoảng đó là tấn công tiền tệ của các nhà đầu cơ, dòng vốn bị đảo ngược, ngânhàng mất khả năng thanh toán và tuyên bố phá sản, các doanh nghiệp không thểhoat động cũng tuyên bố phá sản

Trang 12

CHƯƠNG 2: NGUYÊN NHÂN, DIỄN BIẾN CỦA CUỘC KHỦNG HOẢNG CỦA CUỘC KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH CHÂU Á NĂM 1997

VÀ NHỮNG ẢNH HƯỞNG ĐỐI VỚI CÁC NƯỚC TRONG KHU VỰC 2.1 Nguyên nhân của cuộc khủng hoảng

2.1.1 Nguyên nhân chủ quan

a Nền kinh tế vĩ mô yếu kém đưa đến sự bùng nổ tín dụng, tài khoản vãng lai thâm hụt

Chính sách tiền tệ nới nỏng và việc tự do hóa tài chính ở Mỹ, Châu Âu vàNhật Bản cuối thập niên 1980 khiến cho tính thanh khoản ở rất nhiều nước ởmức cao Các nhà đầu tư tìm cách chuyển đổi danh mục tài sản của mình bằngcách chuyển vốn đầu tư ra nước ngoài Quá trình toàn cầu hóa các thị trường tàichính diễn ra với tốc độ chóng mặt Chỉ trong giai đoạn 1990-1997, vốn tư nhânđưa vào các nước đang phát triển đã tăng hơn 5 lần, từ 42 triệu năm 1990 lên 256triệu USD năm 1997 Mà trong khi thương mại thế giới chỉ tăng 5%/năm thìdòng vốn tư nhân tăng gần 30%/ năm Những hình thức huy động vốn nhanhchóng nhất như vay nợ từ các ngân hàng thương mại và đầu tư gián tiếp là nhữngyếu tố tạo nên tốc độ tăng trưởng cao trên luồng vốn

Vào những năm 70, 80 Đông Á trở thành địa điểm lý tưởng do có mức tăngtrưởng nhanh, tỷ lệ nợ thấp, quản lý kinh tế vĩ mô tốt đã thu hút vốn đầu tư nướcngoài Tuy nhiên sự tăng trưởng nhanh, đô thị hóa và công nghiệp hóa cùng vớikhối lượng vốn ồ ạt làm xuất hiện nhiều khó khan Tăng trưởng nhanh trong điềukiện thiếu các thị trường tài chính, thị trường vốn mạnh và có sự tham gia củachính phủ làm cho các khu vực tài chính và các tập đoàn thường phải đầu tư dàihạn bằng nguồn vốn vay nợ ngắn hạn Điều này dẫn đến sự tích tụ các khoản nợngắn hạn đối với nước ngoài phải trả Trước tình hình này chính phủ các nước đãđưa ra chính sách thắt chặt tiền tệ nhằm loại bỏ ảnh hưởng của dòng vốn vào và

mở rộng tín dụng làm tăng lãi suất trong nước cũng như tạo ra sự chênh lệch về

Trang 13

lãi suất giữa trong nước và nước ngoài, khuyến khích các nhà đầu tư vay vốnnước ngoài để đầu tư vào trong nước dẫn đến sự bùng nổ tín dụng trong nước,góp phần làm thâm hụt tài khoản vãng lai tăng lên.

Bên cạnh đó, các quy chế cần thiết để quản lý sự hòa nhập tài chính toàncầu không bắt kịp với luồng vốn vào, mà dòng vốn đi vào thì vai trò trung giantài chính quốc tế lại càng quan trọng: đầu tư vào lĩnh vực vó tỷ suất hoàn vốncao đối với những người vay có độ tín nhiệm cao thì dòng vốn đầu tư sẽ có tiềmnăng thức đẩy tăng trưởng kinh tế ở Đông Á Tuy nhiên, các doanh nghiệp tiếpnhận vốn nước ngoài thông qua hệ thống ngân hàng thương mại mà các ngânhàng này không đưa ra những quy định rõ ràng và nghiêm khắc cho các doanhnghiệp vay vốn nước ngoài Hầu hết các nguồn vốn là ngắn hạn nhưng các doanhnghiệp lại dung chúng vào các dự án dài hạn tỷ suất sinh lợi thấp, rủi ro cao

