PBC duy vật được xây dựng trên cơ sở một hệ thống những nguyên lí nguyên lí về sự phát triển; nguyên lí về mối liên hệ phổ biến; những cặp phạm trù cơ bản 6 cặp phạm trù: Cái riêng, cái
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
-o0o -
VI THỊ TUYẾT HOA
SỰ VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM TOÀN
DIỆN VÀO XÂY DỰNG NỀN VĂN HÓA
VIỆT NAM HIỆN NAY TIÊN TIẾN,
ĐẬM ĐÀ BẢN SẮC DÂN TỘC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành : Triết học Mác - Lênin
Hµ Néi - 2012
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
-o0o -
VI THỊ TUYẾT HOA
SỰ VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM TOÀN
DIỆN VÀO XÂY DỰNG NỀN VĂN HÓA
VIỆT NAM HIỆN NAY TIÊN TIẾN,
ĐẬM ĐÀ BẢN SẮC DÂN TỘC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Triết học Mác - Lênin
Người hướng dẫn khoa học
ThS Nguyễn Thị Giang
Hµ Néi - 2012
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài:
Lịch sử nhân loại nói chung và lịch sử dân tộc Việt Nam nói riêng đã
chứng minh rằng, văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, thể hiện tầm cao
cũng như chiều sâu về trình độ phát triển và sự trường tồn của một dân tộc
Nền văn hóa truyền thống của dân tộc được kết tinh và khẳng định trong các
cuộc đấu tranh trong lao động và sản xuất để tồn tại, phát triển của nhân dân
trong lịch sử dựng nước và giữ nước Có thể nói, văn hóa là một trong những
nhân tố quan trọng góp phần vào hình thành truyền thống lịch sử hàng ngàn
năm của dân tộc Việt Nam Trong sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc,
dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhân tố văn hóa luôn được
phát huy, tạo nên sức mạnh to lớn trong đấu tranh, bảo vệ độc lập dân tộc,
thực hiện thống nhất đất nước Ngày nay, văn hóa tiếp tục đóng vai trò là
động lực thúc đẩy sự nghiệp CNH - HĐH, đưa đất nước phát triển theo định
hướng XHCN với mục tiêu ''dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân
chủ, văn minh''
Sau hơn 20 năm đổi mới, đất nước ta đã bước qua bao nhiêu thăng
trầm, thậm chí có lúc khủng hoảng gay gắt, nhưng đã vươn lên, đạt được sự
ổn định và bước vào giai đoạn phát triển mới, giai đoạn đẩy mạnh CNH -
HĐH và hội nhập quốc tế Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được
nâng lên rõ rệt, uy tín quốc tế của nước ta ngày càng được khẳng định Trong
bối cảnh ấy, Đảng ta xác định, cùng với nhiều mục tiêu vĩ đại khác, đây là
giai đoạn để nước ta đi lên xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc
dân tộc, vừa là nền tảng vừa là động lực cho sự phát triển của đất nước
Trang 4Trải qua hơn một phần tư thế kỷ, trong quá trình Đảng lãnh đạo xây dựng
và phát triển nền văn hóa, từ khi Đề cương văn hóa Việt Nam ra đời năm
1943, đường lối của Đảng trên lĩnh vực văn hóa ngày càng hoàn thiện và phù
hợp với từng thời kỳ lịch sử Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII năm 1998
của Đảng đã đánh dấu sự thắng lợi to lớn không chỉ dừng ở tư duy lý luận mà
còn ở giá trị thực tiễn của nó Nghị quyết đã xây dựng 5 quan điểm chỉ đạo
quan trọng, 10 nhiệm vụ và 4 giải pháp lớn về xây dựng và phát triển văn hóa
Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
Trong bối cảnh hiện nay, sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa
luôn luôn phải chịu sự tác động của quá trình CNH - HĐH và gắn với những
vấn đề phát sinh trong xu thế toàn cầu hóa và nền kinh tế thị trường Vì vậy,
đòi hỏi Đảng và Nhà nước phải kiên trì chiến lược xây dựng nền văn hóa tiên
tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Nghị quyết Đại Hội Đảng toàn quốc lần thứ X
tháng 4 năm 2006 đã tiếp tục khẳng định: "Tiếp tục phát triển sâu rộng và
nâng cao chất lượng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc,
gắn kết chặt chẽ và đồng bộ hơn với phát triển kinh tế - xã hội, làm cho văn
hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội" [3; 106] Ngoài ra, văn
hóa sẽ là hành trang cho mỗi con người khi bước vào cuộc sống, và quan tâm
đến văn hóa chính là sự hướng tới mục tiêu vì nhân sinh cao cả và mục tiêu
phát triển bền vững của đất nước Vì thế, xây dựng và phát triển nền văn hóa
Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc không chỉ là trách nhiệm của toàn
ngành văn hóa, mà còn là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân và toàn xã hội
Chính vì vậy tôi quan tâm và lựa chọn đề tài: "Sự vận dụng quan điểm toàn
diện vào xây dựng nền văn hóa Việt Nam hiện nay tiên tiến, đậm đà bản
sắc dân tộc"
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài:
Trang 5Trước những yêu cầu, đòi hỏi mới của đất nước và thời đại thì vấn đề
xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc đã được rất nhiều nhà
nghiên cứu tìm hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau
Bàn về vấn đề xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
trong giai đoạn hiện nay có khá nhiều công trình nghiên cứu, tiêu biểu có
cuốn sách: Thành tựu trong xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam 25 năm
đổi mới (1986 - 2010), do PGS.TS Phạm Duy Đức chủ biên (2010), đã đi sâu
tổng kết tình hình xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam ở các lĩnh
vực chủ yếu của văn hóa theo tinh thần của Nghị quyết Trung ương 5 khóa
VIII năm 1998 về xây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản
sắc dân tộc
Bên cạnh đó cuốn sách: Đảng lãnh đạo xây dựng và phát triển văn hóa
trong thời kỳ đổi mới của TS Nguyễn Danh Tiên đã tổng kết Đường lối lãnh
đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam về lĩnh vực văn hóa trong thời kỳ đổi mới
của PGS Viện sĩ Trần Ngọc Thêm, là một công trình đồ sộ nghiên cứu về bản
sắc văn hóa Việt Nam và vấn đề bảo tồn, giữ gìn bản sắc đó
GS.Viện Sĩ Hoàng Trinh đã bàn về mối quan hệ giữa văn hóa và phát triển,
vận dụng vào tình hình nước ta trong thời kỳ đổi mới
- Cuốn sách: Giao lưu văn hóa và sự phát triển văn hóa nghệ thuật ở
Việt Nam hiện nay (xuất bản năm 1996) của PTS Phạm Duy Đức đã đóng
góp những quan điểm quý báu về xây dựng văn hóa - nghệ thuật trong giai
đoạn hiện nay
văn hóa ở nước ta Tuy nhiên, những tác phẩm trên đây chỉ đề cập đến một
Trang 6khía cạnh của văn hóa, như: văn hóa - nghệ thuật; văn hóa và phát triển; thực
trạng văn hóa nước ta chưa có một công trình nghiên cứu nào bàn một cách
sâu sắc về xây dựng nền văn hóa dưới góc độ vận dụng quan điểm toàn diện
trong Triết học Mác-Lênin Vì vậy tôi chọn đề tài "Sự vận dụng quan điểm
toàn diện vào xây dựng nền văn hóa Việt Nam hiện nay tiên tiến, đậm đà
bản sắc dân tộc"
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
- Mục đích:
Mục đích của khóa luận nhằm vận dụng quan điểm toàn diện vào xây
dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trong giai đoạn
hiện nay
- Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài:
Nghiên cứu thực trạng của quá trình xây dựng nền văn hóa ở nước ta
hiện nay Từ đó để đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm xây dựng nền văn
hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trên cơ sở vận dụng quan điểm toàn
diện
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tƣợng nghiên cứu: Khóa luận nghiên cứu và tìm hiểu những
