1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

NGHIÊN CỨU TÍNH TOÁN GIÁ TRỊ KINH TẾ CỦA CÁC PHƯƠNG ÁN TRONG QUY HOẠCH PHÒNG LŨ KHU VỰC SÔNG ĐÁY. LUẬN VĂN THẠC SĨ

104 29 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 2,35 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số nghiên cứu ở Hàn Quốc áp dụng đối với lưu vực sông Nackdong có xét đến ảnh hưởng của các yếu tố đặc điểm hình thái, thảm phủ, chế độ dòng chảy, sau đó áp dụng công nghệ viễn thám

Trang 1

NGUYỄN THỊ THU HÀ

ĐỀ TÀI :

NGHIÊN CỨU TÍNH TOÁN GIÁ TRỊ KINH TẾ CỦA CÁC PHƯƠNG ÁN TRONG QUY HOẠCH PHÒNG LŨ

KHU VỰC SÔNG ĐÁY

Chuyên ngành : Kinh tế Tài Nguyên Thiên nhiên & Môi trường

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Tác giả xin chân thành cảm ơn tới các thầy cô giáo đã góp phần giảng dạy chương trình cao học kinh tế 17, các thầy cô giáo, bạn bè và gia đình Tác giả đặc biệt bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ts Lê Viết Sơn, PGs.Ts Nguyễn Trọng Hà, Ths Bùi Thu Hoà đã giúp đỡ trong quá trình nghiên cứu và làm luận văn

Tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn trân trọng tới Viện Quy hoạch thuỷ lợi, các đồng nghiệp trong Viện đã giúp đỡ và động viên tác giả trong quá trình làm luận văn

Hà Nội, ngày 07 tháng 3 năm 2012

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan tất cả các nội dung của Luận văn này hoàn toàn được hình thành và phát triển từ những quan điểm của chính cá nhân tôi, dưới sự hướng dẫn khoa học của Ts Lê Viết Sơn, PGS.Ts Nguyễn Trọng Hà Các số liệu và kết quả có được trong Luận văn tốt nghiệp là hoàn toàn trung thực

Hà Nội, ngày 07 tháng 3 năm 2012

Trang 4

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

CBA Chi phí lợi ích

ESCAP Uỷ ban kinh tế Châu Mỹ La tinh và vùng Caribê

EU Châu âu

GIS Hệ thống thông tin địa lý

O&M Chi phí vận hành và bảo dưỡng

RS Viễn thám

SAR Ảnh vệ tinh

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1: Phân bố diện tích ruộng đất theo cao độ của lưu vực sông Đáy 3 Bảng 1.2: Thống kê các loại đất lưu vực sông Đáy 5 Bảng 1.3: Tần suất lượng mưa 1, 3, 5 ngày max vụ mùa tại một số trạm 7 Bảng 1.4: Khả năng xảy ra lũ lớn nhất năm vào các tháng trong năm 10

Bảng 1.6: Dân sinh kinh tế vùng ngập khi phân lũ huyện Chương Mỹ, Mỹ Đức 12 Bảng 1.7: Dân sinh kinh tế vùng lòng hồ Vân Cốc, khu Lương Phú, bãi sông Đáy 12 Bảng 1.8: Tổng hợp hiện trạng các tuyến đê chính lưu vực 13 Bảng 2.1 Kết hợp hai tiêu chuẩn phân biệt và một số ví dụ cho mỗi phân loại 30 Bảng 2.2: Chỉ tiêu cơ bản của các lưu vực gia nhập khu giữa 44 Bảng 2.3: Mực nước lớn nhất thực đo và mô phỏng tại các vị trí kiểm tra 48 Bảng 2.4: Chiều sâu ngập (m) theo thời gian trong các ô phân lũ 2.500m3/s 58 Bảng 2.5: Chiều sâu ngập (m) theo thời gian trong các ô phân lũ 2000m3/s 58 Bảng 2.6: Chiều sâu ngập (m) theo thời gian trong các ô phân lũ 1.500m3/s 59 Bảng 2.7: Chiều sâu ngập (m) theo thời gian trong các ô phân lũ 1000m3/s 59 Bảng 2.8: Chiều sâu ngập (m) theo thời gian trong các ô phân lũ 500m3/s 60 Bảng 3.1: Giá trị các loại đất vùng chậm lũ Chương Mỹ - Mỹ Đức 72 Bảng 3.2: Tỷ lệ thiệt hại của lúa theo thời gian và độ sâu ngập 74 Bảng 3.3: Tỷ lệ thiệt hại của màu theo thời gian và độ sâu ngập 75 Bảng 3.4: Tỷ lệ thiệt hại của thuỷ sản theo thời gian và độ sâu ngập 82 Bảng 3.5: Bảng số liệu cơ sở hạ tầng và dân sinh kinh tế 85 Bảng 3.6: Thiệt hại ứng với lưu lượng 2500 m3/s 83 Bảng 3.7: Thiệt hại ứng với lưu lượng 2000 m3/s 83 Bảng 3.8: Thiệt hại ứng với lưu lượng 1500 m3/s 84 Bảng 3.9: Thiệt hại ứng với lưu lượng 1000 m3/s 84 Bảng 3.10: Thiệt hại ứng với lưu lượng 500 m3/s 85

Trang 6

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

Hình 1.2: Bản đồ phân khu chậm lũ Chương Mỹ - Mỹ Đức 16

Hình 2.2: Lợi ích bảo vệ lũ với các sự kiện lũ với tần suất xuất hiện năm 1/100 28 Hình 2.3: Ví dụ về dòng thu nhập của một công ty bị thiệt hại do lũ 34 Hình 2.4: Nguồn các bất định trong quản lý rủi ro lũ 38

Hình 2.6: Sơ đồ mạng sông tính toán theo mô hình MIKE 11 46 Hình 2.7: Đường quá trình mực nước thực đo và tính toán lũ 8/1996 tại Sơn Tây 49 Hình 2.8: Đường quá trình mực nước thực đo và tính toán lũ 8/1996 tại Hà Nội 50 Hình 2.9: Đường quá trình mực nước thực đo và tính toán lũ 8/1996 tại Thượng Cát 50 Hình 2.10: Đường quá trình mực nước thực đo và tính toán lũ 8/1996 tại Bến Hồ 51 Hình 2.11: Đường quá trình mực nước thực đo và tính toán lũ 8/1996 tại Phả Lại 51 Hình 2.12: Đường quá trình mực nước thực đo và tính toán lũ 8/1996 tại Đồ Sơn 52 Hình 2.13: Đường quá trình mực nước thực đo và tính toán lũ 8/1996 tại Do Nghi 52 Hình 2.14: Đường quá trình mực nước thực đo và tính toán lũ 8/1996 tại Kiến An 53 Hình 2.15: Đường quá trình mực nước thực đo và tính toán lũ 8/1996 tại Trung Trang 53 Hình 2.16: Đường quá trình mực nước thực đo và tính toán lũ 8/1996 tại Cát Khê 54 Hình 2.17: Đường quá trình mực nước thực đo và tính toán lũ 8/1996 tại Bến Bình 54 Hình 2.18: Đường quá trình mực nước thực đo và tính toán lũ 8/1996 tại Nam Định 55 Hình 2.19: Đường quá trình mực nước thực đo và tính toán lũ 8/1996 tại Cửa Cấm 55 Hình 2.20: Đường quá trình mực nước thực đo và tính toán lũ 8/1996 tại Cao Kênh 56 Hình 2.21: Đường quá trình mực nước thực đo và tính toán lũ 8/1996 tại Phú Lương 56 Hình 2.22: Đường quá trình mực nước thực đo và tính toán lũ 8/1996 tại Ba Thá 57 Hình 2.23: Đường quá trình mực nước thực đo và tính toán lũ 8/1996 tại Phủ Lý 57

Hình 3.2: Đường cong thiệt hại lũ - độ sâu do tài sản đô thị 79

Trang 8

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

1.1 TỔNG QUAN VỀ KHU VỰC NGHIÊN CỨU 1

1.2 SỰ CẦN THIẾT VÀ MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 15

1.3 CÁC PHƯƠNG ÁN QUY HOẠCH TIÊU THOÁT LŨ 15

1.4 NHẬN XÉT VÀ ĐÁNH GIÁ 16

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ KHOA HỌC TRONG TÍNH TOÁN GIÁ TRỊ KINH TẾ 18

2.1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, TÍNH TOÁN GIÁ TRỊ KINH TẾ PHÒNG LŨ 18

2.2 NGHIÊN CỨU, TÍNH TOÁN GIÁ TRỊ KINH TẾ PHÒNG LŨ SÔNG ĐÁY 23

2.2.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN TRONG TÍNH TOÁN GIÁ TRỊ KINH TẾ CỦA THIỆT HẠI

3.2 PHÁT TRIỂN MÔ HÌNH CUNG CHO CÁC PHƯƠNG ÁN PHÒNG LŨ SÔNG ĐÁY 66

3.3 TÍNH TOÁN THIỆT HẠI CHO CÁC PHƯƠNG ÁN PHÒNG LŨ SÔNG ĐÁY 73

3.4 PHÁT TRIỂN MÔ HÌNH CẦU CHO CÁC PHƯƠNG ÁN PHÒNG LŨ SÔNG ĐÁY76

Trang 9

3.4.2 NHỮNG THIỆT HẠI LŨ 77

3.5 ỨNG DỤNG MÔ HÌNH CUNG CẦU TRONG TÍNH TOÁN GIÁ TRỊ KINH TẾ CỦA CÁC PHƯƠNG ÁN PHÒNG LŨ SÔNG ĐÁY 80

3.6 NHẬN XÉT VÀ ĐÁNH GIÁ 91

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong những năm gần đây, nhiều những con lũ cực đoan đã xảy ra trên khắp thế giới cho thấy lũ lụt tiếp tục đặt ra những rủi ro nghiêm trọng trong nhiều quốc gia, vùng miền lãnh thổ Những bằng chứng là lũ lụt đang trở nên ngày càng nghiêm trọng theo thời gian, theo tần suất xuất hiện ngày càng nhiều cũng như mức độ thiệt hại và mất mát sinh mạng do lũ lụt gây ra ngày càng lớn

