Đó là quá trình tất yếu trong sự vận động của nền kinh tế thế giới, giống như cựu Tổngthống Mỹ Bill Clinton từng phát biểu tại đại học Quốc gia Hà Nội trong chuyến thămViệt Nam năm 2000:
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Một trong những xu hướng làm thay đổi đáng kể toàn bộ cục diện thế giới trongsuốt hơn nhiều thập kỷ vừa qua chính là tốc độ tăng trưởng nhanh và liên tục của xuthế toàn cầu hóa, mà nổi trội nhát là toàn cầu hóa kinh tế Toàn cầu hóa thúc đẩy cácquốc gia tiến đến thịnh vượng và khiến thế giới này trở nên gắn kết với nhau hơn Đó
là quá trình tất yếu trong sự vận động của nền kinh tế thế giới, giống như cựu Tổngthống Mỹ Bill Clinton từng phát biểu tại đại học Quốc gia Hà Nội trong chuyến thămViệt Nam năm 2000: "Toàn cầu hóa cũng giống như một cơn gió hay một dòng nước.Chúng ta có thể lợi dụng sức gió để căng buồm ra khơi cũng như dùng sức nước để tạo
ra năng lượng, và hãy cố gắng hết sức để bảo vệ con người và của cải trước bão lũ."
Và trong dòng chảy mang tính chất tất yếu của thời đại ấy, Việt Nam cũng đangtừng bước hòa mình và quan tâm đến việc mở rộng mối quan hệ nhiều mặt với cácquốc gia, các khu vực trên thế giới bằng việc tham dự các hiệp định thương mại tự dosong phương và đa phương như APEC, ASEM, ASEAN, AFTA, WTO và đặc biệt,gần đây nhất đó là TPP và AEC Trong bài phát biểu tại Hội nghị tương lai châu Á, Thủtướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã nêu lên sự thành công của Con đường Tơ lụa
cổ đại, tạo nên một lộ trình thương mại nổi tiếng và thịnh vượng nối châu Á và châu
Âu, để khẳng định rằng lịch sử đã chứng minh toàn cầu hóa không chỉ đơn thuần làmột tiến trình kinh tế mà còn đáp ứng được mong muốn của nhân loại trong việc thúcđẩy hội nhập, trao đổi kinh tế trên cơ sở bình đẳng và vì lợi ích của tất cả các bên
Tuy nhiên, cần phải nhìn nhận một cách khách quan rằng toàn cầu hóa kinh tế bêncạnh những ảnh hưởng tích cực thì cũng tồn tại song song những hạn chế tiêu cực đến cácquốc gia và vùng lãnh thổ Do đó nhiều nước hiện nay vẫn đang hết sức lo lắng khi kinh tếđất nước ngày càng hội nhập sâu hơn Có thể thấy việc nghiên cứu và tìm hiểu sâu về toàncầu hóa kinh tế là vấn đề không chỉ có ý nghĩa về mặt lí luận mà còn có ý nghĩa thực tiễn.Vậy làm thế nào để có thể tận dụng được những cơ hội và hạn chế một cách đối đa nhữngthách thức do toàn cầu hóa kinh tế mang lại? Để giải quyết vấn đề
Trang 2này nhóm tác giả đã biên soạn tiểu luận với đề tài nghiên cứu “Tính hai mặt của toàncầu hóa đối kinh tế” trên cơ sở phân thích những tác động tích cực và tiêu cực của toàncầu hóa đến nền kinh tế các nhằm đưa ra những lựa chọn và giải pháp đúng đắn chotiến trình toàn cầu hóa của Việt Nam nói riêng và toàn thế giới nói chung.