thành tựu và hạn chế trong quá trình xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên
tiến, đậm đà bản sắc dân tộc kể từ khi ban hành Nghị quyết Trung ương 5
khóa VIII
- Phạm vi của khóa luận: Nghiên cứu quá trình thực hiện những
nhiệm vụ đề ra trong Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII (16/7/1998) về xây
dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
5 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài:
Khóa luận là sự góp phần tìm hiểu những vấn đề xung quanh quá trình
xây dựng nền văn hóa ở Việt Nam và cho chúng ta nhận thức, đánh giá một
Trang 7cách khoa học những giá trị của văn hóa Việt Nam, những yêu cầu khách
quan của việc xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trên cơ
sở vận dụng quan điểm toàn diện Ngoài ra, Đề tài còn làm tài liệu tham khảo
cho các bạn sinh viên trong việc nghiên cứu khoa học
6 Cơ sở của Phương pháp nghiên cứu:
Hướng tiếp cận đối tượng nghiên cứu của đề tài xuất phát từ quan điểm
của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, để đánh giá
thực trạng xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt nam hiện nay
Ngoài ra khóa luận còn sử dụng phương pháp chuyên ngành như:
- Phương pháp lôgíc
- Phương pháp lịch sử cụ thể
- Phương pháp phân tích tổng hợp, khái quát hóa, trừu tượng hóa
7 Kết cấu của khóa luận:
Khóa luận bao gồm có 3 chương:
Chương 1: Nội dung cơ sở lý luận của quan điểm toàn diện và những
khái niệm về văn hóa
đà bản sắc dân tộc hiện nay
Chương 3: Một số pháp góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam hiện
nay tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
Trang 8PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1:
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG
1.1 Nguyên lí về mối liên hệ phổ biến của phép biện chứng duy vật
1.1.1 Khái niệm về phép biện chứng duy vật
Phép biện chứng (PBC) ra đời ngay từ khi triết học ra đời, trong quá
trình phát triển, PBC có 3 hình thức cơ bản đó là: PBC chất phác, PBC duy
tâm và PBC duy vật
Thời cổ đại, do trình độ tư duy phát triển chưa cao, khoa học chưa phát
triển nên các nhà triết học chỉ dựa trên những quan sát trực tiếp, mang tính
trực quan cảm tính để khái quát bức tranh chung của thế giới PBC chất phác
thể hiện rõ rệt trong “thuyết Âm - Dương”, “thuyết Ngũ - Hành” của triết học
Trung Hoa cổ đại, trong các hệ thống triết học có các nhà triết học Hy Lạp cổ
đại Song PBC này thiếu những căn cứ khoa học vì vậy nó đã bị phép siêu
hình thay thế từ nửa cuối thế kỉ XV
PBC duy tâm xuất hiện trong triết học Cantơ và hoàn thiện trong triết
học của Hêghen - một đại biểu xuất sắc của triết học cổ điển Đức ở cuối thế kỉ
XVIII, đầu thế kỉ XIX Với một hệ thống khái niệm, phạm trù, quy luật cơ
bản, Hêghen là người xây dựng hoàn chỉnh PBC duy tâm Tính chất duy tâm
trong PBC của Hêghen thể hiện ở chỗ ông coi: “ý niệm tuyệt đối” tha hóa
thành vận động của thế giới tự nhiên và xã hội cuối cùng trở về với chính
mình trong tinh thần thế giới Thực chất PBC duy tâm khách quan của
Hêghen là PBC của ý niệm sản sinh ra biện chứng của sự vật PBC cổ điển
Trang 9Đức có những đóng góp to lớn vào sự phát triển tư duy biện chứng của nhân
loại, thúc đẩy tư duy biện chứng lên một trình độ cao nhưng hạn chế là PBC
duy tâm nên nó chưa thể trở thành cơ sở lí luận cho một thế giới quan khoa
học
Kế thừa có chọn lọc những thành tựu của những nhà triết học trước đó,
dựa trên cơ sở khái quát những thành tựu mới nhất của khoa học thời ấy và
thực tiễn lịch sử loài người cũng như thực tiễn xã hội vào thế kỉ XIX, C.Mác
và Ăngghen đã tiếp thu có phê phán triết học Hêghen và chủ nghĩa duy vật
Phơbách Đối với Hêghen trong tác phẩm "Bộ tư bản", C.Mác đã viết: “… ở
ông phép biện chứng lộn đầu xuống đất chỉ cần dựng ngược nó lại là sẽ thấy
được bộ mặt hoàn toàn có lí của nó”.[2; 34]
C.Mác đã tiếp thu có chọn lọc triết học cũ và phát triển cao hơn, do vậy
bản chất PBC của Mác cao hơn về chất so với PBC của Hêghen, ông nói:
“phương pháp biện chứng của tôi không những khác phương pháp biện
chứng của Hêghen về căn bản, mà nó còn đối lập hẳn với phương pháp ấy
nữa Theo Hêghen thì sự vận động của tư duy mà ông đặt cho cái tên là ý
niệm và biến nó thành một chủ thể độc lập, chính chúa sáng tạo ra thế giới
hiện thực và giới hiện thực này chẳng qua chỉ là hiện tượng bên ngoài của ý
niệm mà thôi Trái lại, theo tôi thì sự vận động của tư duy chỉ là sự phản ánh
vận động hiện thực, di chuyển và biến hình trong đầu óc con người” [2; 27]
Nhờ đó mà chủ nghĩa Mác mang giá trị to lớn đó là tính phê phán đối
với mọi quan điểm sai trái, với những quan điểm siêu hình và đối với mọi chủ
nghĩa chiết chung, phản động Một trong những kẻ xuyên tạc chủ nghĩa Mác
là Đuyrinh - giáo sư môn cơ học người Đức, nhà triết học và kinh tế học
Ăngghen đã phản đối và kịch liệt phê phán quan điểm của Đuyrinh trong cuốn
sách “Chống Đuyrinh”, chính trong tác phẩm này Ăngghen đã đưa ra định
nghĩa hoàn chỉnh về PBC “phép biện chứng chẳng qua chỉ là môn khoa học
Trang 10về những quy luật phổ biến của sự vận động và phát triển của tự nhiên, của
xã hội và của tư duy” [14; 39]
Sau này, cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, Lênin đã phát triển thêm học
thuyết của Mác - Ăngghen về PBC và chỉ rõ: “có thể định nghĩa vắn tắt phép
biện chứng là sự thống nhất của các mặt đối lập Như thế người ta sẽ nắm
được hạt nhân của phép biện chứng nhưng điều đó đòi hỏi phải có sự giải
thích và một sự phát triển thêm” [11; 240]
Như vậy đến Mác, Ăngghen, Lênin thế giới quan duy vật biện chứng và
phương pháp luận biện chứng duy vật thống nhất hữu cơ với nhau trong PBC
ấy Chính vì vậy nó đã khắc phục được những hạn chế của PBC chất phác
thời cổ đại và những thiếu sót của PBC duy tâm khách quan thời cận đại Nó
đã khái quát những quy luật cơ bản chung nhất của sự vận động và phát triển
của thế giới PBC duy vật trở thành một khoa học và là hình thức phát triển
cao nhất, hoàn bị nhất trong lịch sử PBC
PBC duy vật được xây dựng trên cơ sở một hệ thống những nguyên lí
(nguyên lí về sự phát triển; nguyên lí về mối liên hệ phổ biến); những cặp
phạm trù cơ bản (6 cặp phạm trù: Cái riêng, cái chung và cái đơn nhất;
Nguyên nhân và kết quả; Tất nhiên và ngẫu nhiên; Nội dung và hình thức;
Bản chất và hiện tượng; Khả năng và hiện thực); những quy luật (Quy luật
chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng thành sự thay đổi về chất và ngược
lại; Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập; Quy luật phủ định
của phủ định) Trong hệ thống đó, nguyên lí về mối liên hệ phổ biến và
nguyên lí về sự phát triển là hai nguyên lí khái quát nhất trong PBC duy vật
Tuy nhiên trong phạm vi khóa luận này chúng ta sẽ đi sâu tìm hiểu về mối
liên hệ phổ biến
1.1.2 Nguyên lí về mối liên hệ phổ biến
* Khái niệm về mối liên hệ phổ biến
Trang 11Khi giải thích về sự tồn tại của thế giới những câu hỏi được đặt ra là:
Thứ nhất: Các sự vật, các hiện tượng và các quá trình khác nhau của
thế giới có mối liên hệ qua lại, tác động ảnh hưởng lẫn nhau hay chúng tồn tại
biệt lập tách rời nhau?