b Chế độ tỷ giá không phù hợp với xu thế

Chế độ tỷ giá không phù hợp là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến việc phá giáhàng loạt các đồng tiền khu vực Mặc dù khởi phát tự việc thả nổi đồng tiền bahtThái Lan dẫn đến hiệu ứng lan tỏa sang các đồng tiền khác như: Peso, Ringgit,Rupiah, … các đồng tiền này đã bị giảm giá trước xu hướng ngày càng tăng củađồng USD

Về mặt lý thuyết, chế độ tỷ giá hối đoái cố định theo hệ thống Bretton Woods

có ý nghĩa tích cực trong việc ổn định hóa đồng tiền nội tệ và hỗ trợ cho quá trìnhtăng trưởng kinh tế Tuy nhiên nếu lạm dụng quá nhiều vào tỷ giá cố định trongđiều kiện đồng nội tệ trên thực tế bị giảm giá so với đồng tiền mạnh khác cũng như

cơ cấu kinh tế mất cân đối lớn dẫn đến nguy cơ khủng hoảng Chính sách kìm giữmột cách giả tạo đồng nội tệ để thu hút vốn đầu tư nước ngoài ở khu vực Đông Nam

Á tăng trưởng nhanh trong thập niên 1980 và nửa đầu thập niên 1990 đã tạo ra sức

ép tăng giá nội tệ Để bảo vệ tỷ giá cố định, các ngân hàng trung ưng Đông

Trang 14

Nam Á đã thực hiện chính sách tiền tệ nới lỏng Kết quả, cung tiền tăng gây tăngsức ép lạm phát nhằm bù đănps lỗ hổng của tài khoản vãng lai.

Thái Lan và một số nước Đông Nam Á đã cố gắng thực hiện cái mà các nhàkinh tế gọi là Bộ ba chính sách khioong thể đồng thời: vừa cố định đồng tiền củamình vào Dolla Mỹ, vừa cho phép tự do lưu chuyển vốn Chính sách vô hiệu hóađược áp dụng để chống lạm phát vô hình chung đẩy mạnh các dòng vốn chảyvào nền kinh tế

Vào giữa thập niên 1990, Hàn Quốc có nền tảng kinh tế vĩ mô tương đối tốtngoại trừ việc đồng Won không ngừng lên giá với Dollar Mỹ trong thời kỳ đầu

từ sau năm 1987 Điều này làm chi tài khoản vãng lai của Hàn Quốc suy yếu vìgiá hàng xuất khẩu của Hàn Quốc trên thị trường hàng hóa quốc tế tăng Trongkhi Hàn Quốc lại theo đuổi một tỷ giá hoái đoái lỏng lẻo và chính sách tự do hóatài khoản vốn Vì vậy, thâm hụt tài khoản vãng lai được bù đắp lại bằng việc cácngân hàng của nước này đi vay nước ngoài mà phần lớn là vay nợ ngắn hạn vàkhông tự bảo hiểm rủi ro

2.1.2 Nguyên nhân khách quan

a Sự tăng lên của nguồn vốn nước ngoài

Từ năm 1994-1997, lượng vốn tư nhân chảy vào cá nước đang phát triển tăng

5 lần từ 42 tỷ USD lên 256 tỷ USD Đông Á là nơi thu hút một lượng lớn dòng vốn này, chiếm khoảng 60% trong nửa đầu thập niên 1990

Suất sinh lợi thấp ở các nền kinh tế phát triển và sự thần kỳ trong tăngtrưởng kinh tế của Đông Á là những động lực thúc đẩy dòng vốn chảy từ Hoa

Kỳ, Nhật Bản và EU tới các nước Đông Á

Vào giữa thập niên 90, chính sách tiền tệ mở rộng ở Hoa Kỳ, nới lỏng kiểmsoát tài chính ở Châu Âu và tình trạng bong bóng đồng yên ở Nhật Bản đã làmcho tính thanh khoản toàn cầu trở nên cao quá mức Chênh lệch lãi suất giữa các nền kinh tế Đông Á và các trung tâm tiền tệ đang ở mức dương

