1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

tiểu luận tài chính quốc tế vai trò các gói cứu trợ của chính phủ mỹ trong việc phục hồi lại hệ thống ngân hàng sau khủng hoảng 2007 2008

52 59 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 52
Dung lượng 490 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do vậy, nhóm chúng em quyết định chọn đề tài: “Vai trò các gói cứu trợ của chính phủ Mỹ trong việc phục hồi lại hệ thống ngân hàng sau khủng hoảng 2007-2008” để có thể có một cái nhìn kh

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Đã hơn một thập kỉ trôi qua để từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm

2007-2008, bắt nguồn từ thị trường bất động sản Mỹ sau đó lan rộng ra toàn bộ hệ thốngkinh tế - tài chính toàn thế giới Cuộc khủng hoảng 2007-2008 tại Mỹ được ví nhưcuộc đại khủng hoảng (The Great Depression) thứ hai trong lịch sử bởi tính phứctạp và quy mô rộng lớn của nó Nghiên cứu về cuộc khủng hoảng tài chính 2007-

2008 không còn là một đề tài mới; Tuy nhiên, nghiên cứu cụ thể về các gói cứu trợcủa chính phủ Mỹ trong giai đoạn này vẫn còn chưa có nhiều Do vậy, nhóm chúng

em quyết định chọn đề tài: “Vai trò các gói cứu trợ của chính phủ Mỹ

trong việc phục hồi lại hệ thống ngân hàng sau khủng hoảng 2007-2008” để

có thể có một cái nhìn khái quát và đầy đủ hơn về những biện pháp được thi

hành bởi chính phủ Mỹ trong thời kì này, đồng thời giúp đề xuất được một sốgiải pháp cho việc đối phó với khủng hoảng trong tương lai

Bài tiểu luận này tập trung đi vào phân tích những gói cứu trợ nổi bật mà chínhphủ Mỹ đã thực hiện nhằm mục đích đưa hệ thống ngân hàng bước ra khỏi vũnglầy khủng hoảng nói riêng và ổn định lại sức khỏe của toàn bộ nền kinh tế nóichung Các chính sách cứu trợ của chính phủ Mỹ được nhóm nghiên cứu chiathành ba nhóm chính, bao gồm: 1/ Chính sách từ Cục dự trữ Liên bang Mỹ(FED); 2/ Đạo luật được thông qua bởi Quốc hội Mỹ; 3/ Chính sách từ bộ tàichính Hoa Kì (The Treasury)

Do bài tiểu luận còn nhiều thiếu sót, chúng em rất mong nhận được ý kiến đónggóp từ cô giáo để chúng em có thể bổ sung thêm kiến thức và làm tốt hơn trongnhững nghiên cứu về sau Chúng em xin trân trọng cảm ơn cô

Trang 2

NỘI DUNG

1.1 Cơ sở lý luận về khủng hoảng tài chính

1.1.1 Khái niệm khủng hoảng tài chính

Khủng hoảng tài chính là tình trạng mất cân bằng trong quá trình huy động vàphân phối nguồn tài chính nhằm đáp ứng nhu cầu của các chủ thể kinh tế trong

xã hội, biểu hiện bởi sự sụt giảm mạnh mẽ giá trị tài sản và sự đổ vỡ của hệthống tài chính, phi tài chính kéo theo sự suy thoái nặng nề

Một số cuộc khủng hoảng tài chính đã xảy ra có thể kể tên là đại khủng hoảng

Mỹ 1929-1933; sụp đổ tài chính Mỹ 1987; khủng hoảng ngân hàng Nhật Bảnnhững năm 90; khủng hoảng nợ Mexico 1994-1995; khủng hoảng tài chính châu

Á 1997-1998; khủng hoảng tài chính Mỹ 2007-2008;

1.1.2 Dấu hiệu của khủng hoảng tài chính

Để nhận biết một cuộc khủng hoảng tài chính sắp xảy ra có thể dựa vào nhiềudấu hiệu Đầu tiên là sự giảm giá dây chuyền của các đồng tiền Khi mà đồngtiền của các quốc gia bị giảm giá liên tục, giá chứng khoán và bất động sản theo

đó cũng giảm nhanh chóng, dẫn tới nhiều ngân hàng, tổ chức tài chính lâm vàophá sản Sự giảm giá đồng tiền của quốc gia này gây sức ép àm mất lợi theescạnh tranh của các nước có điều kiện kinh tế vĩ mô và mặt hàng xuất khẩu tương

tự, cuối cùng làm đồng tiền các nước này bị giảm giá theo

Lãi suất tín dụng gia tăng cũng là dấu hiệu cho một cuộc khủng hoảng tài chính.Việc lãi suất gia tăng khiến cầu tiền tệ, cầu tín dụng sụt giảm, các nhà đầu tư giảm

đi vay dẫn tới hoạt động sản xuất kinh doanh bị suy giảm, nền kinh tế trì trệ

Một dấu hiệu khác là thị trường cổ phiểu sụt giá nhanh chóng Khi xảy ra một cuộcrút lui đồng loạt cổ phiếu, lượng bán quá lớn làm quá tải hệ thống quản lý, làm trễ

6

Trang 3

toàn bộ hệ thống và nhà đầu tư Các nhà đầu tư bán cổ phiếu không cần biết lỗ baonhiêu trong khi giá đang rơi thẳng đứng Hành động này làm các cá nhân tổ chứcrơi vào tình trạng mất thông tin, mất kiểm soát và thị trường tài chính sụp đổ.

Cuộc khủng hoảng diễn ra khi mà ngân hàng thương mại không thể hoàn trảđược các khoản tiền gửi của người gửi tiền hay nhu cầu vay vốn cho các kháchhàng đi vay Và ngân hàng cũng không thể thu hồi vốn từ những khách hàng đãvay, bao gồm cả khách hàng được xếp loại A Các ngân hàng phải nhờ đến sựcan thiệp quy mô lớn của ngân hàng trung ương để bù đắp thanh khoản

Ngoài ra, chính phủ từ bỏ chế độ tỷ giá hối đoái cố định, hệ thống ngân hàng bị

tê liệt, các hoạt động kinh tế bị suy giảm cũng là những biểu hiện của một cuộckhủng hoảng tài chính

1.1.3 Nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng tài chính

• Sự bổ trợ chiến lược và lời tiên tri tự phát sinh trên thị trường tài chính

Cho rằng, để đầu tư thành công, nhà đầu tư phải đoán được hành động của các

nhà đầu tư khác, George Soros (1994) gọi đó là sự phản xạ Nghĩa là hành động

của nhà đầu tư này sẽ làm ảnh hưởng đến nhà đầu tư khác Việc một nhà đầu tưbán ra cổ phiếu làm giá cổ phiếu giảm, do giá cổ phiếu giảm ảnh hưởng đến tỷ lệmargin call nên nhà đầu tư thứ hai bán ra cổ phiếu, tương tự như thế nhà đầu tưthứ ba, thứ tư sẽ làm ảnh hưởng đến cả hệ thống và nhà đầu tư đó chính là mộtthành phần trong hệ thống này Từ đó là nguyên nhân dẫn tới khủng hoảng tàichính diện rộng

Còn J M Keynes (1936) lại coi thi trường tài chính như một trò chơi cuộc thi sắc đẹp (beauty contest game), ở đó mỗi người tham sẽ sẽ cố dự đoán mô hình nào

những người tham gia khác cho là đẹp nhất Ví dụ, các nhà quản ý tiền tệ cố gắngmua vào cổ phiếu khi chúng còn rẻ, một số khác cố gắng mua vào những cổ phiếu

Trang 4

sẽ tăng trưởng nhanh, nhưng diễn biến giá cổ phiếu là điều không ai có thể dựđoán chính xác Vì thế, điều nhà đầu tư đang cố gắng làm là mua những cổ phiếu

mà họ nghĩ rằng các nhà đầu tư khác sẽ quyết định rằng cổ phiếu ấy phải có giácao hơn Và kết quả thực chất làm nhiều nhà đầu tư vỡ mộng, dẫn tới hệ quả xấucho thị trường tài chính