Mục đích của quản lý rủi ro lũ là làm giảm các thiệt hại lũ Do các chiến lược quản lý rủi ro lũ có thể yêu cầu huy động nhiều nguồn lực khỏi các mục đích khác, một điều đáng mong muốn là xác định liệu việc làm giảm các thiệt hại lũ có biện minh cho các tài nguyên được chi tiêu như vậy hay không? Một cách tương đương, nếu chúng ta ở vị thế tính toán các chiến lược can thiệp thay thế lẫn nhau theo nghĩa các lợi ích và chi phí tương đối, chúng ta có khả năng thực hiện các lựa chọn ‘tốt hơn’ và đưa ra các chiến lược quản lý rủi ro lũ hiệu lực hơn

2 Mục đích của đề tài

Luận văn này hình thành trên cơ sở Đề tài Nghiên cứu cơ sở khoa học xác định

giá trị kinh tế phòng lũ và ứng dụng cho lưu vực sông Đáy do Ths Bùi Thu Hoà

Trường Đại học Thuỷ lợi cùng các cộng sự thực hiện với các mục tiêu như sau:

- Xây dựng các mô hình cung và phát triển các hàm thiệt hại do lũ dựa vào đó

để tổng hợp các quan hệ chi phí và quan hệ cầu của việc phòng lũ và ứng dụng vào điều kiện hệ thống sông Đáy

- Trên cơ sở mô hình cung-cầu của hoạt động phòng lũ sông Đáy và tài liệu tham khảo về quy hoạch phòng lũ sông Đáy, phát triển phương pháp tính toán giá trị kinh tế của hoạt động phòng lũ nói chung và áp dụng tính toán giá trị kinh tế của phòng lũ sông Đáy để lựa chọn phương án trong quy hoạch phòng lũ hợp lý

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng chủ yếu là bài toán quy hoạch phòng lũ ở vùng châu thổ sông Hồng, tuy nhiên cách tiếp cận của đề tài có thể áp dụng cho một số lưu vực khác ở Việt Nam Việc xây dựng mô hình hoá của bài toán quy hoạch chỉ tập chung vào tính toán thiệt hại kinh tế có tính tới yếu tố tác động của môi trường trong Lưu vực sông Đáy

Trang 11

4 Tiếp cận và phương pháp nghiên cứu

Tiếp cận chính của đề tài được dựa trên phương pháp luận nghiên cứu Kinh tế Tài nguyên và Môi trường Đây là một lĩnh vực mới đang phát triển trong những thập kỷ gần đây đầy rẫy những thất bại thị trường như ngoại ứng, thông tin phi đối xứng, và những vẫn đề phát triển bền vững

Do tính đa đạng và phức tạp nghiên cứu phải sử dụng nhiều công cụ như các

mô hình toán học, các phương pháp khoa học thống kê, các khoa học xã hội như kinh tế, xã hội học, lý thuyết thể chế… Nên đề tài sẽ sử dụng một số tài liệu tham khảo của các cơ quan hữu quan

Trang 12

CHƯƠNG 1: QUY HOẠCH PHÒNG LŨ LƯU VỰC SÔNG ĐÁY

1.1 TỔNG QUAN VỀ KHU VỰC NGHIÊN CỨU

1.1.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN

1.1.1.1 Phạm vi nghiên cứu

Lưu vực sông Đáy nằm ở phía Tây Nam đồng bằng Bắc Bộ, toạ độ địa lý: Từ

20021020’ vĩ độ Bắc và từ 1050106030’ kinh độ Đông, bao gồm địa phận 4 tỉnh

và 1 thành phố là: thành phố Hà Nội (gồm các quận, huyện phía hữu sông Hồng), tỉnh Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình và Hoà Bình (huyện Kim Bôi, Lạc Thủy, Yên Thủy, Lương Sơn)

Toàn lưu vực được giới hạn:

- Phía Bắc và phía Đông là sông Hồng kể từ ngã ba Trung Hà tới cửa Ba Lạt với chiều dài 242 km

- Phía Tây Bắc là sông Đà từ Ngòi Lát tới Trung Hà với chiều dài 33 km

- Phía Tây và Tây Nam là đường phân lưu giữa lưu vực sông Hồng và lưu vực sông Mã bởi các dãy núi Cúc Phương, Tam Điệp, núi Mai An Tiêm đến sông Càn, phân chia ranh giới giữa tỉnh Ninh Bình và Thanh Hoá Ranh giới lưu vực kết thúc tại cửa sông Càn đổ ra biển

- Phía Đông và Đông Nam là biển Đông có chiều dài bờ biển khoảng 95 km từ cửa Ba Lạt đến cửa sông Càn

Bản đồ Hành chính Lưu vực sông Đáy được trình bày ở hình 1.1

Trang 13

Hình 1.1 Bản đồ hành chính Lưu vực sông Đáy

1.1.1.2 Đặc điểm địa hình

Nhìn chung toàn lưu vực có địa hình biến đổi khá phức tạp, chia cắt mạnh nhất là khu vực đầu nguồn thuộc các chi lưu như sông Bôi, sông Đập, sông Lãng, sông Tích,

Trang 14

sông Thanh Hà Cao độ biến đổi thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam và từ Tây sang Đông Có thể chia địa hình khu vực nghiên cứu thành 3 dạng: Vùng núi, vùng bán sơn địa và vùng đồng bằng Bề rộng trung bình của lưu vực khoảng 60km

Các khu vực nằm ở bờ tả sông Tích và bờ tả sông Đáy hầu hết là đồng bằng phì nhiêu, cao độ biến đổi cao thấp không đều nhưng hướng chính là thấp dần ra biển và cũng hình thành những vùng trũng theo dạng lòng máng như sông Nhuệ, sông Sắt

và cao dần ra phía sông Đáy, sông Hồng Cao độ ruộng đất từ sông Hồng đến quốc

lộ 6 trung bình là (46)m, nơi cao nhất (910)m Từ quốc lộ 6 đến Phủ Lý cao độ trung bình từ (1,53)m, từ Phủ Lý ra biển trung bình từ (0,53,0)m nhưng cao độ phổ biến nhất là (0,51,5)m, tuy nhiên có nơi khá trũng

Bên hữu ngạn sông Đáy và sông Tích, sông Bùi bao gồm cả 3 dạng địa hình đồi núi, bán sơn địa và đồng bằng, địa hình chia cắt mạnh, cao độ ruộng đất biến đổi lớn

từ (250,5)m Vùng đồi núi chiếm (6070)% diện tích tự nhiên, các dãy núi có cao độ

từ (5001500)m, có nhiều núi đá vôi với các hang động Karster phát triển mạnh Dải đồng bằng ven bờ hữu cũng bị chia cắt khá phức tạp do các nhánh sông suối Sau dải đồng bằng là vùng bán sơn địa giầu tiềm năng trải dài từ Ba Vì cho tới Tam Điệp

Bảng 1.1: Phân bố diện tích ruộng đất theo cao độ của lưu vực sông Đáy

Số TT Cao độ

(m)

Diện tích (ha) Số TT

Cao độ (m)

Diện tích (ha)

(Nguồn: Dự án Rà soát Quy hoạch phòng chống lũ và đê điều sông Đáy - Viện Quy hoạch Thuỷ lợi)

Về cao độ đất nông nghiệp ở vùng núi và bán sơn địa có điều kiện cấp và thoát nước bằng tự chảy bởi các công trình đập dâng, hồ chứa, kênh tách lũ núi vv

Các khu vực đồng bằng về mùa khô hầu hết phải dùng động lực để cấp nước trừ một số diện tích đầu nguồn sông Đáy và khu vực giáp biển lợi dụng thủy triều Mùa mưa tiêu úng hầu hết phải dùng động lực, tuy nhiên vẫn có thể lợi dụng tự chảy tuỳ theo thời gian và điều kiện khí tượng thủy văn

1.1.1.3 Đặc điểm địa chất

Trang 15

Lưu vực sông Đáy là một lưu vực mà phần lớn diện tích là thuộc đồng bằng châu thổ sông Hồng Do quá trình chuyển động kiến tạo đã qua với các kỷ Permier, Trias,

Đệ tam, Đệ tứ; cùng với tác động mạnh mẽ của điều kiện tự nhiên, nhiệt độ, nóng,

ẩm, mưa làm phong hoá tạo ra nền địa chất nham thạch, đất đai không đồng nhất trên toàn bộ lưu vực sông Với các lớp bồi tích, trầm tích, phù sa khá dày thể hiện một bồn địa mới được hình thành Trải qua thời kỳ biển lấn lần 1, lần 2 và thời kỳ phát triển kế thừa, biển lùi, miền trũng võng chuyển sang một thời kỳ bình ổn và lấp đầy tạo ra một đồng bằng rộng lớn ngập nước đó là đồng bằng sông Hồng trong đó có phần thuộc lưu vực sông Đáy Với điều kiện địa mạo và cấu tạo địa chất có thể nói lưu vực sông Đáy về địa chất thủy văn được chia làm 2 hệ chứa nước khác nhau

- Thành hệ chứa nước trong trầm tích đệ tứ và trong mácma

- Nước chứa trong trầm tích hạt thô

Nói chung nước chứa trong hệ thứ nhất có thể khai thác quy mô nhỏ tưới cho hoa màu và cây trái, nước trong hệ thứ 2 trữ lượng phong phú phân bố khắp nơi có thể khai thác dùng cho sinh hoạt

1.1.1.4 Đất đai thổ nhưỡng

Đất đai trong lưu vực rất đa dạng, nhìn chung có một số loại chủ yếu là: đất phù

sa (có 9 loại), đất mặn (có 3 loại), đất nâu vàng, đất đỏ vàng (có 8 loại) và núi đá Tất cả các loại đất đều có khả năng khai thác song cần chú ý đất vùng đồi bị xói mòn mạnh, đất vùng trũng bị chua, đất ven biển lại bị chua mặn

Trên tổng thể có thể phân một số vùng thổ nhưỡng sau:

+ Vùng kẹp giữa sông Hồng-sông Tích và từ Vân Đình trở lên, đây là vùng đất đai được bổ sung bởi phù sa sông Hồng, thành phần cơ giới trung bình, độ pH=5,57,0; lượng mùn khá từ 1,42,8 thuộc loại đất màu mỡ trong khu vực cho năng suất cây trồng cao

+ Vùng Nam Vân Đình-Phú Xuyên xuống giáp sông Nam Định hầu hết là ruộng đất trũng, đất từ glây trung bình đến mạnh, hàng năm được bổ sung phù sa nhưng không nhiều thành phần cơ giới từ thịt nặng hoặc sét, tăng cường cải tạo cũng cho năng suất cao