Kết cấu tiểu luận gồm 3 chương:
- Chương 1: Tổng quan về toàn cầu hóa kinh tế:
- Chương 2: Tính hai mặt của toàn cầu hóa kinh tế
- Chương 3: Việt Nam trong xu thế toàn cầu hóa kinh tế
Trang 3CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ TOÀN CẦU HÓA KINH TẾ
1.1 Khái niệm và biểu hiện:
1.1.1 Các khái niệm:
1.1.1.1 Toàn cầu hóa:
Toàn cầu hoá là quá trình tăng lên mạnh mẽ những mối liên hệ, ảnh hưởng, tácđộng lẫn nhau, phụ thuộc lẫn nhau của tất cả các khu vực, các quốc gia, các dân tộctrên thế giới, làm nổi bật hàng loạt biến đổi có quan hệ lẫn nhau mà từ đó chúng có thểphát sinh một loạt điều kiện mới
1.1.1.2 Toàn cầu hóa kinh tế:
Toàn cầu hóa kinh tế có thể hiểu là xu hướng đi tới hình thành một thế giới thốngnhất trên phạm vi toàn cầu, trong đó có sự tham gia (hội nhập) của tất cả các quốc giatrên thế giới Các quốc gia liên kết chặt chẽ với nhau, phụ thuộc lẫn nhau trong sự phâncông và hợp tác kinh tế trên quy mô toàn cầu, có sự lưu thông của các luồng hàng hóa,dịch vụ, vốn, công nghệ, nhân lực trên phạm vi toàn cầu, dưới sự điều tiết của cácnguyên tắc toàn cầu Trên thực tế, toàn cầu hóa kinh tế về cơ bản là sự gia tăng nhanhchóng các hoạt động kinh tế vượt qua mọi biên giới của các nước, châu lục, khu vực
1.1.2 Biểu hiện của toàn cầu hóa kinh tế:
Toàn cầu hóa kinh tế diễn ra với tốc độ ngày càng nhanh, quy mô ngày càng lớn,
mở rộng ra hầu hết các lĩnh vực, lôi kéo hầu hết các nước trên thế giới Biểu hiện của
sự gia tăng này là sự mở rộng về quy mô và mức độ của mậu dịch thế giới, sự lưuchuyển của dòng lao động và vốn trên phạm vi toàn cầu, cụ thể:
Tính thẩm thấu lẫn nhau giữa các nền kinh tế gia tăng, sản phẩm mang tính quốc tế hóa cao
Những rào cản kinh tế ngăn cách giữa các quốc gia dần được dỡ bỏ
Sự ra đời và mở rộng của nhiều tổ chức, liên kết kinh tế khu vực toàn cầu
Trang 4Thương mại thế giới phát triển:
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tăng trưởng
Quá trình gia nhập vào xu hướng đó của các quốc gia trên thế giới được gọichung là hội nhập kinh tế
Xu hướng toàn cầu hóa bao gồm nhiều phương diện: chính trị, văn hóa, xã hộikinh tế,… trong đó thì phương diện kinh tế vừa là trung tâm vừa là cơ sở cũng như đònbẩy cho các lĩnh vực khác của toàn cầu hóa Toàn cầu hóa kinh tế là sự kết nối giữanhiều nước có cùng chiều hướng phát triển, cùng tham gia một thị trường chung Toàncầu hóa kinh tế góp phần thúc đẩy nhanh chóng quan hệ thương mại trên phạm vi toàncầu Nó chứa đựng đồng thời nhiều cơ hội cùng những thách thức lớn
1.2 Xu hướng toàn cầu hóa và toàn cầu hóa kinh tế trên thế giới
Tác phẩm “những giới hạn của sự tăng trưởng” của câu lạc bộ Rome(1) vào năm
1972 đã cho rằng sự sụp đổ kinh tế toàn cầu sẽ diễn ra sau một thập kỷ nữa Đó là một
dự báo bi quan về nền kinh tế thế giới Tuy nhiên, trên thực tế, kinh tế thế giới khôngnhững trụ vững chắc mà còn phát triển mạnh mẽ hơn dù có tồn tại trục trặc Sự bùng
nổ kinh tế thế giới bắt đầu từ sự gia tăng buôn bán giữa hơn 160 quốc gia Sự trao đổibuôn bán này dần biến những mảng thị trường thế giới riêng lẻ thành một khối thốngnhất Từ đó một xu hướng mới hình thành, xu hướng toàn cầu hóa kinh tế