Thứ hai: Nếu chúng có mối liên hệ qua lại thì cái gì quy định mối liên
hệ đó?
Trong lịch sử triết học, để trả lời những câu hỏi đó ta thấy có những
quan điểm khác nhau Trả lời cho câu hỏi thứ nhất, những người theo quan
điểm siêu hình cho rằng các sự vật hiện tượng tồn tại biệt lập, tách rời nhau,
cái này tồn tại bên cạnh cái kia Chúng không có sự phụ thuộc, không có sự
ràng buộc và quy định lẫn nhau Nếu giữa chúng có sự quy định lẫn nhau thì
cũng chỉ là quy định bề ngoài mang tính ngẫu nhiên Tuy vậy, trong số những
người theo quan điểm siêu hình cũng có một số người cho rằng các sự vật,
hiện tượng có mối quan hệ và liên hệ rất đa dạng, phong phú song các hình
thức liên hệ khác nhau không có khả năng chuyển hóa lẫn nhau Chẳng hạn:
“Giới vô cơ và giới hữu cơ không có liên hệ gì với nhau, tồn tại độc lập
không thâm nhập lẫn nhau; tổng số đơn giản của những con người riêng lẻ
tạo thành xã hội đứng yên không vận động” [1; 208]
Trái lại những người theo quan điểm duy vật biện chứng lại cho rằng
các sự vật, hiện tượng, các quá trình khác nhau của thế giới vừa tồn tại độc
lập, vừa quy định, tác động qua lại, chuyển hóa lẫn nhau Chẳng hạn sự gia
tăng về dân số sẽ tác động trực tiếp đến kinh tế, xã hội… không chỉ trong một
nước mà trên toàn thế giới
Trả lời cho câu hỏi thứ hai, những người theo chủ nghĩa duy tâm khách
quan và chủ nghĩa duy tâm chủ quan trả lời rằng: cái quyết định mối liên hệ,
sự chuyển hóa lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng là một lực lượng siêu tự
nhiên hay ở ý thức, cảm giác của con người (đại biểu của chủ nghĩa duy tâm
Trang 12khách quan là Platon) Đứng trên quan điểm duy tâm chủ quan Béccơli cho
rằng: cảm giác là nền tảng của mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng
Hêghen xuất phát từ lập trường khách quan lại vạch ra rằng “ý niệm tuyệt
đối” là nền tảng của mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng
Những người theo quan điểm duy vật biện chứng khẳng định tính thống
nhất vật chất của thế giới là cơ sở liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng Các sự
vật hiện tượng tạo thành thế giới, dù có đa dạng phong phú, có khác nhau bao
nhiêu song chúng đều chỉ là những dạng khác nhau của một thế giới duy nhất,
thống nhất - thế giới vật chất Nhờ có tính thống nhất đó, chúng không thể tồn
tại biệt lập tách rời nhau mà tồn tại trong sự tác động qua lại, chuyển hóa lẫn
nhau theo những quan hệ xác định Chính trên những cơ sở đó, triết học duy
vật biện chứng khẳng định rằng: mối liên hệ là phạm trù triết học dùng để chỉ
sự quy định, sự tác động qua lại, sự chuyển hóa lẫn nhau giữa các sự vật, hiện
tượng hay giữa các mặt của một sự vật, của một hiện tượng trong thế giới
Các sự vật hiện tượng trong thế giới chỉ biểu hiện sự tồn tại của mình
thông qua sự vận động, sự tác động qua lại lẫn nhau Bản chất tính quy luật
của sự vật, hiện tượng cũng chỉ bộc lộ thông qua sự tác động qua lại giữa các
mặt của bản thân chúng hay sự tác động của chúng với sự vật, hiện tượng
khác Chúng ta chỉ có thể đánh giá sự tồn tại cũng như bản chất của một con
người cụ thể thông qua mối liên hệ sự tác động của chính người ấy Ngay tri
thức của con người cũng có giá trị khi chúng được con người vận dụng vào
hoạt động cải biến tự nhiên, cải biến xã hội và cải biến chính con người
* Các tính chất của mối liên hệ:
Mọi mối liên hệ của các sự vật hiện tượng đều bao gồm có các tính chất
sau:
- Tính khách quan:
Trang 13Có thể khẳng định mối liên hệ của các sự vật hiện tượng là khách quan
là cái vốn có của sự vật, hiện tượng vì nó được bắt nguồn từ tính thống nhất
vật chất của thế giới Tính chất này được biểu hiện ở trong tất cả các quá
trình: tự nhiên, xã hội, tư duy Sự vật, hiện tượng nào cũng tồn tại trong mối
liên hệ với sự vật hiện tượng khác Ngay cả những vật vô tri, vô giác cũng
đang hàng ngày, hàng giờ chịu sự tác động của các sự vật, hiện tượng khác
như (ánh sáng, nhiệt độ, áp suất… đôi khi cũng chịu sự tác động của con
người) Con người - một sinh vật phát triển cao nhất trong tự nhiên, dù muốn
hay không cũng luôn luôn bị tác động bởi các sự vật, hiện tượng khác và các
yếu tố ngay trong chính bản thân con người Không chỉ chịu sự tác động của
tự nhiên, con người còn chịu sự tác động của xã hội, của những người khác
Chính con người và chỉ có con người mới tiếp nhận quan hệ, mối liên hệ
chằng chịt Vấn đề là con người phải hiểu biết các mối liên hệ, vận dụng
chúng vào các hoạt động của mình giải quyết các mối liên hệ phù hợp nhằm
phục vụ nhu cầu, lợi ích của xã hội và bản thân con người
- Tính phổ biến:
Tính phổ biến của mối liên hệ thể hiện:
Thứ nhất: bất cứ sự vật, hiện tượng nào cũng liên hệ với các sự vật,
hiện tượng khác, không có sự vật nào nằm ngoài mối liên hệ Trong thời đại
ngày nay, không có một quốc gia nào lại không có quan hệ, không có liên hệ
với các quốc gia khác về mọi mặt của đời sống xã hội Chính vì thế, hiện nay
trên thế giới đã và đang xuất hiện xu thế toàn cầu hóa, khu vực hóa mọi mặt
đời sống xã hội Nhiều vấn đề đã và đang trở thành vấn đề toàn cầu như: đói
nghèo, bệnh hiểm nghèo, môi trường sinh thái, chất lượng giáo dục…
Thứ hai: Mối liên hệ biểu hiện dưới những hình thức riêng biệt, cụ thể
tùy theo điều kiện nhất định Song dù dưới hình thức nào chúng cũng chỉ là
Trang 14biểu hiện của những mối liên hệ phổ thông nhất, chung nhất Những hình thức
liên hệ riêng rẽ, cụ thể được các khoa học cụ thể nghiên cứu PBC duy vật chỉ
nghiên cứu những mối liên hệ chung nhất, bao quát nhất của thế giới Bởi thế,
Ăngghen viết: “phép biện chứng là khoa học về sự liên hệ phổ biến” [24;