Trang 15

Bên cạnh đó, những xúc tiến đầu tư của chính phủ và những bảo hộ ngầncủa chính phủ chi các thể chế tài chính cũng góp phần làm các công ty ở Châu Ábất chấp mạo hiểm để đi vay ngân hàng trong khi các ngân hàng bất chấp mạohiểm để đi vay nước ngoài mà phần lớn là vay nợ ngắn hạn và nợ không tự bảohiểm rủi ro.

Ví dụ như chính sách của Hàn Quốc là hạn chế đầu tư nước ngoài dài hạn dướidạng FDI hay đầu tư chứng khoán, trong khi chỉ cho phép các ngân hàng vay ngắnhạn nước ngoài, Tỷ giá hối đoái cố định mà nhiều chính phủ Đông Á duy trì cũng làyếu tố khuyến khích song cốn nước ngoài do rủi ro tỷ giá được loại bỏ

Điểm đáng lưu ý nưa là hầu hết các khoản vay nước ngoài ngắn hạn đượcđầu tư dài hạn Nợ ngắn hạn nước nhoài luôn luôn lớn hơn so với dự trữ ngoại tệcủa các nước Đông Á vào thời điểm trước khi xảy ra khủng hoảng, có nghĩa làtrong ngắn hạn nền kinh tế sẽ không có khả năng chi trả Chỉ có 2 nước làMalaysia và Phillipines trong số 5 nước bị khủng hoảng có nợ ngắn hang thấphơn mức dự trữ ngoại tệ

b Thị trường thương mại toàn cầu giảm sút và những thay đổi bất lợi của kinh tế thế giới

Từ năm 1995 trở lại đây, tốc độ tăng trưởng kih tế của các nước côngnghiệp phát triển giảm sút dẫn đến lượng cầu cũng suy giảm Đặc biệt, nhữngnước này là bạn hàng chủ yếu, đối tác kích thích quá trình tăng trưởng nónghướng về xuấ khẩu của các nước Đông Nam Á

Năm 1996, tốc độ tăng trưởng kinh tế của các nước Đông Á bắt đầu chựnglại, tăng trưởng trong xuất khẩu của Đông Nam Á giảm xuống một cách nhanhchóng làm cho tài khoản vãng lai bị suy yếu, bao gồm các nguyên nhân:

- Tăng trưởng thương mại toàn cầu suy giảm

- Đồng yên mất giá

Trang 16

- Lượng cầu và giá của các mặt hàng xuất khẩu suy giảm

c Hoạt động tấn công đầu cơ và rút vốn đồng loạt

Nguyên nhân trực tiếp của khủng hoảng tìa chính Đông Á năm 1997 lànhững cuộc tấn công đầu cơ và việc rút vốn đồng loạt khỏi các nước Châu Á.Khi phát hiện những dấu hiệu suy thoái của hệ thống nhân hàng – tài chính khuvực, nhiều nhà đầu cơ nước ngoài đã tăng cường hoạt động đầu cơ tiền tệ

Có rất nhiều nhà đầu cơ trong tổng số 2300 quỹ tín dụng tư nhân ở Mỹ, vớitài sản trên 100 tỷ USD đã nhảy vào thị trường khu vực này trong 2 tháng 7 và8/1997 Ngoài các quỹ do Soros kiểm soát còn có các quỹ tín dụng lớn nhưTiger, Orbit, Pumar, … Họ mua đồng Baht rồi Peso, Ringgit và Rupiah và ướctính là 10-15 tỷ USD để đầu cơ, cả dự trữ ngoại hối nhà nước cạn kiệt càng làmcho tấn công đầu cơ thêm kéo dài

Cuối cùng thì thì trường bất động sản của Thái Lan đã vỡ Một số thể chếtài chính bị phá sản, một số thể chế đầu cơ vĩ mô tiến hành tấn công tiền tệ Châu

