1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

tổng quan tài liệu nghiên cứu về mối quan hệ giữa đặc điểm ngành và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp

13 51 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 35,64 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1 Tổng quan tình hình nghiên cứu ở nước ngoài1.1 Nghiên cứu về các doanh nghiệp ở châu Âu Hiểu các yếu tố về đặc điểm cấu trúc ngành dẫn đến một số công ty cạnh tranh hơn các công ty khá

Trang 1

1 Tổng quan tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

1.1 Nghiên cứu về các doanh nghiệp ở châu Âu

Hiểu các yếu tố về đặc điểm cấu trúc ngành dẫn đến một số công ty cạnh tranh

hơn các công ty khác và do đó đạt được lợi nhuận cao hơn so với đối thủ của họ

(kết quả kinh doanh) là một vấn đề thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu

đặc biệt tại các nước Châu Âu

Porter (1980) đã thực hiện một phân tích với mục đích xác minh xem tầm quan trọng tương đối của các tác động của công ty và ngành là như nhau bất kể quy

mô của công ty Ducker (1990) đã nhận thấy rằng hiệu suất của các công ty lớn và nhỏ chủ yếu được giải thích bằng hiệu ứng của công ty, nghĩa là, bởi các thuộc tính bình dị của các công ty Trong trường hợp của các công ty lớn, quy mô và sự tích lũy sáng tạo của họ cho phép họ đạt được lợi thế cạnh tranh về cả sự khác biệt và chi phí Trong sự linh hoạt và năng động của lớn này, các công ty nhỏ có một lợi thế quan trọng để đối mặt với cạnh tranh Đối với hiệu suất của các công ty cỡ trung bình, kết quả được giải thích chủ yếu bởi hiệu ứng ngành

Đa số các nghiên cứu trong quá khứ đã xác định một số nguồn năng lực cạnh tranh; trong số những người khác, hiệu ứng của công ty và ngành (McGahan, 1999), hiệu ứng của các nhóm chiến lược (González-Fidalgo và Ventura-Victoria, 2002), hiệu ứng lĩnh vực kinh doanh (Houthoustd et al., 2010), hiệu ứng quốc gia (Goldszmidt et al., 2011), hoặc hiệu ứng giai đoạn vòng đời công nghiệp (Karniouchina et al., 2013) Nhiều nghiên cứu kết luận rằng các tác động ngành công nghiệp tới hiệu suất kinh doanh của doanh nghiệp là quan trọng nhất

Về nước Đức nói riêng

Về ngành nông nghiệp của Đức, nghiên cứu của Ilse Aigner (2010) cho thấy rằng ngành nông nghiệp ở Đức tập trung vào trồng trọt và chăn nuôi gia súc, gia cầm dựa trên các đặc điểm cụ thể của đất đai, ứng dụng khoa học, sự gia tăng

nguồn cung Đặc điểm tính chất của đất đai, tùy theo đặc điểm đất đai của từng

vùng để doanh nghiệp lựa chọn các loại cây trồng Ví dụ như ở những vùng đất màu

mỡ, có khả năng sinh sản tự nhiên cao, lúa mì, lúa mạch, ngô và củ cải đường là cây trồng chính Các loại đất nghèo hơn ở đồng bằng Bắc Đức và vùng cao Trung Đức thường được sử dụng để trồng lúa mạch đen, yến mạch, khoai tây và củ cải khô

Trang 2

Các vùng đất thấp ấm áp của miền Tây Nam thuận lợi cho việc trồng thuốc lá và ngô hạt ngoài ra vùng có sườn dốc của thung lũng được tập trung trồng nho để sản xuất rượu Yêu cầu lựa chọn loại hình sản xuất phù hợp sẽ có tác động mạnh mẽ

đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp Còn theo Country Report: Germany (2016) và OECD Economic Surveys: Germany (2016), khoa học công nghệ đã tác

