1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

tổng quan tài liệu nghiên cứu về tác động của một số yếu tố tới cầu lao động của doanh nghiệp

13 77 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 26,71 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU VỀ TÁC ĐỘNG CỦA MỘT SỐ YẾU TỐ TỚI CẦU LAO ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP 1.1.. Tổng quan tình hình nghiên cứu ở trong nước Các nghiên cứu về tác động của một số yếu

Trang 1

TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU VỀ TÁC ĐỘNG CỦA MỘT SỐ YẾU TỐ TỚI CẦU LAO ĐỘNG

CỦA DOANH NGHIỆP

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu ở trong nước

Các nghiên cứu về tác động của một số yếu tố tới cầu lao động của doanh nghiệp được thực hiện tương đối nhiều ở nước ta Năm 2015, Thạc sĩ Lê Ngự Bình tại Viện Khoa học Lao động và Xã hội đã có bài nghiên cứu định lượng về đề tài này Thông qua tổng quan nghiên cứu, cùng với hệ thống số liệu điều tra doanh nghiệp của Tổng cục Thống kê

và Bộ Lao động, Thương binh-Xã hội thực hiện trong năm 2015, đề tài tập trung vào đánh giá việc làm trong doanh nghiệp và các yếu tố ảnh hưởng đến cầu lao động trong doanh nghiệp, đánh giá mối quan hệ giữa các yếu tố ảnh hưởng và cầu lao động trong doanh nghiệp Một số kết quả của đề tài như sau: Phần lớn các doanh nghiệp đang hoạt động trong năm 2015 là doanh nghiệp ngoài nhà nước (92,8%) Tuy nhiên, số lao động, doanh thu và lợi nhuận bình quân trong doanh nghiệp FDI là lớn nhất Đây cũng là khu vực giải quyết nhiều lao động và đặc biệt là lao động không có kỹ năng trong thị trường Giá trị tài sản trong doanh nghiệp nhà nước rất lớn nhưng hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp

Trang 2

nhà nước lại chưa cao, kém cả so với doanh nghiệp FDI, chi phí bình quân một lao động làm doanh nghiệp trong cả nước khá cao (10,8 triệu đồng/người/tháng) dẫn đến số việc làm bình quân trong một doanh nghiệp FDI cao hơn khu vực Nhà nước Mức trang bị vốn trên lao động trong doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp FDI là lớn nhất, bình quân mỗi doanh nghiệp có mức trang bị vốn khoảng 1 tỷ đồng trên một lao động cao gấp khoảng 5 lần so với mức trang bị vốn trên lao động của doanh nghiệp tư nhân Đầu tư cho KH&CN và R&D là bộ phận không thể thiếu đối với doanh nghiệp Tuy nhiên ở Việt Nam chỉ có 4,4% doanh nghiệp có đầu tư vào KH & CN và chỉ 0,19% doanh nghiệp có hệ thống R&D Các doanh nghiệp xuất khẩu có tỷ lệ đầu tư cho R&D 51 cao hơn doanh nghiệp không xuất khẩu (0,28% so với 0,15%) nhưng lại

có đầu tư vào KH & CN thấp hơn doanh nghiệp không xuất khẩu (3,8%

so với 4,8%)

Cũng trong năm 2015, tác giả Quang Lộc (Bộ Công thương) có một nghiên cứu định lượng về “Cầu lao động đến từ khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước” Nghiên cứu chỉ ra rằng: Từ nay đến năm 2030, nhu cầu lao động trong khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước sẽ tăng bình quân 733 nghìn lao động/năm Trong đó số lao động làm việc trong khu vực này vào năm 2022 sẽ đạt khoảng 12,845 triệu người, 16,02 triệu

Trang 3

người vào năm 2026 và 19,4 triệu người vào năm 2030 Việt Nam có lực lượng lao động đông đảo đang làm việc trong thành phần kinh tế ngoài nhà nước với khoảng 46 triệu lao động nhưng phần lớn không phải là lao động làm công ăn lương Trong khi đó, phát triển lao động làm công ăn lương là xu thế tất yếu của kinh tế thị trường Vì vậy để phát triển phù hợp với xu hướng này thì Việt Nam cần coi trọng phát triển kinh tế tư nhân hơn nữa mà trọng tâm là phát triển doanh nghiệp ngoài nhà nước trên nền tảng của một sân chơi bình đẳng giữa các loại hình doanh nghiệp