Cooper và A John (1988) gọi động cơ bắt chước chiến lược của người khác là

sự bổ trợ chiến lược (Strategic complementarities) Nghĩa là nhà đầu tư dựa trên

quyết định đầu tư của các nhà đầu tư khác trên thị trường để đưa ra phán đoán vềtình hình đầu tư, từ đó đưa ra quyết định cá nhân Thường thì quyết định này làtheo đám đông nhà đầu tư Nhưng những gì các nhà đầu tư này tin tưởng chỉ là

dự đoán, và rủi ro nằm ở điểm này

Các nhà kinh tế Bulow, Geanakoplos, Klemperer (1985) cũng cho rằng nếu cóđộng cơ đủ mạnh để làm tương tự những điều họ kỳ vọng người khác sẽ làm thì

sẽ xảy ra lời tiên tri tự phát sinh (Self-fulfilling prophecies) Tức là các nhà đầu

tư cho rằng một đồng tiền mất giá, một ngân hàng phá sản hay lạm phát xảy rathì thực tế những điều này xảy ra thật Nói cách khác, một lời tiên đoán tích cựchay tiêu cực, một niềm tin mạnh mẽ hay một ảo tưởng - được tuyên bố là sự thựctrong khi nó sai - có thể tạo nên một ảnh hưởng vừa đủ lên con người, thúc đẩycon người hành động hay là tạo động lực làm cho phản ứng/hành động của họcuối cùng hoàn thành lời tiên đoán sai lúc đầu

Trang 5

nghĩa việc nhà đầu tư thất bại với lời hứa trả nợ, rắc rối từ công ty này có thể lan sang công ty khác.

• Sự không tương thích giữa nợ và tài sản

Các NHTM chào mời tài khoản tiền gửi có thể rút tiền bất cứ thời điểm nào, nhưnglại cho doanh nghiệp vay dài hạn có thể dẫn tới sự tháo chạy ngân hàng (người gửitiền hoảng loạn rút tiền nhanh hơn ngân hàng có thể thu hồi nợ vay) Hay việc chínhphủ vì một lí do nào đó, không bán trái phiếu có mệnh giá nội tệ mà thay bằngmệnh giá ngoại tệ, tạo ra sự không tương thích giữa mệnh giá ngoại tệ của nợ vớitài sản có thể kiếm được (doanh thu thuế bằng nội tệ) Do đó dễ xảy ra vỡ nợ quốcgia nếu tỷ giá có sự dao động mạnh hoặc nguồn dự trữ ngoại tệ yếu

• Sự không chắc chắn và hành vi bầy đàn

Xuất phát từ sự thiếu hiểu biết và sự không hoàn hảo trong lý lẽ của con người, màchủ yếu này sinh ngay sau các cuộc cách tân tài chính hay cách mạng kỹ thuật Cácnhà đầu tư tìm thấy cơ hội đầu tư mới có tiềm năng và nhanh chóng đầu tư mặc dù

có thông tin hạn chế về dự án Sự xa lạ với cách tân tài chính, kỹ thuật và tâm lýbầy đàn đã đẩy giá cổ phiếu tăng ngoài tiềm năng thực sự của ngành, đến lúc nào đóthì sự đổ vỡ là không thể tránh khỏi (một số nhà đầu tư nhận ra vấn đề và bán ra dẫntới làn song bán tháo vốn và hậu quả là sự sụp đổ thị trường)

• Các thất bại của hệ thống điều tiết

Các chính sách điều tiết chưa thắt chặt hay quá mức có thể là nguyên nhân dẫntới khủng hoảng Ví dụ, việc để ngân hàng chấp nhận rủi ro quá mức trong hệthống tài chính, cụ thể là các hợp đồng hoán đổi rủi ro tín dụng hay yêu cầu ngânhàng tăng vốn tự có khi rủi ro tăng một phần trói buộc tiềm năng tín dụng Hệquả có thể là khủng hoảng tài chính

Trang 6

• Sự lừa dối

Sự bất cân xứng thông tin, rủi ro đạo đức, vấn đề ủy quyền-thừa hành, lựa chọnbất lợi đã làm sụp đổ nhiều tổ chức tài chính Chẳng hạn các công ty che đậykết quả thu nhập thực sự hay tung hô về các cơ hội đầu tư, dẫn đến quyết địnhđầu tư sai lầm Sự lừa dối trong các khoản tài trợ bất động sản thế chấp cũng cótác động tương tự

• Sự lây lan

Khi sự sụp đổ của một tổ chức tài chính có thể đe dọa sự ổn định của nhiều tổ chứctài chính khác, hoặc rộng hơn là sự khủng hoảng tài chính từ quốc gia này có thể lansang quốc gia khác, gây ra khủng hoảng mở rộng, gọi là rủi ro hệ thống

• Các tác động của suy thoái kinh tế

Các cuộc khủng hoảng tài chính tác động ít hoặc nhiều lên các yếu tố ngoài khuvực tài chính, là các phần còn lại của nền kinh tế Từ đó gây ra mức độ suy thoáitương đương

1.1.4 Đặc điểm của khủng hoảng tài chính

• Sự mất giá đồng tiền, dự trữ ngoại hối suy giảm

• Sự rút vốn ồ ạt của các nhà đầu tư nước ngoài

• Nội tệ mất giá, đẩy lạm phát tăng cao

• Rút tiền gửi đồng loạt dẫn tới nhiều ngân hàng thất bại trong thanh toán nợđến mức đóng cửa, sát nhập hoặc quốc hữu hóa

• Chính phủ phải trợ giúp cho một hoặc nhiều tổ chức tài chính trên quy mô lớn

• Sự mất cân bằng trong bảng tổng kết tài sản Có và tài sản Nợ

10

Trang 7

• Sự mất thăng bằng trong ngân sách nhà nước, cán cân thanh toán và cán cân thương mại.

• Vay nợ nước ngoài tăng nhanh và suy thoái kinh tế trầm trọng

• Khủng hoảng tài chính có tính chất lan truyền Vì hầu hết các nước cóquan hệ song phương hoặc đa phương với nhau, thị trường ngoại hối là thịtrường chung toàn thế giới Khủng hoảng diễn ra tại một nước có thểkhiến các nước khủng hoảng theo, nhất là những nước mà đồng tiền cókhả năng chuyển đổi cao

1.2 Mối quan hệ hai chiều giữa khủng hoảng tài chính và hệ thống ngân hàng

1.2.1 Tác động của khủng hoảng tài chính đến hệ thống ngân hàng

Khủng hoảng tài chính xảy ra, có thể gây ra những tác động trực tiếp đến hoạtđộng tín dụng của các ngân hàng trong đó quan trọng nhất là hoạt động huy độngvốn và hoạt động cho vay Một cuộc khủng hoảng tài chính xảy ra sẽ kéo theo sựbiến động của các nhân tố cơ bản trong thị trường như: chính sách lãi suất, cungcầu tiền tệ trên thị trường, chế độ quản lý tính dụng và khả năng thu hồi nợ…Trong khi đó, hoạt động huy động vốn và cho vay của các ngân hàng lại luônchịu tác động của các nhân tố trên Chính vì vậy, có thể nói, khủng hoảng tàichính gây ra những tác động trực tiếp đến hoạt động của các ngân hàng, khiếncho hoạt động huy động vốn và cho vay của các ngân hàng gặp nhiều khó khăn

Để đưa ra những kết luận cụ thể về tác động của khủng hoảng tài chính lên hệthống ngân hàng, ta tiến hành xem xét sự thay đổi của các nhân tố ảnh hưởngđến hệ thống ngân hàng đã nêu ở trên trong bối cảnh nền kinh tế xảy ra khủnghoảng tài chính

Thứ nhất, về chính sách về lãi suất

Trang 8

Chính sách lãi suất của Chính phủ thay đổi khi đối mặt với khủng hoảng tài chính sẽtác động mạnh tới hoạt động cho vay và huy động vốn Cụ thể, trong trường hợpchính phủ thực hiện chính sách tiền tệ nới lỏng, bơm tiền vào lưu thông để tănglượng cung tiền tiền trên thị trường, khiến cho lãi suất giảm mạnh Chính sách nàythúc đẩy hoạt động vay vốn để đầu tư vào các dự án sinh lời trên thị trường, đồngthời thúc đẩy việc mở rộng của hoạt động cho vay của ngân hàng Tuy nhiên, việccho vay với mức lãi suất thấp cũng khiến cho hoạt động huy động vốn từ tiền gửicủa khách hàng trở nên khỏ khăn hơn Mặt khác, trong trường hợp chính phủ ápdụng chính sách tiền tệ thắt chặt bằng cách yêu cầu các ngân hàng tăng dự trữ bắtbuộc, tăng lãi suất chiết khấu và giảm hạn mức tín dụng, sẽ khiến cho lượng cungtiền giảm, lãi suất bị đẩy lên cao Chính sách này cũng khiến cho hoạt động huyđộng vốn và cho vay của các ngân hàng trở nên trì trệ.