Á, các nhà đầu tư nước ngoài quyết định đồng loạt rút vốn ra

Châu á rơi vào tình trạng các nhà đầu tư không còn tin rằng dự trữ ngoại tệ đủ

để trả nợ ngắn hạn, các nhà đầu tư trong nước và ngoài nước đều muốn chuyển vốn

ra Ngân hàng đòi lại vốn vay, từ chối đảo nợ và ngưng cho vay mới, còn các nhàđầu tư chứng khoán thì bán chủng chuyển rồi đổi ra ngoại tệ và chuyển ra nướcngoài Riêng năm 1997, hơn 20 tỷ USD ròng được đưa ra khỏi 5 nước Châu

Á bị khủng hoảng, trong khi năm 1996 vẫn còn nhận được 66 tỷ USD

2.2 Diễn biến cuộc khủng hoảng tại Thái Lan và một số nước trong khu

Trang 17

bình là 5%/năm Tăng trưởng kinh tế nóng do sự bùng nổi đầu tư vào kinh doanhnhà xưởng, bất động sản, cơ sở hạ tầng du lịch Nhu cầu về bất động sản tăngmạnh tại Bangkok, văn phòng làm việc và các tòa nhà chọc trời mọc lên khắpnơi trên thành phố Các tổ chức tài chính tiếp tục cho các công ty bất động sảnvay vốn vì gia bất động sản liên tục tăng.

Cuối năm 1996, báo cáo Triển vọng Kinh tế Thế giới đã cảnh báo nền kinh tếThái Lan tăng trưởng quá nóng và bong bóng kinh tế có thể không giữ được lâu.Cũng trong thời gian này, thị trường chứng khoán của Thái Lan bắt đầu có sự điềuchỉnh, cả mức vốn hóa thị trường lẫn chỉ số thị trường chứng khoán đều giảm đi

b Đầu năm 1997

Sự bùng nổ về xây dựng nhà ở và văn phòng kinh doanh đã lên tới đỉnhđiểm khi lượng cung vượt quá cầu Ước tính 365000 căn hộ bị bỏ trống ởBangkok vào cuối năm 1996, cùng vơi 100.000 căn hộ khác sẽ được đưa vào sửdụng năm 1997 đã làm cho cung vượt xa cầu thị trường bất động sản

Vào thời điểm đó, bùng nổ đầu tư của Thái Lan vào cơ sở hạ tầng, khu côngnghiệp làm tăng hàm lượng nhập khẩu với tỷ lệ cao chưa từng thấy Để xây dựngThái Lan phải nhập các thiết bị đắt tiền từ Mỹ, Châu Âu, … Kết quả là, tài khoảnvãng lại trong cán cân thanh toán thâm hụt mạnh trong suốt nhứng năm 1990.Lúc này chỉnh phủ quyết định tăng lãi suất, và cùng lúc đó các công ty chovay tài chính cũng lần lượt tuyên bố phá sản vì không có khả năng trả nợ nướcngoài, nợ xấu trên thị trường bất đốngản vì thế ngày càng tăng lên và tăng hơn

30 tỷ trong thời gian này

Các diễn biến này cũng điều diễn ra tương tự với các nền kinh tế như: Hàn Quốc, Hồng Kong, Malaysia

- Cán cân thanh tóa thâm hụt dẫn đến các nhà đầu tư dự kiến phá giá đồng

Trang 18

mua dollar vào để trả nợ khi đáo hạn còn các nhà đầu cơ thay vì vay Baht

để mua USD nhăm thu lại lợi nhuận Điều này khiến cho đồng Baht bị tấncông đầu cơ quy mô lớn vào ngày 14/5/1997

- Sự tăng lãi suất của nhân hàng làm nhiều công ty bị sụp đổ

Trước những sức ép trên, chính phủ Thái Lan tuyên bios không phá giáđồng nội tệ và ban đầu dung dự trữ ngoại tệ để bảo vệ tỷ giá chung nhưn chỉ cóthể duy trì trong vòng 1 tháng Sau đó đồng Baht được thả nổi vào ngày 2/7/1997

và ngay lập tức mất 10% rồi tiếp tục giảm xuống sau đó (lên tới 50%) Vào đầunăm 1997, tỷ giá giữa đồng Baht và USA là 25 Baht đổi 1 USD, nhưng đếntháng 1/1998 tỷ giá này đã giảm xuống tới mức 56 Baht đổi 1USD