455]
Cùng với những lí do trên, triết học gọi những mối liên hệ đó là mối
liên hệ phổ biến Nghiên cứu về mối liên hệ phổ biến của các sự vật hiện
tượng trong thế giới còn thấy rõ tính đa dạng, nhiều vẻ của nó
- Tính đa dạng:
tính chất phức tạp hay đơn giản, phạm vi rộng hay hẹp, trình độ nông hay sâu,
vai trò trực tiếp hay gián tiếp mà có thể khái quát thành những mối liên hệ
khác nhau Dựa vào tính đa dạng đó có thể phân chia ra các mối liên hệ khác
nhau theo từng cặp: mối liên hệ bên trong và mối liên hệ bên ngoài; mối liên
hệ chủ yếu và mối liên hệ thứ yếu; mối liên hệ bản chất và mối liên hệ không
bản chất Các mối liên hệ phổ biến của sự vật, hiện tượng trong thế giới được
khái quát trong các cặp phạm trù cơ bản của PBC
Mỗi loại mối liên hệ nêu ra trên đây có vai trò khác nhau đối với sự vận
động và phát triển của sự vật Mối liên hệ bên trong là sự tác động qua lại, sự
quy định chuyển hóa lẫn nhau giữa các yếu tố, các thuộc tính các mặt của một
sự vật Mối liên hệ này giữ vai trò quyết định tới sự tồn tại và phát triển của
Trang 15sự vật Mối liên hệ bên ngoài là mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng Mối
liên hệ này nói chung không giữ vai trò quyết định đối với sự tồn tại, sự vận
động và phát triển của sự vật Nó thường phải thông qua mối liên hệ bên trong
mới có thể tác động đối với sự tồn tại, sự vận động và phát triển của sự vật
Chẳng hạn, sự lĩnh hội tri thức của người học trước hết và chủ yếu được quyết
định bởi chính người đó (trình độ, năng lực, tâm lí…) sự tác động bên ngoài
(nghệ thuật truyền thụ tri thức, cơ sở vật chất ) dù có tốt, có đầy đủ bao
nhiêu chăng nữa mà người học “nghe tai này ra tai kia” thì người đó không
bao giờ lĩnh hội được tri thức, đặc biệt là những tri thức khoa học được tiếp
cận lần đầu tiên Các cặp mối liên hệ khác cũng có mối quan hệ biện chứng
giống như mối liên hệ biện chứng của các cặp mối liên hệ đã nêu trên (đương
nhiên mỗi cặp mối liên hệ có những đặc trưng riêng)
Sự phân chia từng cặp mối liên hệ chỉ mang tính tương đối vì mỗi loại
mối liên hệ chỉ là một hình thức, một bộ phận, một mắt xích của mối liên hệ
phổ biến Mỗi loại mối liên hệ trong từng cặp có thể chuyển hóa lẫn nhau tùy
theo phạm vi bao quát của mối liên hệ hoặc do kết quả vận động và phát triển
của chính các sự vật Chẳng hạn, khi xem xét lĩnh vực đức dục - trí dục - mĩ
dục - thể dục như là những lĩnh vực khác biệt thì mối liên hệ qua lại giữa
chúng với nhau là những mối liên hệ bên ngoài Nhưng nếu coi chúng là 4
lĩnh vực cơ bản của công tác giáo dục trong nhà trường nhằm hình thành và
phát triển nhân cách, xây dựng con người mới thì mối liên hệ giữa chúng với
nhau lại trở thành mối liên hệ bên trong
Tuy sự phân chia thành các loại mối quan hệ chỉ mang tính tương đối
nhưng sự phân chia đó lại rất cần thiết, bởi vì mỗi loại mối liên hệ đó lại có vị
trí và vai trò xác định trong sự vận động và phát triển của sự vật Con người
phải nắm bắt đúng các mối liên hệ đó để có cách tác động phù hợp để đưa lại
hiệu quả cao nhất trong các hoạt động của mình
Trang 16Như vậy, có thể khẳng định bất kì sự vật, hiện tượng nào trong thế giới
luôn tồn tại trong mối liên hệ mật thiết với các sự vật hiện tượng khác Do đó
muốn tìm hiểu về một sự vật, hiện tượng nào đó chúng ta phải đặt nó trong
mối liên hệ, quan hệ với xung quanh nghĩa là phải xem xét một cách toàn
diện Đó cũng chính là nguyên tắc phương pháp luận rút ra từ mối liên hệ phổ
biến
1.2 Một số nguyên tắc, phương pháp luận rút ra từ nguyên lí về mối liên
hệ phổ biến
1.2.1 Nội dung quan điểm toàn diện
Từ việc nghiên cứu về mối liên hệ phổ biến của PBC duy vật, người ta
rút ra được quan điểm toàn diện
Như đã tìm hiểu ở trên, vì bất cứ sự vật, hiện tượng nào trong thế giới
đều tồn tại trong mối liên hệ với các sự vật, hiện tượng khác và mối liên hệ rất
đa dạng phong phú do đó khi nhận thức được sự vật, hiện tượng chúng ta phải
có quan điểm toàn diện, tránh rơi vào quan điểm phiến diện chỉ xem xét sự
vật, hiện tượng ở một vài mối liên hệ đã vội vàng kết luận về bản chất hay
tính quy luật của chúng Chẳng hạn khi tìm hiểu nguyên nhân vì sao một học
sinh học kém? Trước hết, phải xem xét khả năng nhận thức của học sinh đó,
tiếp đến là phương pháp học, điều kiện học tập, ý thức học tập của học sinh,
phương pháp giảng dạy của giáo viên, hoàn cảnh gia đình… có như vậy mới
mong tìm ra nguyên nhân khắc phục tình trạng học kém của học sinh đó
Trên cơ sở quán triệt quan điểm toàn diện trong mọi hoạt động nhận
thức và thực tiễn, quan điểm toàn diện đặt ra các yêu cầu sau:
Thứ nhất: Quan điểm toàn diện đòi hỏi chúng ta nhận thức về sự vật
trong mối liên hệ qua lại giữa các bộ phận, giữa các yếu tố, giữa các mặt của
chính sự vật và trong sự vật, trong sự tác động qua lại giữa sự vật đó với sự
vật khác Cần tránh quan điểm phiến diện, chỉ xem xét sự vật, hiện tượng ở
Trang 17một hoặc một vài mối liên hệ đã vội vàng đi đến những kết luận về bản chất
sự vật như Lênin đã từng nói “muốn thực sự hiểu được sự vật cần nhìn bao
quát và nghiên cứu tất cả các mặt, tất cả các mối liên hệ và quan hệ gián tiếp
của sự vật đó” [22; 364] Chỉ trên cơ sở đó mới có thể nhận thức đúng về sự
vật Chẳng hạn, muốn nhận thức đúng và đầy đủ khoa học tri thức khoa học
của triết học chúng ta cần phải tìm ra mối liên hệ giữa tri thức triết học với tri
thức khoa học và hoạt động của con người, nhất là tri thức chuyên môn được
chúng ta lĩnh hội Một trong những nguyên nhân làm người học không nắm
vững tri thức triết học chính là do người học không biết liên hệ với tri thức