Thứ hai, cung và cầu tiền tệ

Cung- cầu tiền tệ cũng tác động trực tiếp đến hoạt động tín dụng của các ngân hàng.Lượng cung tiền trên thị trường tăng khi Chính phủ thực hiện chính sách tiền tệ nớilỏng và giảm khi thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt Lượng vốn lưu thông trên thịtrường tiền tệ phụ thuộc lớn vào mức cung tiền do chính phủ điểu tiết Chính sáchlãi suất cũng thay đổi phụ thuộc vào mức tăng giảm của cung tiền

Thứ ba, chế độ quản lý tín dụng và khả năng thu hồi nợ

Trong bối cảnh nền kinh tế xảy ra khủng hoảng tài chính, hầu hết các ngân hàng đều

sẽ thắt chặt chế độ quản lý tín dụng Các ngân hàng có thể thắt chặt hơn điều kiệncho vay vốn nhằm hạn chế tối đa các rủi ro tín dụng có thể xảy ra Do đó, dư nợ chovay và huy động vốn của ngân hàng đều sẽ giảm Mặt khác, khủng hoảng tài chínhcòn làm cho các hoạt động kinh tế, sản xuất suy giảm, đình trệ Các cá nhân, tổchức vay vốn để kinh doanh, sản xuất sẽ gặp khó khăn trong việc duy trì

12

Trang 9

hoạt động cũng như trả nợ ngân hàng Do vậy, các ngân hàng sẽ phải đối mặt vớinguy cơ mất khả năng thu hồi nợ Nợ không thu hồi đủ sẽ ảnh hưởng xấu đếnbảng cân dối tài sản cũng như tính thanh khoản của các ngân hàng Từ đó nảysinh vấn đề về khủng hoảng lòng tin – người dân sẽ đồng loạt đi rút tiền ra khỏicác ngân hàng Việc rút tiền gửi ồ ạt sẽ khiến cho các ngân hàng không thể huyđộng kịp lượng tiền mặt đủ để đáp ứng nhu cầu rút tiền của khác hàng, gây rahiệu ứng “đô-mi-nô” làm tê liệt toàn bộ hệ thống ngân hàng.

Tóm lại, hoạt động của hệ thống ngân hàng chịu sự tác động rất lớn từ các nhân

tố trong nền kinh tế như chính sách lãi suất, cung cầu tiền tệ trên thị trường, chế

độ quản lý tính dụng và khả năng thu hồi nợ… Trong khi một cuộc khủng hoảngtài chính có thể dẫn đến sự thay đổi ngoài kiểm soát của bất kì nhân tố nào nêutrên Như vậy, có thể kết luận rằng, khủng hoảng tài chính có tác động mạnh mẽ

và trực tiếp đến hoạt động của hệ thống ngân hàng

1.2.2 Tác động của hệ thống ngân hàng đến khủng hoảng tài chính

Khủng hoảng hệ thống ngân hàng có thể dẫn đên những hệ lụy khủng khiếp chonền kinh tế, làm cho diễn biến cuộc khủng hoảng kinh tế xấu đi

Bên cạnh những tác động mà một cuộc khủng hoảng tài chính có thể gây ra cho

hệ thống ngân hàng, việc các ngân hàng phải gánh chịu những tốn thất từ cuộckhủng hoảng tài chính cũng có thế gây ra những tác động tiêu cực ngược trở lạichính nền kinh tế, làm cho cuộc khủng hoảng tài chính trở nên trầm trọng vàphức tạp hơn

Có thể nói, vai trò của hệ thống ngân hàng trong nền kinh tế của một quốc gia làkhông thể phủ nhận Với vai trò trung gian tài chính, ngân hàng có mối liên hệ vớihầu hết các chủ thể trong nền kinh tế, từ hộ gia đình, khối doanh nghiệp, khối Nhànước tới khối xuất nhập khẩu; thông qua tất cả các kênh như: tiêu dùng, ngân sách,

Trang 10

đầu tư, thương mại Trên khía cạnh xã hội, ngân hàng trực tiếp hoặc gián tiếpcung cấp vốn cho các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng, giao thông, năng lượng,giáo dục, y tế… Do tính kết nối thành một mạng lưới của các tổ chức tài chính,

sự khủng hoảng của một ngân hàng có thể nhanh chóng kích hoạt tình trạng khókhăn cùng lúc tại nhiều ngân hàng và các bên liên quan khác, nguy cơ dẫn tới đổ

vỡ dây chuyền là kết cục không mong đợi đã từng xảy ra ở nhiều quốc gia

Một khi khủng hoảng trong toàn hệ thống ngân hàng bùng phát, có thể dẫn đếnnguy cơ phá sản các ngân hàng Một khi các ngân hàng bị buộc tuyên bố phásản, nền kinh tế sẽ phải hứng chịu những hậu quả khủng khiếp, không thể kiểmsoát được Nhiều nghiên cứu được thực hiện ở những giai đoạn lịch sử khácnhau, thống nhất rằng, thiệt hại do phá sản ngân hàng gây ra không những trảirộng trên nhiều lĩnh vực, mà còn có xu hướng kéo dài, khó kiểm soát, khó đảongược, và mang tính chất đặc biệt nghiêm trọng

Milton Friedman, chủ nhân của giải Nobel Kinh tế năm 1976, cố vấn cấp cao củachính quyền Tổng thống Mỹ Ronald Reagan cũng như Thủ tướng Anh MargaretThatcher, lá cờ đầu của chủ nghĩa thương mại tự do, đã chỉ ra rằng phá sản ngânhàng dẫn đến những hậu quả trực tiếp tới thị trường tiền tệ Ông cho rằng phá sảnngân hàng làm suy giảm niềm tin của công chúng vào hệ thống tài chính, khiến họ

có xu hướng giữ tiền mặt để phòng ngừa rủi ro Xu hướng này vô tình làm hệ sốnhân của lượng tiền lưu thông thực tế sụt giảm nghiêm trọng, kéo thị trường tiền tệ

ra khỏi trạng thái cân bằng ban đầu Và như một hậu quả tất yếu, khi cung tiềngiảm, nền kinh tế bắt buộc phải điều chỉnh tương ứng bằng cách thắt chặt tiêu dùng,hạn chế đầu tư, trong khi thâm hụt ngân sách lẫn thâm hụt thương mại gia tăng.Thêm vào đó, Ben Bernanke, một nhà kinh tế lỗi lạc, cựu Chủ tịch Cục dự trữ liênbang Mỹ (FED), cũng đã đưa ra quan điểm đồng tình và bổ sung cho qua điểm trênxét về khía cạnh phi tiền tệ Phá sản ngân hàng làm gián đoạn kênh phân

14

Trang 11

phối dòng chảy tài chính từ nơi có thặng dư tới nơi có thâm hụt Do vậy, nhiều

dự án đáng ra có thể phát huy tác dụng phá băng, tạo đà cho nền kinh tế pháttriển trở lại, nay phải tạm dừng, hoặc hoàn toàn không được thực hiện chỉ dothiếu vốn Chính vì vậy mà phá sản ngân hàng được cho là một trong nhữngnguyên nhân gây phát sinh, kéo dài và làm trầm trọng hoá cuộc Đại khủng hoảng