Năm 2016, tác giả Thu Hương (Bộ lao động - thương binh - xã hội) đã có một số dự báo về nhu cầu lao động trong doanh nghiệp Dự kiến số lao động làm việc trong doanh nghiệp đến 12/2016, khoảng 12,9 triệu người Nhu cầu sử dụng lao động trong các loại hình doanh nghiệp vẫn tập trung ở nhóm lao động trình độ thấp và một phần nhỏ đối với lao động có trình độ cao; còn lại hầu hết những lao động bậc trung lại ít có nhu cầu sử dụng Dự báo đến năm 2020 lực lượng lao động Việt Nam đạt khoảng 59,2 triệu người

Xét về kết quả nghiên cứu định tính, năm 2016, tác giả Đặng Đình Thắng đến từ Khoa Kinh tế, Đại học Kinh tế TP.HCM đề cập đến Cầu

về lao động của doanh nghiệp và các yếu tố ảnh hưởng Bài nghiên cứu

Trang 4

chỉ ra một số kết quả như sau: Thứ nhất, quỹ máy móc, thiết bị và các yếu tố sản xuất khác mà lao động được sử dụng trong quá trình sản xuất Nếu quỹ này tăng lên, nếu mỗi lao động trung bình được sử dụng nhiều vốn hiện vật hơn trước, sản phẩm biên (đôi khi có thể gọi là năng suất biên) của mỗi đơn vị lao động sẽ tăng lên Cầu về lao động vì thế sẽ tăng lên và đường cầu lao động sẽ dịch chuyển sang phải Trong trường hợp ngược lại, cầu về lao động sẽ giảm, đường cầu về lao động sẽ dịch chuyển sang trái Thứ hai, trình độ công nghệ Cách thức sản xuất được cải tiến hay trình độ công nghệ tăng cũng làm cầu về lao động tăng lên ngay cả khi quỹ vốn hiện vật vẫn giữ nguyên như cũ Ở đây, tác động của công nghệ đến cầu về lao động cũng thông qua sự gia tăng sản phẩm biên của lao động Thứ ba, biến động trên thị trường đầu ra Giá sản phẩm đầu ra của lao động tăng lên, nếu các điều kiện khác giữ nguyên, cũng là yếu tố tác động trực tiếp đến sự gia tăng trong cầu về lao động Khi đó, doanh thu sản phẩm biên của lao động tăng lên Đường cầu về lao động sẽ dịch chuyển sang phải Ngược lại, khi thị trường đầu ra ảm đạm, giá cả hàng hóa hạ xuống, cầu về lao động sản xuất đầu ra này cũng sẽ giảm theo Trong trường hợp này đường cầu về lao động dịch chuyển sang trái

Trang 5

Trong năm 2017, tác giả Nguyễn Ngọc Tuấn lại có bài phân tích riêng về tình hình cung cầu lao động tại Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay Tác giả khẳng định: trong nền kinh tế thị trường đang chuyển đổi như ở Việt Nam, cơ cấu kinh tế đang chuyển dịch giữa các ngành kinh tế

và các thành phần kinh tế theo hướng hiện đại, nhu cầu về lao động giữa các ngành và các thành phần kinh tế cũng thay đổi không ngừng để đáp ứng sự chuyển dịch, việc nghiên cứu cung cầu lao động lại càng có ý nghĩa quan trọng để giảm thiểu sự mất cân bằng cung cầu, giải quyết những vấn đề khó khăn của xã hội do mất cân bằng cung cầu gây ra như tình trạng thất nghiệp, tệ nạn xã hội

Năm 2015, tác giả Phạm Đức Thuần và Dương Ngọc Thành đã có bài nghiên cứu được đăng trên Tạp chí Khoa học trường Đại học Cần Thơ với đề tài Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tìm việc làm của người lao động nông thôn trên địa bàn thành phố Cần Thơ Các tác giả đã sử dụng phương pháp thống kê mô tả, mô hình Binary Logistic và

mô hình hồi quy tuyến tính đa biến Nghiên cứu được triển khai bằng cách phân tích các hiện trạng về lao động nông thôn của thành phố và công tác dự báo về thị trường lao động Hiện trạng về lao động nông thôn của thành phố còn nhiều bất cập, được thể hiện ở các khía cạnh như: mức lương thường không ổn định do tính chất mùa vụ; tích lũy