+ Vùng ven biển chủ yếu là loại đất mặn và chua mặn, thành phần cơ giới là từ thịt nặng đến sét Vùng đất này do được cải tạo bằng nguồn nước ngọt nên cũng cho năng suất cao và đa dạng sản phẩm

Trang 16

+ Vùng đồi núi phía hữu ngạn sông Đáy bao gồm:

- Vùng giáp sông là những cánh đồng bằng phẳng bị chia cắt mạnh trải ra tới biển phù hợp cho việc trồng cây hàng năm (lúa màu)

- Vùng đồi thấp trên nền phù sa cổ bị bào mòn nhiều, có nhiều khu vực đã bị đá ong hoá, thích hợp cho trồng cây công nghiệp dài ngày, cây ăn quả và trồng rừng

- Các loại đất đồi feralit theo dạng địa hình dốc phân bố rải rác cũng thích hợp cho hoa màu và cây công nghiệp

Bảng 1.2: Thống kê các loại đất Lưu vực sông Đáy

Số

Ký hiệu

Diện tích (ha)

Tỷ lệ (%)

8 Đất phù sa không được bồi, không glây loang lổ Ph 37.775 7,29

9 Đất phù sa glây của sông Hồng Phg 143.395 27,66

11 Đất phù sa có tầng loang lổ của sông khác Pf 8.793 1,70

(Nguồn: Dự án Rà soát Quy hoạch phòng chống lũ và đê điều sông Đáy - Viện Quy hoạch Thuỷ lợi)

1.1.2 ĐẶC ĐIỂM KHÍ TƯỢNG THUỶ VĂN

1.1.2.1 Mạng lưới quan trắc khí tượng, thuỷ văn

Trang 17

1 Lưới trạm khí tượng và đo mưa

Trên lưu vực sông Đáy có tổng só 13 trạm khí tượng và 25 điểm đo mưa nhưng tới nay chỉ còn 25 trạm trong đó có 8 trạm khí tượng còn hoạt động bao gồm: Ba

Vì, Sơn Tây, Hà Nội, Hà Đông, Phủ Lý, Nho Quan, Ninh Bình, Nam Định

Nhiều trạm đo mưa đã được quan trắc sớm, tuy nhiên giai đoạn trước năm 1954

số liệu quan trắc thường bị gián đoạn bởi chiến tranh, vì thế tài liệu không liên tục, chất lượng không tốt nên hạn chế cho việc sử dụng

2 Lưới trạm thuỷ văn

+ Trạm đo mực nước, lưu lượng: Trong lưu vực sông Đáy có 6 trạm đo lưu lượng nhưng cho tới nay chỉ còn 3 trạm: Lâm Sơn, Nam Định, Trực Phương còn đo lưu lượng một số tháng mùa lũ và kiệt từ 2001 tới nay, các trạm còn lại đã ngừng đo + Trạm mực nước: Có 9 trạm đo mực nước cho tới nay còn 6 trạm đo liên tục + Ngoài các trạm thủy văn trong lưu vực còn có các trạm đo trên các sông có liên quan tới lưu vực như : các trạm Hòa Bình (trạm cấp I), Trung Hà (trạm cấp III) trên sông Đà, Sơn Tây, Hà Nội (trạm cấp I), Hưng Yên (trạm cấp III) trên sông Hồng + Trạm đo chất lượng nước: Các trạm khảo sát chất lượng nước bao gồm các trạm Bến Ngọc trên sông Đà, Sơn Tây, Hà Nội trên sông Hồng Các trạm đo mặn gồm có Phú Lễ trên sông Ninh Cơ, Như Tân trên sông Đáy

1.1.2.2 Đặc trưng khí hậu

1 Nhiệt độ: Nhiệt độ trung bình nhiều năm của khu vực nghiên cứu là

(23,3023,50)C Nhiệt độ trung bình tháng I thấp nhất trong năm đạt từ (15016,70)C, nhiệt độ trung bình tháng cao nhất tháng VII từ (280 29,40)C

2 Độ ẩm: Độ ẩm tương đối trung bình trong các tháng đều vượt trên 80% Độ ẩm

giữa tháng ẩm nhất và tháng khô nhất chỉ chênh nhau từ (510)% Những ngày mùa đông khô hanh, độ ẩm có thể giảm xuống dưới 20%, những ngày mưa phùn, độ ẩm

không khí có thể tăng lên đến trên 90%

3 Mưa:

+ Mưa chia làm hai mùa trong năm mùa khô bắt đầu từ tháng XI năm trước đến hết tháng IV năm sau, trong các tháng này có số ngày mưa rất ít và lượng mưa tháng cũng rất nhỏ Mùa mưa từ tháng V đến tháng X trong thời kỳ này hay xảy ra những trận mưa từ mưa vừa đến mưa to, có khi mưa rất to

Trang 18

+ Xem xét quy luật phân bố mưa gây úng thời đoạn 1, 3, 5, 7 ngày max trong lưu vực sông Đáy cho thấy: số lần mưa 1 ngày max nằm trong 3 ngày max chiếm khoảng 30%, trường hợp 3 ngày max trong 5 ngày max chiếm 70% và 5 ngày max nằm trong 7 ngày max chiếm 85%

5 ngày max 230 0,42 0,88 516 444 410 360 305

1 ngày max 150 0,52 2,30 439 345 302 246 192

3 ngày max 222 0,55 2,41 685 531 463 372 286 Nho Quan

5 ngày max 252 0,54 2,59 778 599 519 416 320

1 ngày max 140 0,49 1,16 355 298 270 231 190

3 ngày max 205 0,45 1,24 501 420 382 328 272 Nam Định

5 ngày max 236 0,45 1,20 572 481 438 378 313

1 ngày max 157 0,43 1,03 362 309 284 247 208

3 ngày max 234 0,43 1,33 558 468 426 367 305 Kim Bôi

5 ngày max 261 0,43 1,50 632 527 477 408 337

1 ngày max 159 0,52 1,51 435 356 319 268 215

3 ngày max 223 0,51 1,36 593 490 441 373 303 Ninh Bình

5 ngày max 260 0,48 1,31 666 555 502 428 350

(Nguồn: Dự án Rà soát Quy hoạch phòng chống lũ và đê điều sông Đáy - Viện Quy hoạch Thuỷ lợi)

+ Lượng mưa lũ rất lớn, lượng mưa 1 ngày lớn nhất đạt từ (300550) mm, ba ngày lớn nhất đạt (450770) mm, lượng mưa 5 ngày lớn nhất đạt từ (500836) mm Năm xuất hiện mưa lớn thường không đồng bộ giữa các vùng Vùng thượng và trung lưu sông Đáy lượng mưa 5 ngày lớn nhất xuất hiện vào tháng XI năm 2008 và tháng XI/1984, vùng hạ du lượng mưa 5 ngày lớn nhất xuất hiện vào năm 1980, vùng lưu vực sông Hoàng Long lượng mưa 5 ngày lớn nhất xuất hiện vào tháng IX/1985 gây nên lũ lịch sử trên sông Hoàng Long

1.1.2.3 Mạng lưới sông ngòi

1 Sông Đáy: Trước đây, sông Đáy là phân lưu của sông Hồng, từ năm 1937 đến

Trang 19

nay sông Đáy chỉ được phân lũ sông Hồng vào các năm 1940, 1945, 1969, 1971 Chiều dài sông 240km, lòng sông hẹp và nông do bồi lắng, sông có bãi rộng và nhiều khu trũng có bụng chứa lớn, nên có khả năng điều tiết rất lớn, hệ số uốn khúc khá lớn 1,7

2 Sông Tích: Lòng hẹp và nông lại quanh co nhiều, hệ số uốn khúc là 1,79 nên khả

năng tải nước kém, nhưng thềm sông phía bờ hữu rộng và nhiều khu đất trũng, nên

lũ bị điều tiết nhiều có khả năng kéo dài nhiều ngày

3 Sông Bùi: Bắt nguồn từ huyện Lương Sơn tỉnh Hòa Bình, đoạn thượng lưu chảy

theo hướng Tây - Đông đến Tân Trượng thì nhập với sông Tích, chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam và nhập vào sông Đáy tại Ba Thá Sông Bùi đoạn chảy qua địa phận Hà Nội có chiều dài khoảng 30 km

4 Sông Mỹ Hà: Là con sông đào có chiều dài 12,7 km bắt nguồn từ Cầu Dậm xã Hợp

Tiến, huyện Mỹ Đức chảy theo hướng Bắc-Nam và nhập với sông Đáy tại Đục Khê

5 Sông Nhuệ: Nhiệm vụ chính của nó là lấy nước sông Hồng vào qua cống Liên

Mạc phục vụ lấy nước tưới cho vùng đất rộng phía hữu sông Hồng và tả sông Đáy từ

Hà Nội đến Hà Nam và dẫn nước tiêu thoát nước cho vùng đất khoảng 107.530 ha

6 Sông Đào Nam Định: là một phân lưu của sông Hồng chảy đổ vào sông Đáy ở

Độc Bộ, b=(200300) m nhưng lòng sông dốc và sâu, độ sâu trung bình khoảng 10m, sông chuyển một lượng nước khá lớn về mùa lũ gây ra lũ lớn ở hạ lưu sông Đáy (theo số liệu thực đo năm 1971, lưu lượng lớn nhất ở Nam Định là 6.700 m3/s)

7 Sông Hoàng Long: Dài 125km bắt nguồn từ Hoà Bình, chảy qua Ninh Bình và nhập

với sông Đáy tại Gián Khẩu Chế độ dòng chảy của sông Hoàng Long rất phức tạp:

+ Mực nước mùa kiệt phụ thuộc vào nước dềnh lên từ sông Đáy do ảnh hưởng thuỷ triều và lượng nước bổ sung vào sông Đáy từ sông Đào Nam Định

+ Mùa lũ, nước lũ từ thượng du đổ về đến khu vực nghiên cứu thường bị dồn ứ do mực nước lũ trên sông Đáy Khi mực nước lũ trên sông Hoàng Long dâng cao để bảo

vệ hệ thống đê hạ du sông Hoàng Long thì phải phân lũ vào các khu phân chậm lũ

8 Các sông trục nội đồng như: sông Sui, Rịa, sông Bến Đang, Ghềnh, Chanh, Hệ

Dưỡng, Vân, Thắng Động, Đức Hậu, Mới, Trinh Nữ, Cầu Hội

1.1.2.4 Sự hình thành lũ trên lưu vực sông Đáy

1 Lũ do nội tại sông Đáy

Trang 20

+ Lũ nội tại sông Đáy xảy ra hàng năm, thường do lũ từ các chi lưu (sông Tích, sông Thanh Hà, sông Hoàng Long,…) và lượng nước tiêu ra từ các hệ thống thuỷ lợi bằng các cống và trạm bơm