1929 - 1933, khởi đầu một giai đoạn tăm tối của lịch sử khi khủng hoảng tàichính bùng phát thành khủng hoảng kinh tế - xã hội - chính trị toàn diện tại Hoa

Kỳ và sau đó lây lan ra quy mô thế giới

Bên cạnh đó, việc phá sản ngân hàng sẽ khiến cho các nước khó thu hút nhữngdòng chảy tài chính quốc tế, bao gồm cả dòng vốn đầu tư mang tính tự phát từ cánhân doanh nghiệp, cho tới những dòng chảy chính sách từ các tổ chức quốc tế,như Ngân hàng Thế giới (World Bank), Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Ngân hàngphát triển châu Á (ADB)

Hơn nữa, khi để xảy ra phá sản ngân hàng, điểm xếp hạng tín nhiệm của cả mộtquốc gia cũng có thể bị xem xét điều chỉnh giảm Khi đó, chi phí lãi vay của tất

cả các khoản vay trong nước và nước ngoài sẽ bị điều chỉnh tăng lên một cách tựđộng, dưới danh nghĩa chi phí tăng để bù rủi ro Điều đặc biệt nghiêm trọng là,một khi một đất nước bị đặt dưới tầm ngắm rủi ro tăng của các tổ chức xếp hạngtín nhiệm quốc tế, các đánh giá và nhận định sẽ trở nên cẩn trọng hơn và tất yếudẫn đến xu hướng điểm xếp hạng tín nhiệm sẽ tiếp tục bị hạ

Như vậy, có thể kết luận rằng, hệ thống ngân hàng bị suy giảm và chịu tổn thươngtrong bối cảnh khủng hoảng tài chính, nếu không có những biện pháp cứu trợ, xử lýkịp thời có thể gây ra những tác dộng nghiêm trọng ngược trở lại nền kinh tế, làmtrầm trọng và phức tạp hơn tình hình của khủng hoảng tài chính Thậm chí, hệ lụykhủng khiếp của nó có thể có tác động lan rộng trên mọi phương diện của

Trang 12

đời sống, biến cuộc khủng hoảng tài chính thành cuộc đại khủng hoàng kinh chính trị -xã hội với quy mô toàn cầu.

tế-1.3 Cơ sở lý thuyết và thực tiễn các chính sách cứu trợ hệ thống ngân hàng trong bối cảnh nền kinh tế gặp phải khủng hoảng

Trong lịch sử thế, đã từng xảy ra nhiều cuộc khủng hoảng đe dọa đến sự an toàncủa các hệ thống ngân hàng trên thế giới Đối với mỗi cuộc khủng hoảng tàichính khác nhau, chính phủ các nước lại có những biện pháp tức thời khác nhau

để cứu trợ hệ thống ngân hàng sau những tổn thất mà cuộc khủng hoảng gây ra.Theo nghiên cứu của Luc Laeven và Fabian (2008), trong khủng hoảng ngânhàng hệ thống, các doanh nghiệp và tổ chức tài chính xảy ra đổ vỡ và khôngthanh lý hợp đồng đúng hạn Hậu quả, nợ xấu tăng đột biến và tất cả hoặc hầuhết toàn bộ vốn của hệ thống ngân hàng bị cạn kiệt Tình huống này có thể đikèm với giá tài sản (như giá cổ phiếu và bất động sản) bị đẩy lên đỉnh điểm trướckhi xuất hiện khủng hoảng, tăng đột ngột về lãi xuất thực và giảm tốc độ lưuchuyển hoặc đảo chiều dòng vốn Trong một số trường hợp, khủng hoảng ngânhàng còn đi kèm với tình trạng rút tiền ồ ạt, làm trầm trọng hóa tình hình khủnghoảng trong hệ thống ngân hàng

Trước tình hình đó, chính phủ các nước có thể đề ra một số biện pháp nhằm giảicứu hệ thống ngân hàng như sau:

• Tuyên bố bảo đảm toàn bộ- thực hiện bảo đảm chính phủ đối với các khoản tiền gửi

Theo Hiệp hội Bảo hiểm tiền gửi quốc tế (IADI), bảo đảm toàn bộ là tuyên bố củachính phủ rằng tất cả các khoản tiền gửi hoặc có thể các công cụ tài chính khác sẽđược bảo vệ.Trong bối cảnh nền kinh tế phát gặp phải khủng hoảng, việc người dâncảm thấy lo ngại về tính an toàn của việc gửi tiền ở ngân hàng là không thể

16

Trang 13

tránh khỏi Để ngăn chặn đột biến rút tiền gửi trên quy mô hệ thống, nguyênnhân gây ra khủng hoảng ngân hàng, bảo đảm toàn bộ có thể là biện pháp hữuhiệu và thậm chí là cần thiết Bảo đảm toàn bộ đã được rất nhiều quốc gia ápdụng và góp phần không nhỏ trong việc ngăn chặn đột biến rút tiền gửi trongnhiều cuộc khủng hoảng ngân hàng toàn cầu 2007-2008 Chính phủ Singapore,New Zealand và một số quốc gia khác đã thực hiện giải pháp này.

• Cung cấp các gói hỗ trợ thanh khoản khẩn cấp

Khi khủng hoảng tài chính xảy ra, các ngân hàng sẽ có nguy cơ đối mặt với vấn đề

nợ xấu- mất khả năng thu hồi nợ Đồng thời, vấn đề khủng hoảng lòng tin của ngườidân cũng dẫn đến tình trạng rút tiền ồ ạt, dẫn đến nguy cơ rủi ro thanh khoản lanrộng ra toàn hệ thống ngân hàng Để giúp các ngân hàng vượt qua được khủnghoảng, trước tiên, chính phủ cần cung cấp một lượng tiền cứu trợ nhất định để bùđắp tạm thời những lỗ hổng thanh khoản do vấn đề mất khả năng thu hồi nợ để lại

Ví dụ điển hình cho việc cung cấp các gói cứu trợ cho hệ thống ngân hàng đến từcuộc khủng hoảng tài chính Mĩ năm 1987 Năm 1987, thị trường tài chính phố Wallsụp đổ, kéo theo sự giảm mạnh của chỉ số Dow Jones ( giảm 508.32 điểm, tươngđương 22.6%), cục dự trữ liên bang Mĩ (FED) đã khéo léo đưa giúp nền kinh tếtránh được một cuộc khủng hoảng tồi tệ khi đưa ra các gói cứu trợ để giúp các ngânhàng thương mại và ngân hàng đầu tư tránh khỏi nguy cơ vỡ nợ Một dẫn chứngkhác là khủng hoảng tài chính châu á năm 1997 Cuộc khủng hoảng tài chính năm

1997 xuất hiện tại Thái Lan, sau đó nhanh chóng lan rộng ra khắp châu Á Cuộckhủng hoảng đã khiến cho nhiều quốc gia ở châu Á lâm vào tình trạng vô cùng khókhăn Tại một số quốc gia như Hàn Quốc, Thái Lan, hệ thống ngân hàng lâm vàotình trạng khủng hoảng, nợ nước trầm trọng Để giúp cho nền kinh tế thoát ra khỏikhủng hoảng, các nước trên đã buộc phải xin trợ giúp từ quỹ tiền tệ thế

Trang 14

giới (IMF), để cung cấp các gói cứu trợ khẩn cấp, góp phần đưa các ngân hàng trong nước thoát ra khỏi khủng hoảng.