động lớn đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp Là một nước có khoa học công nghệ phát triển nên việc ứng dụng khoa học vào sản xuất nông nghiệp là một việc không thể thiếu ở Đức Các máy móc hiện đại, chất lượng phân bón và quy trình sản xuất, chăn nuôi phát triển giúp cho năng suất sản xuất cao, quy mô sản xuất lớn hơn Tuy nhiên, chính vì sự phát triển đó đã khiến cho một sản phẩm chủ chốt của

nông nghiệp Đức như sữa, thịt, ngũ cốc dư thừa cung, các doanh nghiệp cần xem

xét và thay đổi lượng sản phẩm sản xuất ra, điều này đã ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp trong ngành nông nghiệp

Về ngành công nghiệp, Đức là một đất nước phát triển mạnh về công nghiệp với 4 ngành công nghiệp chủ đạo bao gồm sản xuất ô tô, cơ khí, điện tử, hóa chất

Theo bài viết trên trang U.S Library of Congress (2017) và OECD Economic Surveys: Germany (2016), với việc có được kỹ thuật phát triển và phức tạp bậc nhất thế giới đã giúp cho các ngành công nghiệp của Đức đạt được những kết quả

mạnh mẽ và tác động đến kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp trong lĩnh vực

này Bên cạnh đó, các chính sách hỗ trợ ưu đãi về đầu tư và thuế cũng góp phần

giúp các doanh nghiệp trong các lĩnh vực trên ở Đức giảm bớt gánh nặng về chi phí

và nâng cao lợi nhuận và thúc đẩy phát triển Xuất khẩu các mặt hàng ô tô, điện tử

của Đức đang ngày càng mở rộng trên thế giới điều này đã giúp các doanh nghiệp của Đức thu về một nguồn lợi nhuận không nhỏ, nâng cao kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp Mặt khác, cũng theo bài viết này giống như hầu hết các quốc gia

hiện đại, Đức chủ yếu dựa vào nhiên liệu hóa thạch là nguồn năng lượng Bởi nhu cầu sử dụng nhiên liệu quá lớn cho sản xuất mà nguồn tài nguyên khoáng sản (tuy

nhiều nhưng cũng không vô tận) nên Đức đã phải nhập khẩu rất nhiều để bù đắp cho thiếu hụt nhiên liệu sản xuất Điều này đã làm gia tăng đáng kế chi phí của các doanh nghiệp, ảnh hưởng tới kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp trong ngành công nghiệp nước này

Trang 3

Như trường hợp ở nhiều quốc gia khác có nền kinh tế tiên tiến, ngành dịch vụ của Đức (tức là thương mại, vận tải, ngân hàng, tài chính và viễn thông) đang ngày một phát triển Điều này rất rõ ràng ở các trung tâm đô thị trên khắp miền tây nước

Đức, với sự tập trung của các doanh nghiệp, ngân hàng và bảo hiểm Theo OECD Economic Surveys: Germany (2016) và Mark Owuor Otieno về thương mại, với việc ngành sản xuất đang ngày càng thặng dư cung dẫn đến sự phát triển mạnh của

các hoạt động xuất khẩu sang các quốc gia khác cũng như nhập khẩu các nguyên liệu thô cho ngành sản xuất Từ đó, ngành vận tải cũng được thúc đẩy nhiều hơn

Đức không chỉ có cảng biển rất lớn là Hamburg mà còn có sông Rhine với dòng

chảy ổn định, nhiều kênh rạch nối ra biển thuận tiện cho việc vận chuyển nhờ đó kết quả kinh doanh cho các doanh nghiệp trong ngành dịch vụ cũng tốt hơn Thêm vào

đó, với đặc điểm hệ thống tài chính và ngân hàng được tư nhân hóa, đã giúp các

doanh nghiệp bên lĩnh vực tài chính dễ dàng hoạt động và quản lý dòng tiền của

mình thông qua ngân hàng trung ương Ngoài ra, là một đất nước phát triển về công nghệ thì nhu cầu về các sản phẩm viễn thông cũng rất cao, số lượng người sử dụng