+ Mùa lũ các sông vùng hữu Đáy chủ yếu là sông Tích và sông Hoàng Long thường kéo dài từ tháng 6 đến tháng 10 với tổng lượng nước chiếm 80% lượng nước cả năm Các trận lũ lớn thường xuất hiện vào tháng 8 và tháng 9 phù hợp với chế độ mưa ở vùng này, lũ trên lưu vực sông Tích thường xảy ra vào tháng 9 Lũ lớn trên các sông nhánh vùng hữu Đáy đều do hội tụ, áp thấp, front và bão sinh ra, đặc biệt bão là nguyên nhân chính gây ra (8090)% các trận lũ lớn

2 Đối với lũ do phân lũ sông Hồng vào sông Đáy

+ Trước năm 1937 sông Đáy cũng là phân lưu của sông Hồng, nhưng từ khi đập Đáy hoàn thành phân lưu này chỉ liên hệ với sông Hồng khi có phân lũ Đập Đáy đã được sử dụng 5 lần để phân lũ sông Hồng đó là vào các năm 1940, 1945, 1947,

1969 và 1971 (năm 1945 lưu lượng lũ phân lớn nhất khoảng (2.2002.300) m3/s, năm 1971 lưu lượng lũ phân lớn nhất là 2.570 m3/s)

+ Từ sau năm 1971 đến nay nhiều hồ chứa đã được xây dựng trên các chi lưu của hệ thống sông Đáy, các hệ thống đê và đê bao cũng được tôn tạo, các công trình cống và trạm bơm tiêu úng được xây dựng hàng loạt, hầu hết các vùng đã có đê và

đê bao kể cả khu vực phân chậm lũ cũng đều được bảo vệ với lũ bản thân sông Đáy (lũ 1978, 1985) Cho nên, dù không có phân lũ nhưng mực nước trên sông Đáy cũng đã tăng lên rất cao

+ Lòng sông Đáy quanh co, nông, bãi rộng, nhiều vùng trũng ven sông nên tốc

độ chuyển lũ chậm, lượng điều tiết lớn Có thể nhận xét qua kết quả vào năm phân

lũ 1971: 1 giờ sáng ngày 20/8 bắt đầu phân lũ vào Vân Cốc, 5 giờ sau mới chuyển được tới Đập Đáy, 14 giờ sau mới ảnh hưởng tới Ba Thá, 20 giờ sau mới tới Tân Lang và 30 giờ sau mới chuyển ảnh hưởng tới Độc Bộ

1.1.2.5 Tổ hợp lũ trên các sông

+ Khả năng xuất hiện lũ trên dòng chính sông Đáy, sông Hoàng Long xảy ra vào tháng IX là lớn nhất chiếm 33,6% tại Ba Thá, 40% tại Phủ Lý, 34% tại Bến Đế Khả năng xuất hiện lũ lớn nhất trong năm vào tháng VIII chiếm 16,7 % tại Ba Thá, 28% tại Phủ Lý và 23,4% tại Bến Đế

Trang 21

Bảng 1.4: Khả năng xảy ra lũ lớn nhất năm vào các tháng trong năm

(Nguồn: Dự án Rà soát Quy hoạch phòng chống lũ và đê điều sông Đáy - Viện Quy hoạch Thuỷ lợi)

+ Tổ hợp lũ sông Hồng và sông Đáy :

- Quan hệ mực nước lũ sông Hồng tại Sơn Tây và sông Đáy tại Ba Thá không chặt chẽ do nguyên nhân hình thành lũ trên hai hệ thống sông là khác nhau Hệ số tương quan mực nước lũ giữa 2 trạm chỉ đạt 0,48

- Từ kết quả phân tích trên cho thấy trong trường hợp phân lũ vào sông Đáy vào tháng VIII thì khả năng xuất hiện lũ rất lớn giữa 2 sông đồng thời gian là rất nhỏ Trong các lần phân lũ vào sông Đáy lũ nội tại của sông Đáy không lớn

- Trường hợp lũ lớn trên sông Hồng xảy ra gần đây là trận lũ tháng VIII/1996 với Qmax hoàn nguyên tại Sơn Tây là 27.400 m3/s ngày 21/VIII, P=4%, lũ bên sông Đáy tại Ba Thá là 437 m3/s ngày 17/VIII/1996, P= 17% và tại Hưng Thi Qmax là

1980 m3/s ngày 16/VIII/1996, P= 13%

1.1.2.6 Hiện trạng ngập lụt tính đến 2010

+ Trên dòng chính sông Đáy thường phải tiếp nhận khoảng 1.000 m3/s bơm tiêu úng từ các khu, vì thế những năm có mưa lớn trong bản thân lưu vực sông Đáy thì mực nước lũ trên sông lên cao

+ Địa bàn bị ảnh hưởng: 132 xã, phường thuộc 12 huyện thị của Hà Nội, Hà Nam và Ninh Bình

+ Diện tích tự nhiên bị ảnh hưởng : 79.984 ha

+ Diện tích bị ngập : 38.992 ha

Trang 22

+ Diện tích canh tác bị ảnh hưởng: 36.679 ha; trong đó bị ngập 34.579 ha (lúa 23.720 ha, màu 7.329 ha, vườn 2.537 ha và thuỷ sản 1.264 ha)

+ Số hộ nằm trong vùng phân chậm lũ: 152.223 hộ với 681.824 nhân khẩu

+ Các cơ sở kinh tế gồm: 215 cơ quan; 10 bệnh viện; 91 trạm xá; 2.420 phòng học; 27,4 km đường tỉnh lộ; 174 đường giao thông liên huyện; 497 km đường giao thông liên xã; 380 km đường giao thông liên thôn và 31 cầu giao thông

+ Số nhà cửa bị ngập: 109.618 nhà (nhà xây 99.814, nhà tranh 11.517)

+ Hạ tầng thuỷ lợi: 196 trạm bơm, 692 km kênh tưới, tiêu, đường điện cao thế

282 km, hạ thế 431 km, đê bị ảnh hưởng 179 km đê chính, 28 km đê bối và hàng trăm km bờ vùng bờ thửa bị ngập

1.1.3 HIỆN TRẠNG VÀ PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI

(Nguồn: Dự án Rà soát Quy hoạch phòng chống lũ và đê điều sông Đáy - Viện Quy hoạch Thuỷ lợi)

1.1.3.2 Dân cư và lao động

+ Năm 2006 số dân trong vùng bảo vệ đê là 7.568.060 người, dân cư khu vực thành thị cũng đang phát triển rất nhanh, tổng số dân thành thị năm 2006 là 2.675.193 người

+ Dự báo đến năm 2010 dân số vùng bảo vệ 8.325.909 người (thành thị là 3.225.210 người), năm 2020 dân số 9.098.789 người (thành thị là 5.162.165 người)

Trang 23

1.1.3.3 Cơ cấu phát triển kinh tế

+ Tỷ trọng các ngành trong nền kinh tế năm 2006: Ngành nông lâm thủy sản 13,2% (trong đó nông nghiệp chiếm 50,49%; chăn nuôi: 40,18%; dịch vụ: 9,33%) ; ngành công nghiệp-xây dựng 39,2%; ngành dịch vụ 47,6%

+ Tỷ trọng các ngành trong nền kinh tế năm 2020: Ngành nông lâm thủy sản 5%; ngành công nghiệp-xây dựng 50%; ngành dịch vụ 45%

1.1.3.4 Hiện trạng dân sinh kinh tế vùng phân chậm lũ

+ Khu phân lũ sông Hồng vào sông Đáy: Khi phân lũ sông Đáy có 9 huyện, thị

xã, 119 xã với tổng diện tích tự nhiên là 58.652 ha bị ngập lụt, 136.000 hộ với 620.000 người phải sơ tán Toàn bộ nhà cửa, trạm xá, đường giao thông trong vùng

bị ngập Trọng điểm phân lũ thuộc các huyện Phúc Thọ, Chương Mỹ, Mỹ Đức

Bảng 1.6: Dân sinh kinh tế vùng ngập khi phân lũ huyện Chương Mỹ, Mỹ Đức

Hạng mục Đơn vị Huyện Chương Mỹ

(Nguồn: Dự án Rà soát Quy hoạch phòng chống lũ và đê điều sông Đáy - Viện Quy hoạch Thuỷ lợi)

+ Khu chậm lũ Lương Phú: có thêm 3 huyện, thị xã; 54 xã với 49.179 ha đất tự

nhiên bị ngập lụt, 80.000 hộ với 300.000 người phải sơ tán Trọng điểm phân lũ thuộc huyện Ba Vì Như vậy nếu cả phân và chậm lũ toàn thành phố Hà Nội có 12 huyện, thị xã với 173 xã bị ảnh hưởng, 107.831 ha đất tự nhiên bị ngập lụt, 216.000 hộ với 920.000 người phải sơ tán

Bảng 1.7: Dân sinh kinh tế vùng lòng hồ Vân Cốc, khu Lương Phú, bãi sông Đáy

TT Hạng mục Nhân khẩu

(người)

Tổng DTTN (ha)

Đất ở (ha)

Đất CTCC (ha)

Đất SX phi NN (ha)

Đất SXNN (ha)

1 Lòng hồ Vân Cốc 47.703 3.174 348 349 378 1.641

Trang 24

(Nguồn: Dự án Rà soát Quy hoạch phòng chống lũ và đê điều sông Đáy - Viện Quy hoạch Thuỷ lợi)

+ Các khu phân chậm lũ sông Hoàng Long

- Khu thường xuyên chịu lũ: Bao gồm 5 xã huyện Nho Quan (Xích Thổ, Gia Sơn, Gia Lâm, Gia Thuỷ, Phú Sơn và 1 phần xã Lạc Vân) và vùng ngoài đê của các huyện Nho Quan và huyện Gia Viễn Diện tích tự nhiên là 4.357 ha, toàn khu có 5.135 hộ dân

- Khu phân lũ Đầm Cút: Phân lũ từ sông Hoàng Long qua cống Mai Phương vào Đầm Cút ra cống Địch Lộng sang sông Đáy