của các khoa học khác
Thứ hai: Quan điểm toàn diện đòi hỏi chúng ta phải biết phân biệt từng
mối liên hệ, phải biết chú ý tới mối liên hệ bên trong, mối liên hệ bản chất…
để hiểu rõ bản chất của sự vật và có phương pháp tác động phù hợp nhằm
đem lại hiệu quả cao nhất trong hoạt động của bản thân Chúng ta phải xem
xét thấu đáo và phân biệt từng mối liên hệ, tránh cách xem xét dàn trải, liệt kê
dẫn đến sự đánh đồng ngang nhau những thuộc tính, những quy định khác
nhau đó Cần phải đi từ tri thức nhiều mặt, từ nhiều mối liên hệ của sự vật để
khái quát để làm nổi bật nên cái cơ bản nhất, quan trọng nhất của sự vật hiện
tượng đó Đương nhiên, trong nhận thức và hoạt động, chúng ta cũng cần lưu
ý tới sự chuyển hóa lẫn nhau giữa các mối liên hệ ở những điều kiện xác định
Trong quan hệ giữa con người với con người chúng ta phải biết ứng xử sao
cho phù hợp với từng người Ngay cả quan hệ với một người nhất định ở
những không gian khác nhau chúng ta cũng phải có cách giao tiếp, quan hệ
phù hợp như ông cha ta đã từng nói “đối nhân xử thế”
Thứ ba: Quan điểm toàn diện cũng đòi hỏi tránh rơi vào sai lầm của
chủ nghĩa chiết chung và thuật ngụy biện thực chất của chủ nghĩa chiết chung
là sự kết hợp vô nguyên tắc các mối quan hệ tạo nên một hình ảnh không
Trang 18đúng về sự vật Thực chất của thuật ngụy biện là sự “đánh tráo” có dụng ý,
biến cái không cơ bản thành cái cơ bản, biến cái không bản chất thành bản
chất… hoặc ngược lại phản ánh sai lệch, xuyên tạc sự vật hiện tượng Do đó
trong hoạt động thực tế theo quan điểm toàn diện khi tác động vào sự vật
chúng ta không những phải chú ý tới mối liên hệ của sự vật ấy với các sự vật
khác mà còn phải biết sử dụng đồng bộ các biện pháp, các phương tiện khác
nhau để tác động nhằm đem lại hiệu quả cao nhất Ví dụ: để thực hiện mục
tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” một mặt
chúng ta phải phát huy nội lực của đất nước mặt khác phải biết tranh thủ thời
cơ, vượt qua thử thách do xu hướng quốc tế hóa mọi lĩnh vực của đời sống xã
hội và toàn cầu hóa kinh tế đưa lại
1.2.2 Nguyên tắc lịch sử cụ thể
Khi nghiên cứu về mối liên hệ phổ biến của PBC duy vật, đi liền với
quan điểm toàn diện còn là nguyên tắc lịch sử cụ thể
Nguyên tắc lịch sử cụ thể có nghĩa là trong những điều kiện hoàn cảnh
cụ thể khác nhau thì mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng cũng khác nhau
Nguyên tắc lịch sử cụ thể đòi hỏi chúng ta khi nhận thức về sự vật và
tác động vào sự vật phải chú ý điều kiện, hoàn cảnh lịch sử cụ thể, môi trường
cụ thể trong đó sự vật sinh ra, tồn tại và phát triển Một luận điểm khoa học
trong điều kiện này nhưng sẽ không phải là luận điểm khoa học trong điều
kiện khác
Nguyên tắc lịch sử cụ thể có những đòi hỏi mang tính tổng hợp, quán
triệt nguyên tắc này trong quá trình vận dụng phương pháp tư duy sẽ đưa
nhận thức của con người tới chân lí Một khi xa rời những hoàn cảnh, điều
kiện cụ thể thì chân lí sẽ trở thành sai lầm
Tóm lại, qua tìm hiểu về mối liên hệ phổ biến của PBC duy vật chúng
ta rút ra quan điểm toàn diện và nguyên tắc lịch sử cụ thể Đây là những
Trang 19nguyên tắc phương pháp luận có ý nghĩa quan trọng trong mọi hoạt động
nhận thức và thực tiễn Tuy nhiên trong phạm vi khóa luận này chúng ta đi
sâu tìm hiểu về việc vận dụng quan điểm toàn diện với sự nghiệp xây dựng và
phát triển nền văn hóa nước ta
1.3 Khái niệm văn hóa
nay người ta đã thống kê được hơn 400 định nghĩa khác nhau về văn hóa
Song các nhà văn hóa đều có cùng nhận định đó là văn hóa bao gồm có văn
hóa vật chất và văn hóa tinh thần
Từ "Văn hóa" bắt nguồn từ tiếng Latinh ở phương Tây, "Cultura" ban
đầu có nghĩa là canh tác đất đai và gieo trồng thực vật Sau này, trong quá
trình sử dụng ngôn ngữ này mang thêm một nghĩa mới đó là: sự mở mang
kiến thức, bồi dưỡng về thể chất và tinh thần đối với con người, là sự vun xới
về mặt tinh thần hay "trồng trọt tinh thần" Ngay từ những năm 45 (trCN) nhà
triết học, văn hóa học Hy Lạp - La Mã cổ đại Xirêrôn đã coi triết học như là
"Văn hóa trí tuệ", ông khẳng định cần phải rèn luyện và vun xới trí tuệ như
người nông dân vun xới đất đai Trên cơ sở đó ông nhìn thấy nội dung cơ bản
của văn hóa là sự phát triển các năng lực tinh thần của con người
Sang thế kỷ XVII - XVIII, việc sử dụng thuật ngữ "Văn hóa" với nghĩa
là "canh tác tinh thần" bên cạnh nghĩa gốc là quản lý, canh tác nông nghiệp
Đến thế kỷ XIX, thuật ngữ "Văn hóa" được các nhà nhân loại học
phương Tây sử dụng như một danh từ chính Những học giả này cho rằng văn
hóa (văn minh) thế giới có thể phân loại từ trình độ thấp đến cao nhất và văn
hóa của họ chiếm vị trí cao nhất Bởi vì họ cho rằng bản chất của văn hóa là
hướng về trí lực và sự vươn lên phát triển thành văn minh
Người đầu tiên đi thẳng vào nghiên cứu khoa học về văn hóa là
E.B.Tylor - nhà nhân học nổi tiếng người Anh Năm 1871 trong cuốn "Văn
Trang 20hóa nguyên thủy" theo ông văn hóa là toàn bộ phức thể bao gồm hiểu biết, tín
ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục, những khả năng tập quán
khác mà con người có được với tư cách là một thành viên của xã hội
Đến thế kỷ XX, năm 1909 thuật ngữ "Văn hóa học" (tiếng Đức:
"Kunturkunde", tiếng Anh: "Culturology") mới được ra đời Người đặt ra
thuật ngữ này là Wilhelm Ostwald nhà khoa học và triết học Đức Thuật ngữ
này dùng để chỉ môn học mới mà ông gọi là "khoa học về các hoạt động văn
hóa, tức là hoạt động đặc biệt của con người", hoạt động mà chỉ con người
mới có Ông viết: "Chúng ta gọi những gì phân biệt con người với động vật là
văn hóa".