điện thoại thông minh và mạng di động nhiều vô kể nhờ vậy mà các doanh nghiệp dịch vụ ở Đức đạt được những kết quả kinh doanh đáng mong đợi

1.2 Nghiên cứu về các doanh nghiệp ở Hoa Kỳ

Chang và Singh (2000) chỉ nghiên cứu về các công ty sản xuất, trong khi hầu hết các nghiên cứu khác bao gồm các công ty dịch vụ, và điều này có thể dẫn đến một sự khác biệt lớn về sức mạnh giải thích của hiệu ứng doanh nghiệp lớn hơn đối với các nhà sản xuất hơn cho các dịch vụ

Một số nghiên cứu dường như cũng xác nhận rằng hiệu ứng doanh nghiệp (tính không đồng nhất của tài nguyên) vượt xa hiệu quả của ngành (đặc điểm cấu trúc của ngành) trong việc giải thích lợi nhuận của các công ty (Bamiatzi et al.,

2016 ; Bamiatzi và Hall, 2009; Roquebert et al., 1996; Short và cộng sự, 2007) Tuy nhiên, các nghiên cứu đưa ra kết quả khác biệt theo quy mô thường thấy rằng đối với các công ty lớn, hiệu quả của công ty quan trọng hơn đáng kể so với hiệu quả của ngành (McGahan, 1999; McGahan và Porter, 2002; Ruefli và Wiggins, 2003), nhưng đối với vừa và nhỏ công ty thì kết quả này là mâu thuẫn

1.3 Nghiên cứu về các doanh nghiệp ở châu Á

Trang 4

1.3.1 Nghiên cứu tại Trung Quốc

Các nghiên cứu về mối quan hệ của đặc điểm ngành đến kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp chưa thực sự được thực hiện rộng rãi

Pun-Lee Lam (2005) nghiên cứu các vấn đề quan trọng liên quan đến sự thay đổi trong đặc điểm chính sách của ngành năng lượng Trung Quốc và kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp Kết quả nghiên cứu cho thấy giá năng lượng được xác định là căn nguyên của vấn đề thiếu hụt năng lượng của Trung Quốc Gần đây, giá xăng dầu đã được điều chỉnh theo giá thế giới Tuy nhiên, giá điện tiêu chuẩn toàn quốc ở Trung Quốc về cơ bản vẫn không thay đổi từ những năm 1950 đến đầu những năm 1980 và thấp hơn nhiều so với chi phí sản xuất Giá điện thấp buộc các công ty điện lực bị thâm hụt, vốn phải được tài trợ bằng các khoản vay lớn và trợ cấp của chính phủ Than được bán cho ngành điện với giá trợ giá, đôi khi chỉ bằng một nửa, hoặc thậm chí chưa đến một nửa chi phí sản xuất Điều này dẫn đến kinh doanh kém hiệu quả, không năng suất

Youfa Wang và cộng sự (2016) đã xem xét sự tăng trưởng của ngành thức ăn nhanh ở Trung Quốc, các yếu tố chính đóng góp vào sự tăng trưởng và mối liên hệ giữa đặc điểm ngành và tình hình kinh doanh của cửa hàng đồ ăn nhanh Trung Quốc là đất nước tiêu thụ thức ăn nhanh rất lớn vì quy mô dân số lớn, người tiêu dùng Trung Quốc rất ưa chuộng các nhà hàng Fast food, rào cản gia nhập ngành thấp Thêm vào đó, thu nhập của người dân càng ngày càng cao dẫn đến nhu cầu ăn hàng tăng Vì vậy, ngành công nghiệp Fast food Trung Quốc đã phát triển nhanh chóng Nhiều doanh nghiệp Fast food, đặc biệt là các doanh nghiệp nước ngoài đã tham gia và mở rộng tại thị trường Trung Quốc kể từ những năm 1990 Các nhà hàng Fast food của Mỹ mở rộng nhanh chóng ở Trung Quốc, đặc biệt là trong thập