1.1.4 HIỆN TRẠNG PHÒNG CHỐNG LŨ-HỆ THỐNG ĐÊ ĐIỀU

1.1.4.1 Hiện trạng hệ thống đê điều

Bảng 1.8: Tổng hợp hiện trạng các tuyến đê chính lưu vực

Đê chính Số

TT Tuyến đê

Cấp

đê Chiều dài (m)

đỉnh (m)

B (m)

Chiều dài đê bối (m)

Chiều dài đê bao (m)

Kè (chiếc)

Cống (chiếc)

Trang 25

Đê chính Số

TT Tuyến đê

Cấp

đê Chiều dài (m)

đỉnh (m)

B (m)

Chiều dài đê bối (m)

Chiều dài đê bao (m)

Kè (chiếc)

Cống (chiếc) Tổng cộng 594,474 78,884 67,720 60 398

(Nguồn: Dự án Rà soát Quy hoạch phòng chống lũ và đê điều sông Đáy - Viện Quy hoạch Thuỷ lợi)

1.1.4.2 Hệ thống công trình phân lũ sông Đáy

+ Cống Vân Cốc: 26 cửa cống; bề rộng cửa 8m; cao trình đáy 12,0 m; cao trình

trần 14,4 m

+ Tràn Hát Môn: Phía hữu Vân Cốc chiều dài tràn 1.620m, cao trình tràn từ (15,0815,20)m Phía tả Vân Cốc chiều dài tràn 6.200m, cao trình tràn từ

(14,6315,03)m

+ Lòng hồ Vân Cốc: Hiện nay đã xây dựng cống lấy nước Cẩm Đình, hệ thống

kênh dẫn đi dọc tuyến đê Ngọc Tảo bởi vậy phần diện tích trữ nước của lòng hồ

Vân Cốc chỉ còn khoảng 126 triệu m3

+ Công trình đập Đáy: có 6 cửa; bề rộng một cửa 33,75m; cao trình đáy 9,0m; Cao

trình tường ngực 13,9m Cửa van hình cung mở theo hình thức hạ dần cao trình tràn,

mỗi giờ hạ được 0,49m theo từng nấc cao trình, thời gian mở hết khoảng 10,5 giờ

+ Vùng chậm lũ Chương Mỹ-Mỹ Đức: có 25 đường tràn chia thành 13 tiểu vùng

bao gồm 57 xã Theo bình đồ tỷ lệ 1/10.000 Viện QHTL đo năm 2000 thì tổng diện tích

của 13 vùng ngập lũ 36.547 ha và tổng dung tích chứa lũ là 822,9 triệu m3 (dung tích

được tính đến mực ngập lũ lớn nhất ứng với cao trình từ (8÷9,6) m tuỳ từng tiểu khu)

1.1.4.3 Hiện trạng tuyến thoát lũ

+ Đoạn sông Đáy từ Đập Đáy đến Ba Thá dài 61,347 km, bề rộng tuyến thoát lũ

từ Song Phương đến Cầu Mai Lĩnh có khoảng cách lớn nhất từ 2.800÷3.065 m, từ

Cầu Mai Lĩnh đến Ba Thá bề rộng lòng sông co hẹp dần tại Ba Thá rộng 667 m

+ Đoạn sông Đáy từ Ba Thá đến Phủ Lý dài 64,775 km, đoạn sông này bề rộng

tuyến thoát lũ tại vị trí Tân Lang bị co thắt có chiều rộng 180m, từ Tân Lang đến

Phủ Lý bề rộng mở rộng dần ra khoảng 400÷700 m, bờ tả có nhiều bãi khá rộng

+ Đoạn sông Đáy từ Phủ Lý đến Địch Lộng dài 23,89 km, bề rộng tuyến thoát

lũ biến đổi từ 700÷1500 m, bờ hữu có nhiều bãi khá rộng

+ Đoạn sông Đáy từ Địch Lộng đến Gián Khẩu (ngã 3 Hoàng Long-Sông Đáy)

dài 9km, đoạn sông này lòng sông có nhiều đoạn bề rộng lòng sông co hẹp như tại

Trang 26

K3 (kè Đồng Xuân), K6K7 (kè Cung Quế)…bởi vậy khi gặp lũ sông Hoàng Long dềnh ứ làm cản trở rất lớn đến dòng chảy về phía hạ lưu

+ Đoạn sông Đáy từ Gián Khẩu đến Ninh Bình dài 12 km, đoạn sông này lòng sông ít có biến động lớn, cao trình đỉnh đê đủ cao so với mực nước thiết kế

+ Đoạn từ Ninh Bình đến Độc Bộ dài 21 km, đoạn sông này phần bãi và lòng sông có biến động lớn, nhiều đoạn lòng sông co hẹp như tại vị trí K24K26 (cống Khánh Phú), K29K30 (kè Mả Na), K40K41(kè Độc Bộ) Bề rộng lòng sông tại các vị trí này là 80100 m

+ Đoạn sông từ Độc Bộ đến cửa biển dài khoảng 43 km, lòng sông mở rộng dần, chỗ rộng nhất tới 600 m và chỗ hẹp nhất 150 m

1.2 SỰ CẦN THIẾT VÀ MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1.2.1 SỰ CẦN THIẾT PHẢI NGHIÊN CỨU

+ Các phân tích trong kinh tế lũ giúp các dự án quy hoạch tính toán được lợi ích của các công trình phòng lũ nhằm đánh giá mức độ thiệt hại trước và sau khi có các công trình phòng lũ

+ Các phân tích nhằm tính đến tất cả các khía cạnh của thiệt hại lũ gây ra, ảnh hưởng của thời gian ngập và độ sâu đến giá trị thiệt hại

1.2.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

+ Đưa ra phương pháp luận nhằm xây dựng đường thiệt hại lũ

+ Trên cơ sở phương pháp luận đưa ra các tính toán cụ thể cho Lưu vực sông Đáy ứng với khu phân chậm lũ Chương Mỹ - Mỹ Đức, Hà Nội

1.3 CÁC PHƯƠNG ÁN QUY HOẠCH TIÊU THOÁT LŨ

1.3.1 GIỚI HẠN VÙNG NGHIÊN CỨU

+ Vùng nghiên cứu giới hạn trong địa giới hành chính hai huyện Chương Mỹ và

Mỹ Đức

Trang 27

Hình 1.2: Bản đồ phân khu chậm lũ Chương Mỹ - Mỹ Đức

1.3.2 CÁC PHƯƠNG ÁN PHÂN LŨ SÔNG HỒNG VÀO SÔNG ĐÁY

+ Phân lũ sông Hồng vào sông Đáy qua đập Đáy với các cấp lưu lượng max giả định là 2.500 m3/s

+ Phân lũ sông Hồng vào sông Đáy qua đập Đáy với các cấp lưu lượng max giả định là 2.000 m3/s

+ Phân lũ sông Hồng vào sông Đáy qua đập Đáy với các cấp lưu lượng max giả định là 1.500 m3/s

+ Phân lũ sông Hồng vào sông Đáy qua đập Đáy với các cấp lưu lượng max giả định là 1.000 m3/s

+ Phân lũ sông Hồng vào sông Đáy qua đập Đáy với các cấp lưu lượng max giả định là 500 m3/s

1.4 NHẬN XÉT VÀ ĐÁNH GIÁ

+ Quy hoạch phòng lũ lưu vực sông Đáy tạo khả năng tiêu thoát lũ hệ thống sông Đáy, đồng thời tăng hiệu quả bảo vệ an toàn trung tâm kinh tế, chính trị Hà Nội

Trang 28

+ Tuy nhiên do sự mở rộng phát triển Hà Nội đến các vùng phân lũ và chậm lũ của Hà Tây cũ, và xây dựng nhiều hồ chứa lớn trên thượng nguồn tham gia cắt lũ cũng làm giảm tầm quan trọng hệ thống các công trình phân lũ của Lưu vực sông Đáy Xu hướng xoá bỏ dần khu chậm lũ Chương Mỹ, Mỹ Đức, Hữu Đáy, và cải tạo sông Đáy trở thành con sông tự nhiên hoặc có điều tiết là cần thiết trong công tác quy hoạch phòng lũ

+ Luận văn này nhằm nghiên cứu tính toán kinh tế có tính đến yếu tố xã hội và môi trường trong quy hoạch phòng lũ nói chung và quy hoạch phòng lũ sông Đáy nói riêng

Trang 29

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ KHOA HỌC TRONG TÍNH TOÁN GIÁ TRỊ

KINH TẾ 2.1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, TÍNH TOÁN GIÁ TRỊ KINH TẾ PHÒNG

2.1.1 NGHIÊN CỨU, ĐÁNH GIÁ TRÊN THẾ GIỚI

2.1.1.1 Nghiên cứu sử dụng viễn thám kết hợp GIS

Sử dụng viễn thám (RS) và hệ thống thông tin địa lý (GIS) là một trong những công nghệ mới trong việc đánh giá thiệt hại lũ Phương pháp này được tiến hành qua 4 bước:

- Ảnh vệ tinh như Radarsat được nắn chỉnh và làm phù hợp với số liệu từ trường số liệu GIS;

- Mức độ ngập lụt có thể được lấy từ ảnh SAR kết hợp với cao độ DEM;

- Phạm vi ngập có thể được chồng với các số liệu như số liệu đất đai từ trường số liệu GIS và;

- Kết quả như bản đồ và các bảng biểu có thể nhận được bằng việc sử dụng GIS Một số nghiên cứu ở Hàn Quốc áp dụng đối với lưu vực sông Nackdong có xét đến ảnh hưởng của các yếu tố đặc điểm hình thái, thảm phủ, chế độ dòng chảy, sau

đó áp dụng công nghệ viễn thám và GIS để đánh giá thiệt hại lũ Việc đánh giá theo phương pháp này chỉ đưa ra con số sơ bộ về diện tích ngập, thời gian ngập cũng như

độ sâu ngập

2.1.1.2 Nghiên cứu của ESCAP

Đoàn công tác của ESCAP đã biên soạn báo cáo về cải thiện hệ thống sưu tập thiệt hại do bão lũ Trong đó đã khái quát về khía cạnh kinh tế xã hội các thiệt hại

do bão và lũ, hướng dẫn việc thu thập tài liệu về thảm hoạ lũ cũng như cách thống

kê thảm hoạ ở mức quốc gia và cấp tỉnh, đồng thời đưa ra cách khảo sát thiệt hại về công trình và dịch vụ công cộng, tài sản tư nhân, thiệt hại trong nông nghiệp và cách ngành kinh tế khác bị ảnh hưởng