Chỉ số thị trường chứng khoán Thái Lan đã tụt từ mức 1.280 cuối năm 1995xuống 372 cuối năm 1997 Đồng thời, mức vốn hóa thị trường vốn giảm từ 141,5

tỷ USD xuống còn 23,5 tỷ USD

Finance One là công ty tài chính lớn nhất của Thái Lan bị phá sản

Cuộc khủng hoảng tài chính xảy ra khiến kinh tế Thái Lan suy sụp, nguy cơlan ra các nước khác cùng khu vực là rất cao IMF tuyên bố sẽ cung cấp 1 góicứu trợ trị giá 16 tỷ dollar Mỹ cho Thái Lan vào ngày 11/8 Đến ngày 20/8, IMFthông qua một số gói cứu trợ nữa trị giá 3,9 tỷ dollar

Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng vẫn nhanh chóng lan ra Hàn Quốc, Malaysia

ở HongKong lại cao hơn ở Mỹ Đây là cơ sở để cho giới đầu cơ tấn công Nhờ có

dự trữ ngoại tệ hùng hậu lên tới 80 tỷ USD vào thời điểm đó tương đương 700%lượng cung tiền M1 hay 45% lượng cung tiền M3, nên Cơ quan Tiền tệ Hong

Trang 19

Kong đã dám chi hơn 1 tỷ USD để bảo vệ đồng tiền của mình Các thị trường chứngkhoán ngày càng trở nên dễ đổ vỡ Từ ngày 20 tháng 10 đến 23 tháng 10, Chỉ sốHang Seng đã giảm 23% Ngày 15 tháng 8 năm 1998, Hong Kong nâng lãi suất chovay qua đêm từ 8% lên thành 23% và ngay lập tức nâng vọt lên 500%.

Các hoạt động đầu cơ nhằm vào Dollar Hong Kong và thị trường chứngkhoán của nước này đã ngừng lại vào tháng 9 năm 1998 chủ yếu do các nhà đầu

cơ bị thiệt hại bởi chính sách điều tiết dòng vốn nước ngoài của chính phủMalaysia và bởi sự sụp đổ của thị trường trái phiếu và tiền tệ ở Nga Tỷ giá neogiữa Dollar Hong Kong và Dollar Mỹ vẫn được bảo toàn ở mức 7,8 :1

b Hàn Quốc

Đầu năm 1996, tập đoàn Woosing phá sản

Ngày 23/1/1997, tập đoàn thép Hanbo phá sản, để lại món nợ 5,9 tỉ USDcho 61 ngân hàng và công ty tài chính

Ngày 19/3/1997, tập đoàn thép Sammi- Chaebeol đứng thứ 26 của HànQuốc phá sản, kéo theo 27 công ty thành viên phá sản, để lại món nợ 2,2 tỉ USD

Từ 1/1997 đến 2/1998 có 8 Chaeboel phá sản, trong đó có công ty ô tô KIA,đứng thứ 3 trong công nghiệp ô tô Năm 1998, Hyundai Motor mua lại Kia Motors.Quỹ đầu tư mạo hiểm trị giá 5 tỉ USD của Samsung cũng giải thế do tácđộng quá mạnh của cuộc khủng hoảng, tiếp đó Daewoo Motors phải bán lại choGeneral Motors

Từ 13/7/1997, hàng loạt ngân hàng được các công ty đánh giá cho xuốnghạng “không tin cậy”

Ngày 30/9, tỉ giá hối đoái đạt 914,8 won/ USD, tăng 8% so với mức 833,2%ngày 31/12/1996 Ngày 28 và 29/10/1997, tỉ gái hối đoái đạt mức giao động chophép, không ai bán ngoại tệ cho ngân hàng Ngày 19/11/1997, giới hạn giaođộng tỉ giá được mở rộng tới 10%

Ngày đăng: 27/07/2020, 06:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w