kỷ qua KFC là thương hiệu nước ngoài lớn nhất tại Trung Quốc về số lượng nhà hàng, được phân phối tại hơn 1000 thành phố vào năm 2015, bao gồm tất cả các tỉnh ở Trung Quốc ngoại trừ Tây Tạng McDonald′s đã mở nhà hàng đầu tiên tại Thâm Quyến vào năm 1990, đến năm 2013 đã sở hữu hơn 2000 cửa hàng Pizza Hut đã mở cửa hàng đầu tiên tại Bắc Kinh vào năm 1990 và năm đến 2015, Pizza Hut trở thành thương hiệu ăn uống bình dân lớn nhất phương Tây tại Trung Quốc Các nhà hàng Fast food kiểu Trung Quốc nội địa ở Trung Quốc cũng đã mở rộng và

Trang 5

bị ảnh hưởng phần lớn bởi các nhà hàng Fast food nước ngoài do xu hướng sính ngoại Các nhà hàng Fast food nội địa quan trọng này đã tạo ra 43% tổng doanh thu của ngành thức ăn nhanh trong năm 2013

Một nghiên cứu điển hình trong ngành nông nghiệp là của Hu Bingchuan (2015) – nhà nghiên cứu tại Viện Nghiên cứu Phát triển nông thôn, thuộc Viện Khoa học xã hội Trung Quốc, cho biết tuổi trung bình của lực lượng lao động chính trong lĩnh vực này là 57 Nghĩa là, nếu các thế hệ doanh nhân mới không đảm đương việc sản xuất nông nghiệp, Trung Quốc có thể mất rất nhiều đất canh tác vì chúng sẽ dần bị bỏ hoang Trung Quốc đã trở thành một nền nông nghiệp ròng xuất khẩu thực phẩm Dần dần cải thiện thị trường trong nước và tự do hóa thương mại nông nghiệp đã gây ra một sự thay đổi cơ bản trong định hướng sản xuất của nhiều nhà sản xuất, khuyến khích mức độ cao hơn của thương mại hóa và tăng chuyên môn hóa thành nhiều lao động - chuyên sâu, cao-giá trị thêm loại cây trồng

Ceilia Chen (2019) nghiên cứu về việc Trung Quốc đang dần mở rộng hoạt động các ngành công nghiệp và dịch vụ để nhằm gia tăng hiệu suất kinh doanh của công ty Một trong những lĩnh vực quan trọng đối với doanh nghiệp là việc sử dụng máy bay không người lái trong nông nghiệp DJI Agras MG-1, loại máy bay được được thiết kế dành riêng cho việc ứng dụng biến đổi của tải trọng chất lỏng như phân bón và thuốc trừ sâu để phun cho cây trồng Sự thay đổi trong chiến lược diễn

ra khi các công ty công nghệ Trung Quốc đang đưa các sản phẩm và dịch vụ của họ lên chuỗi giá trị để cạnh tranh tốt hơn trên toàn cầu trong các công nghệ mới nổi như trí tuệ nhân tạo Các doanh nghiệp kinh doanh sử dụng máy bay không người lái để phục vụ các công ty dự kiến sẽ có tiềm năng đem lại ảnh hưởng tích cực cho kết quả kinh doanh của doanh nghiệp Một dự đoán ngắn hạn của một số nhà nghiên cứu của Trung Quốc cho rằng, trong kế hoạch 5 năm lần thứ 9 mức tăng giá trị sản lượng công nghiệp của Trung Quốc sẽ đạt mức 11-12%, mức tăng của công nghiệp

sở hữu nhà nước, sở hữu tập thể và các loại sở hữu khác sẽ có tỷ lệ 1: 2: 3 Cụ thể

là, mức tăng của công nghiệp sở hữu nhà nước trung bình mỗi năm 6%, giá trị sản lượng đạt 30,7% tổng số; mức tăng của doanh nghiệp tập thể là 12% và đạt 40% tổng số, mức tăng của các doanh nghiệp khác là 18% và 29,3 tổng số Các nhà