Năm 1998 Mỹ và Canada đã ký hiệp ước tháo dỡ mọi rào cản trong việc buôn bángiữa 2 nước Sau đó, 12 nước cộng đồng Châu Âu tham gia vào xu hướng trên, biếnTây Âu trở thành một khu vực kinh tế thống nhất rộng lớn Bên cạnh đó là sự xuất hiệncủa WTO cùng rất nhiều tổ chức tiểu vùng như AFTA, NAFTA, EU, APEC, … Cácnước lớn nhỏ đều dành ưu tiên cho sự phát triển kinh tế, theo đuổi chính sách kinh tế
mở như Trung Quốc, Nga, Ấn Độ, Mỹ,… và cả một số nước vốn khép kín theo môhình tự cung tự cấp cũng đang mở cửa, từng bước hội nhập nền kinh tế thế giới
Đặc biệt, ở khu vực Đông Nam Á đã diễn ra nhiều biến đổi sâu sắc Sau nhiều cuộcchiến tranh, đối đầu kéo dài hàng thập kỷ, Đông Nam Á đã trở lại hòa bình, xu thế hợp
Trang 5tác không ngừng gia tăng Nhất là cuối thiên niên kỷ thứ hai đầu thiên niên kỷ thứ 3hàng loạt biến cố chính trị, xã hội đã diễn ra khiến cho thế giới xích lại gần nhau hơn,
mà trước hết là kinh tế Đó là sự mở rộng của ASEAN, sự liên kết của ASEAN với banước đối thoại EU
1.3 Việt Nam trong xu thế toàn cầu hóa
Toàn cầu hóa ngày nay đã trở thành một xu thế trên toàn thế giới, trong đó, kinh
tế chính là lĩnh vực trọng tâm nhất Việt Nam cũng không nằm ngoài xu thế đó Toàncầu mở ra cánh cửa cho Việt Nam bước ra thế giới, song song với đó là đặt ra không ít
cơ hội và thách thức, buộc nước ta phải thay đổi không ngừng để tận dụng tối đa lợi thếtrong điều kiện hiện nay
Toàn cầu hóa ở nước ta bắt đầu từ năm 1986, kể từ khi văn kiện Đại hội VI chínhthức có hiệu lực Kể từ đó đến nay Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu lớn:
Về ngoại giao: Bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc năm 1991; Gianhập ASEAN và bình thường hóa quan hệ với Mỹ năm 1995; đến nay đặt đặtquan hệ ngoại giao với 164 quốc gia và vùng lãnh thổ (theo website Viện Y họcbiển Việt Nam)
Về Ngoại thương: Gia nhập Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á - Thái BìnhDương APEC năm 1998; trở thành thành viên Tổ chức Thương mại Thế giớiWTO năm 2006; trở thành thành viên Công đồng kinh tế ASEAN năm 2015 (theoVnExpress)
Về tình hình kinh tế nội tại: Từ một nền kinh tế lạc hậu kém phát triểnnhững năm đầu giải phóng, Việt Nam đã chuyển mình vượt bậc, vươn lên mức thunhập trung bình khá Trước đó, Việt Nam rơi vào tình trạng thiếu lương thực trầmtrọng nhưng đến năm 1990 đã đáp ứng nhu cầu trong nước, có dự trữ và xuất khẩu.Sản lượng lương thực năm 1988 đạt 19,5 triệu tấn (vượt năm 1987 hơn 2 triệu tấn)
và năm 1989 đạt 21,4 triệu tấn Tính chung cho cả giai đoạn 1990 - 2000 GDP tăngbình quân gần 7%, trong đó có tới 20 năm liên tục GDP tăng bình quân 7,43% Đếnnăm 2016, quy mô nền kinh tế đã đạt khoảng 217 tỷ USD Việt Nam đang đứng thứ
6 tại Đông Nam Á và top 50 nền kinh tế quy mô nhất thế giới
Trang 6Quá trình toàn cầu hóa đi kèm với đó là sự hội nhập ngày càng sâu rộng, việchợp tác giữa các quốc gia, đầu tư của các doanh nghiệp quốc tế vào Việt Nam và ngượclại diễn ra ngày càng mạnh mẽ Đi kèm với đó là những lợi ích và không ít vấn đề cầnphải giải quyết để quá trình toàn cầu hóa diễn ra thuận lợi và sử dụng được hiệu quả lợithế so sánh của quốc gia:
Nền kinh tế Việt Nam chưa bắt kịp so với các nước trên thế giới, phụthuộc nhiều vào nông nghiệp, chưa sử dụng hiệu quả nguồn lực vốn có Cácdoanh nghiệp trong nước hầu hết đều vừa và nhỏ, khả năng cạnh tranh còn thấp,trong khi các tập đoàn đa quốc gia đầu tư vào Việt Nam ngày càng nhiều, khiếncho doanh nghiệp trong nước gặp nhiều bất lợi
Trình độ tri thức, khoa học công nghệ chưa cao, trong khi nước ta lạichưa đầu tư nhiều vào nghiên cứu và phát triển, chuyển giao khoa học công nghệ,khiến cho điều kiện để phát triển sản xuất còn thấp, không khai thác được hiệuquả nguồn lực trong nước
Nhân lực: Toàn cầu hóa khiến cho việc luân chuyển lao động giữa cácquốc gia ngày càng phổ biến Điều đó tạo sức ép lên nguồn lao động Việt Namkhi mà lao động có trình độ cao ở nước ngoài đổ vào trong nước ngày càng nhiều,trong khi đó trình độ lao động trong nước còn chưa cao
Cơ sở hạ tầng trong nước chưa đáp ứng kịp cho quá trình phát triển, tốc
độ xây dựng còn chậm và chưa đồng bộ
Thủ tục pháp lý còn nhiều vấn đề, gây khó khăn cho doanh nghiệp trong nước và khiến các doanh nghiệp nước ngoài ngần ngại khi đầu tư vào Việt Nam.Các vấn đề được đặt ra đòi hỏi Việt Nam cần phải có những sự thay đổi mạnh mẽhơn nữa để thích ứng được với môi trường, đồng thời thúc đẩy toàn cầu hóa diễn ranhanh hơn và tận dụng được lợi thế vốn có một cách hiệu quả Những chính sách đãđược Việt Nam áp dụng sẽ được đề cập đến tại chương 3 Tuy nhiên, chúng ta còn phải
cố gắng nhiều hơn nữa và cần có thêm thời gian để quá trình toàn cầu hóa đối với ViệtNam được diễn ra thuận lợi và thành công
Trang 7CHƯƠNG 2 TÍNH HAI MẶT CỦA TOÀN CẦU HÓA KINH TẾ
Toàn cầu hóa nói chung và toàn cầu hóa kinh tế nói riêng đã trở thành xu thế tấtyếu Và bởi vì tất yếu, nên dù chúng ta ủng hộ hay phản đối, nó vẫn đã, đang, và sẽ tiếptục diễn ra, với tốc độ ngày càng nhanh hơn, đem đến những thay đổi ngày càng lớnhơn cho nền kinh tế thế giới Tuy nhiên, mỗi vấn đề luôn có hai mặt của nó và toàn cầuhóa kinh tế cũng không ngoại lệ Các tác động tích cực và tiêu cực mà toàn cầu hóakinh tế đem đến cho bản thân các quốc gia và toàn bộ nền kinh tế thế giới nói chungcũng là những vấn đề đang rất được quan tâm vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến toàn bộnền kinh tế nội bộ, khu vực và cả quốc tế
2.1 Những tác động tích cực
Thứ nhất, toàn cầu hóa kinh tế thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản
xuất, đưa lại sự tăng trưởng cao cho nền kinh tế thế giới Trong đó, cơ cấu kinh tế thếgiới có bước chuyển dịch mạnh, cụ thể: tỷ trọng các ngành công nghiệp chế tạo và dịch
vụ dựa vào công nghệ cao và tri thức tăng mạnh Đây là cơ hội và tiền đề hết sức quantrọng cho sự phát triển và hiện đại hóa xã hội loài người Các nước có nền kinh tế chậmphát triển, nhờ tham gia toàn cầu hóa kinh tế, họ có điều kiện tiếp nhận các nguồn lựcphát triển từ bên ngoài như vốn đầu tư nước ngoài, công nghệ chuyển giao, kinhnghiệm tổ chức quản lý… khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực trong nướcnhư lao động, đất đai, tài nguyên… thúc đẩy nhanh sự tăng trưởng kinh tế trong nước