2.1.1.3 Nghiên cứu của Tổ chức khí tượng thế giới

Nghiên cứu đã biên soạn tài liệu hướng dẫn quá trình đánh giá thiệt hại lũ cho nhiều mục đích và với những mục đích khác nhau sẽ xác định được những đầu ra khác nhau

Trang 30

Mục đích đầu tiên là sử dụng đánh giá trong việc điều phối cứu trợ trong quá trình lũ Việc đánh giá trong giai đoạn này được thực hiện trong thời gian hạn hẹp Thông tin cần thiết phục vụ các hoạt động cứu trợ trong giai đoạn này có thể kể đến:

- Số người chết, bị thương hoặc ảnh hưởng bởi lũ;

- Tài sản bị ngập, các yêu cầu tìm kiếm và di dời;

- Tài sản và con người có thể chịu rủi ro hoặc có thể bị ngập nặng hơn;

- Tình trạng của cơ sơ hạ tầng và;

- Mực nước trong sông hiện tại và dự báo ở các vị trí khác nhau cũng như điều kiện thời tiết

Đánh giá thiệt hại trong một vài tuần đầu tiên sau khi nước lũ rút nhằm thông báo và hướng dẫn quá trình khôi phục, phân phối cứu trợ Tiếp theo là đánh giá tổng thể mất mát do lũ lụt để thông báo và tư vấn cho các quá trình tái thiết sau lũ cũng như sử dụng số liệu thiệt hại cho việc đánh giá rủi ro do lũ lụt và cho sự đánh giá các biện pháp phòng tránh và giảm thiểu Ở giai đoạn này đánh giá thiệt hại lũ cần hướng dẫn cho việc quy hoạch tái thiết cũng như việc điều chỉnh các chính sách về quản lý lũ trong tương lai

Quá trình đánh giá thiệt hại gồm các bước sau:

- Xác định mục đích của việc đánh giá thiệt hại;

- Tổ chức tư vấn và thu thập thông tin;

- Xác định vùng và khung thời gian của đánh giá;

- Lựa chọn dạng đánh giá sẽ sử dụng;

- Thu thập thông tin về độ nguy hiểm;

- Thu thập thông tin về số người, tài sản và các hoạt động gặp rủi ro;

- Xác định dạng tổn thất;

- Đánh giá mức độ tổn thất từ tất cả các nguồn;

- Quyết định tính toán thiệt hại tiềm năng hay thực tế;

- Tính toán thiệt hại trung bình hàng năm nếu cần thiết;

- Đánh giá lợi ích và;

- Đối chiếu và đưa kết quả của đánh giá tổn thất

2.1.1.4 Nghiên cứu đánh giá của một số nước EU

1 Phương pháp đánh giá thiệt hại lũ ở Vương quốc Anh

Trang 31

+ Thủ tục là đánh giá thiệt hại ở hầu hết các cấp độ Điều tra về mức độ thiệt hại theo hạng mục nhà cửa, cũng như tài sản của các hộ, Trên cơ sở đánh giá tài sản thiệt hại do lũ ứng với các độ sâu ngập khác nhau, từ đó đưa ra quan hệ thiệt hại theo độ sâu ngập Mức độ chi tiết và độ chính xác tuỳ thuộc vào phạm vi của nghiên cứu và các thông tin thu thập

+ Thủ tục để đưa ra các hàm thiệt hại như sau: chia thiệt hại thành tài sản dân

cư và phi dân cư Thiệt hại trong lĩnh vực nhà, chia nhà làm nhiều loại theo mức độ

cũ, mới, vật liệu xây dựng, Sau đó xác định giá trị thay thế và giá trên thị trường

và đánh giá thiệt hại, cuối cùng đưa ra hàm thiệt hại theo độ sâu đối với các loại nhà

bị thiệt hại Đối với tài sản phi dân cư, số liệu về phân loại đặc tính lấy từ trường số liệu của các cấp quản lý dạng niên giám thống kê và các trường số liệu cấp quốc gia Để xác định hàm thiệt hại đối với các dạng tài sản khác nhau, cần tiến hành phỏng vấn các công ty để ước tính, trước hết là giá trị xấp xỉ của các tài sản có thể

bị thiệt hại ở các ngành và lĩnh vực khác nhau, sau đó là mức độ tổn thương của các tài sản đó Khác với hàm thiệt hại của tài sản dân cư, các hàm thiệt hại đối với tài sản phi dân cư này không phản ánh thiệt hại tuyệt đối trên tài sản mà đánh giá trên diện tích của tài sản thương mại của một lĩnh vực nào đó

2 Phương pháp đánh giá thiệt hại lũ ở Hà Lan

+ Đánh giá thiệt hại lũ ở Hà Lan dựa theo các tiêu chuẩn của 53 tuyến đê bảo

vệ Các danh mục được đánh giá theo phương pháp tiêu chuẩn bao gồm: tính được bằng tiền, đếm được và thiệt hại chỉ có thể miêu tả được Các đặc tính ngập lụt được tính toán qua mô hình thuỷ lực với ô lưới 100m; đối với các toà nhà và công trình ảnh hưởng của vận tốc và sóng cũng được tính đến Như vậy, các đặc tính ngập lụt là: vận tốc, biến động mực nước và chiều sâu ngập lụt

+ Tổng thiệt hại trực tiếp trong mỗi ô lưới được tính theo công thức:

i i n i

S : thiệt hại đơn vị lớn nhất tài sản loại i

: mức độ thiệt hại tài sản loại i

Trang 32

+ Như vậy, có 3 thành phần cơ bản cần thiết để đánh giá thiệt hại: trước hết thu thập thông tin sử dụng đất liên quan, sau đó ước tính lượng thiệt hại lớn nhất trên mỗi loại hạng mục thiệt hại và cuối cùng đưa ra các hàm thiệt hại theo độ sâu ngập Thông tin sử dụng đất đai ở đây rất đa dạng gồm đất nông nghiệp tính theo diện tích Các yếu tố hạ tầng tuyến tính như đường phố, đường xe lửa tính bằng chiều dài Đối với hộ gia đình cần xác định chi tiết tài sản các hộ, ở các công ty số lượng công nhân trong mỗi công ty được thu thập nhằm xác định thiệt hại Tất cả thông tin

về sử dụng đất thu thập được chuyển thành các ô lưới 100m để tính toán ngập lụt Tài sản cố định được tính toán bằng giá trị giảm giá Đối với sản phẩm nông nghiệp, tính giá trị thiệt hại theo hecta,… Thiệt hại gián tiếp lớn nhất qua việc các hoạt động kinh doanh ngừng trệ được đánh giá trên cơ sở giá trị gia tăng của sản phẩm hàng hoá,… Sau đó đưa ra 11 hàm thiệt hại

3 Phương pháp đánh giá thiệt hại lũ ở Cộng hoà Séc

Ứng dụng thực tế của phương pháp đánh giá thiệt hại ở Cộng hoà Séc là yếu tố tương đối mới trong chính sách đối phó với lũ của nước này Phương pháp đánh giá

là sử dụng thông tin tình hình sử dụng đất hướng đối tượng, ước tính giá trị tài sản rủi ro do lũ lụt trên đơn vị mét hoặc mét khối bằng các nguồn thông tin thống kê sau

đó đưa ra quan hệ thiệt hại theo độ sâu ngập

Tóm lại, mặc dù các nước nói trên có lịch sử về chính sách lũ, thể chế, phương pháp đánh giá phức tạp hay đơn giản khác nhau nhưng nguyên tắc là cố gắng quy ra giá trị kinh tế các yếu tố thiệt hại để ước tính hiệu ích của các biện pháp phòng chống lũ

2.1.1.5 Nghiên cứu đánh giá của Mêkông – Deltares - Royal Haskoning và UNESCO IHE

Năm 2009, các cơ quan này đã xuất bản ấn phẩm hướng dẫn thực hiện quy hoạch quản lý rủi ro lũ và đánh giá ảnh hưởng của nó nhằm cung cấp cho những nhà ra quyết định, các nhà quản lý và các chuyên gia trong tiểu lưu vực sông Mêkông với các kiến thức liên quan về thực hiện các chính sách quản lý lũ, phát triển chiến lược và quy hoạch lũ, thiết kế dự án và đánh giá đối với quản lý rủi ro lũ

2.1.1.6 Nghiên cứu đánh giá của ECLAC

Uỷ ban kinh tế Châu Mỹ La Tinh và vùng Caribê đã nghiên cứu và đưa ra hướng dẫn trong quá trình đánh giá thiên tai nói chung, đánh giá thiệt hại lũ nói

Trang 33

riêng Trong đánh giá của ECLAC miêu tả các phương pháp đánh giá tiếp cận ảnh hưởng của lũ lụt đến tất cả các yếu tố như xã hội, kinh tế và môi trường, sau đó phân loại chúng thành các thiệt hại trực tiếp và thiệt hại gián tiếp cũng như ảnh hưởng đến nền kinh tế vĩ mô

Đánh giá thiệt hại lũ theo phương pháp này đã được áp dụng ở một số nước châu Mỹ La Tinh, vùng Caribê, Philippines và một số nước khác Ưu điểm của phương pháp này là đánh giá được tất cả các mặt thiệt hại do lũ gây ra, tuy nhiên đòi hỏi cần nhiều thời gian, nhiều thông tin thu thập

2.1.2 NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ CỦA VIỆT NAM

2.1.2.1 Nghiên cứu đánh giá thiệt hại của Viện Quy hoạch Thuỷ lợi

Viện Quy hoạch Thuỷ lợi tiến hành thực hiện nhiều dự án quy hoạch, trong đó

có đánh giá thiệt hại lũ Gần đây, dự án Quy hoạch tổng hợp lưu vực sông Hồng đã ước tính giá trị thiệt hại với từng mức nước lũ khác nhau dựa trên số liệu điều tra của 5 năm có số liệu (1996-2000), từ đó xây dựng lên đường quan hệ giữa mực nước lũ và thiệt hại lũ Dự án mới chỉ xem xét các thiệt hại trực tiếp về vật chất như tài sản cố định và giá trị sản xuất trong khu vực Dự án Rà soát quy hoạch lũ và đê điều sông Đáy đã phân tích, đánh giá, dự báo thiệt hại lũ từ các số liệu thống kê, điều tra trên địa bàn vùng nghiên cứu Các thiệt hại được đưa vào xem xét bao gồm thiệt hại về người, thiệt hại về tài sản cố định, thiệt hại trong sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, du lịch Tuy nhiên việc xác định thiệt hại còn đơn giản, sơ bộ, chưa xem xét đến ảnh hưởng của thời gian ngập và độ sâu ngập đến giá trị thiệt hại