• Thực hiện tái cấp vốn cho các ngân hàng

Theo nghiên cứu của Diamond (2000) và Rajan (2001), hoạt động tái cấp vốn có

xu hướng thúc đẩy các chính sách tín dụng hiệu quả Đây được coi là hình thứccung cấp tín dụng có bảo đảm của Ngân hàng trung ương nhằm cung ứng vốnngắn hạn và phương tiện thanh toán cho các ngân hàng Khi nền kinh tế xảy rakhủng hoảng, các ngân hàng sẽ hạn chế hoạt động cho vay của họ hoặc không đủkhả năng thực hiện hoạt động cho vay, điều này dẫn đến nguy cơ “Suy kiệt vốn”(Capital crunch) Để cải thiện tình trạng cho vay của các ngân hàng, chính phủcần thực hiện tái cấp vốn cho các ngân hàng này Theo nghiên cứu của Allen vàcác cộng sự (2009) và Giannetti và Simonov (2009), chỉ ra rằng, việc thực hiệntái cấp vốn cho các ngân hàng Nhật Bản sau cuộc khủng hoảng tài chính suốtthập niên 1990 đã đem lại nhưng kết quả tích cực trong việc cải thiện tình trạng “Suy kiệt vốn” (capital crunch) của hệ thống ngân hàng nước này

• Đảm bảo sự kết nối trong hệ thống liên ngân hàng

Việc đảm bảo sự kết nối chặt chẽ trong hệ thống liên ngân hàng mang lại lợi ích lớncho các ngân hàng, đặc biệt là đối với các ngân hàng vừa và nhỏ Theo nghiên cứucủa Tim Eisert và Christian Eufinger (2013), các ngân hàng có thể tăng khả năng trảtiền cho các khách hàng không tham gia bảo hiểm tiền gửi nếu họ tham gia vào hệthống liên ngân hàng, từ đó cung cấp sự đảm bảo lớn hơn cho người gửi tiền Trongtrường hợp các ngân hàng gặp phải khủng hoảng và không nhận được sự hỗ trợ từchính phủ thì việc được kết nối chặt chẽ trong hệ thống liên ngân hàng sẽ giúp cácngân hàng tiếp cận với dòng vốn rộng hơn, tăng khả năng hoàn trả nợ cho các kháchhàng không tham gia bảo hiểm tiền gửi Cũng trong nghiên

18

Trang 15

cứu này, các tác giả chỉ ra rằng, chính phủ cũng khuyến khích các ngân hàng có

sự liên kết cao với nhau Ngoài ra, theo nghiên cứu của Leitner (2005) và David

và Lehar (2011) chỉ ra rằng, liên kết liên ngân hàng sẽ giúp tối ưu các dự đoántương lai (ex-ante) vì chúng hoạt động một cách thống nhất, nhất quán với nhau,tạo điều kiện cho việc cứu trợ lẫn nhau

Nhìn lại các cuộc khủng hoảng lớn trong lịch sử, ta có thể thấy được những cách

xử những chính sách cứu trợ kịp thời có vai trò vô cùng quan trọng trong việcđưa nền kinh tế cũng như hệ thống ngân hàng vượt qua khủng hoảng Tùy vàotừng quốc gia, chính phủ có thể áp dụng một trong các chính sách nêu trên, hoặclựa chọn phối hợp các chính sách đó với nhau để đạt dược hiệu quả cao nhấttrong việc đưa hệ thống kinh tế nói riêng và nền kinh tế nói chung thoát ra khỏicuộc khủng hoảng

Trang 16

CHƯƠNG II: PHÂN TÍCH CÁC CHÍNH SÁCH CỨU TRỢ ĐƯỢC CHÍNH PHỦ MỸ ÁP DỤNG CHO HỆ THỐNG NGÂN HÀNG TRONG CUỘC

KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH 2007-2008

2.1 Bối cảnh xây dựng các chính sách cứu trợ cho hệ thống ngân hàng

2.1.1 Nguyên nhân của cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ 2007-2008

2.1.1.1 Nguyên nhân trực tiếp

• Khủng hoảng nợ dưới chuẩn và bong bóng bất động sản đổ vỡ

Sau sự sụp đổ của bong bóng Dotcom năm 2001, chủ tịch Cục dự trữ Liên bang Mỹ

đã đưa ra biện pháp tiền tệ để cứu nền kinh tế thoát khỏi suy thoái, đó là hạ lãi suấtcho vay qua đêm liên ngân hàng Chỉ trong thời gian ngắn từ tháng 5 năm 2001 đếntháng 12 năm 2002, lãi suất liên ngân hàng giảm 11 đợt từ 6,5% xuống còn 1,75%.Tín dụng thứ cấp cũng vì thế mà giảm lãi suất theo Điều này kích thích sự pháttriển ở khu vực bất động sản và ngành xây dựng làm động lực cho tăng trưởng kinh

tế Mặt khác, vì lãi suất quá thấp, các ngân hàng được vay tiền từ Fed với mức lãisuất thấp Sự dư thừa tín dụng giá rẻ đã làm việc vay tiền trở nên dễ dàng hơn,khiến các ngân hàng mất kiểm soát với công cụ đòn bẩy tài chính Đòn bẩy tàichính được hiểu là việc vay tiền để khuếch đại khoản đầu tư nhằm thu được lợinhuận cao hơn Từ hoạt động này, các ngân hàng thu hút được bội tiền, dùng tiền đócho vay, thu lợi nhuận rồi hoàn trả cho người đi vay và nhanh chóng trở nên giàu cókhủng khiếp Để tiếp tục kiếm thêm lợi nhuận, các nhà đầu tư gợi

ý cho các nhân hàng rằng họ có thể kết nối các nhà đầu tư với các hộ gia đình bằng các khoản cho vay thế chấp

Do điều kiện tín dụng dễ dãi cùng với giá nhà đất lên cao nên các tổ chức tàichính đã mở rộng cho vay bất động sản với cả những khách hàng không đủ điều

kiện 20

Trang 17

vay vốn vì các ngân hàng tin rằng khi những người này không trả được nợ thì họ

sẽ thu lại tài sản, và do giá nhà luôn tăng nên sẽ không có rủi ro gì Đây chính làhình thức cho vay dưới chuẩn, áp dụng với cả những người nghèo, không công

ăn việc làm ổn định, vị thế xã hội thấp hoặc có một lịch sử thanh toán tín dụngkhông tốt

Biếu đồ II.1: Tỷ lệ phần trăm cho vay thế chấp dưới chuẩn trong toàn

bộ thị trường cho vay ở Mỹ

Nguồn số liệu: Inside Mortgage Finance

Biểu đồ trên cho thấy phần trăm cho vay thế chấp dưới chuẩn của Mỹ năm 2006

là 23,5% tương đương với 600 ty USD, cao nhất từ trước đến nay và hạ xuốngmức 9,2% năm 2007 khi mà khủng hoảng bắt đầu

Để bù đắp rủi ro cao từ các khoản vay tín nhiệm thấp này thì lãi suất vay phải caohoặc người vay phải theo lãi suất ARM (Adjustable Rate Mortgages) với lãi suấtban đầu thấp sau đó điều chỉnh lên cao hơn Vì lãi suất ARM ban đầu rất thấp lại cóthời hạn ngắn từ 3-5 năm nên nó đã thu hút được những người có thu nhấp thấp.Tuy nhiên các khoản tiền lãi phải trả hàng tháng đã tăng dần theo thời gian do lãisuất đã được điều chỉnh lên các mức cao hơn làm chi phí tiềm ẩn của các khoản chitrả trong tương lai đã tăng lên rất nhiều Hầu hết những người tham gia không

Trang 18

nhận ra cái bẫy mà họ đã bước vào Đồng thời những người đi vay đã lợi dụng sự

dễ dãi của môi trường cho vay để đầu cơ Họ không mua nhà để ở mà chỉ giữ lạimột thời gian rồi bán lại cho người khác để kiếm lời

Lợi nhuận đã tạo động lực để các ngân hàng xem nhẹ khả năng chi trả của kháchhàng, đẩy mạnh cho vay cầm cố bất động sản Nhu cầu tăng đẩy giá nhà liên tụcleo thang, tăng 10% năm 2002 và tăng bình quân 25%/năm từ 2003-2005 Bongbóng nhà đất kéo dài suốt giai đoạn 2001-2005 Nền kinh tế có sự phục hồi cùngvới xu hướng lạm phát gia tăng đã khiến FED quyết định tăng lãi suất trở lại.FED đã tăng lãi suất tư 1% giữa năm 2004 lên 3,75% vào tháng 8/2005 và 5,25%vào giữa năm 2006