Trang 6

nghiên cứu cho rằng đó là những mức tăng và những tỷ lệ tất yếu và thích hợp với điều kiện phát triển của nền kinh tế Trung Quốc vào cuối thế kỷ này

Khi nghiên cứu về ngành du lịch của Trung Quốc, Melissa Cyrill (2018) thống

kê rằng ngành đang tăng trưởng với tốc độ 10% hàng năm, với các dịch vụ du lịch trực tuyến kéo mức tăng trưởng khoảng 35-40% Theo báo cáo thị trường ngành du lịch Trung Quốc năm 2013 - 2017, xét vào năm 2012, Trung Quốc có tổng cộng 24.900 công ty du lịch với mức tăng hàng năm là 5,3% Giai đoạn 2007 - 2012, số lượng các công ty du lịch ở Trung Quốc chứng kiến đà tăng trưởng ổn định, với CAGR là 4,8% Đặc biệt, số lượng khách sạn hạng sao có CAGR âm 3,5% từ năm

2007 đến 2012, khách sạn ba sao 5,9%, khách sạn bốn sao 10,5% và khách sạn năm sao 13,9% Thị trường lớn và cung cấp các cơ hội thú vị cho các nhà đầu tư, giúp các công ty du lịch tại Trung Quốc đủ điều kiện để xây dựng thêm cơ sở hạ tầng và gia tăng tính cạnh tranh đối với các quốc gia khác

1.3.2 Nghiên cứu tại Nhật Bản

Về nông nghiệp, theo Jeffrey Hays (2009), tại Niigata, Chính phủ Nhật Bản đã xóa bỏ tất cả các hàng rào chính sách vốn được dựng lên để bảo vệ vai trò trung tâm của người nông dân, thay vào đó là khuyến khích các tập đoàn lớn tham gia sản xuất nông nghiệp Từ chuyển đổi quy mô nhỏ lẻ, Nhật Bản gia nhập Hiệp định đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) sang phương thức đại quy mô Song hành với đó, khi mà Nhật Bản muốn người nông dân tự chủ canh tác thì đã nhận thấy hiệu quả canh tác không khả quan và nhiều ruộng đất bỏ hoang Ông Akira Shinoda là người thấy rõ điều đó và đưa ra quyết định nới lỏng các rào cản đối với các công ty tư nhân

Naoi và Kume (2011) đề nghị hỗ trợ cộng đồng cho nông nghiệp bảo vệ, do các cá nhân nhìn nhận bản thân về vai trò của họ như là nhà sản xuất hơn là người tiêu dùng và dự đoán sự bất an trong công việc của nông dân, sinh kế của họ bị đe dọa bởi cạnh tranh quốc tế Naoi và Urata (2013) cho rằng sự không chắc chắn về kết quả và tác động của các cuộc đàm phán TPP và hiệu quả của các cuộc vận động hành lang của JA đã giúp giải thích thái độ của công chúng bảo vệ Tương tự, Mulgan (2014) đã đề xuất đó là do JA xác định thành công lợi ích của nông dân với lợi ích quốc gia

Trang 7

James Brady (2015) cho rằng song song với việc thí điểm sản xuất quy mô lớn, Nhật Bản cũng thử nghiệm các công nghệ canh tác mới, chuỗi sản xuất kết hợp tiêu thụ và thúc đẩy xuất khẩu các sản phẩm nông nghiệp Những thí nghiệm mà Chính phủ Nhật Bản đang thực hiện tại đặc khu nông nghiệp Niigata nếu thành công sẽ được nhân rộng ra phạm vi toàn quốc Nhật Bản đã sẵn sàng cho sự thay đổi lớn nhất trong ngành nông nghiệp kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ II