2.1.2.2 Nghiên cứu của một số cơ quan khác

Nhiều cơ quan khác như Viện Khí tượng Thuỷ Văn, Viện Khoa học Thuỷ lợi Việt Nam, Trường Đại học Thuỷ lợi đã thực hiện các nghiên cứu đánh giá thiệt hại

lũ nhưng đều theo các cách kể trên, từ việc áp dụng công nghệ tiên tiến như RS và GIS đến việc điều tra, đánh giá sơ bộ thông thường Kết quả thu được tuỳ theo phạm vi và quy mô nghiên cứu, mức độ chính xác, đánh giá toàn diện hay một phần thiệt hại được đưa ra đã góp phần bổ sung, củng cố lý luận và thông số để các dự án đánh giá thiệt hại lũ sau tham khảo cũng như đưa ra cho các nhà hoạch định chính sách thông tin khoa học để ra quyết định

Trang 34

2.2 NGHIÊN CỨU, TÍNH TOÁN GIÁ TRỊ KINH TẾ PHÒNG LŨ SÔNG ĐÁY

2.2.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN TRONG TÍNH TOÁN GIÁ TRỊ KINH TẾ CỦA THIỆT HẠI LŨ

2.2.1.1 Các nguyên tắc của một điều tra tốt

Nhà kinh tế nổi tiếng Maynard Keynes đã chỉ ra, kinh tế học không phải là một học thuyết chủ nghĩa mà là một hệ thống phân tích, một cách thức suy nghĩ Các kỹ thuật kinh tế do vậy là những trợ giúp cho suy nghĩ chứ không phải có bất kỳ giá trị nào trong bản thân nó Những chỉ dẫn này do vậy là những hỗ trợ cho suy nghĩ chứ không phải là một tập các quy tắc được áp dụng một cách máy móc

Tiếp cận này yêu cầu chúng ta bắt đầu bằng cách thiết lập các tiêu chuẩn cho thực hành tốt Chúng ta đang tìm cách đo lường cái gì đó, một trạng thái hoặc tập các mối quan hệ, và làm như vậy với sai số hệ thống hoặc sai số ngẫu nhiên tối thiểu Chúng ta có thể đo lường tác động của một cơn lũ lên một đơn vị kinh tế riêng nhưng chúng ta cũng thường xuyên muốn có khả năng xác định những trạng thái đó biến thiên như thế nào theo bản chất của lũ và các đặc tính của đơn vị kinh

tế để hiểu được động học của các mối quan hệ Do vậy, một tiêu chuẩn then chốt cho một phương pháp luận là: ở phạm vi nào điều đó cung cấp một sự hiểu biết mới? Chúng ta muốn rằng việc hiểu biết là thực và không đơn giản là một sự giả tạo của phương pháp thực nghiệm do vậy chúng ta cũng yêu cầu là phương pháp luận cung cấp các kết quả hợp lý và tin cậy

Hơn nữa, lý thuyết và phương pháp luận được quện chặt vào nhau: phương pháp luận được xây dựng trên một mô hình lý thuyết nằm bên dưới và cuối cùng việc áp dụng phương pháp luận đó là một kiểm định của mô hình đó Muốn các phương pháp tốt hơn, chúng ta cũng muốn các lý thuyết tốt hơn, các lý thuyết có năng lực giải thích và dự báo mạnh hơn

Ý nghĩa có mục đích của ‘tốt hơn’ là đạt được một sự hiểu biết tốt hơn của tự nhiên, phạm vi của các nguyên nhân của các tác động của lũ lụt để chúng ta có thể xác định cái gì là các biện pháp tốt nhất của sự can thiệp làm giả các tác động đó Không phải là sự tò mò kích động chúng ta mà là mong muốn làm cái gì đó, và sự hiểu biết tốt hơn chỉ tồn tại khi mà chúng ta còn đạt được hiểu biết sâu sắc hơn vào việc cần thực hiện hành động nào Nói riêng chúng ta muốn có khả năng dự báo:

Trang 35

+ Các thực thể kinh tế/xã hội nào sẽ dễ bị tổn thương nhất tới loại lũ lụt nào; và + Các phương tiện nào có hiệu lực nhất cho việc can thiệp để làm giảm tính

dễ tổn thương đó

2.2.1.2 Tính đúng đắn và độ tin cậy

Một phương pháp luận cần là cả đúng đắn lẫn đáng tin cậy nếu nó có thể có một

sử dụng nào đó Trong khoa học xã hội nói riêng, phương pháp luận luôn được lý thuyết chỉ dẫn; cái được tìm cách đo lường là cái được định nghĩa bởi lý thuyết Do vậy, các phân tích kinh tế được dựa trên một lý thuyết kinh tế nào đó, và thông thường dựa trên lý thuyết kinh tế tân cổ điển Ví dụ, lý thuyết đó được dựa trên giả thiết là giá trị kinh tế của một tài nguyên nào đó được xác định duy nhất bởi mong muốn của ai đó đối với tài nguyên đang xét

Tính đúng đắn là về sự phân biệt, khả năng của thước đo để đo lường cái có ý định được đo lường và không phải bất kỳ cái gì khác, và để chỉ ra những khác biệt khi các khác biệt thực tồn tại nhưng khi chúng không được dự báo: khác biệt thực là cái được dự báo một cách mạnh mẽ bởi lý thuyết và kinh nghiệm Do vậy, tính đúng đắn là khả năng chọn ra những khác biệt hệ thống Ngược lại, độ tin cậy là phạm vi trong đó kỹ thuật đo lường là không nhạy cảm với các nhân tố có thể tạo ra sai số ngẫu nhiên Nói ngắn gọn, tính đúng đắn là phạm vi trong đó một thước đo tạo ra các khác biệt được dự báo về mặt lý thuyết; độ tin cậy là phạm vi trong đó nó không chỉ ra những khác biệt khi những khác biệt này sẽ không được dự báo về mặt lý thuyết Hậu quả, bất kỳ kiểm định nào về tính đúng đắn của một thước đo đồng thời

là một kiểm định của lý thuyết hoặc giả thiết mà nó được dựa vào Nếu một thước

đo tạo ra một khác biệt khi không có gì được dự báo thì hoặc thước đo là không đúng đắn hoặc có một vấn đề với lý thuyết nằm bên dưới: vấn đề khi đó là xác định liệu lý thuyết hay kỹ thuật đo lường bị mắc lỗi

Vì bản chất của những khác biệt và những sự tương tự được dự báo bởi lý thuyết biến thiên từ lý thuyết này sang lý thuyết khác, có nhiều dạng khác biệt tiềm năng của tính đúng đắn Carmines và Zeller 1979 Những điều này bao gồm:

- Tính đúng đắn xây dựng: đây là phạm vi trong đó công cụ đo lường rõ ràng

là sự phản ánh của lý thuyết nằm bên dưới hoặc việc xây dựng lý thuyết và không phải là gì khác

Trang 36

- Tính đúng đắn biệt số: phạm vi trong đó công cụ đo lường chọn ra được

những khác biệt khi lý thuyết dự báo những khác biệt đó tồn tại

- Tính đúng đắn hội tụ: mức độ trong đó hai công cụ đo lường cùng một xây

dựng lý thuyết đồng thuận với nhau

- Tính đúng đắn dự báo: sự thành công của công cụ đo lường trong việc dự

báo những điều kiện nào, được dự kiến về mặt lý thuyết, sẽ kéo theo từ trạng thái được đo lường bởi công cụ này

Một cách tương đương, có nhiều dạng và các kiểm định khác nhau về độ tin cậy, tùy thuộc vào những khác biệt nào không được dự báo bởi lý thuyết

2.2.1.3 Tính toán giá trị thiệt hại lũ như một sự hỗ trợ quyết định

Nghiên cứu thiệt hại lũ trong hoàn cảnh của quá trình làm quyết định của chính sách quản lý rủi ro lũ vẫn là một khái niệm tương đối mới Trên phương diện lịch

sử, chính phủ và các cơ quan chính phủ là những nơi đã sử dụng các thẩm định kinh

tế để hỗ trợ việc làm quyết định của họ trong khi sự nhấn mạnh mới lên việc điều hành dịch chuyển trách nhiệm đó tới các bên hữu quan Sự thay đổi đó đồng thời thay đổi các vai trò của cái mà các bên hữu quan muốn biết và cả cái mà họ cần biết Các quốc gia khác nhau của EU đã quyết định về các thể chế khác nhau cần phải là ‘cấp quản lý có thẩm quyền’ được chỉ ra trong Chỉ thị Khung Nước Một số quốc gia, như Tây Ban Nha, đã tiến gần hơn các quốc gia khác tới việc đáp ứng sự nhấn mạnh này trong Chỉ thị về việc làm việc với nhiều bên hữu quan khác nhau, những người sẽ hoặc phải hành động nếu các mục tiêu của Chỉ thị được đáp ứng, hoặc những người sẽ bị tác động một cách đáng kể bởi các hành động được tiến hành Hai bên hữu quan rõ ràng là những ai sẽ hưởng lợi bởi bất kỳ sự làm giảm nào trong các rủi ro của lũ lụt và những ai sẽ gánh chịu chi phí của bất kỳ can thiệp nào như vậy cho mục đích đó Trong khi dịch chuyển này tới việc làm quyết định thông qua sự tham gia của các bên hữu quan có các hàm ý có ý nghĩa cho dạng thông tin mà những người làm quyết định hữu quan sẽ yêu cầu, không có kinh nghiệm thực nào trong việc cung cấp hỗ trợ quyết định như vậy

Về mặt truyền thống, triết học chuẩn thiết kế thống trị bầu không khí của chính sách quản lý rủi ro lũ Những người làm quyết định đã quyết định về mức bảo vệ

“thích hợp” cần phải đạt được dựa trên hiểu biết về các khả năng có thể bảo vệ lũ về mặt kỹ thuật Ví dụ, luật quốc gia ở Hà lan ngày hôm nay vẫn quy định là các vùng