Một trong số các tác động mạnh mẽ nhất vào lực lượng sản xuất là lực lượng laođộng Nhờ vào toàn cầu hóa kinh tế, thị trưởng lao động được mở rộng quy mô Giờ đây,người lao động tiếp cận thị trường lao động quốc tế và tham gia vào hệ thống phân cônglao động đó Theo như nghiên cứu của ủy ban Châu Âu, ước lượng rằng số lượng côngviệc xuất khẩu hàng hóa trong nước ra ngoài của EU tăng từ 18.5 triệu (1995) lên 31 triệu(2011), tăng tới 67%, và đặc biệt là lượng việc kỹ năng cao cũng tăng mạnh Các doanhnghiệp cũng có thể tối ưu hóa lao động và tăng năng suất nhờ vào lực lượng lao
Trang 8động đa quốc gia Ví dụ như một công ty ở Mỹ có thể thuê kĩ thuật viên ở Ấn Độ Do lệchmúi giờ nên công ty có thể nâng thời gian lao động trong một ngày từ 8 giờ lên 16 giờhoặc hơn Và nếu sắp xếp hợp lí, công ty đó có thể đẩy năng suất lao động lên đến 24 giờ/ngày – điều khó có thể làm được nếu chỉ gói gọn thị trường lao động trong nước.
Ngoài ra, toàn cầu hóa kinh tế còn là nền tảng để chuyển giao công nghệ và vốnđầu tư nhanh chóng giữa các quốc gia và vùng lãnh thổ Dưới tác động của quá trìnhtoàn cầu hóa, những thành tựu của khoa học – công nghệ được chuyển giao nhanhchóng và ứng dụng rộng rãi tạo điều kiện cho các nước đi sau trong sự phát triển kinh
tế có điều kiện tiếp cận với những thành tựu mới của khoa học – công nghệ để pháttriển Cùng với quá trình toàn cầu hóa kinh tế, nguồn vốn đầu tư quốc tế tăng mạnh gópphần điều hòa dòng vốn theo lợi thế so sánh tạo điều kiện cho các nước tiếp cận đượcnguồn vốn và công nghệ từ bên ngoài, hình thành hệ thống phân công lao động quốc tế
có lợi cho cả bên đầu tư và bên nhận đầu tư, điển hình như tổng số vốn đầu tư ra nướcngoài năm 1997 gấp 800 lần năm 1914
Thứ hai, toàn cầu hóa kinh tế mở rộng và phát triển thị trường toàn cầu, thúc đẩy
thương mại quốc tế và cải cách sâu rộng nền kinh tế quốc gia cũng như sự hợp tác khuvực Biểu đồ bên dưới mô tả tổng giá trị xuất khẩu trên thế giới đến năm 2014 Thông quabiểu đồ bên dưới ta có thể thấy việc trao đổi hàng hóa trên toàn cầu trước 1950 có giá trịkhá thấp và không có chuyển biến rõ rệt qua các năm, nhưng kể từ sau 1950 (sau chiếntranh thế giới thứ II), các hoạt động này tăng vọt một cách đáng kể và có xu hướng tiếp tụcduy trì ở mức cao vào giai đoạn sau đó Sự giao lưu hàng hóa thông thoáng hơn, hàng ràoquan thuế và phi quan thuế bị dỡ bỏ, nhờ đó trao đổi hàng hóa tăng mạnh, có lợi cho sựphát triển của các nước Nửa đầu thế kỷ XX, kim ngạch buôn bán của thế giới tăng 2 lần,đến nửa sau thế kỷ XX, do cắt giảm hàng rào quan thuế và phi quan thuế nên kim ngạchbuôn bán của thế giới đã tăng 50 lần Sự phát triển mạnh mẽ thị trường toàn cầu dưới tácđộng của toàn cầu hóa đã cho phép các nước đang và chậm phát triển có thể tận dụng cácnguồn lực của mình, nhất là nguồn lực lao động dồi dào để tạo ra lợi thế cạnh tranh trongmột số ngành công nghiệp chế tạo và dịch vụ Giá trị xuất khẩu toàn
Trang 9cầu đã tăng lên theo cấp số nhân trong giai đoạn hậu chiến tranh cũng tạo điều kiện choviệc thành lập GATT, WTO và các hiệp định thương mại tự do song phương.