Về công nghiệp, Denison và Chung (1976) cho rằng sự kết hợp giữa cải thiện yếu tố đầu vào và tăng trưởng sản lượng trên mỗi yếu tố đầu vào kết hợp chiếm tỷ lệ tăng trưởng kinh tế nhanh nhất của Nhật Bản Chất lượng lao động được cải thiện vì sức khỏe được tăng cường và trình độ học vấn tăng lên; đầu tư vào sản xuất là quan trọng không chỉ bởi vì nó tự tăng vốn cổ phần mà còn vì nó giảm sự phụ thuộc vào nông nghiệp và đi đôi với cải tiến về kiến thức; và rằng năng lực xã hội để tiếp thu

và thích ứng công nghệ phương Tây thúc đẩy sự cải thiện về kiến thức có liên quan đến đầu tư cơ sở hạ tầng

Ohkawa và Rosovsky (1973) lập luận, thúc đẩy hình thành vốn sản xuất có liên quan đến nhập khẩu và thích ứng công nghệ nước ngoài, đặc biệt là từ Hoa Kỳ Những khoản đầu tư từ nước ngoài, đặc biệt là từ Hoa Kỳ, đã thúc đẩy hình thành vốn sản xuất có liên quan đến nhập khẩu và thích ứng công nghệ nước ngoài, chuyển lực lượng lao động ra khỏi nông nghiệp và sản xuất, xây dựng và tạo điều kiện những ngành có năng suất lao động cao hơn nhiều so với nông nghiệp thâm dụng lao động, tập trung vào trồng lúa thâm dụng lao động

Về ngành dịch vụ, theo Patrik Ström (2005), khu vực dịch vụ của Nhật Bản đóng góp nhỏ hơn vào tổng sản phẩm quốc nội (GDP) và chia sẻ việc làm so với các ngành dịch vụ ở các nền kinh tế tiên tiến khác Nghiên cứu hạn chế đã được thực hiện để nâng cao kiến thức về nền kinh tế dịch vụ của Nhật Bản Nghiên cứu

đề cập đến các tiểu ngành dịch vụ chính cùng với một số khó khăn liên quan đến quốc tế hóa của Nhật Bản, cho thấy lĩnh vực dịch vụ của Nhật Bản có mối liên hệ phức tạp với các nhóm keiretsu lớn hơn, nhưng khả năng cạnh tranh quốc tế của họ

bị hạn chế

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước

Trang 8

Cho đến nay, nghiên cứu về mối quan hệ giữa đặc điểm ngành và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp chưa được thực hiện nhiều Các nghiên cứu đa số tập trung vào từng ngành đặc thù, chưa có nghiên cứu áp dụng tổng quát cho tất cả các ngành nói chung Một số ngành nghề điển hình đã được đưa vào nghiên cứu có thể kể đến như: ngành khai thác khoáng sản, ngành công nghiệp chế biến gỗ xuất khẩu, ngành kinh doanh du lịch, ngành dệt may

Ngành công nghiệp khai khoáng được xếp vào nhóm ngành công nghiệp cấp

1 Theo nghiên cứu của tác giả Nguyễn Mai Hương (2008), nhóm ngành này chứa đựng những nét đặc thù riêng biệt vốn có như trữ lượng mỏ phân tán, kết quả đạt được phụ thuộc vào trữ lượng có ích của mỏ khai thác, kỹ thuật phức tạp, điều kiện lao động nguy hiểm, Do đó, tùy theo góc độ nghiên cứu sẽ dẫn đến mức độ tác động nhiều hay ít của đặc điểm ngành lên kết quả kinh doanh Một số đặc điểm cơ bản của ngành khai khoáng có ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh có thể kể đến như đặc điểm thăm dò, đặc điểm sử dụng kỹ thuật khai thác và đặc điểm môi trường Về