Ở phương Đông (Trung Quốc) từ "Văn hóa" có trong đời sống ngôn
ngữ từ rất sớm Trong Chu dịch có câu: "Quan hồ nhân dĩ hóa thành thiên
hạ", tức "Thánh nhân quan sát nhân văn lấy Thi, Thư, Lễ, Nhạc làm phép tắc
và để giáo hóa làm cho thiên hạ được khai hóa" [15; 435] Tóm lại, văn hóa
mà cổ nhân nói đến là văn trị giáo hóa Như vậy, quan niệm cổ đại ở Trung
Quốc về văn hóa là quan niệm lấy học thuyết Nho gia là chính, nội dung chủ
yếu của văn hóa là Thi, Thư, Lễ, Nhạc, chế độ chính trị, luân thường đạo lý,
chế độ lễ nghi và hàng loạt quan niệm tập tục trở thành lễ tục Giáo hóa văn
trị là ở chỗ thực hiện Tam cương, Ngũ thường, Thi, Thư, Lễ, Nhạc Đó chính
là cốt lõi của quan niệm về văn hóa ở Trung Quốc cổ đại
Theo chủ nghĩa Mác-Lênin thì văn hóa chỉ gắn liền với con người và xã
hội loài người, Với quá trình sáng tạo của con người Nếu như hoạt động của
con vật là hoạt động bản năng thì hoạt động của con người là hoạt động tự
giác, hoạt động nhằm để hiểu biết, khám phá và sáng tạo Con người vừa sáng
tạo ra bản thân mình vừa đồng thời sáng tạo ra thế giới văn hóa
Trong tác phẩm "Phê phán Cương lĩnh Gôta", C.Mác đã vạch rõ nguồn
gốc của văn hóa gắn liền với sự sáng tạo và năng lực của con người và sự
Trang 21sáng tạo đó bao giờ cũng bắt nguồn từ lao động Lao động sáng tạo ra con
người và xã hội loài người Cái làm nên bản chất con người, tạo nên sự khác
biệt giữa con người với bất kỳ giống, loài nào của tự nhiên chính là "hoạt
động sống" của con người Đó là hoạt động sản xuất vật chất và tái tạo sản
xuất ra bản thân con người với tư cách là một thực thể xã hội, thể hiện quan
hệ giữa con người với con người, con người với xã hội
Theo C.Mác, hoạt động của con người không chỉ thỏa mãn nhu cầu ăn,
mặc, ở mà còn là kết tinh năng lực sáng tạo, là cách sống, phương thức
sống, phương thức bộc lộ nhân tính, biểu hiện ra trong toàn bộ sản phẩm vật
chất, tinh thần do chính con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử Như vậy
văn hóa được hình thành và phát triển trên cơ sở hình thành và phát triển của
chính con người Con người là tác giả sáng tạo ra văn hóa và cũng là "kẻ"
mang các giá trị văn hóa Chính vì vậy các giá trị văn hóa đều có tính kế thừa
từ thế hệ này đến thế hệ khác, từ thời đại qua thời đại và có sự giao thoa ảnh
hưởng giữa các dân tộc
Khi bàn về văn hóa, V.I.Lênin cho rằng trong xã hội có giai cấp luôn
tồn tại hai nền văn hóa, nền văn hóa của giai cấp thống trị và nền văn hóa của
nhân dân lao động Ông khẳng định tính tất yếu của cách mạng văn hóa, cuộc
cách mạng này hết sức khó khăn vì trình độ dân trí và cơ sở hạ tầng lạc hậu
Song không phải ngồi chờ lực lượng sản xuất phát triển mới làm cách mạng
văn hóa, mà phải chủ động tạo ra các tiền đề căn bản của nền văn hóa cách
mạng, yếu tố cơ bản để xây dựng xã hội mới V.I.Lênin đã xác định tính kế
thừa biện chứng của sự phát triển văn hóa khi ông giải quyết mối quan hệ
giữa dân tộc, giai cấp trong văn hóa Ông viết: "Văn hóa vô sản không phải
bỗng nhiên mà có, nó không phải do những người tự cho mình là chuyên gia
về văn hóa vô sản phát minh ra Đó hoàn toàn là điều ngu ngốc Văn hóa là
sự phát triển hợp quy luật của tổng số kiến thức mà loài người đã tích lũy
Trang 22được dưới ách thống trị của xã hội tư bản, xã hội của bọn địa chủ và xã hội
của bọn quan liêu" [23; 345-346]
Ở đây, V.I.Lênin đã hiểu văn hóa theo nghĩa rộng là những giá trị
chung nhất, tồn tại và phát triển qua nhiều chế độ xã hội, nhiều giá trị có ý
nghĩa Vì vậy, phải biết kế thừa có chọn lọc các giá trị văn hóa truyền thống
Như chúng ta đã biết, tính đến nay có tới hàng trăm định nghĩa khác
nhau về văn hóa Trong khi trên thế giới còn bàn cãi rất nhiều về định nghĩa
văn hóa thì ở nước ta từ năm 1942, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra một định
nghĩa về văn hóa mang tính chất hệ thống: "Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích
của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết,
đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, nghệ thuật, những công cụ sinh hoạt
hàng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ sáng tạo và
phát minh đó tức là văn hóa Văn hóa là tổng hợp của mọi phương thức sinh
hoạt cùng với sự biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích
ứng nhu cầu của đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn" [9; 431]
Trong định nghĩa này, Hồ Chí Minh xác định văn hóa là sự phát triển
tất yếu, mang tính xã hội cao, là phương thức sống, hoạt động và không
ngừng nâng cao theo đà phát triển của xã hội Sáng tạo ra giá trị nhân văn là
nội dung cốt lõi của giá trị văn hóa
Mấy thập kỷ qua, trước nguy cơ môi trường văn hóa bị phá vỡ, hủy
hoại trước thực tế thất bại của các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội do
không chú ý đến văn hóa, tháng 12 - 1986 tổ chức văn hóa, giáo dục và khoa
học Liên hợp quốc (UNESCO) dưới sự bảo trợ của Hội đồng Liên hợp quốc
đã quyết định phát triển "Thập kỷ văn hóa thế giới" Theo UNESCO thì "Văn
hóa được đặc trưng bởi diện mạo về tinh thần, vật chất, tri thức, tình
cảm Khắc họa nên bản sắc của một quốc gia, cộng đồng, gia đình, làng
xóm, xã hội Văn hóa không chỉ bao gồm nghệ thuật, văn chương, mà cả
Trang 23những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống giá trị,
những truyền thống tín ngưỡng" [12; 47] Như vậy, trong định nghĩa này
chúng ta thấy có các di sản văn hóa "vô hình" như phong tục, tập quán, truyền
thống, ngôn ngữ, quy trình công nghệ của các ngành nghề truyền thống, nghi
lễ dân gian
Ở Việt Nam cũng có rất nhiều nhà văn hóa học nghiên cứu về văn hóa
Tuy nhiên mỗi người lại có cách tiếp cận khác nhau, do đó định nghĩa về văn
hóa cũng khác nhau: PGS.TS Trần Ngọc Thêm đã đưa ra định nghĩa về văn
hóa như sau: "Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh
thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn
trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của
mình" [18; 25].