Biếu đồ II.2: Diễn biến thay đổi lãi suất chính sách của Hoa Kỳ

Nguồn số liệu: Inside Mortgage Finance

Sự tăng lãi suất đã trở thành áp lực lớn cho những người vay mua nhà Và hiểnnhiên, các hộ gia đình không đủ khả năng trả lãi khoản tiền thế chấp Ngân hàngphải tịch thu tài sản và khoản tiền thu được hàng tháng bỗng chốc trở thành những

22

Trang 19

ngôi nhà Càng ngày càng có nhiều ngôi nhà bị tịch thu, nguồn cung nhà đất quálớn so với cầu trên thị trường làm cho giá nhà đất trượt thảm hại Mặt khác, giánhà giảm làm cho giá trị cầm cố giảm xuống thấp hơn mức tiền gốc để mua nhà.Điều này làm cho các hộ gia đình còn nắm giữ nhà quyết định không tiết kiệmtrả góp nữa mà trả lại nhà cho ngân hàng Lãi suất tiếp tục tăng khiến cho tìnhtrạng càng nghiêm trọng, tỷ lệ người không trả được nợ lan mạnh khắp cả nước,giá nhà lao thẳng xuống đáy, việc bán nhà thu hồi là rất khó khăn Năm 2007 cógần 1,3 triệu bất động sản ở Mỹ bị tịch thu để thế nợ, tăng 79% so với năm 2006.Khủng hoảng trên thị trường cho vay dưới chuẩn bùng nổ Kết thúc năm 2007,ngành kinh doanh bất động sản suy giảm với hơn 25 tổ chức cho vay dưới chuẩntuyên bố phá sản Như vậy, bóng bóng bất động sản tại Mỹ phình to suốt 3 năm2002-2005 và bắt đầu vỡ vào năm 2006 và lan thành cuộc khủng hoảng tài chínhchưa từng có trong lịch sử

• Chứng khoán hóa

Nguyên tắc cơ bản của chứng khoán hóa là biến các chứng từ tài sản thành các sảnphẩm có thể mang bán ra trên thị trường chứng khoán Bất cứ chứng từ nào cũng cóthể chuyển đổi được: chứng từ tín dụng truyền thống, chứng từ bất động sản, tíndụng thương mại… Chứng khoán hóa được cho là để giảm thiểu rủi ro, vì các ngânhàng nhỏ ở một địa phương, một bang có thể chia sẻ rủi ro với các nhà đầu tư cảnước Dĩ nhiên, nếu giá nhà đồng loạt giảm trên cả nước thì công cụ chia sẻ rủi ronày sẽ không có tác dụng (thực tế diễn ra như vậy) Nhưng vì giá nhà thường khôngtương quan giữa các vùng, nên đa số người tham gia thị trường nhận thấy chứngkhoán bất động sản là an toàn miễn là số nợ cầm cố này đến từ nhiều địa điểm khácnhau trên cả nước Và nhờ chứng khoán hóa, các ngân hàng sẵn sàng cho vay tiềnnhững người không có khả năng trả nợ Mục tiêu của họ là cho vay

Trang 20

càng nhiều càng tốt để rồi sang tay lại cho các ngân hàng đầu tư, ngân hàng đầu

tư lại bán đi dưới dạng chứng khoán

• CDO (Collateralized Debt Obligations) - nghĩa vụ nợ được thế chấp hóa

Để thực hiện mục tiêu, các ngân hàng đầu tư phát minh ra CDO CDO đóng gói cáckhoản vay với chất lượng khác nhau vào trái phiếu, sau đó cắt nhỏ trái phiếu thànhtừng khoanh Người mua các khoanh tốt nhất sẽ được trả nợ trước, và chúng đượcxếp hạng AAA bởi các tổ chức đánh giá trái phiếu như Moody’s, S&P Khoanh thấphơn thì có mức xếp hạng thấp hơn, nhưng trả lãi suất cao hơn cho người mua Mathuật của CDO là chúng tạo ra các chứng khoán AAA từ nợ vay dưới chuẩn Nhưngthực tế, các tổ chức xếp hạng đưa mô hình của mình cho ngân hàng để học cáchđóng gói các khoản cầm cố sao cho đạt được mức xếp hạng cao dù là khoản cầm cốrủi ro vì lý do đôi bên cùng có lợi Hầu như 90% bất động sản CDO được đánh giáxếp hạng AAA Nói cách khác, không ai có động cơ giám sát chất lượng vốn vayhay từ chối cho người không thể trả vay Ngân hàng phát hành khoản vay bán nócho ngân hàng đầu tư, nên họ không quan tâm liệu họ có trả không Ngân hàng đầu

tư đóng gói khoản vay thành CDO và bán cho nhà đầu tư Các nhà đầu tư mua CDPnhưng không biết gì về các khoản nợ mà họ đang mua, mà dựa vào mức xếp hạngcao mà Moody’s và S&P gán cho CDOs Thị trường CDO, năm 2000 chỉ là $275triệu, tăng vọt lên $4,7 ngàn tỉ 2006

Khi thị trường bất động sản hạ nhiệt, người đi vay không có khả năng trả nợ, giátrị bất động sản trượt dốc, hậu quả là các hợp đồng cho vay bất động sản dùng đểlàm tài sản đảm bảo cho CDO là nợ khó đòi, các CDO bị mất giá trên thị trườngthứ cấp, thậm chí không còn mua bán được trên thị trường, khiến cho các ngânhàng, các nhà đầu tư không những bị lỗ nặng mà không còn khả năng thanh toán.Điển hình là 2 công ty Fannie Mea và Freddie Mac nắm giữ một số lượng lớnkhoản vay Alt-A (khoản vay dành cho những người không đáp ứng những tiêu

24

Trang 21

chuẩn nhất định để đảm bảo khoản vay từ một trong những cơ quan được chínhphủ tài trợ) và dưới chuẩn Hai tổ chức này đã không có khả năng trả được nợ vàkhoản thua lỗ trong năm 2008 lớn hơn cả tổng số lợi nhuận kiếm được từ 1990đến 2007.

• CDS (Credit Default Swap) - bảo hiểm vỡ nợ tín dụng

CDS là thỏa thuận giữa hai bên, một bên trong hợp đồng có trách nhiệm trả khoảnphí định kỳ cho bên kia và được cam kết nhận đủ số tiền cho vay nếu bên thứ bakhông trả được nợ trong một khoảng thời gian cụ thế, thường là 5 năm Khi các rủi

ro tín dụng xuất hiện ngày càng nhiều ở Mỹ thì dịch vụ bảo hiểm này trở nên phổbiến Trong năm 2007, thị trường CDS có tổng giá trị lên tới 62 nghìn tỉ USD

CDS giống như một hợp đồng bảo hiểm, vì chúng có thể được các chủ nợ mua để

đề phòng nguy cơ bên vay không thanh toán được nợ Chúng được xem là chínhsách bảo hiểm hiệu quả vì giúp các bên trong hợp đồng tránh được những quy địnhbắt buộc trong một hợp đồng bảo hiểm Bởi lẽ luật pháp không yêu cầu bên cungcấp dịch vụ CDS phải có các khoản dự trữ đồng thời cũng không có tiêu chuẩn nàotrong ngành bảo hiểm này Các nhà đầu cơ có thể ký hợp đồng bảo hiểm cho cáckhoản tín dụng doanh nghiệp với giá trị vượt xa tổng giá trị của khoản nợ trên thực

tế hoặc thậm chí không tồn tại bất cứ khoản cho vay nào Nhà cung cấp CDS phảiluôn duy trì khả năng thanh khoản và khả năng đối mặt với các nghĩa vụ khi đáohạn Các ngân hàng đầu tư tại Mỹ mạo hiểm phát hành CDS, mua lại các quỹ phòng

vệ vè trở thành chủ nợ chính của các quỹ này Kết quả là, bảng cân đối tài chính củacác ngân hàng lớn rơi vào rủi ro, họ không thể tuyên bố tình trạng phá sản của cácquỹ phòng vệ mà họ mua lại và chạy trốn Các ngân hàng bước vào khủng hoảng.Khi vỡ nợ xảy ra báo hiệu cuộc khủng hoảng đang đến, các định chế tài chính sẽphải đối mặt với các khoản phải trả vô cùng lớn Họ thi nhau tuyên bố mất khả năngthanh toán, gây ra thiệt hại nặng nề cho hệ thống tài chính Mỹ Đó