Ảnh: EACC Insights: Graphic Insights, European American chamber of commerce New York.
Một khi thương mại quốc tế phát triển, kéo theo áp lực phải thay đổi và cải cáchcủa nền kinh tế quốc gia để tìm chỗ đứng cho mình trên thị trường quốc tế Có thể kểđến một số nỗ lực chuyển mình của các quốc gia như: sự thành công của chính sáchAbenomics(2) – Nhật Bản, Kì tích sông Hán(3) (còn gọi là Huyền thoại sông Hàn) –Hàn Quốc,… Song song với việc giao thương toàn cầu phát triển, sự hợp tác khu vựccũng ngày càng mở rộng và liên kết chặt chẽ với nhau Hiện nay, có khoảng trên 20 tổchức kinh tế quốc tế và khu vực chưa kể đến các liên mình và các quỹ, hiệp hội, liênminh vì cộng đồng
Trang 10Thứ ba, các cơ hội kinh doanh mới rộng mở cho doanh nghiệp, đồng thời cũng là
cơ hội để người tiêu dùng tiếp cận những sản phẩm trên toàn thế giới Đây là một hệquả của phát triển tự do thương mại thế giới, khi mà các sản phẩm của một nước có thểxuất khẩu sang nhiều nước khác và ngược lại, ở tại một nước có thể nhập khẩu và tiêudùng hàng hóa của nhiều nước trên thế giới Dưới sức ép của thị trường cạnh tranh, đặcbiệt là cạnh tranh giữa hàng nội địa và hàng nhập khẩu, sản phẩm ngày càng chất lượnghơn, đồng thời giá thành cũng giảm đi đáng kể nhờ vào mạng lưới thông tin và hệthống giao thông vận tải bao phủ toàn cầu
2.2 Những tác động tiêu cực
Tuy nhiên, bên cạnh những cơ hội và ảnh hưởng tích cực, toàn cầu hóa kinh tếcòn có những mặt trái ảnh hưởng đến các quốc gia cũng như đem đến thách thức Xuthế toàn cầu hóa kinh tế diễn ra không trôi chảy, dễ dàng mà phải trải qua quá trình hợptác lẫn đấu tranh giữa các nước phát triển và các nước đang phát triển, trong sự thốngnhất và mâu thuẫn giữa toàn cầu hóa và liên kết khu vực, giữa tự do hóa và bảo hộ mậudịch…
Thứ nhất, toàn cầu hóa kinh tế khiến các quốc gia khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên hữu hạn ngày càng nhiều hơn, nhanh hơn Khi các quốc gia cùng nhau hợp
tác, khoa học công nghệ sẽ có bước tiến đáng kể, nhưng đi kèm cùng với bước tiến đó
là sự hao hụt của các nguồn tài nguyên, nhiên liệu và nguyên liệu cần thiết để đáp ứngnhu cầu sản xuất và phát triển Ví dụ điển hình mà ta có thể thấy ở đây là một trongnhững cường quốc thế giới hiện nay - Trung Quốc Cụ thể hơn, vào tháng 12/2001,Trung Quốc gia nhập tổ chức thương mại thế giới - WTO, và chỉ trong một năm sau đó,sản lượng than khai thác ở nước này đã bắt đầu tăng mạnh