đặc điểm thăm dò, tài nguyên các mỏ được phân phối không giống nhau, cần thiết

phải thực hiện công tác nghiên cứu và khai thác mỏ một các nghiêm túc, khoa học

và chính xác để xác định trữ lượng và chất lượng khoáng sản Quá trình khai thác cần phải đầu tư thiết bị, công nghệ hiện đại, từ đó dẫn đến nhu cầu về vốn là rất lớn Mặt khác, sản phẩm khai thác lại mang tính mùa vụ, nên chi phí bảo quản, cất trữ,

hao hụt cũng phát sinh khá nhiều Về đặc điểm sử dụng kỹ thuật khai thác, ngành

công nghiệp khai thác khoáng sản thường tập trung ở các tỉnh Bắc Bộ và duyên hải Trung Bộ nên phần lớn các mỏ nằm ở khu vực có địa hình biến đổi phức tạp, bị chia cắt mạnh Ngay từ khi nghiên cứu mỏ, việc sử dụng phương tiện kỹ thuật và công nghệ cũng không hoàn toàn giống nhau và phụ thuộc vào loại khoáng sản và cấu trúc mỏ Việc lựa chọn công nghệ khai thác thích hợp mà lại tiết kiệm chi phí đầu từ

cũng là nhân tố tác động đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp Về đặc điểm môi trường, môi trường đang là một vấn đề nóng hổi đối với các doanh nghiệp

trong tiến trình hội nhập và phát triển nền kinh tế nước nhà Bởi vậy, cần phải có những biện pháp thích ứng để duy trì cân bằng sinh thái, bảo vệ môi trường Mục tiêu tăng trưởng kinh tế là cần thiết, song mặt trái của các hoạt động sản xuất kinh

Trang 9

doanh lại gây thiệt hại to lớn về môi trường, gây ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh

và làm giảm tốc độ tăng trưởng của doanh nghiệp

Tác giả Đỗ Huyền Trang (2012) nghiên cứu mối quan hệ giữa đặc điểm ngành công nghiệp chế biến gỗ xuất khẩu và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp

Trước hết, cần đề cập đến đặc điểm sản xuất kinh doanh mang tính thời vụ của

ngành này Thông thường, có khá nhiều doanh nghiệp chế biến gỗ xuất khẩu phải cho máy móc thiết bị “nghỉ hè” từ tháng 5 đến tháng 7 do chưa bước vào mùa đặt hàng của khách hàng, dẫn đến việc sử dụng lao động cũng diễn ra theo mùa vụ, làm cho chi phí sản xuất phát sinh trong từng giai đoạn cũng khác nhau Thêm vào đó,

để đảm bảo cho sản xuất kinh doanh, giai đoạn dự trữ nguyên vật liệu, sản phẩm của các doanh nghiệp thường bắt đầu từ tháng 11 năm trước đến tháng 3 năm sau đã làm cho chỉ tiêu hàng tồn kho chiếm tỷ trọng lớn Tính thời vụ của sản xuất kinh doanh không chỉ ảnh hưởng đến sự liên tục của sản xuất mà còn tác động đến các

chính sách dự trữ hàng tồn kho của doanh nghiệp Thứ hai, cần quan tâm đến kết cấu chi phí sản xuất sản phẩm gỗ chế biến Trong kết cấu chi phí sản xuất sản phẩm

gỗ, chi phí nguyên vật liệu trực tiếp chiếm đến 80 - 85% tổng giá thành của sản

phẩm Thứ ba, mỗi doanh nghiệp chế biến gỗ xuất khẩu đều phải tự thực hiện nhiều công đoạn sản xuất khác nhau bao gồm cưa xẻ, luộc sấy (sấy), gia công chi tiết và

hoàn thiện sản phẩm, mỗi công đoạn lại sử dụng các trang thiết bị khác nhau, với

kết quả thu được và hiệu quả sử dụng hoàn toàn khác nhau Thứ tư, đặc điểm nguồn cung ứng nguyên vật liệu cũng có ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của doanh

nghiệp Với đặc điểm thường xuyên phải nhập khẩu nguyên vật liệu (lên đến 80% nguyên liệu gỗ và 90% phụ liệu trong tổng giá trị nguyên vật liệu sử dụng), các doanh nghiệp phải bỏ ra đến 40% kim ngạch xuất khẩu của mình để nhập khẩu, do