Trang 22

là lý do vì sao bất cứ dấu hiệu nào về tình trạng khó khăn của các định chế tàichính đều gây ra khủng hoảng tâm lý và sự sợ hãi cho thị trường Sự buông lỏngtrong việc giám sát sự gia tăng CDS được phát hành không hề có sự kiểm tra,yêu cầu kê khai, báo cáo là một trong những lý do chính gây ra khủng hoảng tàichính Mỹ

2.1.1.2 Nguyên nhân gián tiếp

• Chính sách tiền tệ của Fed

Như đã nêu trên, để phục hồi nền kinh tế Mỹ sau cuộc suy thoái kinh tế 2001 vàảnh hưởng của cuộc khủng bố 11/9, Fed đã bơm tiền vào nền kinh tế và giảm lãisuất xuống mức 1% vào giữa 2003 Giải pháp nới lỏng tiền tệ nhìn chung đãgiúp cho việc vay tiền ngân hàng dễ dàng hơn và hạ thấp chi phí trong phạm vitoàn bộ nền kinh tế nhưng đồng thời nó cũng làm đồng tiền bị mất giá và dẫn tớilạm phát Hơn nữa, việc Fed giữ mức lãi suất thấp trong thời gian dài càng khiếncho tình trạng trở nên nghiêm trọng

• Quản lý lỏng lẻo, thông tin thiếu minh bạch

Những yêu cầu pháp luật về sự minh bạch và năng lực kiểm tra giám sát của các

cơ quan nhà nước đã không bắt kịp với biến động thị trường Ngay từ đầu, giớichức trách và ngân hàng Mỹ đã không kiểm soát mà còn khuyến khích các hoạtđộng vay dưới chuẩn của người dân Việc cho vay dưới chuẩn một cách ồ ạt vàquá dễ dãi khiến thị trường bất động sản diễn biến phức tạp, dẫn đến việc khôngthể kiểm soát các khoản nợ đó

Bên cạnh đó, giới chức trách cũng đã làm ngơ trước hàng loạt các phát kiến tàichính của giới ngân hàng thương mại, như CDO và CDS mà tài sản đảm bảo lạichính là các khoản vay dưới chuẩn Các tổ chức xếp hạng tín nhiệm đáng lẽ ra sẽ

là người quan sát thị trường và đưa ra cảnh báo kịp thời nhưng trên thực tế họ lại

26

Trang 23

không đánh giá thích đáng mà cùng nhau chia sẻ lợi ích là các khoản thu phí từcác ngân hàng thuê họ đánh giá mức độ tín nhiệm Chính sự lỏng lẻo trong quản

lý, cùng sự tham lam quá mức của các nhà đầu tư, sự vô trách nhiệm của các bêntham gia đã đẩy tình hình tài chính Mỹ đến kết cục thê thảm

• Khủng hoảng niềm tin

Các ngân hàng cạnh tranh nhau về mức độ cho vay cũng như tài sản Những giaodịch phức tạp được tạo ra để loại bỏ rủi ro và che giấu sự trượt giá giá trị tài sảnthực của ngân hàng Cả thị trường xuống dốc và tất cả mọi người đều bị thua lỗ.Thị trường tài chính xoay quanh trục nguyên tắc độ tin cậy, và độ tin cậy đó đã

bị hạ xuống thấp

2.1.2 Diễn biến cuộc khủng hoảng

Tính đến thời điểm xây dựng các gói cứu trợ:

6/2007, 2 quỹ phòng hộ (hedge fund- 1 loại quỹ có tính đại chúng thấp và không

bị quản chế quá chặt) của Bear Stearn –ngân hàng đầu tư lớn thứ 5 của Mỹ quỵngã sau khi đánh cược các chứng khoán được đảm bảo bằng các khoản cho vaybất động sản dưới chuẩn của Mỹ

8/2007, một số tổ chức tín dụng của Mỹ như New Century Financial Corporation

phải làm thủ tục xin phá sản Một số khác thì rơi vào tình trạng cổ phiếu củamình mất giá mạnh như Countrywide Financial Corporation Nhiều người gửitiền ở các tổ chức tín dụng này đã lo sợ và đến rút tiền, gây ra hiện tượng độtbiến rút tiền gửi khiến cho các tổ chức đó càng thêm khó khăn Nguy cơ khanhiếm tín dụng hình thành

15/8/2007, cổ phiếu của Countrywide Financial (công ty cho vay cầm cố lớn nhất Mỹ) giảm khoảng 13% trên sàn chứng khoán New York- đây được coi là

mức giảm trong ngày lớn nhất kể từ cuộc khủng hoảng TTCK năm 1987

Trang 24

15/10/2007, Citigroup, tập đoàn Ngân hàng hàng đầu nước Mỹ công bố lợi nhuận Quý 3 bất ngờ giảm 57% do các khoản thua lỗ và trích lập dự phòng lên

tới 6.5 tỷ USD Giám đốc điều hành Cityfroup từ chức vào ngày 4/11

1/7/2008, Bank of America- ngân hàng lớn nhất nước Mỹ về tiền gửi và vốn hóa

thị trường bỏ ra 4 tỷ USD để mua lại Countrywide Financials sau khi ngân hàngcho vay thế chấp địa ốc này tuyên bố phá sản

7/9/2008, chính phủ Mỹ buộc phải quốc hữu hóa Fannie Mea và Freddie Mac (2

công ty chuyên bảo hiểm các khoản nợ bất động sản) với tổng tài sản hơn 5000

tỷ USD, tương đương chiếm gần 50% giá trị thị trường bất động sản Mỹ saunhững báo động về tình trạng cạn kiệt vốn của những công ty này

15/9/2008, sau những nỗ lực huy động vốn bị thất bại do chính phủ Mỹ từ chối bảo

lãnh, Lehman Brothers – ngân hàng đầu tư hàng đầu trên thế giới với 158 năm lịch

sử và trên 26000 nhân viên, giữ giá trị tài sản lớn nhất trong lịch sử nước Mỹ: 600

tỷ USD, tuyên bố phá sản Khả năng bán tháo dây chuyền khiến cho các nhà đầu tưbán tháo cổ phiếu của AIG vì lo ngại AIG sẽ không cáng đáng nổi trách nhiệm củacác khoản bảo hiểm phá sản, và do đó, chỉ trong vòng vài ngày, cổ phiếu của AIG

đã giảm tới 90% giá trị Đây là ngày tồi tệ nhất tại Phố Wall kể từ khi thị trường này

mở cửa trở lại sau vụ khủng bố 2 toà tháp đôi tại Mỹ vào Tháng

9 năm 2001 Lehman Brothers sụp đổ đánh dấu vụ phá sản lớn nhất tại Mỹ; MerrillLynch bị Bank of America Corp thâu tóm; American International Group - tậpđoàn bảo hiểm lớn nhất thế giới mất khả năng thanh toán do những khoản thua lỗliên quan tới nợ cầm cố

Cuộc khủng hoảng bất động sản đã nhanh chóng làm suy yếu hệ thống tài chính,ngân hàng Mỹ và lan rộng ra toàn thế giới Chỉ tính đến tháng 7/2008, các tậpđoán tài chính đã báo mất 435 tỷ USD

28

Trang 25

Sự kiện phá sản của Lehman Brothers gây chấn động và đảo lộn thị trường WallStreet, nhanh chóng tạo nên cơn địa chấn toàn cầu, đẩy cuộc khủng hoảng lên tớiđịnh điểm mới Nỗi lo về khả năng vỡ nợ hàng loạt đã khiến các công ty tàichính siết chặt hầu bao, các nguồn cung tài chính trở nên cạn kiệt đẩy lãi suấtngân hàng tăng vọt dẫn tới nguy cơ sụt đổ hoàn toàn của hệ thống tài chính vàmột cuộc khủng hoảng kinh tế toàn diện.