Trang 6

chưa cao, nhất là trong điều kiện thị trường có nhiều biến động; trình độ học vấn của lao động còn thấp, tỷ lệ lao động đã tốt nghiệp trung học phổ thông chỉ chiếm 10,6% trong tổng lao động nông thôn; trình độ chuyên môn kỹ thuật phần lớn là chưa qua đào tạo chiếm tới 94,7%; diện tích đất canh tác đang dần trở nên thu hẹp; vấn đề về học nghề chỉ được một bộ phận lao động có sự tiến triển trong nhận thức, còn lại vẫn còn tâm lý ỷ lại, trông chờ và thiếu quan tâm,… Bên cạnh đó, công tác dự báo về thị trường lao động còn yếu, nhiều chính sách chồng chéo dẫn đến chính quyền địa phương gặp khó khăn trong triển khai thực hiện các giải pháp đào tạo nghề - giải quyết việc làm, còn người lao động thì lúng túng trong quyết định chọn nghề Nhu cầu lao động nông thôn thành phố Cần Thơ vẫn còn nhiều khó khăn, là một thách thức trong vấn đề giải quyết việc làm cho lao động cũng như cân đối cung cầu thị trường lao động Nói chung, lao động nông thôn của thành phố Cần Thơ vẫn còn mất cân đối giữa cung và cầu lao động Từ hiện trạng trên và kết quả của các mô hình, các yếu tố tác động đến khả năng tìm việc làm của lao động nông thôn thành phố Cần Thơ bao gồm: môi trường làm việc phù hợp (mức lương và các khoản cam kết); khả năng đáp ứng công việc của người lao động (trình độ học vấn, trình độ chuyên môn/kỹ thuật,…); cơ hội tìm việc (thể hiện qua tính cạnh tranh trong tìm việc)

Trang 7

Năm 2017, tác giả Bùi Thị Ngọc Uyên đã có bài nghiên cứu “Các yếu tố ảnh hưởng đến cầu lao động tại thành phố Đà Nẵng”, sử dụng mô hình hồi quy tuyến tính bội, được đăng trên Tạp chí khoa học và công nghệ Đại học Đà Nẵng Kết quả của nghiên cứu chỉ ra sự tăng đều qua các năm của cầu lao động Nền kinh tế tăng trưởng trở lại làm cho nhu cầu lao động tăng mạnh, nên tốc độ tăng lao động cao kéo theo hệ số co giãn việc làm tăng cao NSLĐ của các ngành kinh tế cũng tăng theo thời gian Điều này cho thấy đóng góp của nó ngày càng tăng trong nền kinh

tế do giá trị gia tăng cao dẫn đến NSLĐ cao Quá trình chuyển dịch cơ cấu cầu lao động với nhiều dấu hiệu tích phù hợp xu hướng phát triển CNH-HĐH Hạn chế: Cầu lao động còn bộc phát, không mang tính dài hạn Tuy tăng nhanh qua các năm nhưng tốc độ tăng còn chậm không ổn định, xu hướng đang giảm dần Cầu lao động còn có cơ cấu lạc hậu, thể hiện cơ cấu kinh tế chưa tiến bộ Hệ số co giãn tăng cao nhưng tăng trưởng kinh tế tạo ra việc làm cho khu vực nông nghiệp qua các năm giảm dần nhưng vẫn còn nhiều và biến động

1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

1.2.1 Nghiên cứu về các doanh nghiệp ở châu Âu

Piotr Maleszyk (2014) nghiên cứu các yếu tố quyết định nhu cầu lao động ở Voivodship Lubelskie (Ba Lan) Các phân tích được thực