đó đã làm giảm đáng kể kết quả kinh doanh của doanh nghiệp Thứ năm, do đặc điểm kinh doanh xuất nhập khẩu nên sự thay đổi của tỷ giá ngoại tệ cũng như các chính sách liên quan đến thuế xuất nhập khẩu của Nhà nước cũng có những tác động nhất định đến kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp Thứ sáu, đặc điểm hoạt động kinh doanh đơn lẻ, không có sự liên kết cũng sẽ ảnh hưởng không nhỏ

đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp Mặt hàng gỗ chế biến của Việt Nam còn gặp phải rất nhiều rào cản khi bước vào thị trường thế giới Các doanh nghiệp rất

Trang 10

khó khăn khi vượt qua các rào cản này do còn cạnh tranh chưa lành mạnh, thiếu sự hợp tác chia sẻ kinh nghiệm giữa các doanh nghiệp, thiếu hiểu biết về luật pháp quốc tế

Tương tự như hai ngành trên, ngành kinh doanh du lịch cũng có những nét đặc thù ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp Theo nghiên cứu của tác

giả Nguyễn Ngọc Tiến (2015), trước hết phải kể đến tính chất mùa vụ trong kinh

doanh du lịch Hoạt động kinh doanh du lịch ở nước ta chịu ảnh hưởng rất lớn bởi tính mùa vụ, tính mùa vụ được thể hiện rõ nét nhất là mùa thời tiết, mùa lễ hội và

mùa cưới Thứ hai, hoạt động kinh doanh du lịch chịu ảnh hưởng bởi yếu tố lịch sử văn hóa - chính trị địa phương Với các địa phương gắn liền với nhiều di tích lịch

sử, văn hóa, chính trị thì hoạt động kinh doanh du lịch sẽ phát triển mạnh hơn, đa

dạng hơn so với những địa phương khác Thứ ba, yếu tố vị trí địa lý - tự nhiên cũng

tác động không nhỏ đến hoạt động kinh doanh du lịch Đối với những nơi được thiên nhiên ban tặng nhiều thắng cảnh, phong cảnh đẹp và thuận lợi về điều kiện địa

lý, hoạt động kinh doanh du lịch sẽ đa dạng hơn, phong phú hơn với nhiều hoạt

động kinh doanh vui chơi, giải trí Thứ tư, điều kiện kinh tế - xã hội và phong tục tập quán là yếu tố tác động nhiều nhất đến việc tiêu dùng các sản phẩm dịch vụ du

lịch Một nơi có điều kiện kinh tế - xã hội tốt, thu nhập người dân cao và lối sống phóng khoáng thì ở nơi ấy người dân sẽ chi tiêu nhiều hơn cho đi du lịch hoặc vui

chơi, giải trí và ngược lại Ngoài những đặc điểm kể trên, yếu tố thể chế chính trị

cũng tác động rất lớn đến hoạt động kinh doanh du lịch Một thể chế chính trị rõ ràng, minh bạch, các thủ tục hành chính ngắn gọn, ít rào cản pháp lý và chú trọng khuyến khích đầu tư sẽ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đầu tư hoạt động kinh doanh du lịch, từ đó tạo ra một chuỗi các hoạt động dịch vụ cho khách hàng Khi

đó, khách hàng sẽ sử dụng nhiều dịch vụ hơn, thời gian sử dụng lâu hơn, mang lại nhiều lợi nhuận cho doanh nghiệp

Riêng về ngành dệt may, ngành này có số lượng nghiên cứu về đặc điểm ngành và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp nhiều hơn cả so với các ngành khác Theo Ngô Quý Nhâm (2011), doanh nghiệp có thể sử dụng các chỉ tiêu như sự hài lòng của khách hàng, thu hút khách hàng, giữ chân khách hàng, lợi nhuận từ khách hàng, thị phần… để đánh giá hiệu quả của doanh nghiệp ở khía cạnh khách

Ngày đăng: 27/07/2020, 06:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w