Mối đe dọa khả năng bùng nổ đại suy thoái kinh tế đã buộc chính phủ Mỹ phải

có những chính sách can thiệp khẩn cấp Chỉ trong vòng 3 ngày từ 16 – 18/9,Ngân hàng trung ương Mỹ đã phải bơm hàng trăm tỷ USD vào thị trường tiền tệnhằm cứu hệ thống tài chính khỏi nguy cơ tê liệt

2.1.3 Hậu quả của cuộc khủng hoảng tại thời điểm xây dựng các gói cứu trợ

2.1.3.1 Tình hình chung

Cuộc khủng hoảng tài chính là nguyên nhân chính làm cho nền kinh tế Mỹ rơivào suy thoái từ tháng 12 năm 2007 Theo Ủy ban nghiên cứu kinh tế Mỹ dựđoán đây sẽ là đợt suy thoái nghiêm tọng nhất ở Mỹ kể từ sau chiến tranh thếgiới thứ hai Cuộc khủng hoảng tài chính đã ảnh hưởng đến rất nhiều nhân tốtrong nền kinh tế Mỹ

Thị trường tài chính Mỹ chao đảo liên tục khi chỉ số công nghiệp Dow Jones tuộtdốc thảm hại kể từ quý III năm 2007 Các mã cổ phiếu đồng loạt giảm điểm,trong đó, nhớm cổ phiếu ngân hàng giảm xuống mức thấp nhất trong 14 năm trởlại đây Đầu tháng 3/2009, chỉ số Dow Jones giảm dưới mốc 7000 điểm, chạmđáy thấp nhất kể từ năm 1997

Cuộc khủng hoảng bất động sản cũng khiến hàng trăm nghìn người mất việc làm.Theo số liệu từ Bộ Lao động Mỹ, tỷ lệ thất nghiệp trong 4 tháng đầu năm 2009 tiếptục tăng mạnh đạt 8.9%-mức cao nhất trong vòng 26 năm qua Trung bình cứ

Trang 26

khoảng 600000 việc làm bị cắt giảm hàng tháng Kết quả là kể từ khi cuộc suythoái xảy ra, 5.1 triệu việc làm bị xóa sổ tại Mỹ Tính đến thời điểm tháng4/2009, số người thất nghiệp chính thức tại Mỹ đạt 13.2 triệu người.

Biếu đồ II.3: Tỷ lệ thất nghiệp của Mỹ giai đoạn 2008-2009

Nguồn số liệu: Bureau of Labor Statistics

Từ tháng 8/2007 đến hết tháng 8/2008, trên 770000 căn nhà ở Mỹ bị ngân hàngxiết nợ do các gia đình không đủ khả năng trả nợ tiền vay mua nhà Tốc độ sụtgiảm mạnh giá nhà đất là bằng chứng rõ rang về cuộc khủng hoảng nhà đất Mỹnghiêm trọng nhất trong 17 năm qua

30

Ngày đăng: 27/07/2020, 06:54

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Diệp Bình, 2017. Phá sản ngân hàng- hậu quả gì cho nền kinh tế?, Vietnambiz [online],< https://vietnambiz.vn/pha-san-ngan-hang-hau-qua-gi-cho-nen-kinh-te-18937.html> [xem 14.09.2018] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phá sản ngân hàng- hậu quả gì cho nền kinh tế
3. TS. Nguyễn Thị Tường Anh, Nguyễn Thị Bích Thúy, 2013. Khôi phục hệ thống ngân hàng sau khủng hoảng: Kinh nghiệm từ Mỹ, Tạp chí điện tử tài chính, < http://tapchitaichinh.vn/nghien-cuu--trao-doi/trao-doi-binh-luan/khoi-phuc-he-thong-ngan-hang-sau-khung-hoang-kinh-nghiem-tu-my-34058.html>, [xem 13.09.2018] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khôi phục hệthống ngân hàng sau khủng hoảng: Kinh nghiệm từ Mỹ
4. Alan S. Blinder a and Mark Zandi b , 2010. How the Great Recession was brought to an End, Princeton University a Sách, tạp chí
Tiêu đề: Alan S. Blindera and Mark Zandib, 2010. "How the Great Recession was brought to an End
5. Christopher Rude, 2009. The World Economic Crisis and the Federal Reserve’s Response to It: August 2007-December 2008 , Studies in Political Economy Sách, tạp chí
Tiêu đề: Christopher Rude, 2009. "The World Economic Crisis and the FederalReserve’s Response to It: August 2007-December 2008
6. David C. Wheelock, 2010. Lessons Learned? Comparing the Federal Reserve’s Responses to the Crises of 1929-1933 and 2007-2009, Federal Reserve Bank of St. Louis Review Sách, tạp chí
Tiêu đề: David C. Wheelock, 2010. "Lessons Learned? Comparing the FederalReserve’s Responses to the Crises of 1929-1933 and 2007-2009
7. Frederic S. Mishkin a and Eugene N. White b , 2014. Unprecedented Actions:The Federal Reserve’s Response to the Global Financial Crisis in Historical Perspective, Federal Reserve Bank of Dallas, Globalization and Monetary Policy Institute Sách, tạp chí
Tiêu đề: Frederic S. Mishkina and Eugene N. Whiteb, 2014. "Unprecedented Actions:"The Federal Reserve’s Response to the Global Financial Crisis inHistorical Perspective
8. James Felkerson, 2011. $29,000,000,000,000: A Detailed Look at the Fed’s Bailout by Funding Facility and Recipient, University of Missouri–Kansas City Sách, tạp chí
Tiêu đề: James Felkerson, 2011". $29,000,000,000,000: A Detailed Look at the Fed’sBailout by Funding Facility and Recipient
9. Jonh Mashall, 2009. The financial crisis in US: key events, causes and responses, Business and transport section, House of common library Sách, tạp chí
Tiêu đề: Jonh Mashall, 2009. "The financial crisis in US: key events, causes and responses
10. Kiyotaka Nakashima a and Toshiyuki Souma b , 2011. Evaluating Bank Recapitalization Programs in Japan: How Did Public Capital Injections Work?, Konan University a , Kinki University b Sách, tạp chí
Tiêu đề: Evaluating BankRecapitalization Programs in Japan: How Did Public Capital InjectionsWork
11. Michael Koetter and Felix Noth, 2015. Did TARP distort competition among sound banks? , Bank bailout and competition Sách, tạp chí
Tiêu đề: Did TARP distort competitionamong sound banks
12. Paul, Weiss, Rifkind, Wharton & Garrison LLP, 2008. Treasury Department Temporary Guarantee Program for Money Market Mutual5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: TreasuryDepartment Temporary Guarantee Program for Money Market Mutual
13. Stephen G. Cecchetti, 2008. Crisis and responses: the federal reserve and the financial crisis of 2007-2008, National bureau of economic research, 1050 Massachusetts Avenue, Cambridge, MA 02138 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Crisis and responses: the federal reserve andthe financial crisis of 2007-2008
14. Tim Eisert a and Christian Eufinger b , 2013. Interbank network and bank bailouts: Insurance mechanism for non-insured creditors?, Goethe University Frankfurt and New York University a , Goethe University Frankfurt and University of Pennsylvania b Sách, tạp chí
Tiêu đề: Interbank network and bankbailouts: Insurance mechanism for non-insured creditors
15. U.S. Department of the treasury, 2008. Treasury Announces Temporary Guarantee Program for Money Market Funds, <https://www.treasury.gov/press-center/press-releases/Pages/hp1161.aspx>, [xem 13.09.2018] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Treasury Announces TemporaryGuarantee Program for Money Market Funds, < "https://www.treasury.gov/press-center/press-releases/Pages/hp1161.aspx

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w