Trang 8

hiện trên cơ sở dữ liệu có sẵn trong các số liệu thống kê chính thức cho thấy tình hình tương đối tồi tệ về nhu cầu của thị trường lao động ở khu vực Lubelskie so với Ba Lan nói chung Mặc dù tỷ lệ việc làm ở Lubelskie gần bằng Ba Lan, nhưng điều này không liên quan nhiều đến mức độ tạo việc làm cao như việc làm cao ở mức sản xuất thấp trong ngành nông nghiệp Trong những năm gần đây, tăng trưởng việc làm ở đây thấp hơn rõ rệt so với cả nước Đây cũng là trường hợp với số lượng

vị trí tuyển dụng và cơ hội việc làm Cơ cấu việc làm không đủ hiện đại, chứng tỏ rằng sự phát triển kinh tế thấp Tăng trưởng nhu cầu lao động thấp hơn có thể là do cả việc tăng tiền lương (mà không phải do năng suất lao động được cải thiện) và tăng trưởng kinh tế thấp hơn

Viện đánh giá thị trường lao động và chính sách giáo dục (IFAU The Institute for Evaluation of Labour Market and Education Policy) của Thụy Điển đã nghiên cứu về vai trò của các yếu tố cung và cầu tác động đến nhu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp Trong các mô hình này,

ma sát thị trường lao động được nhấn mạnh, trong khi thị trường sản phẩm thường được coi là cạnh tranh hoàn hảo Tuy nhiên, hầu hết các công ty thực tế bán sản phẩm của họ tại các thị trường dường như được đặc trưng bởi sự cạnh tranh không hoàn hảo Điều này cho thấy nhu cầu sản phẩm cũng cần được quan trọng để tuyển dụng Nhu cầu sản phẩm

Trang 9

có tác động tích cực đến việc tuyển dụng trong hầu hết các thông số kỹ thuật, cho thấy rằng sự cạnh tranh không hoàn hảo trong thị trường sản phẩm là quan trọng để tuyển dụng Số lượng lao động thất nghiệp vào đầu kỳ có tác động tích cực đến việc tuyển dụng, cho thấy nguồn cung lao động, ít nhất là một phần, dường như tạo ra nhu cầu của chính họ Về mặt định lượng, nhu cầu sản phẩm dường như quan trọng hơn số lượng lao động thất nghiệp Chi phí tiền lương thực tế có tác động tiêu cực đến việc tuyển dụng, nhưng hiệu ứng này có vẻ ít quan trọng hơn về mặt định lượng

Xét về nghiên cứu định lượng, Arbiana Govori đã phân tích các yếu tố bên ngoài ảnh hưởng đến phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ

ở Kosovo Các yếu tố bên ngoài như tiếp cận tài chính, cạnh tranh, tham nhũng và chính sách của chính phủ có tác động rất quan trọng trong sự phát triển của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Kosovo Tạo điều kiện tiếp cận tài chính là điều cần thiết để thiết lập một môi trường thuận lợi để phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ Tuy nhiên, nói chung, các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở các nước đang phát triển phải đối mặt với nhiều rào cản đối với tài trợ, mặc dù vấn đề này không được biết đến ngay cả ở các nước phát triển Rào cản mà các doanh nghiệp vừa và nhỏ phải đối mặt thường liên quan đến chi phí hành chính cao, yêu cầu tài

Trang 10

sản thế chấp cao và sự thiếu tự nguyện của các ngân hàng cho vay đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ Nâng cao mức độ nhận thức về vai trò

và khả năng tiếp cận tài chính của các doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể cải thiện điều kiện kinh tế ở các nước đang phát triển bằng cách thúc đẩy đổi mới, tăng trưởng GDP và giảm thất nghiệp

1.2.2 Nghiên cứu về các doanh nghiệp ở châu Phi

Các nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả hoạt động hay sự tồn tại của doanh nghiệp được thực hiện tương đối nhiều ở các nước Châu Phi Đầu tiên phải kể đến Elizabeth Asiedu (2011) đề cập đến các yếu tố quyết định việc làm của các chi nhánh của các doanh nghiệp đa quốc gia Hoa Kỳ tại Châu Phi Việc làm của các chi nhánh nước ngoài của các doanh nghiệp đa quốc gia đã được chứng minh là thúc đẩy tăng trưởng bằng cách tăng lương, tăng chuyển giao công nghệ

và nâng cao năng suất ở các nước sở tại Tuy nhiên, các yếu tố ảnh hưởng đến việc làm đa quốc gia như vậy ở Châu Phi chưa được nghiên cứu Sử dụng dữ liệu bảng điều khiển, bài nghiên cứu chỉ ra rằng - trái ngược với nguồn tài nguyên thiên nhiên - cơ sở hạ tầng tốt, thu nhập cao hơn, cởi mở với thương mại và lực lượng lao động có giáo dục có tác động tích cực đáng kể đến việc làm Do đó, để nhận ra lợi ích việc làm của FDI, tiểu vùng Sahara ở Châu Phi cần thu hút đầu tư vào các ngành