Trang 37

lãnh thổ ven biển phải có mức bảo vệ bảo đảm an ninh thậm chí đối với những sự kiện lũ cực đoan với một tần suất xuất hiện lên tới 1/10.000 năm Baan/Klijn 2004 Điều đó có nghĩa là, mục tiêu bảo vệ được cho bởi các nhà chính trị và các khía cạnh khoa học được nghiên cứu sau khi các phương tiện đạt tới được đem ra xem xét Trong những năm gần đây một triết học mới về bảo vệ lũ đã được phát triển, là triết học nhằm vào quản lý rủi ro lũ, và nó xem xét các con lũ chỉ như một trong một vài nguồn rủi ro trong xã hội con người Sayers et al 2002 Trong hoàn cảnh này rủi ro lũ được định nghĩa như là kỳ vọng thiệt hại lũ cho giai đoạn thời gian đã cho Ở đây chiến lược quản lý rủi ro lũ rõ ràng có tác động của việc tạo ra một chuẩn thiết kế quốc gia nào đó để bảo vệ những chiến lược đó được xác định bởi những nghiên cứu rộng hơn so với một mục đích rủi ro nào đó Việc xem quản lý rủi ro lũ như bộ phận của sử dụng rộng hơn của Quản lý Tài nguyên nước nổng hợp hàm ý câu hỏi trực tiếp, liệu có được biện minh khi chi tiêu một khối lượng lớn tiền thuế cho việc làm giảm rủi ro lũ hay không, trong khi các lĩnh vực khác của rủi ro trong xã hội có thể nhận được ít hỗ trợ tài chính hơn nhiều để làm giảm nó Kiểu suy nghĩ này dẫn tới sự cần thiết xem xét tất cả các lợi ích và chi phí của chính sách quản lý rủi ro lũ (hoặc các biện pháp bảo vệ đặc biệt) để:

(1) Chỉ ra tình huống rủi ro (rủi ro hiện tại theo nghĩa thiệt hại/năm lớn bao nhiêu?),

(2) Xác định các tiềm năng của làm giảm rủi ro và chi phí tương ứng của chúng (có khả năng làm giảm bao nhiêu rủi ro và điều đó tốn kém bao nhiêu?), (3) So sánh lợi ích và chi phí của làm giảm rủi ro theo nghĩa tỷ lệ lợi ích-chi phí và/hoặc lợi ích ròng (lợi ích có lớn hơn chi phí hay không?),

(4) So sánh các tỷ lệ lợi ích-chi phí của một vài lĩnh vực chính sách làm việc với làm giảm rủi ro để quyết định cần chi tiêu tiền thuế trước hết vào đâu

Do vậy, có một ý nghĩa ngày càng gia tăng của các phương pháp tính toán giá trị thiệt hại lũ cho hỗ trợ quyết định trong chính sách quản lý rủi ro lũ Penning-Rowsell et al 2003

Phân tích rủi ro lũ là một tiếp cận hệ thống, là điều nghiên cứu rủi ro của toàn

bộ các kiểu lũ và sự kiện lũ cho vùng lãnh thổ cần nghiên cứu Phân tích rủi ro lũ

không chỉ bao gồm rủi ro một sự kiện lũ cực đoan hoặc đặc biệt có thể xảy ra

Trang 38

(nhưng nó đôi khi bị hiểu sai trong thực hành) Phân tích rủi ro lũ bao gồm hiểu biết

về tần suất thuỷ văn của các kiểu sự kiện lũ khác nhau, mô hình hóa thủy lực về hành vi ngập lụt của nước lũ trong các đồng bằng lũ, và hiểu biết tính toán giá trị thiệt hại lũ về mặt kinh tế để cung cấp các đường cong thiệt hại-xác suất cho các đồng bằng lũ cá lẻ hoặc cũng như cho toàn bộ các quốc gia như một tổng thể Ví dụ, trên Hình 2.1 cho thấy tổng diện tích dưới đường cong thể hiện tổng thiệt hại lũ dự

kiến trung bình một năm cho tất cả các loại lũ Do vậy, đường cong thiệt hại-xác

suất có chứa thông tin liên quan tới xác suất quan trọng cho việc làm quyết định cho chính sách quản lý rủi ro lũ

Có ba phạm vi áp dụng thông tin phân bổ rủi ro lũ trong chính sách công cộng cần phải được phân biệt:

Hình 2.1 Đường xác suất thiệt hại

+ Hỗ trợ các quyết định về phân bổ tài chính cho tiền thuế Xem xét diện

tích bên dưới đường thiệt hại-xác suất và so sánh rủi ro lũ theo nghĩa khối lượng thiệt hại lũ dự kiến năm với những rủi ro xã hội khác như thiệt hại dự kiến do giao thông, ốm đau hoặc động đất giúp chúng ta sáng tỏ về ý nghĩa và mức trầm trọng của các nhân tố rủi ro khác nhau trong xã hội Thông tin như vậy có thể cung cấp hỗ trợ quyết định cho các quyết định về phân bổ thuế cho các lĩnh vực chính sách khác nhau hướng tới làm giảm rủi ro xã hội

+ Thẩm định dự án Thông tin về thiệt hại lũ dự kiến năm cũng là một đầu

vào quan trọng cho các quyết định đối với các biện pháp quản lý rủi ro lũ và các đầu tư Các tác động làm giảm rủi ro của các biện pháp quản lý rủi ro lũ khác nhau có thể được ước lượng bằng các phương tiện phân tích rủi ro lũ

Trang 39

Trong ví dụ này một cấu trúc bảo vệ lũ có khả năng bảo đảm bảo vệ các con lũ với tần suất 1/100 năm Lợi ích năm của một sơ đồ được cho bởi sự khác biệt trong vùng diện tích bên dưới các đường cong cho các tình huống ‘có sơ đồ’ và ‘không có

sơ đồ’ Trong trường hợp riêng này diện tích bên dưới đường cong này ở phía phải của đường chấm chấm thể hiện tác động làm giảm-rủi ro năm của biện pháp đang xem xét Các kiểu biện pháp khác sẽ có các tác động khác lên hình dáng của đường thiệt hại xác suất Ví dụ, sự cắt giảm định cư trong đồng bằng lũ dường như sẽ dẫn tới dịch chuyển trái của toàn bộ đường cong Do vậy điều cần thiết là phải tính toán các tác động của biện pháp qua toàn bộ dãy xác suất

So sánh hình này với chi phí của biện pháp trong một khung thời gian thích hợp (chi phí năm hoặc chi phí trong vòng đời dự kiến của một cấu trúc quản lý rủi ro lũ)

sẽ mang lại thông tin về hiệu quả của biện pháp, tức là, liệu lợi ích cho xã hội có lớn hơn so với chi phí hay không Nếu tỷ lệ lợi ích chi phí của biện pháp bảo vệ lũ xấp

xỉ lớn hơn 1, biện pháp này có thể được xem xét để mang lại các khoản thu hiệu quả cho xã hội Nếu không, nếu tỷ lệ này là nhỏ hơn 1 một cách đáng kể hoặc bị ảnh hưởng xấu bởi mức độ bất định cao do đó cần từ bỏ biện pháp này Kiểu thông tin này từ khung phân tích chi phí lợi ích (CBA) là một đầu vào quan trọng cho việc làm quyết định để quyết định đối với các biện pháp hoặc để sắp đặt danh sách trật tự

ưu tiên của các biện pháp

Hình 2.2 Lợi ích bảo vệ lũ với các sự kiện lũ với tần suất xuất hiện năm 1/100

Trang 40

+ Trách nhiệm giải trình Các kết quả phân tích rủi ro lũ là các phương tiện quan trọng để xét đoán các đầu tư công cộng và để thể hiện tính thích hợp của chi tiêu công cộng Chúng là hữu ích để giải thích tại sao các biện pháp bảo vệ

lũ nhất định là hiệu quả hơn trong một lưu vực sông này và kém hơn trong một lưu vực khác, và chúng có thể được sử dụng để xét đoán chi tiêu toàn cục cho các biện pháp quản lý rủi ro lũ bằng cách biểu diễn rằng các con số rủi ro

và hiệu quả của các đầu tư làm giảm rủi ro là cao trong lĩnh vực chính sách Cuối cùng, cần nhắc lại rằng phân tích rủi ro lũ và tính toán thiệt hại lũ như một

bộ phận thực sự của nó không cần nhất thiết được dựa trên chỉ các con số tiền tệ Một số phân loại thiệt hại là khó đánh giá theo các đơn vị tiền tệ hoặc chúng vẫn chưa được chấp nhận bởi những người làm chính sách theo cách này Ví dụ, mất mát thời gian do giao thông gián đoạn có thể được đo lường theo đơn vị thời gian hoặc theo những con số trung bình của chi phí cơ hội của những người bị tác động Tương tự, các tác động lên môi trường, lên các giá trị văn hóa, lên sức khỏe con người hoặc mất mát nhân mạng là rất khó đánh giá theo các đơn vị tiền tệ Do vậy, chúng được gọi là vô hình Các vấn đề phương pháp luận có liên quan tới các phân loại thiệt hại này và những sự phản đối đạo đức cũng được thể hiện bởi các nhóm hữu quan khác nhau Vì phân tích rủi ro lũ hiện đang được coi là một tiếp cận hệ thống, việc đưa các biến vô hình vào là điều đáng mong muốn Việc đạt được điều này đòi hỏi hoặc tiện tệ hóa tất cả các tác động thiệt hại vô hình hoặc tổng hợp chúng vào một khung phân tích đa-tiêu chuẩn Vì ít nhất mất mát nhân mạng không được xử lý theo các đơn vị tiền tệ trong bất kỳ quốc gia EU nào, chính sách phúc lợi rủi ro lũ phải được xem như một lĩnh vực chính sách không phải làm việc với một gói các tiêu chuẩn quyết định trên thực hành

2.2.1.4 Các kiểu thiệt hại lũ

Tất nhiên, thực sự phải xem xét tất cả các phân loại thiệt hại lũ đã biết trong phân tích rủi ro lũ và tính toán giá trị thiệt hại Do vậy cần thiết phải chỉ ra các phân loại thiệt hại lũ khác nhau cần có liên quan trong phân tích Thuật ngữ “thiệt hại lũ”

là nói về tất cả vô số các tổn hao gây ra bởi lũ lụt Nó bao gồm một dãy rộng các tác động có hại lên con người, sức khỏe của họ và của cải của họ, lên cơ sở hạ tầng công cộng, di sản văn hóa, các hệ sinh thái, sản xuất công nghiệp và sức mạnh cạnh tranh của nền kinh tế bị tác động

Ngày đăng: 26/07/2020, 19:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w