Theo PGS Phan Ngọc: "Không có các vật gì gọi là văn hóa cả và
ngược lại bất kỳ vật gì cũng có cái mặt văn hóa Văn hóa là một quan hệ Nó
là mối quan hệ giữa thế giới biểu tượng và thế giới thực tại " [17; 105]
Như vậy, chúng ta có thể thấy được rằng "Văn hóa" là một khái niệm
mở, là một phạm trù hết sức rộng lớn, phong phú và đa dạng nó bao hàm
những giá trị trên tất cả các lĩnh vực do con người sáng tạo ra trong đời sống
xã hội, do đó khó có thể có một định nghĩa hoàn chỉnh về mặt văn hóa mà
trong đó bao hàm được tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội mà văn hóa có
mặt Vì thế có người nghĩ rằng: Văn hóa là cái gì đó thật mông mênh, vô tận,
đến nỗi hầu như mỗi nhà văn hóa học đều có một định nghĩa riêng về văn hóa,
mỗi định nghĩa đều tập trung vào một phương diện, một đặc trưng nào đó của
văn hóa Song tất cả các định nghĩa đều chưa lột tả hết bản chất của văn hóa
Tuy nhiên các định nghĩa khác nhau về văn hóa này đưa ra không nhằm bài
trừ lẫn nhau mà đồng thời bổ sung cho nhau làm cho khái niệm văn hóa ngày
càng trở nên đầy đủ hơn, toàn diện hơn L.G.Ionin đã từng nói: "Có thể hình
Trang 24dung gần đúng về điểm mà các tác giả của mọi định nghĩa nêu trên đều tán
thành Họ nhất trí rằng văn hóa - đó là cái phân biệt con người với động vật,
văn hóa - đó là đặc trưng của xã hội loài người "
Nền văn hóa xã hội chủ nghĩa được hình thành trên cơ sở tiếp thu
những tinh hoa văn hóa của các dân tộc trên thế giới, tổng kết những kinh
nghiệm mới mẻ, và về cơ bản tính chất văn hóa xã hội chủ nghĩa khác với mọi
nền văn hóa cũ và quan trọng hơn cả là nó được xây dựng trên quan điểm của
chủ nghĩa Mác-Lênin Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin: "Văn hóa
được biểu hiện như toàn bộ giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng
tạo ra trong quá trình thực tiễn lịch sử xã hội và tiêu biểu cho trình độ đạt
được trong lịch sử xã hội" [21; 656]
Đây là khái niệm tương đối đầy đủ và hoàn chỉnh phản ánh những khía
cạnh bản chất của văn hóa Theo định nghĩa này, văn hóa được chia ra làm
văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần Văn hóa vật chất là toàn bộ những giá
trị vật chất do con người sáng tạo ra phục vụ cho nhu cầu của con người Ví
dụ như: của cải vật chất, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất Văn hóa tinh thần
là toàn bộ những giá trị thuộc về đời sống tinh thần của con người Ví dụ như:
văn học, nghệ thuật, khoa học, giáo dục, đạo đức, lối sống, các chuẩn mực xã
hội
Từ những định nghĩa khác nhau về văn hóa và từ quan điểm của chủ
nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa, khái niệm văn hóa nổi
lên các đặc trưng cơ bản sau đây
Thứ nhất, văn hóa phản ánh các giá trị nhân văn Văn hóa được hình
thành và phát triển trong mối quan hệ cải tạo tự nhiên và đấu tranh xây dựng
xã hội Do đó bản chất văn hóa là phản ánh các giá trị nhân văn là xử lý mối
quan hệ giữa con người với con người, đề cao giá trị con người Con người là
chủ thể của hoạt động văn hóa, văn hóa phải do con người sáng tạo ra, thuộc
Trang 25về con người; nguồn gốc của sự tồn tại và phát triển văn hóa là ở hoạt động
sáng tạo của con người
Thứ hai, văn hóa mang tính dân tộc Văn hóa với bản chất là nhân văn,
tức mang tính chung của con người, của loài người nhưng lại mang bản sắc
riêng của từng dân tộc và dấu ấn riêng của từng giai cấp Sự hình thành và
phát triển của quốc gia - dân tộc chỉ xuất hiện khi xuất hiện hình thái kinh tế -
xã hội, có sự phân chia giai cấp, có những sự khác biệt về con người, về các
dân tộc, có sự khác nhau về địa lý, lãnh thổ về những điều kiện thiên nhiên
trong đó con người sống, lao động và đấu tranh Trong sự phát triển của nhân
loại có những sự khác nhau về lịch sử, về trình độ phát triển, sinh ra từ các
cuộc đấu tranh giữa con người với thiên nhiên và từ cuộc đấu tranh giữa
người với người, đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc và đấu tranh trong nội
bộ dân tộc và các quốc gia dân tộc Từ đó hình thành nền văn hóa riêng, đậm
đà bản sắc của từng dân tộc, cùng với những dấu ấn riêng giữa những giai cấp
khác nhau đại diện cho các hình thái kinh tế - xã hội khác nhau, kế tiếp nhau
đã đến và đi trong lịch sử trường tồn của các dân tộc và lịch sử nhân loại
Thứ ba, văn hóa còn được thể hiện trong sự giao lưu văn hóa giữa các
quốc gia, dân tộc Một nước muốn phát triển không thể không giao lưu với
các quốc gia khác Trong quá trình giao lưu đó văn hóa vừa được cọ xát, vừa
được thể hiện những giá trị của bản thân mình và tiếp thu tinh hoa của những
nền văn hóa khác
Thứ tư, văn hóa là một hiện tượng mang tính lịch sử Trải qua mỗi thời
kỳ lịch sử sẽ có một nền văn hóa tương ứng với thời kỳ lịch sử đó Nhưng
chúng ta đã biết lịch sử xã hội loài người đã và đang trải qua 5 hình thái kinh
tế - xã hội Do đó văn hóa cũng trải qua 5 hình thức phát triển từ thấp đến cao
bao gồm: Văn hóa cộng sản nguyên thủy, văn hóa chiếm hữu nô lê, văn hóa
phong kiến, văn hóa tư bản chủ nghĩa, văn hóa xã hội chủ nghĩa Qua mỗi thời
Trang 26kỳ lịch sử đó những giá trị văn hóa được chắt lọc bổ sung và phát triển làm
cho các giá trị văn hóa ngày càng trở nên tốt đẹp hơn, con người ngày càng
hoàn thiện hơn
Trang 27CHƯƠNG 2:
THỰC TRẠNG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG NỀN VĂN HÓA
VIỆT NAM HIỆN NAY TIÊN TIẾN, ĐẬM ĐÀ BẢN SẮC DÂN TỘC
2.1 Bối cảnh quốc tế và trong nước tác động đến quá trình xây dựng và
phát triển nền văn hóa Việt Nam (giai đoạn 1986 - 2010)
2.1.1 Về tình hình quốc tế
Về chính trị - xã hội
Từ những năm 70 đầu 80 của thế kỷ XX, thế giới có những biến đổi to
lớn Trước tác động to lớn của cuộc cách mạng khoa học công nghệ, xu thế
toàn cầu hóa kinh tế, quá trình cạnh tranh quốc tế diễn ra gay gắt, đặc biệt là
âm mưu "diễn biến hòa bình" của chủ nghĩa đế quốc ngày càng diễn ra quyết
liệt, cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội có nhiều diễn
biến phức tạp Các nước xã hội chủ nghĩa lâm vào khủng hoảng kinh tế xã hội
trầm trọng Bên cạnh đó, các nước tư bản có sự điều chỉnh, sử dụng những
thành tựu khoa học công nghệ, khai thác được lợi thế trong cạnh tranh để vượt
qua khủng hoảng và tăng trưởng kinh tế Để thoát ra khỏi khủng hoảng Trung
Quốc đã tiến hành cải cách và từng bước vượt qua những khó khăn, dần dần
đạt được những thành tựu lớn về kinh tế - xã hội Liên Xô và các nước XHCN
này đã đi vào cải tổ và dần thoát ra khỏi khủng hoảng Cuộc cải cách mở cửa
của các quốc gia này (Trung Quốc, Liên Xô) đã tác động lớn đến nước ta theo
cả 2 chiều: tích cực và tiêu cực, đặc biệt là đem lại những thách thức to lớn về
chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội
trị thế giới chuyển từ thế đối đầu sang đối thoại và hình thành trật tự thế giới
mới đan xen nhiều mâu thuẫn và xung đột
Trang 28Dựa trên sức mạnh về kinh tế và quân sự Mỹ muốn đóng vai trò "chỉ
huy" thế giới, khống chế và áp đặt mô hình chính trị văn hóa trên phạm vi
toàn cầu, can thiệp ảnh hưởng của Mỹ vào từng khu vực khác nhau trên thế
giới Tuy nhiên tham vọng đó gặp phải phản ứng của cộng đồng của nhiều
quốc gia trên thế giới Các quốc gia trên thế giới đã vươn lên khẳng định vị
thế và tiếng nói riêng của mình trong đời sống kinh tế chính trị và văn hóa
quốc tế như: Nhật Bản, Trung Quốc, Ấn Độ, Liên minh Châu Âu
Bối cảnh chính trị xã hội thế giới mặc dù diễn ra rất đa dạng và phức
tạp, nhưng nhìn chung, các quốc gia, các dân tộc vừa cạnh tranh vừa hợp tác
để phát triển Lợi ích của quốc gia, dân tộc đang nổi lên như một ưu tiên hàng
đầu - trong giải quyết mối quan hệ quốc tế Xu thế hòa bình, ổn định và phát
triển là xu thế chung của nhân loại tiến bộ Từ cuối những năm 90 của thế kỷ
XX đến nay, nhiều cuộc hội thảo quốc tế về chủ đề "bao dung văn hóa và
phát triển", hòa bình và phát triển đã được tổ chức ở nhiều nơi trên thế giới
Đây chính là xu thế mới của thế giới: Hòa bình ổn định và phát triển bền
vững
Tác động của cách mạng khoa học công nghệ
Đúng như C.Mác dự báo, khoa học đã và đang biến đổi thành lực lượng
sản xuất trực tiếp Trong thời đại ngày nay đang có sự phát triển mạnh mẽ của
cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật theo hướng nhân văn và sinh thái Sự
phát triển của khoa học công nghệ ảnh hưởng mạnh mẽ đến đời sống văn hóa
của các quốc gia trên thế giới Giao lưu văn hóa diễn ra mạnh hơn nhờ
phương tiện thông tin đại chúng toàn cầu, thông qua xuất nhập khẩu sản phẩm
văn hóa, thông qua các phương tiện vật chất kỹ thuật để sáng tạo, truyền dẫn,
trình diễn và quảng bá văn hóa Như vậy cách mạng khoa hoc công nghệ
không chỉ góp phần thúc đẩy sự phát triển của văn hóa dân tộc trong thời kỳ
Trang 29toàn cầu hóa, đồng thời tạo nên thách thức mới cho sự phát triển văn hóa dân
tộc
Tác động của toàn cầu hóa
Toàn cầu hóa là một quá trình phản ánh sự phát triển của lực lượng sản
xuất dẫn đến sựu phá vỡ sự biệt lập của các quốc gia trên thế giới, tạo ra mối
quan hệ gắn kết qua lại và phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế, chính trị, văn hóa,
xã hội giữa các quốc gia, các vùng lãnh thổ và các khu vực trên phạm vị toàn
cầu trong sự phát triển Toàn cầu hóa tạo ra những thuận lợi và thách thức cho
nhiều quốc gia trên thế giới Bởi hiện nay, toàn cầu hóa đang bị chi phối của
các quốc gia tư bản phát triển, tổ chức kinh tế tài chính, thương mại quốc tế
và toàn cầu hóa cũng chứa đựng nhiều mâu thuẫn và xung đột về lợi ích quốc
gia Quá trình toàn cầu hóa, khu vực hóa là một xu thế khách quan, đem lại
thách thức, đối với đất nước nói chung, đối với sự nghiệp xây dựng và phát
triển nền văn hóa nói riêng
Dự báo về bối cảnh quốc tế tác động đến công cuộc xây dựng và phát
triển đất nước ta hiện nay Đại hội lần thứ X của Đảng đã nhận định rõ: "Trên
thế giới, hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là một xu thế lớn Kinh tế thế giới
và khu vực tiếp tục phục hồi và phát triển nhưng vẫn tiềm ẩn những yếu tố bất
trắc khó lường Toàn cầu hóa kinh tế tạo ra cơ hội phát triển nhưng cũng
chứa đựng nhiều yếu tố bất bình đẳng, gây khó khăn thách thức lớn cho các
quốc gia, nhất là các nước đang phát triển Cạnh tranh kinh tế - thương mại,
giành giật các nguồn tài nguyên, năng lượng, thị trường, nguồn vốn, công
nghệ giữa các nước ngày càng gay gắt Khoa học công nghệ sẽ có những
bước tiến nhảy vọt và những đột phá lớn " [3; 73-74].
Những quan điểm chỉ đạo này rất có ý nghĩa đối với sự phát triển văn
hóa Việt Nam trong những năm vừa qua và những năm tiếp theo