Trang 11

công nghiệp phi tài nguyên và các nước chủ nhà cần cải thiện cơ sở hạ tầng và giáo dục dân số

Mahad Mohamed (2013) đã có bài nghiên cứu ở trên tạp chí Kinh

tế Mỹ, sử dụng mô hình logit, về đề tài các yếu tố ảnh hưởng đến cầu lao động ở thành phố Mogadishu, Somalia, châu Phi Dựa trên các tài liệu trước đây, nghiên cứu đã kết luận rằng: chi phí, giáo dục và sự ổn định kinh tế có tác động đáng kể đến nhu cầu lao động Nghiên cứu xác định chi phí là yếu tố chính quyết định nhu cầu lao động, đặc biệt là trong khu vực chính thức Các nghiên cứu trước đây chỉ ra rằng hầu hết các công

ty đòi hỏi lao động giá rẻ Đồng thời, lực lượng lao động có sẵn đòi hỏi bồi thường cao Nghiên cứu cũng xác định giáo dục là một yếu tố quan trọng quyết định nhu cầu lao động trên thế giới Do khả năng cạnh tranh toàn cầu ngày càng tăng, các công ty đòi hỏi lực lượng lao động có tay nghề cao và có năng lực Thật không may, phần lớn lực lượng lao động

ở các nước đang phát triển như Somalia không có các kỹ năng và năng lực phù hợp Mặc dù, nguồn cung lao động cao ở Somalia; người dân thiếu đào tạo và kỹ năng cần thiết Nghiên cứu tiếp tục xác định sự ổn định kinh tế là một yếu tố quyết định quan trọng của nhu cầu lao động Một đất nước có tăng trưởng kinh tế ổn định có nhu cầu lao động cao Điều này là do lực lượng lao động có sẵn có đủ kỹ năng và năng lực

Trang 12

Tuy nhiên, ở các nước đang phát triển như Somalia, nhu cầu lao động rất thấp Somalia đã trải qua thời kỳ suy thoái kinh tế kéo dài và điều này đã ảnh hưởng đến chất lượng lực lượng lao động

Các tác giả nhà Emmanuel bao gồm 3 người Emmanuel A Onwioduokit, Emmanuel T Adamgbe và Emmanuel N Buno đã có bài nghiên cứu đăng trên Tạp chí hội nhập Tiền tệ và Kinh tế, sử dụng phương pháp chạy dự báo dựa trên đường cung lao động và đường cầu lao động Bài nghiên cứu đề cập đến các yếu tố kinh tế vĩ mô tác động đến thị trường lao động tại Nigeria Về phía cầu, các hệ số của phương trình logarit lực lượng lao động cho phép đánh giá tác động của việc sử dụng năng lực trong lĩnh vực sản xuất, mức lương tối thiểu thực tế, dân

số trong độ tuổi lao động cũng như cung ứng lao động đối với sự thay đổi của nhu cầu lực lượng lao động Kết quả cho thấy mối quan hệ tiêu cực trong cung ứng lực lượng lao động và mức độ dân số trong độ tuổi lao động trong khi việc sử dụng năng lực và mức lương tối thiểu thực tế

có mối quan hệ không đáng kể nhưng có tích cực về nhu cầu lao động

Độ co giãn của chính nó rất đáng kể và có tác động tích cực đến nhu cầu lao động Rõ ràng từ kết quả là để khắc phục sự mất cân bằng trong sự

ổn định kinh tế vĩ mô của thị trường lao động Nigeria là cần thiết để duy trì giá ở mức sẽ dẫn đến một mức lương thực sự sẽ thúc đẩy mô hình

Ngày đăng: 27/07/2020, 06:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w